Slide thao giảng độc tiểu thanh kí của Nguyễn Du trong tập Thanh Hiên thi tập. Bài thơ là tiếng khóc thương cho số phận nàng Tiểu Thanh nhưng cũng để khóc thương cho chính số phận bạc bẽo của đời người. Nguyễn Du than mà rằng: Ba trăm năm lẻ nữa, người đời ai khóc Tố Như chăng?
Trang 1ĐỘC TIỂU THANH KÍ
-NGUYỄN
Trang 2DU-I
Tìm hiểu chung
Trang 3Là đại thi hào của dân tộc
Việt Nam
1765 - 1820
1 Tác giả: Nguyễn Du
Trang 42 Vài nét về Tiểu Thanh
Trang 6- Năm 16 tuổi: lấy lẽ một người họ Phùng, bị
vợ cả ghen, bắt ra ở một mình trên núi Cô Sơn (Hàng Châu- Trung Quốc),
- Năm 18 tuổi: Lâm bệnh, qua đời
Trang 7• - Khi nàng mất, người vợ cả đốt hết thơ, từ, chỉ còn sót lại một số bài thơ, từ do nàng viết trên hai tờ giấy gói tặng mấy vật trang sức cho một cô gái (phần dư)
Trang 82 Bài thơ
“Độc Tiểu Thanh kí”
Trang 9a Nhan đề
• Đọc tập thơ của Tiểu Thanh.
• Đọc Tiểu Thanh truyện.
Trang 10b Hoàn cảnh sáng tác.
• Có ý kiến cho là được viết trên đường Nguyễn Du đi sứ.
đưa vào tập Bắc hành tạp lục.
• Có ý kiến cho là Nguyễn Du viết ở
Thăng Long (Huế)
Đưa vào Thanh Hiên thi tập.
Trang 11Kim Vân Kiều Truyện- Thanh Tâm Tài Nhân
Thử coi từ trước tới nay, những hạng giai nhân tuyệt thế, được bao nhiêu kẻ chẳng bị vùi dập…? Coi đó ta thấy tạo vật ghét sự hoàn toàn, hễ cho ai đủ cái này thì lại bớt đi cái khác Sinh ra một đoá hồng, bắt chịu mười phần dập gãy, phó cho một mảnh tài tình, bèn tặng ngay cho mười phần nghiệp chướng quả thực không sai vậy Tức như nàng Tiểu Thanh ở Dương Châu, kể về tài, tình, sắc, tính thì khồn điểm nào không đứng vào bậc nhất, thế mà lại ghép ngay cho một anh chàng ngây ngô, chẳng khác nào bẻ gãy lại gặp một tay đố phụ áp bức nàng phải chết một cách khổ cực Há chẳng đáng thương… Ví bằng Tiểu Thanh chỉ
là một phái bình thương như nữ bình chương được nhởn nhơ trong hàng tiểu tinh ( ngôi sao nhỏ, chỉ là vợ lẽ) cũng đã mãn nguyện… Nói tóm lại, ngọc hễ không mài thì không thấy chất rắn Cây gỗ đàn không đốt thì không thấy thơm Nhưng chẳng riêng gì Tiểu Thanh, phàm hạng con gái trong thiên hạ, hễ đã tài mạo song toàn mà sinh chẳng gặp thời, thì đều giống như Tiểu Thanh hết thảy, và cũng được lưu truyền bất hủ như Tiểu Thanh vậy
Vậy nay xin nhắc tới một người con gái về phần tài mạo cũng chẳng kém gì Tiểu Thanh, thế mà cảnh ngộ lại còn éo le hơn.Thiết tưởng người đó đủ so sánh sự tốt đẹp với Tiểu Thanh, cùng với Tiểu Thanh lưu danh thiên cổ Những năm Gia Tĩnh nhà Minh…
Trang 12Trương Chính: Nguyễn Du không vượt sông Trường Giang, không đến Hồ Tây…
mà xuôi dòng Trường Giang
về Võ Xương tháng chap năm Quý Dậu 1813.
Trang 13ĐỘC TIỂU THANH KÍ
PHIÊN ÂM
Trang 14ĐỘC TIỂU THANH KÍ
PHIÊN ÂM
Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương Nỗi hờn kim cổ trời khôn nói
Cái án phong lưu khách tự mang
Chăng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Trang 15c Thể thơ Thất ngôn bát cú
Đường luật
Trang 17II Đọc- Hiểu văn
bản
Trang 181 Hai câu Đề:
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Trang 19Tây Hồ ( Chiết Giang- Trung Quốc)
Hoa uyển Thành khư
Vườn hoa Gò hoang, bãi hoang
Thời gian
Tẫn ( hết, cùng)
Sự xót xa, ngậm ngùi cho sự đổi thay của vườn hoa Tây Hồ cũng là sự thay đổi của cuộc đời.
Trang 20-Nghệ thuật đối: vườn hoa- đẹp rực rỡ >< bãi
hoang, cô quạnh
Sự thay đổi của thiên nhiên, cảnh vật
Cảnh xưa đẹp là thế mà nay hoang tàn, phế tích
Trang 21Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn
lòng
Trang 22-> Độc điếu ( Thổn thức ) – một mình cô đơn xót thương
Nguyễn Du đang khóc Tiểu Thanh.
Trang 23+ Song tiền: cửa sổ
Trang 24• + Nhất chỉ thư: Một mảnh giấy tàn, một tập sách bị đốt dở
– Phần Dư cảo của Tiểu Thanh
Một mình xót thương nàng khi đọc một tập sách trước song cửa.
Trang 25Nhận xét:
Trang 262 Hai câu Thực :
Trang 27Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư
Son phấn có thần chôn vẫn hận Văn chương không mệnh đốt còn vương
Trang 28- Hình tượng thơ: ẩn dụ + đối
Văn chương tài năng
Son phấn sắc đẹp.
Trang 29Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?
Trang 30Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Trang 31Trong cung quế âm thầm chiếc bóng, Đêm năm canh trông ngóng lần lần Khoảnh làm chi bấy chúa xuân!
Chơi hoa cho rữa thúy dần lại thôi.
Trang 32Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này.
Trang 333 Hai câu Luận
Trang 34Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi, Cái án phong lưu khách tự mang
Trang 35*Câu thơ: Cổ kim hận sự thiên nan vấn ( Nỗi hờn kim cổ trời khôn nói)
-“Nỗi hờn kim cổ”- là nỗi đau, mối hận của con người từ xưa tới nay:
+ Người xưa: Tiểu Thanh và những người phụ nữ cùng cảnh ngộ
+ Người nay: Những người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh, tài mệnh tương đố cùng thời
với Nguyễn Du và thế hệ những nhà thơ tài năng nhưng gặp nhiều khổ đau, bất hạnh
trong cuộc đời như Nguyễn Du.
Trang 36mối hận từ đời này sang đời khác tạo thành câu khó với
trời đất
- “Thiên nan vấn”
Trang 37*Câu thơ: Phong vận kì oan ngã tự cư ( Cái án
phong lưu khách tự mang)
- Cái án phong lưu khách tự mang: nỗi đau và nỗi oan như 1 cái án lớn – mà người khách phong lưu phải mang
Trang 38+ Ngã: tôi, ta cái tôi trực tiếp hiện diện hiếm có
trong thơ cổ.
+ Bản dịch Khách: khách thể nói chung làm mất ý
chủ thể, cái tôi của Nguyễn Du.
Trang 394 Hai câu Kết
Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Trang 40-Nội dung: Là nỗi niềm tự vấn của
Trang 41• + Tố Như (sợi tơ trắng) là tên chữ, bút hiệu của Nguyễn Du tư cách một nhà thơ, một nghệ
sĩ, một cái tôi cá nhân. việc xưng danh này hiếm thấy trong VHTĐVN.
Trang 42- Điều Nguyễn Du băn khoăn: Không biết ai là người mai sau thấu hiểu, thương cảm ông như ông đã
đồng cảm, khóc thương nàng Tiểu Thanh.
Trang 44Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều,
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghư như non nước vọng lời nghìn thu
Nghìn năm thương nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày…
Bài ca mùa xuân 1961- Tố Hữu.
Trang 45Nguyễn Du viết Kiều đất nước hoá thành văn.
Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng? -Chế Lan Viên