1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập lớn môn TRIẾT học mác lê NIN

11 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 305,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử, cùng với sự phát triển của thực tiễn và nhận thức khoa học, chủ nghĩa duy vật đã trải qua ba hình thức cơ bản là: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC LÊ-NIN

ĐỀ BÀI: ĐỀ 1

HỌ VÀ TÊN SV: NGUYỄN THU HẰNG LỚP: TRIẾT HỌC MÁC LÊ-NIN 10

MÃ SV: 11191716 GVHD: NGUYỄN THỊ LÊ THƯ

HÀ NỘI, THÁNG 11/2019

Trang 2

Câu 1: Chứng minh chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật.

Trong lịch sử, cùng với sự phát triển của thực tiễn và nhận thức khoa học, chủ nghĩa duy vật đã trải qua ba hình thức cơ bản là: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng

Chủ nghĩa duy vật chất phác là hình thức sơ khai của chủ nghĩa duy vật Trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, chủ nghĩa duy vật chất phác đã lý giải toàn bộ sự sinh thành của thế giới từ một hoặc một số dạng vật chất cụ thể, cảm tính, coi đó là thực thể đầu tiên, là bản nguyên của thế giới Những lý giải đó được thể hiện trong nhiều học thuyết duy vật thời cổ đại ở Trung Quốc, Ấn Độ và

Hy Lạp Tuy còn rất nhiều hạn chế nhưng chủ nghĩa duy vật chất phác, về cơ bản

là đúng vì nó đã lấy bản thân vật chất của giới tự nhiên để giải thích về giới tự nhiên

Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật, thể hiện tiêu biểu trong lịch sử triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII Đặc điểm lớn nhất của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này là phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức về thế giới Tuy chưa phản ánh đúng thế giới trong mối liên

hệ phổ biến và sự phát triển nhưng chủ nghĩa suy vật siêu hình đã góp phần quan trọng trong việc chống lại thế giới qian duy tâm và tôn giáo, nhất là giai đoạn lịch

sử chuyển tiếp từ thời Trung cổ sang thời Phục hưng ở các nước Tây Âu

Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập, V.I Lênin và những người kế tục ông bảo

vệ và phát triển Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và việc sử dụng triệt để những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại và chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại Tây Âu,

Trang 3

đạt tới trình độ là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và

sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng

Toàn bộ hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng được xây dựng trên cơ sở lý giải một cách khoa học về vật chất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

Các nguyên lí của chủ nghĩa duy vật đã được giải thích một cách biện chứng

Ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao (bộ óc con người) và là sự phản ánh tự giác, tích cực các sự vật và quá trình của thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tuy nhiên, khác với chủ nghĩa duy vật cũ, chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ khẳng định sự phụ thuộc của ý thức vào vật chất mà còn thừa nhận tác động tích cực trở lại của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động của con người Theo quan điểm duy vật biện chứng: vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau thông qua hoạt động thực tiễn; trong mối quan hệ đó, vật chất giữ vai trò quyết định đối với ý thức Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất quyết định nguồn gốc, nội dung, bản chất, sự vận động, phát triển của ý thức Còn

ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất Tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh ra, nhưng khi đã ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng,

có quy luật vận động, phát triển riêng, không lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất

Ý thức tác động đến vật chất theo hai hướng chủ yếu:

- Nếu ý thức phản ánh đúng điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan thì sẽ thúc đẩy, tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng vật chất Trong trường

Trang 4

hợp này, ý thức có tác động trở lại tích cực đối với thực tiễn, đặc biệt là sự tác động của khoa học, lí luận Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định mục tiêu, phương hướng và biện pháp chính xác trong hành động và thực tiễn

- Ngược lại, nếu ý thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người không phù hợp với quy luật khách quan và kìm hãm sự phát triển của vật chất Tức là ý thức có tác động tiêu cực đối với thực tiễn Khi con người không nhận thức đúng, không hiểu rõ sự việc hiện tượng thì họ sẽ hành động sai và thường chịu những thất bại trong cuộc sống

Ví dụ, thuyết nhật tâm phản ánh đúng thế giới sẽ giúp khoa học phát triển Còn thuyết địa tâm của Aristot coi trái đất là trung tâm của vũ trụ đã kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất, làm cho “loài người ngủ trong giấc ngủ triền miên của những đêm dài trung cổ”

Vì vậy, con người phải thừa nhận tính khách quan của vật chất, thừa nhận quy luật tự nhiên của xã hội để phát huy tính năng động của ý thức, nhận thức đúng sự vật hiện tượng Thế giới vật chất với những thuộc tính, quy luật của nó tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức con người nên trong hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho hoạt động của mình

Ngoài ra, các nguyên lí của phép biện chứng được giải thích trên lập trường duy vật:

- Mỗi kết cấu vật chất có muôn vàn mối liên hệ qua lại với các sự vật và hiện tượng, quá trình khác của hiện thực

- Tất cả các sự vật cũng như sự phản ánh của chúng vào trong đầu óc con người đều ở trạng thái biến đổi, phát triển không ngừng

Trang 5

Phép biện chứng duy vật còn bao gồm lí luận nhận thức Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người, nhưng đó không phải là sự phản ánh đơn giản, trực tiếp, hoàn toàn, mà là quá trình tư duy không ngừng tiến gần đến khách thể

Cơ sở, động lực và mục đích của toàn bộ quá trình này là thực tiễn

Kết

luận : Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ

nghĩa duy vật, do Mác và Ăng-ghen sáng tạo, Lênin và những người kế tục ông phát triển Trên cơ sở phản ảnh đúng hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng Chủ nghĩa duy vật biện chứng được xây dựng dựa trên cơ sở lí giải một cách khoa học về vật chất, ý thức và mối liên hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Chính vì vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật

Câu 2: Phân tích mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong thời kì cách mạng công nghệ 4.0

Trước hết, phải định nghĩa được lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất là toàn bộ những lực lượng vật chất và tinh thần được sử dụng vào việc sản xuất ra của cải, vật chất Lực lượng sản xuất kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất (công cụ sản xuất và tư liệu lao động khác như hạ tầng cơ sở), tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội Như vậy, lực lượng sản xuất là những nhân tố có tính sáng tạo và tính sáng tạo đó có tính lịch sử Do đó, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người; trình độ thủ công của lực lượng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục giới tự nhiên thấp hơn rất nhiều so với lực lượng sản xuất ở trình độ kỹ thuật công nghiệp và công nghệ cao

Trang 6

Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất của quá trình sản xuất; không một quá trình sản xuất hiện thức nào có thể diễn ra nếu thiếu một trong hai nhân tố là người lao động và tư liệu sản xuất Thế nhưng, chỉ

có lực lượng sản xuất vẫn chưa thể diễn ra quá trình sản xuất hiện thực được, mà còn cần phải có những quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức xã hội của quá trình sản xuất ấy

Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang phát triển, cả người lao động và công cụ lao động được trí tuệ hoá, nền kinh tế của nhiều quốc gia phát triển đang trở thành nền kinh tế tri thức Đó là nền kinh tế mà trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức của con người đóng vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, từ đó tạo của cải vật chất và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Đặc trưng của kinh tế tri thức là công nghệ cao, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất và trong đời sống xã hội Lực lượng sản xuất phát triển trong mối quan hệ biện chứng với quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế – vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất Đây chính là một quan hệ vật chất quan trong nhất – quan hệ kinh tế, trong các mối quan hệ vật chất giữa người với người Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách quan, là quan hệ đầu tiên, cơ bản chủ yếu, quyết định mọi quan hệ xã hội Quá trình sản xuất vật chất chính là tổng thể các yếu tố trong một quá trình thống nhất, gồm sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau, quan hệ về phân phối sản phẩm lao động Trong đó quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định bản chất và tính chất của quan hệ sản xuất Đây cũng là quan hệ quy định địa vị kinh tế - xã hội của các tập đoàn người trong sản xuất, từ đó quy định

Trang 7

quan hệ quản lý và phân phối Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan

hệ khác

Bởi vì, lực lượng xã hội nào nắm phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất quy định

sự vận động, phát triển của các phương thức sản xuất trong lịch sử Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức sản xuất có tác động biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyế định quan hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất tác động trở lại to lớn đối với lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại, nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội Vì vậy

có thể nói năng suất lao động chính là thước đo sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất

Vì vậy trong thực tiễn, muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là phát triển lực lượng lao động và công cụ lao động Muốn xoá bỏ một quan hệ sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải căn

cứ từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, không phải là kết quả của mệnh lệnh hành chính, của mọi sắc lệnh từ trên ban xuống, mà từ tính tất yếu kinh tế, chống tuỳ tiện, chủ quan, duy tâm, duy ý chí

Ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển, cuộc cách mạng thời kì 4.0 đã làm thay đổi mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Khoa học công nghệ phát triển làm đa dạng hoá các hình thức của quan hệ sản xuất, từ đó khuyến khích, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, giải phóng mọi tiềm năng của sản xuất, tạo thêm động lực cho người lao động Ngày nay, con người đang

Trang 8

dần bị thay thế bởi robot, bởi trí tuệ nhân tạo; nhưng vẫn không thể phủ nhận vai trò quan trọng của con người trong lực lượng sản xuất Bởi chính con người tạo ra trí tuệ nhân tạo Cho đến bây giờ, chúng ta có thể thấy lợi ích vô cùng to lớn của trí tuệ nhân tạo Nó giúp ích cho cuộc sống con người trong rất nhiều lĩnh vực: toán, y dược, giáo dục, … Hãy tưởng tượng xem, một ngày khi bạn đi làm, sẽ không phải

lo lắng vì ngôi nhà có thể tự bảo vệ bởi mọi tác động xấu từ thời tiết hay con người Bạn di chuyển bằng xe tự hành, hạn chế được tai nạn giao thông Có những chú robot thông minh hỗ trợ làm việc tại cơ quan Về nhà cũng có robot hỗ trợ công việc nhà, nấu ăn Hay trong y học tương lai sẽ điều trị được mọi bệnh tật nhờ trí tuệ nhân tạo Nhiều người không hề phủ nhận lợi ích của nó mang lại cho chúng

ta Nhưng họ lại lo ngại sự phát triển của nó đến mức sẽ vượt qua sự kiểm soát của con người và hơn nữa thống trị thế giới Giáo sư vật lý nổi tiếng Stephen Hawking

đã cảnh báo, robot có thể phát triển nhanh hơn so với con người và mục tiêu của chúng sẽ không thể đoán trước được Giáo sư chia sẻ: “Tôi không cho rằng những tiến bộ trong trí tuệ nhân tạo là một sự an toàn trong tương lai, và chúng có thể sẽ

đe dọa tương lai của loài người chúng ta Một khi đạt đến mức độ nào đó, chúng ta

sẽ không thể dự đoán được mục tiêu cũng như khó lòng có thể kiểm soát được chúng” Ông nói thêm: “Trí thông minh nhân tạo có tiềm năng để phát triển nhanh hơn so với các chủng tộc của con người Do đó, ta cần đảm bảo AI được thiết kế có đạo đức và có biện pháp bảo vệ, kiểm soát nghiêm ngặt tại chỗ” Trí tuệ nhân tạo được phát minh ra như là một công cụ lao động hỗ trợ công việc của con người, vì vậy hãy kiểm soát và sử dụng nó một cách hợp lý

Ngày nay, dưới sự tác động của khoa học công nghệ, sự phát triển rực rỡ của nền văn minh nhân loại, các bộ phận của quan hệ sản xuất cũng có chiều hướng biến đổi Nó đang ngày càng biến đổi sao cho có sự thích ứng và phù hợp với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất Về quan hệ sở hữu, với sự phát triển như vũ bão và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của khoa học công nghệ thì kinh tế tri

Trang 9

thức đã bắt đầu xuất hiện Nó làm cho các hình thức sở hữu phát triển ngày càng đa dạng và đan xen nhau phức tạp, trong đó sở hữu hỗn hợp ngày càng phát triển Phạm vi của nó không chỉ dừng lại ở tư liệu sản xuất mà sở hữu trí tuệ, sở hữu công ngày càng có vai trò quan trọng Với xu thế toàn cầu hoá, kéo theo các nền kinh tế khác nhau xâm nhập vào thì sở hữu không chỉ mang yếu tố quốc gia mà còn mang tính chất quốc tế Như vậy các hình thức sở hữu quốc tế đã thâm nhập vào từng quốc gia làm đa dạng các quan hệ sở hữu Và do đó, quan hệ sản xuất của từng quốc gia phong phú hơn Về quản lý: xu hướng chung là vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế ngày càng cao Song Nhà nước không trực tiếp quản lý sản xuất kinh doanh Mà chủ yếu sử dụng các công cụ quản lý theo hướng xã hội hoá với việc xuất hiện các hình thức mới như các Công ty cổ phần Về mặt phân phối ngày càng đa dạng hoá các hình thức phân phối Ngoài phân phối theo lao động, còn có phân phân phối ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi xã hội và tập thể Phát triển cả hình thức phân phối theo nguồn lực đóng góp Bởi sự phát triển của các hình thức phân phối theo nguồn lực đóng góp Bởi sự phát triển của các hình thức phân phối là cơ sở công bằng xã hội

Thực hiện theo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học công nghệ đang đóng góp vai trò rất lớn trong việc phát triển nền kinh tế Giống như các cuộc cách mạng trước đó, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tiềm năng nâng cao mức thu nhập toàn cầu và cải thiện chất lượng cuộc sống cho dân cư trên toàn thế giới Đến nay, những người có được nhiều nhất từ nó đã được người tiêu dùng có khả năng chi trả và tiếp cận với thế giới kỹ thuật số; công nghệ đã tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới có thể làm tăng hiệu quả và niềm vui trong cuộc sống cá nhân của chúng ta Đặt một chiếc taxi, đặt một chuyến bay, mua một sản phẩm, thanh toán, nghe nhạc, xem phim hoặc chơi một trò chơi, bất kỳ điều nào trong số này bây giờ có thể được thực hiện

từ xa

Trang 10

Trong tương lai, sự đổi mới công nghệ cũng sẽ mang đến một phép màu cho các nhà cung ứng với những lợi ích lâu dài về hiệu quả và năng suất Chi phí vận chuyển và truyền thông sẽ giảm, các chuỗi cung ứng và hậu cần toàn cầu sẽ trở nên hiệu quả hơn và chi phí thương mại sẽ giảm Tất cả sẽ mở ra thị trường mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Và thực tế có rất nhiều trang thương mại điện tử xuất hiện, đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng Với nhiều mặt hàng cùng với kiểu dáng, mẫu mã khác nhau, thu hút sự quan tâm rất lớn của khách hàng Không chỉ vì hàng hoá đa dạng, phong phú mà còn vì sự tiện lợi, nhanh chóng của nó Không còn là hình thức trao đổi buôn bán trực tiếp mà giờ là thời đại “kinh doanh số”, tất cả giao dịch đều chỉ trong nháy mắt thông qua các ví điện tử, thẻ ngân hàng Không chỉ thuận tiện cho người mua, mà còn đem lại lợi ích cho người bán Vì giờ đây họ không cần phải thuê mặt bằng với một chi phí đắt đỏ nữa Chỉ cần một cái nháy chuột là họ có thể

tự tạo lập kênh bán hàng trên Internet của riêng mình

Nhưng bên cạnh những lợi ích to lớn trên, không thể không nhắc tới những hạn chế của cuộc cách mạng 4.0 Khi con người đang trở nên quá lạm dụng vào sự phát triển của khoa học công nghệ, con người ta sẽ trở nên trì trệ, không phát triển

Ví dụ như sử dụng điện thoại nhiều khiến con người ta mất đi sự giao tiếp với nhau, con người không kết nối được với con người qua thế giới thật Cuộc cách mạng 4.0 khiến con người ta nhìn nhận nhau qua một lăng kính hết sức mờ ảo Con người dần mất đi niềm tin tưởng lẫn nhau Cùng với sự phát triển của khoa học xã hội, cũng là sự phát triển của các tệ nạn xã hội Khi ngày nay, máy móc đang dần thay thế con người, sẽ có hàng triệu người thất nghiệp Và khi không đủ khả năng chi trả cho cuộc sống, con người sẽ dễ bị dụ dỗ tới những con đường sai trái

Kết luận: Cuộc cách mạng 4.0 đã làm thay đổi về lực lượng sản xuất, quan hệ

sản xuất và mối liên hệ giữa chúng Có những thay đổi tích cực, nhưng cũng có

Ngày đăng: 08/08/2021, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w