Phân môn này cung cấp các kiến thức sơ giản về tiếng mẹ đẻ, mở rộng, hệ thống hóa vốn từ, rèn luyện cho học sinh kĩ năng đặt câu, sử dụng dấu câu phù hợp, viết câu đúng ngữ pháp, dùng từ
Trang 2I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ở trường Tiểu học, mỗi môn học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam, trong đó có môn Tiếng Việt Phát triển ngôn ngữ là yếu tố quan trọng để phát triển năng lực, trí tuệ của học sinh, hình thành và phát triển phẩm chất, đạo đức, tình cảm, thói quen cho trẻ em Môn Tiếng Việt hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói đọc, viết) nhằm từng bước giúp các em làm chủ dần công cụ ngôn ngữ để học tập, giao tiếp Môn Tiếng Việt còn luyện cho học sinh phương pháp suy nghĩ, các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán), giáo dục cho các em những tình cảm tốt đẹp
Trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học, phân môn Luyện từ và câu giữ một vị trí quan trọng Phân môn này cung cấp các kiến thức sơ giản về tiếng mẹ đẻ, mở rộng,
hệ thống hóa vốn từ, rèn luyện cho học sinh kĩ năng đặt câu, sử dụng dấu câu phù hợp, viết câu đúng ngữ pháp, dùng từ chuẩn xác, từ đó học sinh mới có thể viết văn hay Bên cạnh đó, việc chọn lọc từ viết câu còn hướng cho học sinh sử dụng tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
Tuy nhiên trong thực tế dạy học, tôi nhận thấy kĩ năng nói, viết câu của học sinh còn nhiều hạn chế Trong quá trình viết câu, viết văn nhiều em viết chưa rõ ý, diễn đạt chưa trọn vẹn, viết câu thiếu thành phần, câu chưa gãy gọn và sử dụng sai
từ ngữ để viết câu dẫn đến câu sai về ý nghĩa Trăn trở trước thực tế đó, tôi đã
mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng đề tài “Xây dựng các dạng bài tập nhằm rèn kĩ năng viết câu cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học thị trấn Rừng Thông, Đông Sơn, Thanh Hóa” vào giảng dạy trong năm học 2015-2016
2 Mục đích nghiên cứu: Thông qua đề tài giúp học sinh lớp 5 có kĩ năng
viết câu, từ đó, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học
3 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Thị trấn Rừng
Thông, Đông Sơn, Thanh Hóa
4 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp khảo sát, phương pháp thực
nghiệm, phương pháp phân tích - tổng hợp
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Với lứa tuổi học sinh tiểu học, môn Tiếng Việt giữ vai trò đặc biệt quan trọng Việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường nhằm tạo cho học sinh năng lực sử dụng
Trang 3học Tiếng Việt, nhà trường rèn luyện cho các em năng lực tư duy, phương pháp suy nghĩ, giáo dục các em những tư tưởng lành mạnh, trong sáng, góp phần hình thành nhân cách cho học sinh
Môn Tiếng Việt ở tiểu học bao gồm các phân môn: Học vần (lớp 1), Tập viết, Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện Mỗi phân môn đều có nhiệm vụ riêng song đều chung một mục đích là cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông về ngôn ngữ Trên cơ sở đó rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết nhằm mục đích cuối cùng là giúp học sinh sử dụng thành thạo tiếng
mẹ đẻ, có kĩ năng giao tiếp tốt để hòa nhập với xu thế phát triển của xã hội Vì vậy, việc giúp học sinh viết được câu văn đúng về ngữ pháp, đúng về nội dung là việc làm cấp thiết hơn bao giờ hết Đối với môn Tiếng Việt, câu chính là tế bào đầu tiên giúp các em đạt hiệu quả cao trong quá trình tư duy và giao tiếp của con người
Do đó, ngoài các tiết dạy học chính khoá, nhà trường còn bố trí cho học sinh được học 2 tiết /tuần Các tổ, khối và giáo viên chủ nhiệm các lớp cụ thể hoá nội dung dạy học cho các phân môn trong môn học này Như vậy, học sinh có điều kiện thực hành thêm các bài tập và củng cố kiến thức về Tiếng Việt Ngoài giờ học chính ở các tiết luyện từ và câu giáo viên còn có thể bồi dưỡng thêm ở các tiết học tăng buổi, đề có thể lồng ghép các nội dung ngữ pháp vào nội dung tiết học đó, buổi học đó
2 THỰC TRẠNG:
Trong quá tŕnh giảng dạy cho học sinh về phân môn Luyện từ và câu cùng với dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy một số thực trạng sau:
a Thuận lợi:
- Sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn học đầy đủ
- Các bài tập trong vở bài tập, sách giáo khoa Tiếng Việt được biên soạn theo mức độ từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng, từ nhận biết, phát hiện đến sử dụng vào việc nói, viết, đặt câu, viết đoạn văn
b Khó khăn:
* Đối với giáo viên:
- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên có nhưng chưa nhiều, một số giáo viên dạy viết câu cho học sinh chưa có hệ thống, chưa xây dựng các dạng bài cụ thể hoặc khi học sinh mắc lỗi khi viết câu, giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc sửa sai cho học sinh
* Đối với học sinh:
- Học sinh nắm kiến thức ngữ pháp còn mơ hồ
- Vốn từ vựng của học sinh còn nghèo nàn
Trang 4- Còn nhiều học sinh mắc lỗi cú pháp: viết câu chưa rõ ý, diễn đạt chưa trọn vẹn, viết câu thiếu thành phần, câu chưa gãy gọn, không có dấu câu
Kết quả khảo sát về kĩ năng sử dụng Tiếng Việt:
Viết câu hay, đúng ngữ pháp
Viết câu đúng ngữ pháp
Diễn đạt câu chưa rõ ý
Câu thiếu thành phần, diễn đạt chưa gãy gọn
3 CÁC GIẢI PHÁP ĐĂ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Từ thực trạng nêu trên, trong quá trình dạy học, tôi đã tập trung rèn kĩ năng viết câu cho học sinh bằng cách xây dựng các dạng bài tập theo mức độ từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp và đã có những chuyển biến tích cực Các biện pháp thực hiện như sau:
3.1 Biện pháp 1: Rèn kĩ năng viết câu qua dạng bài xác định, nhận biết câu, tạo câu và sử dụng dấu câu
Câu trong Tiếng Việt là một đơn vị ngôn ngữ do từ kết hợp tạo thành, diễn đạt một ý trọn vẹn Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong viết văn, làm toán, học sinh phải nói, viết trọn câu mới có thể diễn đạt được ý muốn nói, muốn diễn đạt Đồng thời nó còn còn thể hiện phép lịch sự, tôn trọng người nghe,hiệu quả giao tiếp sẽ tăng cao Học sinh có nhận biết được câu đúng mới có thể nói đúng, viết đúng Vì vậy, nhận biết câu đúng để nói câu đúng, trọn câu là một yêu cầu cần thiết
Tuy nhiên, với học sinh tiểu học hiện nay, chưa nhận định đúng ranh giới câu là một hiện tượng khá phổ biến, để khắc phục tình trạng này, trong tiết ôn, tôi
đã thiết kế hệ thống bài tập giúp học sinh xác định câu đúng, tạo câu đúng
Kiểu bài cho sẵn các vị trí cần đánh dấu, yêu cầu các em chọn dấu thích hợp
để điền vào: Đây là kiểu bài đơn giản nhất của dạng bài tập này
Ví dụ: Điền dấu thích hợp vào ô trống:
- Từ ngày còn ít tuổi tôi đã thích những tranh lợn gà chuột ếch tranh cây dừa tranh tố nữ của làng Hồ
- Sân ga ồn ào nhộn nhịp đoạn tàu đã đến
- Bố ơi bố đã nhìn thấy mẹ cha
- Đi lại gần nữa đi con
Trang 5- A mẹ đã xuống kia rồi [1]
Với loại bài này, khi học sinh còn nhầm lẫn, tôi hướng dẫn các em đọc kĩ câu đã cho xem nội dung câu là kể, tả, nhận định, nêu cảm xúc, nêu điều muốn biết hay nêu yêu cầu đề nghị để điền dấu vào cuối câu Ở giữa câu, tôi nêu câu hỏi gợi
mở, đây là vị trí cần điền dấu ngăn cách giữa các bộ phận trong cùng một câu ta thường dùng dấu gì, khi đó, học sinh sẽ tự làm được bài Tuy nhiên ở bài này tôi cũng lưu ý cho học sinh rằng với những câu khiến có nội dung đề nghị nhẹ nhàng
ta thường dùng dấu chấm ở cuối câu thay cho dấu chấm than, khi dùng dấu chấm than, nội dung yêu cầu đề nghị trở nên cứng rắn, mạnh mẽ hơn Sau khi tôi hướng
dẫn làm bài, học sinh đã điền đúng kết quả
- Từ ngày còn ít tuổi, tôi đã thích những tranh lợn, gà, chuột, ếch, tranh cây dừa, tranh tố nữ của làng Hồ
- Sân ga ồn ào, nhộn nhịp: đoàn tàu đã đến
- Bố ơi, bố đã nhìn thấy mẹ chưa?
- Đi lại gần nữa đi, con
- A! mẹ đă xuống kia rồi! [1]
*Kiểu bài tách đoạn văn thành các câu: Kiểu bài này khó hơn một chút, đề
bài thường cho một đoạn văn nhưng không có dấu câu, yêu cầu học sinh đọc và điền dấu câu phù hợp vào trong đoạn văn để tách đoạn thành các câu
VD: Viết lại đoạn văn sau và dùng dấu chấm, dấu phẩy cho đúng chỗ:
Mặt trăng tròn to và đỏ từ từ lên ở chân trời sau rặng tre đen của làng xa mấy sợi mây còn vắt ngang qua mỗi lúc một mảnh dần rồi đứt hẳn trên quăng đồng rộng cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại thoang thoảng mùi hương thơm mát [3]
Vì không có vị trí diền dấu định hướng sẵn nên khi gặp bài tập kiểu này học sinh thường bỏ sót các dấu phẩy ngắt ý và xác định sai vị trí các dấu chấm:
(HS bỏ sót dấu phẩy ở vị trí Mặt trăng tròn, to và đỏ / trên quãng đồng rộng, cơn
gió nhẹ hiu hiu đưa lại,… hoặc học sinh thường đặt dấu chấm ở vị trí: Mấy sợi mây còn vắt ngang qua mỗi lúc một mảnh dần rồi đứt hẳn trên quãng đồng rộng.)
Để khắc phục tình trạng này, tôi hướng dẫn học sinh không đọc đến đâu điền dấu ngay đến đó mà cần đọc cả đoạn văn một lượt, xác định một cách tổng quát xem đoạn văn có thể ngắt câu thế nào, sau đó mới xác định một cách chi tiết nếu cụm từ này xếp vào câu trước nó sẽ giữ chức vụ gì trong câu, nếu xếp vào câu sau nó sẽ
giữ chức vụ gì, xếp vào câu nào thì hợp lí hơn, và học sinh đã điền đúng:
Trang 6Mặt trăng tròn, to và đỏ từ từ lên ở chân trời, sau rặng tre đen của làng xa Mấy sợi mây còn vắt ngang qua, mỗi lúc một mảnh dần rồi đứt hẳn Trên quãng đồng rộng, cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại, thoang thoảng mùi hương thơm mát.[3]
Để luyện tập cho học sinh, tôi giao thêm một số bài dạng này, ví dụ:
- Chép lại đoạn văn dưới đây sau khi đã đặt dấu câu vào vị trí thích hợp:
Rừng núi còn chìm đắm trong màn đêm trong bầu không khí đầy hơi ẩm và lành lạnh mọi người đang ngon giấc trong những chiếc chăn đơn bỗng một con gà trống vỗ cánh phành phạch và cất tiếng gáy lanh lảnh ở đầu bản tiếp đó rải rác khắp thung lũng tiếng gà gáy râm ran mấy con gà rừng trên núi cũng thức dậy gáy
te te trên mấy cây cao cạnh nhà ve đua nhau kêu ra rả ngoài suối tiếng chim cuốc vọng vào đều đều đó đây bản làng đă thức giấc.[8]
- Ngắt đoạn văn sau thành các câu và chép lại cho đúng:
Ánh đèn từ muôn ngàn ô cửa sổ loãng đi rất nhanh ba ngọn đèn trên tháp phát sáng đài truyền hình thành phố có vẻ bị hạ thấp và kéo lại gần mặt trời đang chầm chậm lơ lửng như một quả bóng bay mềm mại.[8]
Sau khi luyện tập, tôi thấy hầu hết các em đã điền đúng vị trí các dấu câu và sử dụng dấu câu đúng
* Kiểu bài tách đoạn văn thành các câu theo nhiều cách khác nhau:
Đây là kiểu bài khó nhất đối với học sinh
VD: Dùng dấu chấm tách đoạn lời sau thành ba câu theo hai cách khác nhau và viết hoa cho đúng:
Linh với Minh là đôi bạn thân từ nhỏ hai bạn học chung một lớp từ lớp Một đến lớp Năm hai bạn đều đạt danh hiệu học sinh giỏi.[3]
Nhận được yêu cầu đề này, học sinh thường chỉ tìm được một cách tách đoạn thành câu, do đó tôi phải hướng dẫn các em: với các cụm từ chỉ thời gian thường không làm thành phần chính trong câu, do đó ta có thể xếp chúng vào cả câu trước lẫn câu sau đều có nghĩa để được nhiều cách xếp Kết quả, học sinh đã có thể xếp được
các cách như đề bài yêu cầu:
Cách 1: Linh với Minh là đôi bạn thân Từ nhỏ, hai bạn học chung một lớp Từ lớp Một đến lớp Năm, hai bạn đều đạt danh hiệu học sinh giỏi.[3]
Cách 2: Linh với Minh là đôi bạn thân từ nhỏ Hai bạn học chung một lớp, từ lớp Một đến lớp Năm Hai bạn đều đạt danh hiệu học sinh giỏi.[3]
* Kiểu bài cho từ, yêu cầu xếp thành câu:
VD: Ghép các bộ phận sau thành câu theo các cách có thể:
Trên cành, chim, líu lo, hót.[8]
Trang 7Để xếp một, hai câu thì không khó, nhưng cái thú vị của kiểu bài tập này là xếp nhiều câu theo các cách có thể, học sinh thường không xếp được nhiều Để các em
có thể xếp câu hết các khả năng, tôi đã áp dụng một chút thuật toán “tổ hợp chập”
để hướng dẫn các em: Số lượng từ đã cho là n, ta sẽ có tối đa là
n.n! = n.(n-1).(n-2)…(n-(n-1)) cách xếp Vì vậy ở bài này cho 4 từ và cụm từ, sẽ có 4.3.2.1 = 24 cách xếp Các em xét xem cách xếp nào là câu thì ghi lại.Ta nên cho
từ hay cụm từ nào đứng đầu thì xếp hết khả năng của vị trí đó rồi mới đổi chỗ cho
đỡ rối
Sau khi hướng dẫn, học sinh đă xếp được các cách như yêu cầu của đề bài:
Trên cành, chim hót líu lo Trên cành, líu lo chim hót Trên cành, chim líu lo hót Chim hót líu lo trên cành Chim hót trên cành líu lo.Chim trên cành hót líu lo Chim líu lo hót trên cành.Chim trên cành líu lo hót.Líu chim hót trên cành
Líu lo trên cành chim hót.[8]
Để thực hành dạng này, tôi đă cho các em làm thêm một số bài tương tự:
VD: Ghép các bộ phận sau thành câu theo 2 cách:
Sóng, liếm, bọt, trắng xóa, vào, nhè nhẹ, bờ cát, tung[8]
Ở các bài tập tiếp theo, học sinh đã có thể chinh phục một cách thuận lợi
3.2 Biện pháp 2: Rèn kĩ năng viết câu qua dạng bài sửa lỗi câu sai
Để học sinh viết đúng câu, cao hơn là viết văn hay và áp dụng trong giao tiếp, trước hết tôi giúp học sinh nắm rõ khái niệm về câu, yêu cầu học sinh trước
hết hiểu và nhớ khái niệm, nhận biết câu qua các dấu hiệu, sau đó áp dụng để viết
đúng
Để đạt được điều này, tôi xác định nhiệm vụ của mình không chỉ ngày một ngày hai, giờ học này hay giờ học khác mà là cả một quá trình thường xuyên và liên tục, trong các tiết chính khóa, các tiết ôn, lồng ghép đơn vị kiến thức này vào bài học kia, áp dụng kiến thức trong phân môn này vào phân môn khác
Khái niệm về câu, kiến thức về các kiểu câu đã được hình thành từ những lớp dưới, nhưng trong các tiết ôn tập về câu, tôi vẫn yêu cầu học sinh nhắc lại, củng cố khái niệm tổng quát về câu, dấu hiệu nhận biết câu cũng như áp dụng dấu hiệu để đặt câu đúng
Dấu hiệu giúp ta nhận ra câu khi viết:
- Chữ cái đầu câu được viết hoa
- Hết câu có một trong các dấu: chấm, chấm hỏi, chấm cảm, chấm lửng ”
Để củng cố khái niệm về câu nêu trên, giúp học sinh nắm vững, nhớ lâu, trong tiết ôn tôi đưa ra một đoạn lời, yêu cầu học sinh xác định đó có phải là câu
Trang 8khụng? Giải thớch lớ do vỡ sao và chữa lại những đoạn lời chưa thành cõu sao cho thành cõu
Vớ dụ: Trong những dũng sau đõy, dũng nào chưa phải là cõu? Vỡ sao? Hóy
viết lại cho thành cõu:
a Ngày 02 - 9 - 1945, Bỏc Hồ đọc tuyờn ngụn độc lập
b Học sinh trường Tiểu học thị trấn
c Vui chơi trong sõn trường
d Trờn cỏnh đồng rộng mờnh mụng.[5]
Thực tế dạy dạng bài tập này tụi thấy khi làm bài cú rất nhiều em cho rằng:
“Học sinh trường Tiểu học thị trấn; Trờn cỏnh đồng rộng mờnh mụng” hoặc “vui
chơi trong sõn trường”chớnh là cõu
Như vậy, khi nhận diện cõu học sinh rất dễ bị nhầm lẫn trạng ngữ là cõu, nhầm cụm danh từ, cụm động từ, cụm tớnh từ là cõu
Để khắc phục tỡnh trạng nhầm lẫn của học sinh, về nội dung cỏc đoạn lời tụi đưa ra để xột là cõu hay chưa, tụi thường tập trung đề phũng lỗi này Tụi cung cấp cho học sinh “mẹo” nhỏ làm bài: Khi đề bài cho một cụm từ mở đầu bằng cỏc từ: Trờn, dưới,trong, ngoài, khi, lỳc, do, với, bằng, để… thỡ thường mới chỉ là trạng ngữ của một cõu
Với đề bài cho cụm từ mà chưa xuất hiện đồng thời cả chủ thể của hoạt động, trạng thỏi, tớnh chất lẫn chưa nờu lờn hoạt động, trạng thỏi hay tớnh chất của chủ thể, tức là chưa diễn đạt ý trọn vẹn thỡ cũng chưa thành cõu mà chỉ mới là chủ ngữ hoặc vị ngữ của cõu, tức là ta phải xem khả năng thụng bỏo, dấu hiệu nội dung, bản chất của cõu, khụng chỉ căn cứ vào hỡnh thức
Trở lại với bài tập, học sinh sẽ xột được cụm từ Trờn cỏnh đồng rộng mờnh
mụng là trạng ngữ cũn cụm từ “Học sinh trường tiểu học thị trấn” hoặc cụm từ
“vui chơi trong sõn trường” là bộ phận chủ ngữ, vị ngữ của cõu nhờ dấu hiệu
nhận biết trờn
Khi hướng dẫn học sinh sửa cõu sai (cỏc cụm từ trờn) thành cõu đỳng cũng dựa vào khỏi niệm cõu để sửa, với dũng mới chỉ là trạng ngữ, học sinh sẽ thờm vào
đú một cụm chủ vị để thành cõu: : Trờn cỏnh đồng rộng mờnh mụng, (đàn trõu
thung thăng gặm cỏ hoặc bà con xó viờn đang hối hả gặt lỳa…) Cũn đối với
những dũng mới chỉ là chủ ngữ hoặc vị ngữ, học sinh sẽ thờm vào bộ phận cũn
thiếu tương ứng: Học sinh trường Tiểu học thị trấn đang dõng hương tại tượng đài
Bỏc hoặc đang thi đua học tập
Trang 9Để khắc sõu ghi nhớ cho học sinh, tụi thường cho hai đoạn lời có vẻ gần như nhau nhưng về thực chất một bên là câu, một bên không phải là câu ở cạnh nhau để học sinh dễ phát hiện ra những lỗi khác nhau
Ví dụ: Mỗi đoạn lời sau là câu hay chưa? Vì sao?
Thực hiện bài tập này, học sinh đó ỏp dụng những kiến thức tụi vừa cung cấp
để nhận biết cõu Dũng cú “trờn” đứng trước thỡ mới chỉ là trạng ngữ chứ chưa là cõu, đoạn cú từ “ấy” đứng cuối chỉ cú thể làm chủ ngữ chứ khụng thể là cõu, cũn đoạn cú từ “trở thành” đứng cuối, từ này khụng thể đứng độc lập như từ trưởng thành mà cần phải cú từ hỗ trợ về mặt ý nghĩa cho rừ: trở thành cỏi gỡ, vỡ vậy dũng
này cũng chưa là cõu
Cũng trên nguyên tắc dự phòng các lỗi đặt câu tụi đó xây dựng các bài tập thuộc dạng chữa câu sai
Ví dụ: Hãy chữa các câu sai dưới đây bằngcỏc cách khỏc nhau để được câu
đúng:
a Khi em nhìn thấy ánh mắt thương yêu, trìu mến của Bác
b Khi những hạt mưa đầu xuân nhè nhẹ rơi trên lá non
c Những bông hoa dẻ tỏa hương thơm ngát ấy
d Những chiếc lỏ non mới chui ra từ lũng mẹ ấy
Những học sinh được nhà trường khen thưởng về thành tớch xuất sắc trong học tập và lao động.[7]
Khi học sinh đó nắm được nguyờn nhõn vỡ sao cỏc dũng chưa thành cõu, việc sửa cho thành cõu khụng cũn là vấn đề quỏ khú Với bài tập trờn, cỏi hay, cỏi thỳ vị thu hỳt cỏc em là ở chỗ hướng dẫn cỏc em sửa bằng nhiều cỏch Cũng trờn cơ sở yờu cầu học sinh nắm chắc về khỏi niệm cõu, dấu hiệu ngữ phỏp, ngữ nghĩa, tụi sẽ
để học sinh thảo luận nhúm tỡm ra nhiều cỏch sửa phự hợp:
VD: Dũng a: Yờu cầu học sinh tỡm ra 2 cỏch sửa:
Cỏch 1: Bỏ từ “khi” ở đầu cõu tức là đó chuyển từ trạng ngữ của một cõu thành cõu trọn vẹn
Cỏch 2: Thờm cụm C-V vào dũng đó cho tức thờm cụm C-V vào sau trạng ngữ
Trang 10Tương tự, với dũng b cũng yờu cầu học tỡm ra 2 cỏch sửa
Với dũng c-d, cú thể sửa bằng 3 cỏch: Vỡ 2 dũng này cú từ “ấy” đứng cuối nờn mới chỉ là chủ ngữ, để thành cõu học sinh cú thể làm cỏc cỏch sau:
Cỏch 1: Bỏ từ “ấy”
Cỏch 2: Chuyển từ “ấy” vào giữa cõu
Cỏch 3: Thờm vị ngữ
Tóm lại: Để học sinh nắm vững khái niệm về câu, tụi đó sử dụng cỏc bài tập
nhận diện câu và sửa chữa câu đúng ngữ pháp đưa ra cho học sinh rốn luyện và khắc sõu kiến thức Qua hệ thống bài tập, tụi nhận thấy học sinh khụng chỉ gúi gọn trong bài đó làm mà cỏc em cũn biết trỏnh những lỗi sai này trong quỏ trỡnh viết cõu thụng thường của cỏc tiết học Tiếng Việt sau đú
3.3 Biện phỏp 3: Rốn kĩ năng viết cõu qua dạng bài phân loại cõu, viết các kiểu câu theo mục đích nói
Tuy chương trỡnh và sỏch giỏo khoa là cuốn “Tài liệu hướng dẫn học Tiếng Việt” của mụ hỡnh VNEN khụng gọi rừ cõu chia theo mục đớch núi nhưng tụi vẫn quy ước và hướng dẫn học sinh rằng: xột về mục đích nói, câu có thể được chia thành cỏc kiểu: câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu khiến Để xác định được các kiểu câu theo mục đích nói, học sinh cần phải có khả năng cảm nhận được nội dung nói tới trong câu Để phân biệt được từng kiểu cõu, cỏc em còn phải căn cứ vào dấu câu và một số từ ngữ biểu hiện thái độ của người nói Vẫn trờn nguyờn tắc nắm vững lớ thuyết đó học về cỏc kiểu cõu học sinh tiếp cận từ lớp 4, kết hợp với nguyờn tắc ụn luyện thường xuyờn, liờn tục, lồng ghộp kiến thức đó học vào cỏc bài cú liờn quan và nhắc lại trong cỏc bài ụn, tụi yờu cầu học sinh nhớ tỏc dụng, dấu hiệu từng kiểu cõu đó học
Từ việc củng cố kiến thức này, học sinh nhớ lại và cú căn cứ để xỏc định kiểu cõu, dấu cõu phự hợp Tuy nhiờn trờn thực tế giảng dạy, tụi nhận thấy nhiều học sinh nhầm cỏc kiểu cõu: VD Học sinh nhầm cõu kể dạng: “Mẹ hỏi Cúc ở nhà
có học bài không” là câu hỏi
Hoặc nhầm câu cảm có từ để hỏi như:
“Có nơi đâu đẹp tuyệt vời
Như sông, như núi, như người Việt Nam!”
“Có nơi đâu đẹp bằng quê hương ta!” là câu hỏi
Học sinh còn nhầm câu:
“Mời anh vào nhà chơi” là câu kể