Khái niệm trách nhiệm pháp lý quốc tế: Dưới góc độ là chế định của Luật Quốc tế: Trách nhiệm pháp lý quốc tế là tổng thể những nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh quan
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ-LUẬT
- -BÁO CÁO THẢO LUẬN MÔN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
Hà Nội, 2020
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Đỗ Hồng Quyên Lớp học phần: 2051BLAW2711
Nhóm thực hiện: Nhóm 01
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 01
01 Phạm Gia Khánh An K54P3 Tình huống 2
04 Dương Thị Vân Anh K54P3 Tình huống 2
Tổng hợp Word
powerpoint
Lên dàn ý Thuyết trình
07 Nguyễn Thị Ngọc Anh K54P4 Tình huống 1
08 Nguyễn Thị Vân Anh K54P4 Tình huống 2
huống 2
10 Đoàn Thị Ngọc Ánh K54P3 MB + KL tình
huống 1
Trang 3MỤC LỤC
BÀI TẬP 1: 4
I Giới thiệu chung vấn đề: 4
II Giải quyết tình huống: 4
III Kết thúc vấn đề: 7
BÀI TẬP 2: 8
I Giới thiệu chung vấn đề: 8
II Giải quyết vấn đề: 8
1 Câu hỏi 1 8
2 Câu hỏi 2 11
III Kết thúc vấn đề: 12
Trang 4BÀI TẬP 1:
Năm 2000, quốc gia X trở thành thành viên chính thức của WTO với hàng loạt các cam kết đã được thoả thuận trước đó Trong đó có thoả thuận về lộ trình giảm thuế của quốc gia này đối với một số mặt hàng trong nhóm các nước WTO
Hạn cuối thực hiện lộ trình của quốc gia X đối với việc giảm thuế là năm 2011 Đến tháng 12/2011, Quốc hội của Quốc gia X vẫn chưa hề có động tĩnh gì trong việc ban hành các văn bản pháp lý cần thiết để quy định việc giảm thuế suất Vì vậy WTO đã cáo buộc quốc gia này vi phạm pháp luật quốc tế
Quốc gia X có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý hay không? Giải thích?
BÀI LÀM:
I Giới thiệu chung vấn đề:
Việc gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới là một bước ngoặt, một dấu mốc đối với đa số các quốc gia Vì vậy, đi đôi với quyền lợi, các quốc gia phải đảm bảo nguyên tắc tôn trọng, tận tâm, thiện chí đối với cam kết quốc tế; thể hiện thiện chí hợp tác phát triển, đôi bên cùng có lợi
II Giải quyết tình huống:
1 Khái niệm trách nhiệm pháp lý quốc tế:
Dưới góc độ là chế định của Luật Quốc tế:
Trách nhiệm pháp lý quốc tế là tổng thể những nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể của Luật Quốc tế (mà chủ yếu
là các quốc gia) trong trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế hoặc thực hiện những hành vi mà luật quốc tế không cấm, gây thiệt hại cho chủ thể khác
Trong quan hệ pháp luật quốc tế:
Trách nhiệm pháp lý quốc tế là quan hệ phát sinh giữa một bên là chủ thể Luật Quốc tế có hành vi gây thiệt hại với một bên là chủ thể có quyền và lợi ích bị xâm hại
do những hành vi đó
Dưới góc độ là một hiện tượng của đời sống quốc tế:
Trách nhiệm pháp lý quốc tế là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể của Luật quốc
tế phải gánh chịu do có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế hoặc do thực hiện các hành
Trang 5vi mà luật quốc tế không cấm nhưng gây thiệt hại cho các chủ thể khác hoặc cho cộng đồng quốc tê
2 Giải quyết vấn đề:
Để xác định việc quốc gia X có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý hay không cần dựa vào 3 yếu tố:
+ Có hành vi trái pháp luật quốc tế
+ Có thiệt hại
+ Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra
Hành vi trái pháp luật quốc tế:
Hành vi trái pháp luật quốc tế là hành vi vi phạm các nguyên tắc và quy phạm luật quốc tế, vi phạm các nghĩa vụ quốc tế, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết quốc tế, kể cả việc không thực hiện những hành vi cần phải thực hiện theo đúng quy định của luật quốc tế nhằm ngăn ngừa, trừng trị kẻ vi phạm Gồm 2 dạng hành động và không hành động Đây luôn được coi là điều kiện cơ bản để có cơ
sở xác định có hay không trách nhiệm pháp lý quốc tế Thiếu điều kiện này thì không đặt ra trách nhiệm pháp lý quốc tế
Căn cứ Điều 1 Nghị quyết 56/83 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về trách
nhiệm quốc tế của quốc gia đối với hành vi trái Luật quốc tế: “Chủ thể của Luật quốc
tế có các hành vi trái luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế”
Căn cứ Điều 2 Nghị quyết 56/83 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về trách
nhiệm quốc tế của quốc gia đối với hành vi trái Luật quốc tế:
“Hành vi trái luật quốc tế của một quốc gia là hành vi bao gồm hành động và không hành động :
a được quy cho quốc gia đó theo luật pháp quốc tế; và
b cấu thành một vi phạm nghĩa vụ của quốc gia đó”
Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 56/83 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về Trách
nhiệm quốc tế của quốc gia đối với hành vi trái Luật quốc tế:
“Quốc gia vi phạm cam kết quốc tế khi có hành vi không phù hợp với các nghĩa vụ
mà quốc gia đó đã cam kết ”
Trang 6Quốc gia X đã cam kết thực hiện lộ trình giảm thuế xuất đối với một số mặt hàng trong nhóm các nước WTO với hạn cuối thực hiện lộ trình của quốc gia X đối với việc giảm thuế là năm 2011 thì bắt buộc quốc gia X phải tuân thủ, thực hiện đúng trong thời hạn cam kết Tuy nhiên đến tháng 12/2011, Quốc hội của Quốc gia X vẫn chưa hề có động tĩnh gì trong việc ban hành các văn bản pháp lý cần thiết để quy định việc giảm thuế suất (không có lý do chính đáng – nếu trong trường hợp đặc biệt, vì có
lý do khách quan dẫn đến việc quốc gia X không thực hiện đúng thời hạn: do thiên tai, do chiến tranh, thì quốc gia X phải có nghĩa vụ báo lại với các quốc gia có liên quan và được sự đồng ý của các quốc gia đó Nhưng ở đây, quốc gia X không có động tình gì – nên không nằm trong các trường hợp ngoại lệ/ miễn trừ trách nhiệm)
Quốc gia X không tuân thủ việc thực hiện thoả thuận một cách thiện chí, triệt để Bởi việc ban hành các văn bản pháp lý cần thiết để quy định việc giảm thuế suất phải cần khá nhiều thời gian, công sức và phải chuẩn bị trước khá lâu Do đó có thể thấy quốc gia X không có sự chuẩn bị, không có thiện chí thực hiện nghĩa vụ cam kết quốc
tế mà mình đã thỏa thuận Theo đó, cáo buộc của WTO về việc quốc gia X vi phạm pháp luật quốc tế là hoàn toàn có căn cứ
=> Quốc gia X đã vi phạm nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết là hành vi trái pháp luật quốc tế Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong Luật quốc
tế:
Mọi quốc gia đều có nghĩa vụ thực hiện tự nguyện, có thiện chí, trung thực và đầy đủ các nghĩa vụ Điều ước quốc tế của mình Điều này xuất phát từ việc các quốc gia tiến hành thực hiện các cam kết do chính mình đưa ra (cam kết đơn phương)
Mọi quốc gia phải tuyệt đối tuân thủ việc thực hiện nghĩa vụ điều ước quốc tế, tuân thủ một cách triệt để, không do dự Điều này có nghĩa là điều ước quốc tế phải được thực hiện triệt để, không phụ thuộc vào các sự kiện trong và ngoài nước
Chủ thể trong quan hệ trách nhiệm pháp lý:
Quốc gia X là chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế
Tổ chức WTO là chủ thể truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế
Hành vi trái pháp luật luôn được coi là điều kiện cơ bản để có cơ sở xác định có hay không trách nhiệm pháp lý quốc tế, thiếu điều kiện này thì không đặt ra trách nhiệm pháp lý quốc tế
Trang 7=> Như vậy, quốc gia X (chủ thể của luật quốc tế) phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do có hành vi trái pháp luật quốc tế.
Thiệt hại :
Để buộc một chủ thể luật quốc tế phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường do hành
vi trái pháp luật của mình thì hành vi đó dù ở mức độ hay hình thức nào cũng phải đã gây ra thiệt hại cho chủ thể khác Yếu tố thiệt hại là cơ sở quan trong để để tính toán
việc bồi thường Thiệt hại có thể là thiệt hại vật chất và thiệt hại phi vật chất So với
điều kiện về hành vi trái pháp luật, yếu tố thiệt hại không có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định có trách nhiệm pháp lý quốc tế hay không, nó là cơ sở để giải quyết bồi thường thiệt hại khi xác định đã có trách nhiệm pháp lý.
=> Trong trường hợp này, hành vi của quốc gia X chưa gây ra thiệt hại thực tế (do chưa đến hạn quốc gia X phải hoàn thành cam kết) Nhưng có thể thấy rõ, việc quốc gia X không thực hiện cam kết một cách thiện chí (ban hành các văn bản pháp lý cần thiết để quy định việc giảm thuế suất phải cần khá nhiều thời gian, công sức và phải chuẩn bị trước khá lâu và quốc gia X không có động tĩnh gì) thì có thể sẽ trực tiếp gây
ra thiệt hại vật chất, ở đây là thiệt hại về lợi ích kinh tế, tài chính cho một số quốc gia được hưởng ưu đãi về lãi suất như lộ trình đặt ra Tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại xảy
ra đối với nhóm các quốc gia trong WTO để xác định được mức bồi thường quốc gia
X phải chịu
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra:
Hành vi trái pháp luật là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy
ra, nguyên nhân phải xảy ra trước kết quả trong khoảng thời gian xác định
=> Việc quốc gia X không thực hiện cam kết là nguyên nhân trực tiếp đến thiệt hại đối với nhóm nước trong tổ chức WTO Có nghĩa là nếu như quốc gia X thực hiện đúng về thời hạn, nội dung việc giảm thuế suất thì sẽ không gây ra những thiệt hại trên
Kết luận: Quốc gia X đã có hành vi trái pháp luật quốc tế và dù chưa có thiệt hại
xảy ra nhưng quốc gia X vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý Trước mắt chưa
có thiệt hại gì xảy ra nhưng hành vi trái pháp luật của quốc gia X thực chất tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ gây ra thiệt hại Chính vì vậy nên nếu hành vi trái pháp luật của quốc gia X gây nên thiệt hại trực tiếp cho nhóm các quốc gia trong WTO thì tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại sẽ xác định được mức bồi thường quốc gia X phải chịu
Trang 8III Kết thúc vấn đề:
Mỗi quốc gia đều phải có trách nhiệm đối với những mối quan hệ hợp tác song phương, đa phương của mình, đảm bảo những nguyên tắc nhất định khi tham gia các thỏa thuận quốc tế; thể hiện sự thiện chí, tận tâm đối với các thỏa thuận đó Đây cũng
là một trong những biểu hiện rõ ràng nhất để các quốc gia khác chiếu vào, đánh giá và xem xét phát triển mối quan hệ với quốc gia này
BÀI TẬP 2:
Năm 2010 tại quốc gia A xảy ra cuộc biểu tình với quy mô lớn Tuy nhiên cuộc biểu tình này lại nhằm vào đại sứ quán Hàn Quốc tại quốc gia A Đại sứ quán Hàn Quốc bị ném đá và gạch rất nhiều vào bên trong trụ sở Tuy nhiên, dù biết được thông tin chính xác của vụ việc nói trên, nhưng quốc gia A đã không thực hiện hành vi ngăn chặn để bảo vệ an ninh cho khu vực trụ sở ngoại giao của Hàn Quốc
1 Quốc gia A có phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế hay không? Vì sao?
2 Giả sử rằng, quốc gia A thực hiện mọi hành động để ngăn ngừa hành vi nói trên và
cơ quan tài phán của A cũng đã tiến hành xét xử 1 số đối tượng tổ chức cuộc biểu tình Cơ quan tài phán của quốc gia A có quyền xét xử đối với các đối tượng tổ chức cuộc biểu tình đó hay không vì có quan điểm cho rằng cơ quan tài phán của quốc gia không có thẩm quyền nói trên
BÀI LÀM
I Giới thiệu chung về vấn đề:
Hằng năm, các cuộc biểu tình của người dân nhắm vào đại sứ quán xảy ra không ít trên thế giới với nhiều mục đích khác nhau ví dụ như ngày 26/10/2020, hàng nghìn người biểu tình tiến vào Đại sứ quán Đức ở Bangkok (Thái Lan) để yêu cầu điều tra các hoạt động của nhà vua Maha Vajiralongkorn trong thời gian ông ở Đức hay ngày 28/10/2020 hàng chục người Iran tập trung bên ngoài đại sứ quán Pháp tại Tehran để phản đối Tổng thống Macron vì cho rằng ông này có quan điểm "chống Hồi giáo", ngày 13/12/2019 Người Hàn Quốc biểu tình bên ngoài Đại sứ quán Mỹ ở Seoul, nhằm phản đối yêu cầu tăng "phí bảo vệ" của Tổng thống Trump Vậy liệu các cuộc biểu tình đó sẽ được giải quyết như thế nào? Ai sẽ là người phải chịu trách nhiệm pháp lý
Trang 9và hành vi đó sẽ chịu sự điều chỉnh của những văn bản pháp luật nào? Đó là câu hỏi
mà chúng ta cần phải tìm hiểu
IV Giải quyết vấn đề:
1 Quốc gia A có phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế hay không? Vì sao?
Khái niệm trách nhiệm pháp lý quốc tế:
Góc độ là một hiện tượng của đời sống quốc tế:
Trách nhiệm pháp lý quốc tế là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể Luật Quốc tế phải gánh chịu do có hành vi vi phạm luật quốc tế hoặc do thực hiện các hành vi mà luật quốc tế không cấm nhưng gây thiệt hại cho các chủ thể khác hoặc cho cộng đồng quốc tế
Góc độ là chế định của Luật Quốc tế:
Trách nhiệm pháp lý quốc tế là tổng thể những nguyên tắc và quy phạm luật quốc
tế điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể của Luật Quốc tế ( mà chủ yếu là các quốc gia) trong trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế hoặc thực hiện những hành vi mà luật quốc tế không cấm, gây thiệt hại cho chủ thể khác
Quan hệ pháp luật quốc tế:
Trách nhiệm pháp lý quốc tế là quan hệ phát sinh giữa một bên là chủ thể Luật Quốc tế có hành vi gây thiệt hại với một bên là chủ thể có quyền và lợi ích bị xâm hại
do những hành vi đó
Cơ sở xác định trách nhiệm pháp lý của quốc gia A:
Trong tình huống này quốc gia A phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế Điều đó được chứng minh qua các yếu tố sau:
Có hành vi trái pháp luật quốc tế:
Hành vi trái pháp luật quốc tế là hành vi vi phạm các nguyên tắc và quy phạm luật quốc tế, vi phạm các nghĩa vụ quốc tế, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết quốc tế, kể cả việc không thực hiện những hành vi cần phải thực hiện theo đúng quy định của luật quốc tế nhằm ngăn ngừa, trừng trị kẻ vi phạm
Căn cứ Điều 1 Nghị quyết 56/83 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về trách
nhiệm quốc tế của quốc gia đối với hành vi trái Luật quốc tế: “ Chủ thể của Luật
quốc tế có các hành vi trái luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế” => Quốc
Trang 10gia A là chủ thể của Luật Quốc tế vì vậy quốc gia A cũng phải chịu mọi trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với nhữn hành vi trái pháp luật
Căn cứ Khoản 2 Điều 22 Công ước Viên 1961 về Quan hệ Ngoại giao quy
định : “Nước tiếp nhận có nghĩa vụ đặc biệt thi hành mọi biện pháp thích đáng để
ngăn chặn việc xâm nhập hoặc làm hư hại trụ sở của cơ quan đại diện, việc phá rối
sự yên tĩnh hoặc làm tổn hại đến phẩm cách của cơ quan đại diện.”
Căn cứ Điều 2 Nghị quyết 56/83 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về Trách
nhiệm quốc tế của quốc gia đối với hành vi trái Luật quốc tế:
“Hành vi trái luật quốc tế của một quốc gia là hành vi bao gồm hành động và không hành động :
a) Được quy cho quốc gia đó theo luật pháp quốc tế; và
b) Cấu thành một vi phạm nghĩa vụ của quốc gia đó”
Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 56/83 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về Trách
nhiệm quốc tế của quốc gia đối với hành vi trái Luật quốc tế: “Quốc gia vi phạm cam
kết quốc tế khi có hành vi không phù hợp với các nghĩa vụ mà quốc gia đó đã cam kết”
=> Việc Hàn Quốc đặt trụ sở ngoại giao của mình tại Quốc gia A, như vậy, giữa Quốc gia A và Hàn Quốc có tồn tại việc ký kết điều ước quốc tế về quan hệ ngoại giao Quốc gia A đã có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế khi không thực hiện nghĩa vụ
đã cam kết trong Công ước Viên 1961, cụ thể: Mặc dù biết được thông tin chính xác của vụ việc nói trên, nhưng quốc gia A đã không thực hiện hành vi ngăn chặn để bảo
vệ an ninh cho khu vực trụ sở ngoại giao của Hàn Quốc – là mục tiêu của cuộc biểu tình quy mô lớn
Có thể có thiệt hại xảy ra:
Yếu tố thiệt hại là cơ sở quan trọng để tính toán việc bồi thường, nó xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế, là cơ sở để giải quyết bồi thường thiệt hại khi xác định đã có trách nhiệm pháp lý
Đại sứ quán Hàn Quốc bị ném đá và gạch rất nhiều vào bên trong trụ sở nhưng lại không có sự bảo vệ, ngăn chặn của quốc gia A => Điều này, có thể dẫn đến thiệt hại
về tài sản, gây thương tích đối với các thành viên làm việc bên trong Đại sứ quán Hàn Quốc
Trang 11 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại:
Tuy hành vi này không phải nhân danh quốc gia A nhưng quốc gia trên đã biết về
vụ việc lại không có bất kỳ hành vi nào nhằm ngăn chặn, bảo vệ Đại sứ quán Hàn Quốc trước cuộc biểu tình quy mô lớn có thể gây thiệt hại cho đại sứ quán của Hàn Quốc => Gián tiếp làm phát sinh trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia A khi không thực hiện nghĩa vụ pháp lý quốc tế của mình trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Đại sứ quán Hàn Quốc
=> Như vậy, quốc gia A có phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế.
2 Giả sử rằng, quốc gia A thực hiện mọi hành động để ngăn ngừa hành vi nói trên và cơ quan tài phán của A cũng đã tiến hành xét xử 1 số đối tượng tổ chức cuộc biểu tình Cơ quan tài phán của quốc gia A có quyền xét xử đối với các đối tượng tổ chức cuộc biểu tình đó hay không vì có quan điểm cho rằng cơ quan tài phán của quốc gia không có thẩm quyền nói trên?
Cơ quan tài phán quốc gia là cơ quan do quốc gia đó thành lập nhằm thực hiện chức năng giải quyết các tranh chấp phát sinh theo một trình tự, thủ tục nhất định do quy phạm pháp luật quy định
Trong pháp luật quốc tế, có hai loại quyền tài phán: theo lãnh thổ và theo quốc tịch Quyền tài phán theo lãnh thổ là quyền tài phán được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ nhất định Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia của mình, nhà nước thực hiện quyền tài phán đầy đủ trừ những trường hợp có quy định khác trong điều ước quốc tế Quyền tài phán của quốc gia thực hiện theo nguyên tắc: mọi hành vi vi phạm pháp luật do công dân, tổ chức, của bất cứ quốc gia nào, trừ những người được miễn trừ ngoại giao mà xảy ra trên lãnh thổ của quốc gia - bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển đều do các cơ quan xét xử của quốc gia nơi xảy ra vi phạm pháp luật hoặc xảy ra tranh chấp xét xử và xét xử theo pháp luật của quốc gia đó
Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 22 Công ước Viên 1961 về Quan hệ
Ngoại giao quy định :
“Nước tiếp nhận có nghĩa vụ đặc biệt thi hành mọi biện pháp thích đáng để ngăn chặn việc xâm nhập hoặc làm hư hại trụ sở của cơ quan đại diện, việc phá rối sự yên tĩnh hoặc làm tổn hại đến phẩm cách của cơ quan đại diện.”