Sử dụng phương pháp cắt ngang mô tả, khảo sát 800 trẻ em tiểu học bằng bảng câu hỏi tại trường tiểu học Tập Sơn và trường Thực hành Sư phạm tại tỉnh Trà Vinh để xác định tỷ lệ nhiễm giun
Trang 1TÓM TẮT
Việt Nam là nước có tỷ lệ nhiễm các bệnh giun sán khá cao, đặc biệt là các bệnh giun đường ruột lây truyền qua đất Tác hại của bệnh đối với sức khỏe và đời sống nhân dân, nhất là trẻ em rất lớn nhưng âm thầm và bị che lấp bởi nhiều bệnh cấp tính và các nguy cơ khác nên chưa được quan tâm đúng mức
Xác định tỷ lệ nhiễm giun ký sinh đường ruột và các yếu tố liên quan
Sử dụng phương pháp cắt ngang mô tả, khảo sát 800 trẻ em tiểu học bằng bảng câu hỏi tại trường tiểu học Tập Sơn và trường Thực hành Sư phạm tại tỉnh Trà Vinh để xác định tỷ lệ nhiễm giun đường ruột và các yếu tố liên quan giữa tình trạng nhiễm và các biến số nghiên cứu Mẫu phân được khảo sát bằng phương pháp soi trực tiếp Dữ liệu nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm Spss 20.0
Tỷ lệ nhiễm giun đường ruột ở học sinh tiểu học tại Trà Vinh là 4,4% Trong đó, trường Thực hành Sư phạm có tỷ lệ nhiễm thấp nhất 0%, trường tiểu học Tập Sơn có tỷ lệ nhiễm cao nhất chiếm 8,8% Chủ yếu là giun móc chiếm tỷ lệ 100%, giun đũa 0,0%, giun tóc 0,0% Nhiễm ký sinh trùng lấy qua da có liên quan đến nhóm tuổi, thói quen tiếp xúc đất, dân tộc, kinh tế gia đình, thói quen ăn rau sống, sử dụng nhà vệ sinh và không liên quan đến giới tính, rửa tay hợp vệ sinh, thói quen uống nước đun sôi
Tỷ lệ nhiễm giun móc ở học sinh tiểu học Tập Sơn khá cao 8,8% Các mối tương quan trên cho thấy môi trường đất ở trường tiểu học Tập Sơn bị ô nhiễm trứng giun móc nặng và tiếp xúc đất thường xuyên là yếu tố nguy cơ làm nhiễm giun móc ở cộng đồng này
Từ khóa: ký sinh trùng đường ruột
Trang 2ABSTRACT
Background: Vietnam is a country with high prevalence of helminth
infections, especially soil-transmitted nematode infections The diseases have serious effects not only on adults’ health and lives but also on children’s growth and development Since the diseases are asymptomatic, hidden, and disguised by acute diseases and other risks, they are still not properly paid attention to
Objective: To determine the prevalence of soil-transmitted nematode
infections and the relationships between the infections and correlated factors
Methods: with the help of questionair, a cross-sectional study was
successfully conducted on 800 primary students in Tap Son primary school and Laboratory school in Tra Vinh province Stool samples were examined with direct smear method Data was accurated analysed by SPSS 20.0 software
Results: The rate of intestinal parasitic infection on the primary students
in Tra Vinh province is 4,4% Inside, Laboratory school have the rate of intestinal parasitic infection least 0,0%, Tap Son primary school have the rate of intestinal parasitic infection highest 8,8% Of those tested, were infected with at least one species of soil – transmitted nematode infections and hookworm was the predominant nematode (100%), followed Ascaris lumbricoides (0,0%), Trichuris trichiura (0,0%) Gastrointestinal parasitic infection through skin among the local people was significantly with ages, nation, family economy, eat fresh vegetables, latrines and behavioral exposure to soil No difference was found in sex, handwashing and drink boiled water
Conclusion : The rate of intestinal parasitic infection on the Tap Son
primary students in Tra Vinh province was high 8,8% These relationships show that Tap Son primary environment is heavily polluted with hookworm eggs and that directly behavioral exposure to soil is a risk related to hookworm infections in the community
Keywords : intestinal parasitic infection
Trang 3MỤC LỤC
THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
TÓM TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU, ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG,
TỪ NGẮN HOẶC THUẬT NGỮ
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
LỜI CẢM ƠN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Tổng quan nghiên cứu: 2
2.1 Lịch sử của bệnh giun ký sinh đường ruột: 2
2.2 Hình thể trứng và con trưởng thành: 3
2.3 Chu trình phát triển của giun ký sinh đường ruột: 5
2.4 Tác hại của nhiễm giun ký sinh đường ruột: 8
2.5 Dịch tễ học bệnh giun ký sinh đường ruột: 10
2.6 Chẩn đoán bệnh giun ký sinh đường ruột: 11
2.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhiễm giun đường ruột: 12
2.8 Các biện pháp phòng chống nhiễm giun đường ruột: 12
2.9 Một số đặc điểm của hai trường tiểu học nghiên cứu: 13
2.10 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước: 13
3 Mục tiêu nghiên cứu: 17
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 18
4.1 Đối tượng nghiên cứu 18
4.2 Phạm vi nghiên cứu 18
5 Phương pháp nghiên cứu: 18
5.1 Thiết kế nghiên cứu: 18
5.2 Cỡ mẫu: 18
5.3 Chọn mẫu: 18
5.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 20
5.5 Phương pháp nghiên cứu: 20
Trang 45.6 Định nghĩa biến số nghiên cứu: 23
5.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu: 25
PHẦN NỘI DUNG 26
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 26
1.1: Dân tộc: 26
1.2 Tuổi: 26
1.3 Giới tính: 27
1.4 Thói quen tiếp xúc với đất: 27
1.5 Tình trạng sử dụng nhà vệ sinh: 28
1.6 Vệ sinh cá nhân – Vệ sinh thực phẩm: 28
CHƯƠNG 2: TỶ LỆ NHIỄM CÁC LOÀI GIUN 29
CHƯƠNG 3: MỐI LIÊN QUAN GIỮA TỶ LỆ NHIỄM GIUN ĐƯỜNG RUỘT VÀ CÁC BIẾN SỐ VỀ DÂN SỐ HỌC 32
CHƯƠNG 4: MỐI LIÊN QUAN GIỮA TỶ LỆ NHIỄM GIUN ĐƯỜNG RUỘT VỚI CÁC BIẾN SỐ VỀ NGUY CƠ 37
PHẦN KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1 : PHIẾU KHẢO SÁT
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU, ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG,
:Cộng Sự :Formol Phenol Alcohol Methylene Blue :Giun Truyền Qua Đất
:Hợp Vệ Sinh :Nhiễm giun :Không nhiễm giun :Merthiolate Iode Formol :Nhà Vệ Sinh
:Trung Bình :Thực Hành Sư Phạm :Thành phố Hồ Chí Minh
:Trichuris trichiura
:Tập Sơn :Tiếp Xúc Đất :Xét Nghiệm :World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế Giới)
Trang 6Bảng 3.1: Tương quan giữ tỷ lệ nhiễm giun đường ruột và tuổi 31 Bảng 3.2: Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm giun đường ruột và giới 32 Bảng 3.3: Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm giun đường ruột và dân
Bảng 4.3: Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm giun đường ruột và thói
Bảng 4.4: Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm giun đường ruột và thói
Bảng 4.5: Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm giun đường ruột và thói
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Biểu đồ phân bố mẫu theo dân tộc 25
Biểu đồ 1.3: Biểu đồ phân bố mẫu theo giới tính 26 Biểu đồ 1.4: Biểu đồ phân bố mẫu theo thói quen tiếp xúc đất 26
Hình 4.3: Trẻ sử dụng tay nhặt bóng rơi xuống đất 43 Hình 4.4: Trẻ rửa tay không hợp vệ sinh khi nhặt rác xong 43
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu nhà trường, các khoa phòng chức năng, khoa Y – Dược và các Bộ môn Trường Đại học Trà Vinh đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin trân trọng cảm ơn Ths.Trần Quốc Huy, người Thầy với tấm lòng tận tụy, đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên, trực tiếp giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Em xin gửi đến các Thầy (Cô) trong Bộ môn Xét nghiệm Y khoa và khoa Y – Dược trường Đại học Trà Vinh lời cảm ơn sâu sắc về sự tâm huyết trong mỗi bài giảng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình học tập
Em xin chân thành cảm ơn tập thể lớp Đại học Xét nghiệm y học khóa
2014, cố vấn học tập, gia đình, những người bạn thân thiết đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ, chia sẻ khó khăn trong thời gian em học tập và hoàn thành đề tài
Mặc dù em đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, song khó tránh khỏi những mặt hạn chế, thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của các Thầy (Cô) giáo để bài nghiên cứu của
em được hoàn thiện hơn
Trang 91
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nhiễm ký sinh trùng đường ruột, đặc biệt là các loại giun, tóc, móc còn rất phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển nơi có điều kiện khí hậu nóng
ẩm, vệ sinh môi trường kém, nhiều phong tục và tập quán lạc hậu, nền kinh tế nghèo nàn Theo Tổ chức Y tế Thế Giới, khoảng 1/4 dân số thế giới bị nhiễm giun, tuỳ từng vùng, từng khu vực mà tỷ lệ nhiễm có khác nhau, dao động từ 25% đến 95% và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: địa lý, khí hậu, tập quán vệ sinh, trình độ dân trí, điều kiện kinh tế [1]
Cũng theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) 2007 ước tính có khoảng 1,4 tỷ người nhiễm giun đũa, 1 tỷ người nhiễm giun tóc và 1,2 tỷ người nhiễm giun móc/mỏ Trung tâm hợp tác của Tổ chức Y tế Thế Giới tại Oxford ước tính có 214 triệu người nhiễm giun đũa, 130 triệu người nhiễm giun tóc và ít nhất 98 triệu người nhiễm giun móc gây nhiều tác hại về lâm sàng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người nhất là trẻ em, làm suy dinh dưỡng, giảm khả năng phát triển về thể chất và trí tuệ cũng như khả năng học tập, còn gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như: tắc ruột do giun, giun chui ống mật, thậm chí còn là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến tử vong [16], [72], [87]
Các loại giun đường ruột phổ biến ở trẻ em là: giun đũa, giun tóc, giun móc, giun kim, giun lươn,…trong đó có nhiều trẻ bị nhiễm phối hợp hai hoặc cả ba loại giun Vì vậy nhiễm giun đường ruột là một trong những vấn
đề cần được ưu tiên trong chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
Việt Nam là một nước nhiệt đới nóng ẩm với tập quán sinh hoạt, vệ sinh
ăn uống thuận lợi cho ký sinh trùng đường ruột lưu hành Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng có khác nhau giữa các vùng địa lý và tập quán của từng vùng như
ở Quảng Ninh tỷ lệ nhiễm giun chung là 94,9% [30]
Theo kết quả điều tra ở Daklak của Nguyễn Xuân Thao (2002) “Đánh giá mức độ nhiễm giun truyền qua đất ở sinh viên khoa Y Dược Đại học Tây Nguyên và nhân dân huyện Krong Buk tỉnh DakLak” thì tỷ lệ nhiễm giun chung là 43,12% [77] và kết quả điều tra ký sinh trùng đường ruột ở huyện
Củ Chi (43,34%) của Nguyễn Văn Kim “Điều tra tình hình nhiễm giun móc
ở xã Tân Phú Trung huyện Củ Chi TP.HCM” [50] và theo kết quả điều tra của Trần Huệ Vân (2006) “Điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở sinh viên thực tập tại bộ môn ký sinh trùng” thì tỷ lệ nhiễm giun chung là 4,2% [90]
Còn theo kết quả điều tra của Nguyễn Ngọc Ánh (2013) “Đánh giá hiệu quả tẩy giun của Albendazole ở học sinh tiểu học xã Tân Thủy, huyện Ba Tri, Bến Tre” thì tỷ lệ nhiễm giun chung là 7,8% [25] Theo kết quả điều tra
ở Thái Bình của Vũ Thị Bình Phương (2012) “Thực trạng nhiễm ký sinh trùng đường ruột trên bệnh nhân đến khám tại khoa Vi sinh – Ký sinh trùng
Trang 102
từ 2008 -2010” thì tỷ lệ nhiễm giun chung là 44,2% [63] và kết quả điều tra
ký sinh trùng đường ruột ở huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam (30,26%) của Nguyễn Văn Đề (2013) “Nhiễm giun sán ở người, cá nước ngọt, rau xanh tại cộng đồng huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam” [36]
Trà Cú là một huyện duyên hải thuộc tỉnh Trà Vinh, huyện có đông đồng bào Khmer nhất tỉnh, chiếm 60% dân số so với dân số toàn huyện chủ yếu sinh sống ở các xã vùng xa Xã Tập Sơn có dân số khoảng 8941 người thuộc huyện Trà Cú, trong đó trẻ em đang độ tuổi đi học dễ nhiễm bệnh giun ký sinh đường ruột do tình trạng vệ sinh môi trường còn nhiều bất cập, rác thải sinh hoạt chưa được thu gom đúng cách, người dân có thói quen ăn rau sống, uống nước lã, đi chân đất Bệnh giun đường ruột tác hại đến mọi lứa tuổi, nhưng quan trọng nhất vẫn là trẻ em ở các trường tiểu học vì ở lứa tuổi này các em thường bị suy dinh dưỡng do đang qua thời kỳ phát triển mạnh
về thể chất và trí tuệ
Tuy nhiên, hiện nay bệnh giun đường ruột vẫn được coi là "căn bệnh bị lãng quên" do triệu chứng bệnh diễn biến âm thầm, dễ bị che lấp bởi nhiều bệnh cấp tính khác nên không được quan tâm đúng mức và chưa có quy mô phòng chống Hoạt động phòng chống bệnh giun ký sinh đường ruột chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế Giới thông qua mô hình tẩy giun cho học sinh ở các trường tiểu học, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) thông qua chương trình phòng chống bệnh truyền nhiễm
Chúng tôi nhận thấy cần biết được tình hình nhiễm giun ký sinh đường ruột ở học sinh tiểu học tại Trà Vinh để có cơ sở đề ra biện pháp phòng chống cụ thể, khả thi, đóng góp thêm cho chương trình phòng chống ký sinh trùng đường ruột đang triển khai trên phạm vi cả nước trong mục tiêu sức khỏe cho mọi người và làm nền móng cho các nghiên cứu sâu hơn về sau này [90] Xuất phát từ yêu cầu thực tế với mong muốn góp phần làm giảm tỷ
lệ nhiễm, giảm cường độ nhiễm và giảm tác hại các bệnh giun truyền qua đất ở trẻ em, đề tài nghiên cứu: “Khảo sát tỷ lệ nhiễm giun đường ruột và các yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại Trà Vinh năm 2017” được tiến hành
2 Tổng quan nghiên cứu:
2.1 Lịch sử của bệnh giun ký sinh đường ruột:
2.1.1 Sơ lược về giun đũa( Ascaris lumbricoides):
Giun đũa được EdWard Tyson (Anh Quốc) lần đầu tiên chính thức mô tả vào năm 1683, với hình dạng giống như giun ở đất và được đặt tên là
"Lumbricus teres" Sau đó các nhà khoa học đã đặt với nhiều tên khác nhau như Ascaris Lumbricoides (Linnaeus, 1758), Lumbricoides vulgaris (Merat, 1821),… đến năm 1915 Uỷ ban Quốc tế gồm 66 thành viên của các nước đã chính thức xác nhận tên giun đũa trên danh mục động vật học là Ascaris lumbricoides [55], [72]
Trang 113
2.1.2 Sơ lƣợc về giun tóc (Trichuris trichiura):
Giun tóc được mô tả lần đầu tiên bởi Linnaeus vào năm 1771, tiếp theo chu kỳ của giun tóc được Grassi xác định năm 1887 và được Fulleborn hoàn chỉnh vào năm 1923 Tình hình nhiễm giun tóc trên thế giới được Corn tổng hợp năm 1938 và được đánh giá là loại giun phổ biến ký sinh đường ruột Giun tóc có nhiều tên gọi khác nhau như Ascaris trichiura (Linnaeus 1771), Trichocephalus hominis, Trichocephalus Suis (Schrank 1788), Trichophalus apri (Ginelin 1790), Trichophalus dispa (Rodolphi 1802), Masligodes hominis (Zeder 1803), Trichocephalus crenatus (Rudolphi 1809), Trichiuris trichiura (Stiles 1901); trong đó Trichiuris trichiura được các chuyên gia Châu Mỹ thống nhất là tên gọi chính thức vào năm 1941 [21], [22], [71]
2.1.3 Sơ lƣợc về giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale/Necator americanus):
Bệnh giun móc đã được mô tả từ lâu trong các tài liệu cổ và đến thế kỷ
17 được nhiều tác giả mô tả đầy đủ hơn như Jakok de Bondt (1629), Pison
và Magraff (1648) Năm 1843, Dubini đã phát hiện thấy giun móc ở tử thi một bệnh nhân ở Milan đặt tên là Ancylostoma duodenale Tiếp sau đó, một
số tác giả khác như Prunez (1847), Bilharz (1852), Criesinger (1854) cũng phát hiện tương tự và mô tả thêm; tuy nhiên, tên gọi Ancylostoma duodenale được các nhà khoa học thống nhất trong danh mục động vật học vào năm
1915 [72]
Năm 1898, Loss đã xác định được cơ chế nhiễm bệnh qua da của giun móc, đến năm 1902 Stiles C.W đã tìm thấy Necator americanus và đặt tên là giun mỏ cũng ký sinh ở tá tràng nhưng phổ biến hơn Ancylostoma duodenale ở một số nơi [71]
Ở Việt Nam cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đã có những điều tra đầu tiên ở người qua các công trình nghiên cứu của Mathis, Léger, Salamon, Nerew và Maurriquand,… Đặc biệt là công trình của Mathis, Léger (1911) đã điều tra
cơ bản, toàn diện về các loại giun truyền qua đất Từ năm 1954 đến nay đã
có hàng ngàn công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực về các bệnh giun như nghiên cứu điều tra cơ bản, nghiên cứu về hình thể, đặc điểm sinh học, phân bố dịch tễ, bệnh học và biện pháp phòng chống [71], [72]
+ Trứng thụ tinh không điển hình: mất lớp vỏ sần sùi
Trang 12+ Thân: thân giun được bao bọc một lớp vỏ mà trước vẫn gọi là vỏ kitin,
ở trên lớp vỏ có các vùng ngấn làm tăng ma sát phần vỏ để di chuyển
+ Đuôi: đuôi giun đũa nhọn, gần đuôi sát về phía bụng có lỗ hậu môn Lỗ hậu môn con đực cũng là lỗ phóng tinh Đuôi giun đực thường cong, có hai gai sinh dục bằng nhau, lỗ sinh dục của con cái nằm ở 1/3 trước thân giun [33]
+ Giun đực dài 8-11 mm, giun cái dài 10-13mm
+ Đuôi giun đực sườn lưng chia hai nhánh ở đầu và mỗi nhánh lại chẻ 3, giữa túi giao hợp có 2 gai giao hợp mảnh và riêng lẽ, đuôi giun cái cùn
- Giun mỏ N.americanus:
+ Ngắn và nhỏ hơn giun móc, bộ phận miệng có 2 răng hình bán nguyệt sắc bén
+ Giun đực dài 7-9mm, giun cái dài 9-11mm
+ Sườn lưng ở túi giao hợp chia làm hai nhánh từ chân sườn và mỗi nhánh lại chẻ 2
Trứng:
+ Khó phân biệt vì trứng của hai loại giun giống nhau
+ Kích thước 60-70 m, hình trái xoan, vỏ mỏng, trong suốt, không ăn màu
+ Trứng lúc sinh ra có từ 4-8 phôi bào
Ấu trùng : phân biệt ấu trùng của 2 loại rất khó
- Ấu trùng giai đoạn 1:
+ Kích thước 250 17 m
+ Miệng mở, xoang miệng tương đối dài
+ Thực quản dầy, hình bầu do bắp thịt tạo thành Giai đoạn này không truyền bệnh