Là một người giáo viên Tiểu học trong tương lai, muốn thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học Tập làm văn cho học sinh, bên cạnh những kiến thức cơ bản về các kĩ năng viết văn bản, những hiểu biế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
KHOA GD TIỂU HỌC - MẦM NON
*****
Đề tài:
KHẢO SÁT KĨ NĂNG LIÊN KẾT CÂU TRONG ĐOẠN VĂN VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN TRONG VĂN BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
Giáo viên hướng dẫn : ThS BÙI THỊ THANH Sinh viên thực hiện : THÂN THỊ THU THÚY
Trang 2Lời cảm ơn
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Bùi Thị Thanh – cán
bộ giảng dạy khoa Giáo dục Tiểu học – Mầm non, trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành khóa luận
Em xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học – Mầm non cùng tất cả bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận
Em rất cảm ơn các thầy cô giáo và học sinh ở một số trường tiểu học trên địa bàn quận Thanh Khê - thành phố Đà Nẵng: trường TH Trần Cao Vân, trường
TH Hàm Nghi, trường TH Hoa Lư, trường TH Huỳnh Ngọc Huệ đã giúp em có nguồn tư liệu thực tế trong quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận
Do bước đầu làm quen với việc nghiên cứu đề tài khoa học, kiến thức, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm còn hạn chế, thời gian thực hiện ngắn, việc thu thập tư liệu gặp nhiều khó khăn nên mặc dù đã có nhiều cố gắng, khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013 Sinh viên
Thân Thị Thu Thúy
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1 Mục đích nghiên cứu 3
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Cấu trúc của đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1 Khái niệm đoạn văn và đặc trưng cơ bản của đoạn văn 6
1.1.1 Khái niệm về đoạn văn 6
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của đoạn văn 6
1.1.3 Cấu trúc của đoạn văn và dạy học Tập làm văn 7
1.1.4 Một số yêu cầu khi viết đoạn văn 7
1.1.5 Các lỗi trong đoạn văn 8
1.1.5.1 Lỗi nội dung 8
1.1.5.2 Lỗi hình thức 8
1.2 Lý thuyết chung về văn bản 9
1.2.1 Khái niệm về văn bản 9
1.2.2 Đặc trưng của văn bản 10
1.2.3 Bố cục của văn bản 10
1.2.4 Tính thống nhất của văn bản và việc dạy học Tập làm văn 11
1.2.5 Các lỗi về cấu tạo văn bản 11
1.2.5.1 Lỗi không tách đoạn 12
Trang 41.2.5.3 Lỗi không chuyển đoạn, liên kết đoạn 12
1.3 Khái niệm về sự liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn trong văn bản 12
1.3.1 Liên kết câu trong đoạn văn 12
1.3.1.1 Liên kết nội dung 12
1.3.1.2 Liên kết hình thức 13
1.3.2 Các phương tiện và phương thức liên kết câu trong đoạn văn 13
1.3.2.1 Phương thức lặp (phép lặp) 13
1.3.2.2 Phương thức liên tưởng 13
1.3.2.3 Phương thức thế 14
1.3.2.4 Phương thức nối 14
1.3.2.5 Phương thức dùng câu hỏi 15
1.3.3 Liên kết đoạn văn trong văn bản 15
1.3.4 Các phương tiện liên kết đoạn văn trong văn bản 15
1.4 Nội dung dạy học các phương tiện liên kết câu trong phân môn LTVC 16
1.5 Nhiệm vụ của môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng 16
1.5.1 Nhiệm vụ của môn Tiếng Việt 16
1.5.2 Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn 16
1.6 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học 17
1.6.1 Tư duy 17
1.6.2 Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh Tiểu học 17
Chương 2 THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI CÁC LỖI LIÊN KẾT CÂU TRONG ĐOẠN VĂN VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN TRONG VĂN BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG 19
2.1 Mục đích khảo sát 19
2.2 Địa bàn khảo sát 19
2.3 Tiêu chí phân loại lỗi liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn trong văn bản 19
2.4 Kết quả khảo sát 20
2.4.1 Bảng thống kê, phân loại các lỗi liên kết câu trong đoạn văn 21
2.4.2 Bảng thống kê, phân loại các lỗi liên kết đoạn trong văn bản 21
2.4.3 Nhận xét các lỗi liên kết câu trong đoạn văn của học sinh Tiểu học 22
Trang 52.4.3.1 Lỗi dùng sai phương tiện thế 23
2.4.3.2 Lỗi dùng sai phương tiện lặp 24
2.4.3.3 Lỗi dùng sai phương tiện nối 26
2.4.4 Nhận xét các lỗi liên kết đoạn trong văn bản của học sinh Tiểu học 27
2.4.4.1 Lỗi dùng sai phương tiện liên kết đoạn văn 27
2.4.4.2 Lỗi tách đoạn tùy tiện 28
2.4.4.3 Lỗi không tách đoạn 30
Chương 3 XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ TRỢ NHẰM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LIÊN KẾT CÂU TRONG ĐOẠN VĂN VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN TRONG VĂN BẢN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 35
3.1 Mục đích xây dựng hệ thống bài tập 35
3.2 Các dạng bài tập được xây dựng nhằm rèn luyện kĩ năng liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn trong văn bản cho học sinh Tiểu học 35
3.2.1 Bài tập rèn luyện kĩ năng liên kết câu trong đoạn văn 35
3.2.1.1 Trắc nghiệm lựa chọn 35
3.2.1.2 Trắc nghiệm điền khuyết 38
3.2.2 Bài tập sắp xếp các câu để thành đoạn văn hoàn chỉnh 42
3.2.3 Bài tập chữa lỗi về liên kết câu trong đoạn văn 45
3.2.3.1 Bài tập chữa lỗi dùng sai phép nối 45
3.2.3.2 Bài tập chữa lỗi dùng sai phép lặp 47
3.2.2.3 Bài tập chữa lỗi dùng sai phương tiện thế 50
3.2.4 Bài tập chữa lỗi về liên kết đoạn văn trong văn bản 52
3.2.4.1 Bài tập chữa lỗi tách đoạn tùy tiện 52
3.2.4.2 Bài tập chữa lỗi không tách đoạn 55
PHẦN KẾT LUẬN 60
1 Một số kết luận 60
2 Một số đề xuất 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC
Trang 6MỘT SỐ QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong tất cả các phương tiện mà con người sử dụng để giao tiếp thì ngôn
ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Sở dĩ ngôn ngữ trở thành một công
cụ giao tiếp vạn năng của con người vì nó đồng hành cùng con người từ lúc con
người xuất hiện cho đến tận ngày nay Phương tiện giao tiếp ấy được bổ sung và
hoàn thiện dần theo lịch sử tiến hoá của nhân loại, theo những trào lưu và xu
hướng tiếp xúc văn hoá có từ cổ xưa đến tận ngày nay Môn Tiếng Việt ở trường
phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ của học sinh
Năng lực này được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là
bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết Việc dạy môn Tiếng Việt không chỉ hình thành
kiến thức mà còn góp phần rèn luyện thao tác tư duy cho học sinh nên Tiếng
Việt được xem là môn học trung tâm ở trường Tiểu học
Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy
học tiếng mẹ đẻ vì đây là phân môn sử dụng và hoàn thiện các kĩ năng tiếng Việt
mà các phân môn khác như Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu đã
hình thành Bên cạnh đó, phân môn Tập làm văn thực hiện mục tiêu cuối cùng,
quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là giúp học sinh hình thành và phát
triển các kĩ năng sản sinh ngôn bản, dạy học sinh sử dụng tiếng Việt để giao
tiếp, học tập và tư duy Thông qua phân môn Tập làm văn, học sinh vận dụng và
hoàn thiện một cách tổng hợp những kiến thức, kĩ năng sử dụng tiếng Việt đã
được học vào việc tạo lập nên những bài văn hay, giàu tính nghệ thuật
Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kĩ năng nói, viết các ngôn bản
thông thường, viết một số văn bản nghệ thuật như kể chuyện, miêu tả Kĩ năng
viết bài tập làm văn nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng viết bài văn theo đề
bài đã cho và thuộc các thể loại, kiểu bài khác nhau Bài tập làm văn viết là kết
tinh nhiều mặt của kĩ năng, năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh được rèn
luyện qua từng lớp học Để viết được những bài tập làm văn hay học sinh phải
vận dụng rất nhiều kĩ năng như dùng từ, đặt câu, liên kết câu trong đoạn văn,
Trang 8kết câu trong đoạn văn và kĩ năng liên kết đoạn thành bài văn là hai kĩ năng đặc trưng, chủ yếu của phân môn Tập làm văn
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục Tiểu học có vai trò quan trọng, giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ
và các kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Đây là nền tảng để các em học tiếp lên các bậc học cao hơn Vì vậy, việc dạy học sinh các
kĩ năng viết văn nói chung và kĩ năng liên kết câu, liên kết đoạn văn nói riêng sẽ
là những kiến thức cơ bản để các em làm kĩ năng, công cụ giúp học sinh học tốt các môn học khác ở các lớp học trên
Là một người giáo viên Tiểu học trong tương lai, muốn thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học Tập làm văn cho học sinh, bên cạnh những kiến thức cơ bản
về các kĩ năng viết văn bản, những hiểu biết thực tiễn về kĩ năng liên kết câu và liên kết đoạn văn của học sinh Tiểu học cũng rất quan trọng đối với chúng tôi Bởi vì, đây là cơ sở thực tiễn để giáo viên có những điều chỉnh hoặc đưa ra những định hướng về nội dung, phương pháp, và hình thức tổ chức giảng dạy cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát kĩ năng liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh Tiểu học ở một số trường trên địa bàn quận Thanh Khê - TP Đà Nẵng” để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề về liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Trong phần này, chúng tôi xin điểm qua một số công trình tiêu biểu sau:
Nhóm tác giả Nguyễn Minh Thuyết - Nguyễn Văn Hiệp, Tiếng Việt thực hành, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997, đưa ra một số lỗi của đoạn
văn như lỗi liên kết nội dung, lỗi liên kết chủ đề, lỗi liên kết hình thức Về lỗi văn bản, tác giả cũng đưa ra các lỗi như lỗi tách đoạn tùy tiện, lỗi không chuyển đoạn, liên kết đoạn
Trang 9Nhóm tác giả Bùi Minh Toán - Lê A - Đỗ Việt Hùng, Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo dục (1998), đưa ra các phương thức liên kết câu trong đoạn và
liên kết đoạn văn trong văn bản, phân tích, chữa lỗi trong đoạn văn và chữa lỗi
về cấu tạo văn bản
Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, NXB Khoa học
Xã Hội, 1985 (Xuất bản lần thứ hai, NXB Giáo dục, 1999), trình bày lý thuyết chung về liên kết trong văn bản như: khái niệm về liên kết văn bản, những phương thức liên kết giữa các phát ngôn…
Nguyễn Thị Ly Kha, Ngữ pháp văn bản và luyện Tập làm văn, NXBGD,
2007, trình bày các vấn đề về đoạn văn, văn bản, liên kết trong văn bản Nội dung của phần kiến thức cơ bản được trình bày kết hợp với phần ứng dụng như viết đoạn, thực hành liên kết câu, liên kết đoạn trong văn bản…
Nhóm tác giả Trương Đức Thành (chủ biên) - Hồ Sĩ Minh Đô - Vũ Duy
Quảng - Hoàng Trọng Canh, Bài tập về phép viết câu, viết đoạn, làm bài, Nhà
XB Giáo dục, 1996, nêu ra một số bài tập và hướng dẫn về cách viết câu, đoạn văn, bài văn Các tác giả không nêu lí thuyết về cách viết đoạn văn, liên kết đoạn văn trong văn bản
Mỗi công trình nghiên cứu là một đóng góp to lớn trong xây dựng lí thuyết về câu, đoạn văn, văn bản, liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn trong văn bản Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào khảo sát về kĩ năng liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh Tiểu học ở quận Thanh Khê – TP Đà Nẵng
Các công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo quý giá, bổ ích cho chúng tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát kĩ năng liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh Tiểu học ở một số trường trên đ ịa bàn quận Thanh Khê - TP Đà Nẵng” với mục đích thống kê, phân loại các lỗi
Trang 10học qua các bài Tập làm văn và tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi của học sinh; trên
cơ sở đó, xây dựng một số bài tập bổ trợ nhằm rèn luyện kĩ năng liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản cho học sinh Tiểu học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu về nội dung lí thuyết có liên quan đến đề tài
Thống kê, phân loại, nhận xét các lỗi liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh Tiểu học
Tìm hiểu nguyên nhân mắc từng loại lỗi
Xây dựng một số bài tập bổ trợ nhằm rèn luyện kĩ năng liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản cho học sinh Tiểu học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các lỗi liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh Tiểu học (từ lớp 2 đến lớp 5) ở một số trường trên địa bàn quận Thanh Khê - TP Đà Nẵng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát, nghiên cứu các lỗi liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản về mặt hình thức trong các bài Tập làm văn của học sinh Tiểu học ở một số trường trên địa bàn quận Thanh Khê - TP Đà Nẵng: trường TH Trần Cao Vân, trường TH Hoa Lư, trường TH Hàm Nghi, trường TH Huỳnh Ngọc Huệ…
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài
Phương pháp thống kê: thống kê, phân loại các lỗi liên kết câu trong đoạn
và liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh Tiểu học
Phương pháp phân tích: phân tích, nhận xét các câu, đoạn văn, bài văn của học sinh Tiểu học dựa vào bảng thống kê, phân loại
Phương pháp tổng hợp: phương pháp này tổng hợp các kết quả đã phân tích, tìm hiểu để trên cơ sở đó xây dựng một số bài tập bổ trợ nhằm rèn kĩ năng
Trang 11liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản cho học sinh Tiểu học
6 Đóng góp của đề tài
Việc thống kê, phân loại các lỗi liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh Tiểu học giúp chúng tôi bước đầu nắm thực trạng về lỗi liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản mà học sinh mắc phải
Qua việc thống kê, tìm ra nguyên nhân mắc lỗi và xây dựng một số bài tập bổ trợ nhằm rèn kĩ năng liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản cho học sinh Tiểu học
Đề tài này cũng góp thêm một phần tài liệu tham khảo bổ ích cho giáo viên Tiểu học và sinh viên ngành Sư phạm Tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
7 Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm 3 phần:
Phần mở đầu gồm các tiểu mục sau:
- Lí do chọn đề tài
- Lịch sử vấn đề
- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
- Đóng góp của đề tài
- Cấu trúc của đề tài
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thống kê, phân loại các lỗi liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh Tiểu học ở một số trường trên địa bàn quận Thanh Khê - TP Đà Nẵng
Chương 3: Xây dựng một số bài tập bổ trợ nhằm rèn luyện kĩ năng liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn văn trong văn bản cho học sinh Tiểu học
Trang 12PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Khái niệm đoạn văn và đặc trưng cơ bản của đoạn văn
1.1.1 Khái niệm về đoạn văn
Đoạn văn là đơn vị ngôn ngữ được nghiên cứu từ rất sớm Hiện nay, trong nhà trường tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về đoạn văn
Đoạn văn được dùng với ý nghĩa chỉ sự phân đoạn nội dung, phân đoạn ý của văn bản
Đoạn văn được hiểu là sự phân đoạn mang tính hình thức: muốn có một đoạn văn ta phải chấm xuống dòng, mỗi chỗ chấm xuống dòng như vậy ta có một đoạn văn Nếu quan niệm như vậy, phải chăng đoạn văn được xây dựng một cách tùy tiện, không dựa vào cơ sở ngữ nghĩa nào?
Hiện nay có một cách hiểu thỏa đáng hơn cả là coi đoạn văn vừa là sự phân đoạn nội dung, vừa phân đoạn hình thức Dựa vào sự phân tích trên, có thể quan
niệm: “Ðoạn văn là một tập hợp câu liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và hình thức, diễn đạt hoàn chỉnh hay tương đối hoàn chỉnh một chủ đề bộ phận ở cấp độ nhỏ nhất nào đó trong chủ đề hay hệ thống chủ đề toàn thể của văn bản.”
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của đoạn văn
Đoạn văn là một bộ phận của văn bản, thường bao gồm một số câu (trường hợp hạn hữu có thể chỉ có một câu) Các câu trong đoạn văn luôn luôn có sự liên kết chặt chẽ với nhau đó là sự liên kết theo một chủ đề
Mỗi đoạn văn thường thể hiện tương đối trọn vẹn về một tiểu chủ đề Tiểu chủ đề này là một bộ phận của chủ đề toàn văn bản Chính vì thế mỗi đoạn văn của một văn bản có tính độc lập tương đối và nếu tách ra khỏi văn bản thì nó có
tư cách như một văn bản nhỏ Tuy nhiên nằm trong văn bản, mỗi đoạn văn luôn luôn có sự liên kết với các đoạn văn khác
Mỗi đoạn văn có một cấu trúc nhất định Cấu trúc này thể hiện cách thức và phương hướng phát triển chủ đề của đoạn
Trang 13Đoạn văn có đặc trưng hình thức: bắt đầu chữ cái viết hoa và viết thụt vào đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng Những đặc trưng trên phối hợp với nhau và cùng thể hiện trong một đoạn văn Do vậy, khi xem xét đoạn văn, chúng ta không nên chú ý riêng một phương diện nào mà phải chú ý cả hai: nội dung và hình thức
1.1.3 Cấu trúc của đoạn văn và dạy học Tập làm văn
Có thể nói, đoạn là đơn vị trung tâm trong dạy học Tập làm văn chương trình mới, dung lượng vừa sức với học sinh Tiểu học và phù hợp với thời gian tiến hành trong một tiết học
Các kiểu cấu trúc của đoạn trong ngữ pháp văn bản như cấu trúc diễn dịch, quy nạp, móc xích được vận dụng để xây dựng các kiểu bài tập viết đoạn theo cấu trúc, ví dụ cho một câu chủ đề, yêu cầu viết tiếp thành đoạn, cho một câu kết đoạn, viết thêm phần đầu cho thành đoạn…
Việc phân loại đoạn văn theo chức năng: đoạn mở bài, đoạn thân bài, đoạn kết bài chi phối rất rõ cách xây dựng các kiểu bài tập viết đoạn mở bài, viết đoạn thân bài và viết đoạn kết bài
1.1.4 Một số yêu cầu khi viết đoạn văn
Đoạn văn tạo thành một bộ phận của văn bản, có thể chỉ có một câu, nhưng thường bao gồm một số câu Điều cốt yếu là các câu đó phải luôn tập trung thể hiện một ý, một tiểu chủ đề, tránh viết những câu xa đề, lạc ý
Sự triển khai nội dung của đoạn qua các câu phải mạch lạc, chặt chẽ, hợp lôgic Muốn thế các câu trong đoạn phải có sự liên kết cả về nội dung và hình thức, tránh tình trạng các câu thiếu sự liên kết hoặc viết lộn xộn, tùy tiện
Mỗi câu trong đoạn cần được cấu tạo phù hợp với quy tắc cấu tạo ngữ pháp của tiếng Việt, cần biểu đạt được một nội dung hợp lí, đồng thời cần có sự liên kết chặt chẽ với các câu khác trong đoạn
Mỗi đoạn văn cần được tách ra một cách rõ ràng, mạch lạc và đúng chỗ, đồng thời các đoạn văn cần có sự liên kết chặt chẽ với nhau và sự chuyển tiếp tự nhiên, hợp lí
Trang 141.1.5 Các lỗi trong đoạn văn
1.1.5.1 Lỗi nội dung
a Lạc chủ đề
Các câu trong đoạn thường không tập trung vào cùng một chủ đề, mà không phân tán hoặc đột ngột chuyển sang một phạm vi khác Thường gặp nhất
là trường hợp câu mở đầu nêu một chủ đề khái quát, các câu đi sau trong đoạn không tiếp tục chủ đề này mà lại chuyển sang nói về những vấn đề khác
b Thiếu hụt chủ đề
Nội dung nêu trong câu chủ đề không được triển khai đầy đủ trong đoạn
c Lặp chủ đề
Các câu trong đoạn lặp ý hoặc ý luẩn quẩn
d Lỗi đứt mạch
Ý của các câu trong đoạn bị đứt quãng từ câu nọ sang câu kia thiếu sự gắn
bó, chuyển tiếp Điều này có thể do thiếu câu chuyển ý
e Lỗi mâu thuẫn về ý
Nội dung ý của các câu trong đoạn có mâu thuẫn với nhau, không phù hợp với các mối quan hệ lôgic Điều này liên quan đến năng lực tư duy còn non yếu, chưa vững vàng
1.1.5.2 Lỗi hình thức
Lỗi liên kết hình thức là lỗi liên kết có biểu hiện: các phương tiện liên kết
phản ánh sai lệch mối quan hệ về mặt nội dung giữa các câu trong đoạn
a Lỗi dùng sai các phương tiện liên kết
Ví dụ:
“Hình ảnh quân xanh màu lá cho thấy người lính Tây Tiến chịu nhiều thiếu thốn về vật chất, ốm yếu xanh xao như màu lá Tuy vậy nhưng họ vẫn quyết tâm không chịu lùi bước Nhưng họ vẫn mơ ước được độc lập với màu cờ nền đỏ sao vàng.”(Bài làm của học sinh)
Trong ví dụ này, ở đầu câu thứ hai, học sinh vừa dùng tổ hợp “tuy vậy”, biểu thị mối quan hệ nhượng bộ vừa dùng liên từ “nhưng”, biểu thị mối quan hệ
tương phản để nối hai câu lại Dùng hai phương tiện nối như vậy là thiếu nhất
Trang 15quán, chồng chéo lên nhau, làm cho mối quan hệ về nội dung nghĩa giữa hai câu không được xác lập rõ ràng và cụ thể Bên cạnh đó, ở đầu câu thứ ba, học sinh
còn dùng liên từ “nhưng” Nhưng nội dung nghĩa của câu thứ hai và thứ ba
không tương phản với nhau Như vậy, phương tiện nối “nhưng” đã phản ánh sai
mối quan hệ về nội dung nghĩa giữa hai câu
b Lỗi không dùng các phương tiện liên kết câu
Đây là loại lỗi dùng thiếu phương tiện liên kết câu làm cho nội dung trở
nên mơ hồ, khó hiểu, mạch văn trở nên rời rạc
1.2 Lý thuyết chung về văn bản
1.2.1 Khái niệm về văn bản
Cho đến nay, văn bản được dùng với nhiều phạm vi, góc độ khác nhau Với nghĩa là một thuật ngữ ngôn ngữ học, văn bản là một trong những đơn vị phức tạp, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau Có thể hệ thống hóa một số
cách định nghĩa về văn bản như sau:
Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là phần tử Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ
ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy (Trần Ngọc Thêm, 2006)
Văn bản là một loại đơn vị được làm thành một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài… loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường…(Diệp Quang Ban)
Văn bản là một thể hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp Dạng tồn tại điển hình của văn bản là dạng viết (Nguyễn Quang Ninh, 1994)
Từ những điểm tổng kết có tính sơ lược xung quanh thuật ngữ văn bản trên,
có thể thấy khái niệm văn bản của các học giả có một số điểm chung Tuy nhiên trong khóa luận này, chúng tôi chọn cách hiểu sơ giản về văn bản theo định nghĩa của Bùi Minh Toán
Trang 16“Văn bản là sản phẩm hoàn chỉnh của một hành vi tạo lời (hay hành vi phát ngôn), mang một nội dung giao tiếp cụ thể, gắn liền với một đối tượng giao tiếp, mục đích giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp xác định, thể hiện dưới dạng âm thanh hay chữ viết”.
Theo quan niệm vừa nêu thì văn bản có thể là một câu nói như câu khẩu hiệu (ví dụ: Không có gì quý hơn độc lập tự do), câu tục ngữ (ví dụ: gần mực thì đen, gần đèn thì sáng), một tin vắn gồm vài ba câu, một bài thơ, một truyện ngắn, một bài nghiên cứu, một quyển sách v.v
1.2.2 Đặc trưng của văn bản
Văn bản là một đơn vị ngôn ngữ được tổ chức từ các câu, thường bao gồm nhiều câu nhưng trường hợp tối thiểu chỉ bao gồm một câu
Tính trọn vẹn về nội dung: mỗi văn bản đều trình bày trọn vẹn về một nội dung thông báo khiến cho người khác hiểu được một sự việc, một tư tưởng hay cảm xúc nào đó
Tính hoàn chỉnh về hình thức: tính chỉnh thể của văn bản bộc lộ ở kết cấu: tiêu đề, phần mở, phần thân, phần kết, ở dấu hiệu chữ viết Nó còn thể hiện ở chỗ không cần thêm vào trước hoạc sau văn bản một câu hay một bộ phận nào nữa để cho văn bản hoàn chỉnh hơn
Tính liên kết của văn bản: liên kết nội dung và liên kết hình thức Đó là những mối quan hệ chặt chẽ giữa các câu, các đoạn, các phần và các bộ phận của văn bản
Mỗi văn bản đều hướng tới một mục tiêu nhất định Đó chính là mục đích giao tiếp của văn bản và trả lời cho câu hỏi: Văn bản viết ra nhằm mục đích gì? Viết để làm gì?
1.2.3 Bố cục của văn bản
Trong văn bản được cấu tạo gồm ba bộ phận, tiêu biểu là các bài học trong sách giáo khoa, các bài văn nghị luận trong nhà trường, ba phần này thường có chức năng như sau: phần mở đầu (nhập đề) là phần chủ yếu có chức năng dẫn nhập và nêu chủ đề, có thể được cấu tạo bằng một hay vài đoạn văn bản Phần khai triển (thân bài) là phần triển khai, làm sáng tỏ chủ đề của văn bản bằng
Trang 17cách miêu tả, trần thuật, trình bày hay bàn luận Phần này bao gồm nhiều đoạn văn, trong đó, mỗi đoạn triển khai và làm sáng tỏ một khía cạnh nào đó của chủ
đề toàn văn bản Phần kết luận là phần có chức năng đúc kết, khẳng định lại chủ
đề, đồng thời nó có thể mở rộng, liên hệ đến những vấn đề có liên quan Phần
này có thể được cấu tạo bằng một vài đoạn văn
Trong những văn bản gồm ba phần như vừa nêu trên, chủ đề của văn bản thường được phát biểu trực tiếp trong phần mở đầu, cụ thể là trong câu chủ đề, thường là câu cuối hay câu áp cuối trong phần mở đầu Chủ đề của văn bản cũng thường được đúc kết, khẳng định lại ở phần kết luận, trong câu kết đề, thường là câu mở đầu của phần này Tuy nhiên, câu kết đề cũng có thể xuất hiện ở giữa
hay cuối phần kết luận
1.2.4 Tính thống nhất của văn bản và việc dạy học Tập làm văn
Để tạo lập một văn bản, người viết phải tạo nên tính thống nhất thể hiện ở
cả hai mặt: sự liên kết nội dung và liên kết hình thức Vì thế, để rèn luyện kĩ năng viết cho học sinh, giáo viên phải giúp học sinh xác định mục đích và duy trì chủ đề này trong suốt bài viết để không viết lan man
Sự liên kết nội dung được biểu hiện ra ngoài bằng một hệ thống các biện pháp liên kết hình thức Những hiểu biết về liên kết hình thức mà ngữ pháp văn bản mang lại sẽ giúp giáo viên hướng dẫn học sinh viết bài, chữa bài viết của học sinh
Các đề bài tập làm văn cần phải chỉ ra các hướng triển khai: theo trật tự thời gian, không gian, toàn thể đến bộ phận, trật tự tâm lí…
1.2.5 Các lỗi về cấu tạo văn bản
Văn bản có thể phạm các lỗi giống như các lỗi trong một đoạn văn Nghĩa
là trong văn bản, giữa các phần, các mục, các đoạn có thể có tình trạng lạc đề, thiếu hụt chủ đề, lặp chủ đề, đứt mạch ý, mâu thuẫn về ý hoặc thiếu sự liên kết chặt chẽ Chỉ có điều các lỗi này không giới hạn trong một đoạn, mà là giữa các đoạn, các mục, các phần… Chúng khác các lỗi trong đoạn về phạm vi, về cấp
độ, nhưng giống về bản chất Do đó ở đây không trình bày thêm về chúng Khi
Trang 18gặp các lỗi trên đây ở cấp độ trên đoạn văn, ta cũng có thể phân tích và chữa lại như cấp độ đoạn văn Ở phần này chỉ đề cập đến các loại lỗi sau đây:
1.2.5.1 Lỗi không tách đoạn
Nghĩa là khi viết văn bản, các thành tố nội dung khác nhau của văn bản không được tách ra bằng các dấu hiệu hình thức: không tách đoạn bằng cách chấm xuống dòng Lỗi này phương hại đến cả quá trình tạo lập lẫn quá trình lĩnh hội văn bản
1.2.5.2 Lỗi tách đoạn tùy ý, ngẫu hứng
Người viết không căn cứ vào một cơ sở nào mà tùy tiện tách dòng nhất là khi còn trình bày dang dở một ý
1.2.5.3 Lỗi không chuyển đoạn, liên kết đoạn
Mỗi đoạn trong văn bản trình bày về một ý, một thành tố nội dung, nhưng các đoạn luôn luôn cần sự liên kết với nhau và cần sự chuyển đoạn còn thể hiện tiến trình lập luận trong văn bản Nếu thiếu sự liên kết, hoặc sự chuyển đoạn văn bản rơi vào tình trạng rời rạc và sự lập luận thiếu chặt chẽ, mạch lạc
1.3 Khái niệm về sự liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn trong văn bản
1.3.1 Liên kết câu trong đoạn văn
Các câu trong đoạn phải có mối quan hệ khăng khít với nhau, mỗi câu phải nằm trong một mạng lưới liên hệ với câu khác về mặt ý nghĩa ngữ pháp các khía cạnh nội dung của đoạn văn
1.3.1.1 Liên kết nội dung
Tất cả các câu trong đoạn văn đều phối hợp với nhau một cách hài hòa và
bổ sung cho nhau để cùng thể hiện một nội dung Liên kết nội dung lại được chia thành liên kết chủ đề và liên kết lôgic:
- Liên kết chủ đề: Các câu trong đoạn phải tập trung thể hiện một chủ đề nhất định Chúng xoay quanh một chủ đề, duy trì và phát triển chủ đề đó
- Liên kết lôgic: Các câu ngoài việc tập trung thể hiện một chủ đề còn có mối liên hệ nội dung với nhau theo những quy luật lôgic Điều đó có nghĩa là các câu có sự liên kết về chủ đề và chủ đề này cần được duy trì và phát triển trong đoạn văn, văn bản một cách hợp lôgic Việc duy trì và phát triển chủ đề
Trang 19một cách hợp lôgic thể hiện ở thứ tự kế tiếp các câu, ở mối liên hệ nội dung của các câu
1.3.1.2 Liên kết hình thức
Liên kết hình thức là những phương tiện hình thức dùng để liên kết nội dung giữa các câu Nghĩa là giữa các câu với nhau có những phương tiện hình thức để biểu hiện sự liên kết nội dung
1.3.2 Các phương tiện và phương thức liên kết câu trong đoạn văn
Các phương tiện hình thức liên kết câu khá đa dạng Nhưng tất cả các phương tiện liên kết ấy đều thuộc về những phương thức nhất định (hay còn gọi
là phép liên kết) Dưới đây là một số phương thức thường gặp:
1.3.2.1 Phương thức lặp (phép lặp)
Đây là phương thức sử dụng lặp lại một số yếu tố ngôn ngữ ở các câu liên kết trong đoạn văn Nghĩa là cùng một hoặc một số yếu tố được dùng nhiều lần trong các câu khác nhau Có thể phân biệt phương thức lặp theo ba bình diện sau:
- Lặp ngữ âm: là phương thức lặp lại các âm tiết, số lượng âm tiết, vần ở những câu khác nhau Hiện tượng này thường thấy ở thơ ca và văn vần nói chung
- Lặp từ vựng: là phương thức dùng lặp một số từ ngữ ở những câu lân cận nhau
- Lặp ngữ pháp: là phương thức lặp lại các kết cấu ngữ pháp ở các câu trong đoạn văn, văn bản Các câu khác nhau về thành phần từ ngữ nhưng kết cấu ngữ pháp thì giống nhau
1.3.2.2 Phương thức liên tưởng
Liên tưởng là mối liên hệ giữa các từ mà khi một từ xuất hiện thì kéo theo
sự xuất hiện của các từ khác Các từ nằm trong quan hệ liên tưởng với nhau thường biểu hiện những sự vật hoạt động, tính chất, trạng thái , thuộc cùng một phạm trù Sự xuất hiện của các từ như thế ở các câu khác nhau có tác dụng liên kết câu với nhau
Trang 201.3.2.3 Phương thức thế
Phương thức thế là phương thức thay thế từ ngữ dùng ở câu đi trước bằng các từ ngữ tương đương ở các câu đi sau Căn cứ vào tính chất của các từ thay thế, có thể tách thành các phương tiện thế như sau :
- Thế bằng đại từ: dùng đại từ để thay thế cho từ hay cụm từ ở câu đi trước bằng các từ ngữ tương đương ở câu đi sau
1.3.2.4 Phương thức nối
Phương thức nối là phương thức dùng các từ ngữ chuyên thực hiện chức năng nối các câu Các phương thức ở trên, mối quan hệ giữa các câu được thực hiện thông qua mối quan hệ giữa các yếu tố (âm, từ ngữ, kết cấu ngữ pháp) nằm
ở hai câu (hoặc các câu) Ở phương thức nối, từ ngữ dùng vào chức năng nối kết thường chỉ nằm ở câu đi sau Có thể phân biệt ba phương tiện nối sau:
Trang 21Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta (Hồ Chí Minh)
- Nối bằng các phụ từ
Ví dụ:
Chẳng năm nào A Sử cho Mỵ đi chơi tết Mỵ cũng chẳng buồn đi (Tô
Hoài)
1.3.2.5 Phương thức dùng câu hỏi
Ngoại trừ câu hỏi đối thoại, trong văn bản đơn thoại, câu hỏi tu từ và câu hỏi đơn thoại có chức năng liên kết rõ rệt Câu hỏi có thể đặt ở đầu đoạn mà cũng có thể đặt ở cuối đoạn
Trên đây là sự phân tích từng phương thức liên kết riêng biệt Trong thực
tế, ở một đoạn văn thường sử dụng đồng thời vài ba phương thức Điều đó càng
tăng thêm độ liên kết của câu
1.3.3 Liên kết đoạn văn trong văn bản
Mỗi đoạn trong văn bản trình bày về một ý, một thành tố nội dung nhưng các đoạn luôn luôn cần sự liên kết với nhau và cần sự chuyển đoạn còn thể hiện tiến trình lập luận trong văn bản Nếu thiếu sự liên kết, hoặc sự chuyển đoạn văn bản rơi vào tình trạng rời rạc và sự lập luận thiếu chặt chẽ, mạch lạc
1.3.4 Các phương tiện liên kết đoạn văn trong văn bản
Các đoạn trong văn bản phải liên kết chặt chẽ với nhau Các phương tiện liên kết đoạn chính là các phương tiện đã dùng để liên kết câu trong đoạn Đó là:
- Phương tiện nối
- Phương tiện thế
- Phương tiện lặp
- Phương tiện liên tưởng
- Phương thức dùng câu hỏi
Các phương tiện liên kết này nằm ở câu giáp ranh của đoạn, cũng có thể nằm ở các câu mở đoạn
Trang 221.4 Nội dung dạy học các phương tiện liên kết câu trong phân môn LTVC
Ở phân môn LTVC các em sẽ được học 2 tiết/tuần gắn liền với các chủ điểm của tuần với các nội dung như mở rộng vốn từ và các mạch kiến thức, kĩ năng về từ và câu Những kiến thức được cung cấp là những kiến thức sơ giản,
cơ bản nhất để giúp học sinh tiếp thu một cách dễ dàng
Nội dung dạy học các phương tiện liên kết câu được tiến hành giảng dạy thông qua phân môn LTVC lớp 5, trong đó có 3 bài hình thành kiến thức mới và
1 bài luyện tập Các bài học hình thành kiến thức mới về các phương tiện liên kết câu được thể hiện qua các bài sau:
- Liên kết các câu trong bài bằng cách lặp từ ngữ (tuần 25)
- Liên kết các câu trong bài bằng cách thay thế từ ngữ (tuần 25)
- Liên kết các câu trong bài bằng từ ngữ nối (tuần 27)
Trong chương trình còn có 1 bài Luyện tập thay thế từ ngữ để liên kết câu (tuần 26) nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức đã được học
1.5 Nhiệm vụ của môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng
1.5.1 Nhiệm vụ của môn Tiếng Việt
Hình thành và phát triển ở học sinh Tiểu học các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập, giao tiếp trong môi trường học tập và rèn luyện các thao tác tư duy
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1.5.2 Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn
Nhiệm vụ cơ bản của dạy học Tập làm văn là hình thành, phát triển năng lực tạo lập ngôn bản ở học sinh, rèn cho học sinh các kĩ năng nói theo các nghi
Trang 23thức lời nói, nói, viết các ngôn bản thông thường, viết một số văn bản nghệ thuật như kể chuyện, miêu tả…
Ngoài nhiệm vụ cơ bản trên, phân môn Tập làm văn còn góp phần rèn luyện tư duy, giúp các em có kĩ năng phân tích, tổng hợp, phân loại, lựa chọn đồng thời cũng dạy học sinh cách cư xử với mọi người như sự lễ phép, lịch sự trong nói năng
1.6 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
1.6.1 Tư duy
Tư duy của học sinh Tiểu học mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế
ở tư duy trực quan hành động
Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Điều này tạo khả năng hình thành những sự so sánh, khái quát đầu tiên, xây dựng những khái niệm, quy tắc toán học
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh Tiểu học
1.6.2 Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh Tiểu học
Giai đoạn đầu của bậc Tiểu học, ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt
và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em
Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ
Trang 24hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú
và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức
Tiểu kết
Việc tìm hiểu về khái niệm đoạn văn và đặc trưng cơ bản của đoạn văn, lí thuyết chung về văn bản, tìm hiểu về sự liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn trong văn bản, đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học sẽ giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn tổng quát và đầy đủ hơn về vấn đề mình đang nghiên cứu Đây cũng là tiền đề cơ bản và quan trọng để chúng tôi tiến hành khảo sát các lỗi liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh
Tiểu học
Trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học, kiến thức về liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn văn trong văn bản được trình bày một cách sơ giản trong phân môn Luyện từ và câu để các em vận dụng khi làm các bài tập làm văn bởi
vì hai phân môn này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Vì thế, để nắm được thực trạng về kĩ năng liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh Tiểu học hiện nay, chúng tôi đã tiến hành thu thập tư liệu khảo sát trên các bài tập làm văn của học sinh ở chương 2 của khóa luận Tuy nhiên trong phạm vi của khóa luận này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát các lỗi liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn trong văn bản về mặt hình thức, vấn đề về lỗi
nội dung sẽ không được đề cập
Trang 25Chương 2 THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI CÁC LỖI LIÊN KẾT CÂU
TRONG ĐOẠN VĂN VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN TRONG VĂN BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG 2.1 Mục đích khảo sát
Chúng tôi khảo sát các bài làm TLV của học sinh Tiểu học từ lớp 2 đến lớp
5 ở một số trường trên địa bàn quận Thanh Khê - TP Đà Nẵng để thấy được thực trạng liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản của các em, chỉ ra những lỗi sai thường gặp, bước đầu chỉ ra nguyên nhân mắc lỗi của học sinh Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành xây dựng một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao kĩ năng liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh Tiểu học
2.2 Địa bàn khảo sát
Để đảm bảo tính khách quan của khóa luận, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thu thập các bài làm văn viết của học sinh Tiểu học ở 4 trường Tiểu học trên địa bàn quận Thanh Khê - TP Đà Nẵng Cụ thể:
Trường TH Trần Cao Vân
Trường TH Hàm Nghi
Trường TH Huỳnh Ngọc Huệ
Trường TH Hoa Lư
2.3 Tiêu chí phân loại lỗi liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn trong văn bản
Các lỗi liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản được thể hiện qua hai phương diện: liên kết nội dung và liên kết hình thức Tuy nhiên,
ở phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu các lỗi liên kết câu trong đoạn và các lỗi liên kết đoạn trong văn bản về mặt hình thức
Về lỗi liên kết câu trong đoạn văn, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những cách phân loại khác nhau
Trang 26Dựa vào tài liệu Tiếng Việt thực hành của nhóm tác giả Bùi Minh Toán - Lê
A - Đỗ Việt Hùng (1998), Nxb Giáo dục, chúng tôi phân lỗi liên kết câu trong đoạn văn về mặt hình thức thành các loại sau:
- Lỗi dùng sai phương tiện liên kết câu bao gồm:
+ Lỗi dùng sai phép nối
+ Lỗi dùng sai phép thế
+ Lỗi dùng sai phép lặp
+ Lỗi dùng sai phép liên tưởng
+ Lỗi sai phương thức dùng câu hỏi
- Lỗi không dùng phương tiện liên kết câu
Về lỗi liên kết đoạn trong văn bản, chúng tôi cũng phân thành các lỗi như lỗi liên kết câu trong đoạn văn nhưng khác nhau về phạm vi và cấp độ Cụ thể như sau:
- Lỗi không liên kết đoạn văn
+ Lỗi dùng sai phương tiện liên kết đoạn văn + Lỗi không dùng phương tiện liên kết đoạn văn
- Lỗi tách đoạn tùy tiện
- Lỗi không tách đoạn
2.4 Kết quả khảo sát
Chúng tôi đã khảo sát 513 bài tập làm văn (bao gồm đoạn văn và bài văn) của học sinh Tiểu học từ lớp 2 đến lớp 5 ở 4 trường trên địa bàn quận Thanh Khê - TP Đà Nẵng năm học 2012 - 2013 Cụ thể:
- Lớp 2 : 90 đoạn văn
- Lớp 3 : 126 đoạn văn
- Lớp 4 : 145 bài văn
- Lớp 5 : 152 bài văn Chúng tôi nhận thấy, học sinh lớp 2 và lớp 3 chỉ mới được luyện viết đoạn văn theo những câu hỏi gợi ý nên chỉ có thể phát hiện ra các lỗi liên kết câu trong đoạn trong bài làm của các em Lên lớp 4 và lớp 5, học sinh được luyện
Trang 27viết văn bản hoàn chỉnh nên chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát các lỗi liên kết đoạn trong văn bản qua bài Tập làm văn của học sinh lớp 4, 5
Kết quả khảo sát được thể hiện qua bảng thống kê, phân loại sau:
2.4.1 Bảng thống kê, phân loại các lỗi liên kết câu trong đoạn văn (xem phần
phụ lục trang 1)
Khối
lớp
Tổng số
bài
Lỗi dùng sai phương tiện liên kết
2.4.2 Bảng thống kê, phân loại các lỗi liên kết đoạn trong văn bản (xem phần
phụ lục trang 13)
Trang 282.4.3 Nhận xét các lỗi liên kết câu trong đoạn văn của học sinh Tiểu học
Trong tổng số các bài văn của học sinh Tiểu học trên địa bàn quận Thanh Khê - TP Đà Nẵng, chúng tôi nhận thấy:
Lớp 2 có 90 bài, trong đó có 38 bài mắc lỗi chiếm tỉ lệ 41,11% Qua bảng khảo sát, chúng tôi nhận thấy học sinh lớp 2 chủ yếu mắc lỗi dùng sai phương tiện liên kết nối và lỗi dùng sai phương tiện liên kết thế Cụ thể, lỗi dùng sai phương tiện liên kết nối chiếm tỉ lệ 10% và lỗi dùng sai phương tiện liên kết thế chiếm tỉ lệ 8,89%
Lớp 3 có 126 bài, trong đó có 26 bài mắc lỗi chiếm tỉ lệ 20,63% Từ kết quả trên chúng tôi nhận thấy rằng học sinh lớp 3 mắc lỗi chủ yếu là dùng sai phương tiện liên kết nối (chiếm tỉ lệ 5,56 %) Như vậy, tỉ lệ lỗi sai ở lớp 3 thấp hơn tỉ lệ lỗi sai ở lớp 2
Lớp 4 có 145 bài, trong đó 45 bài mắc lỗi chiếm tỉ lệ 31,03% Qua bảng số liệu chúng tôi nhận thấy, tỉ lệ mắc lỗi của học sinh lớp 4 chiếm tỉ lệ cao hơn so với học sinh lớp 3
Lớp 5 có 152 bài, trong đó có 26 bài mắc lỗi chiếm tỉ lệ 17,11% Đây là khối lớp có số lỗi sai chiếm tỉ lệ ít nhất
Kết quả trên cho thấy học sinh lớp 2 mắc lỗi nhiều nhất, chiếm tỉ lệ 40%, tiếp theo là lớp 4 (chiếm tỉ lệ 31,03%) và lớp 3 (chiếm tỉ lệ 20,16%) Học sinh lớp 5 ít mắc lỗi liên kết câu trong đoạn hơn so với các lớp khác vì các em đã được học các kiến thức về liên kết câu bằng phép nối, phép lặp, phép thế trong phân môn LTVC và đây là lớp cuối cấp của bậc Tiểu học nên các em có tư duy tốt hơn các lớp khác
Qua thống kê, phân loại các lỗi liên kết câu trong đoạn văn của học sinh Tiểu học trên địa bàn quận Thanh Khê - TP Đà Nẵng, chúng tôi nhận thấy loại lỗi học sinh thường mắc phải đó là lỗi dùng sai các phương tiện liên kết Lỗi dùng sai phương tiện liên kết gồm 3 lỗi chính: lỗi dùng sai phương tiện thế, lỗi dùng sai phương tiện nối và lỗi dùng sai phương tiện lặp Tuy nhiên, tỉ lệ mắc từng loại lỗi của học sinh ở các khối lớp không giống nhau Cụ thể:
Trang 292.4.3.1 Lỗi dùng sai phương tiện thế
- Lớp 2: có 8/90 bài mắc lỗi chiếm 8,89%
- Lớp 3: có 6/126 bài mắc lỗi chiếm 4,76%
- Lớp 4: có 12/145 bài mắc lỗi chiếm 8,27%
- Lớp 5: có 6/152 bài mắc lỗi chiếm 3,95%
Ví dụ:
(1) (1) Em đặt cho búp bê này tên là bé Kẹo (2) Em có đôi mắt đen láy, thỉnh thoảng lại chớp chớp mắt rất đáng yêu (3) Bé Kẹo có bộ tóc vàng óng ánh và được cài một chiếc nơ xinh xinh (4) Em buộc cho bé Kẹo hai bím tóc ở hai bên
(Mai Nguyễn Quỳnh Nhi, lớp 4/8 trường TH Trần Cao Vân) (2) Trái banh của em (1) có một cái lỗ nhỏ để bơm hơi Mỗi khi em (2) bị xì hơi, em (3) kêu ba bơm giùm
(Lê Đặng Hoàng Nguyên, lớp 4/8 trường TH Trần Cao Vân) (3) (1) Con gấu bông của em rất đẹp (2) Nó to bằng một gang tay của em
(3) Chú rất nhẹ, thân hình mũm mĩm trông rất dễ thương (4) Bộ lông màu đỏ, pha mấy màu trắng ở tai, bụng và sau lưng
(Nguyễn Phương Thuận, lớp 4/8 trường TH Trần Cao Vân) (4) Sau cơn mưa, mọi vật như bừng tỉnh Mấy chú chim không biết trú mưa ở đâu giờ bay ra hót râm ran Cây lộc vừng và những cây hoa trong vườn như được cơn mưa gội sạch những bụi bẩn trên người Cơn mưa đã làm cho nó trở nên tươi tốt hơn
(Lê Hoàng Bảo Ngọc, lớp 5/5 trường TH Huỳnh Ngọc Huệ)
Ở ví dụ (1), câu thứ nhất đại từ “em” dùng để chỉ người sở hữu con gấu bông Trong câu thứ hai, đại từ “em” lại được dùng để thay thế cho từ “búp bê”
ở câu thứ nhất Sự thay thế này làm cho người đọc không hiểu là búp bê có đôi mắt đen láy hay người sở hữu búp bê có đôi mắt đen láy Như vậy, sự thay thế này không phù hợp làm cho người đọc hiểu sai về nội dung của câu văn
Tương tự đối với ví dụ (2), đại từ “em”(1) và “em”(3) dùng để chỉ người sở
hữu trái banh Còn từ “em”(2) dùng để thay thế cho trái banh ở câu thứ nhất Như
Trang 30vậy, trong trường hợp này sự thay thế đại từ “em” cũng không phù hợp, không
có tác dụng liên kết giữa các câu
Ở ví dụ (3), câu thứ hai học sinh dùng đại từ “nó” để thay thế cho từ con gấu bông nhưng sang đến câu thứ ba, em lại dùng từ “chú” để thay thế Đại từ
“nó” thay thế cho từ “con gấu bông” là đúng Nhưng “chú” không thể thế cho
“nó” vì cả hai từ này đều là đại từ Đại từ chỉ dùng để thay thế cho danh từ,
động từ, tính từ chứ không thể thay thế cho đại từ
Xét ví dụ (4), học sinh đã sử dụng sai phương tiện thế đại từ “nó” để liên kết câu Ở câu đứng trước, sự vật được nói đến là “cây lộc vừng và những cây hoa trong vườn” Nhưng câu tiếp theo lại sử dụng đại từ “nó” để thay thế là
không phù hợp vì làm cho người đọc không xác định được cây lộc vừng hay cây hoa được nói đến Vì vậy, việc sử dụng phương tiện thế để liên kết câu trong trường hợp này là sai, làm cho người đọc hiểu sai về nội dung của các câu văn trong đoạn
Nguyên nhân mắc lỗi
Qua tất cả các bài văn đã khảo sát, chúng tôi nhận thấy nguyên nhân chính dẫn đến việc học sinh sử dụng sai phương tiện thế là do các em chưa biết cách dùng các phương tiện liên kết như dùng đại từ, từ đồng nghĩa ở câu sau để thay thế cho những từ ở câu đứng trước, để làm cho các câu văn có tính liên kết và việc diễn đạt lôgic hơn
2.4.3.2 Lỗi dùng sai phương tiện lặp
- Lớp 2: có 5/90 bài mắc lỗi chiếm 5,56%
- Lớp 3: có 4/126 bài mắc lỗi chiếm 3,17%
- Lớp 4: có 7/145 bài mắc lỗi chiếm 4,83%
- Lớp 5: có 5/152 bài mắc lỗi chiếm 3,29%
Ví dụ:
Bạn Tuấn Anh thân mên!
Bạn biết chứ mình là Lương Lê Tài đây Mình và các bạn trong lớp nhớ bạn lắm Bây giờ bạn khỏe chứ?
Trang 31Bây giờ mình sẽ kể cho bạn nghe câu chuyện của lớp nhé Bây giờ lớp mình
có một cô giáo mới tên là Hằng Cô dạy rất tốt, chúng mình rất hiểu bài Bây giờ trường mình sắp tổ chức lễ khai mạc thể dục thể thao Lớp mình chọn nhiều bạn lắm, trong đó có môn cầu lông, cờ vua, kể chuyện
Thôi mình dừng bút đây Bạn nhớ hồi âm lại cho mình nhé Tạm biệt
Bạn cũ Tài Lương Lê Tài (Lương Lê Tài, lớp 4/8 trường TH Trần Cao Vân) (2) Lâu lắm rồi em chưa được về Quảng Nam chơi Đó là quê ngoại của em Nhà ngoại em có nuôi một đàn gà nhưng em thích nhất là chú gà nòi trưởng đoàn
Chú khoác bộ lông màu vàng sẫm chen lẫn màu đỏ, xanh và đen Đầu chú
to bằng quả banh tennis của em Chú có chiếc mào đỏ chót như mái tóc dựng đứng trông thật sành điệu Chú có đôi mắt long lanh như hai viên ngọc huyền
bí Chú có chiếc mỏ màu vàng là phương tiện để chú kiếm ăn và tự vệ Chú có cặp cánh như hai cái quạt ngũ sắc Chú có hai chân rắn và chắc khỏe
(Võ Như Tín, lớp 5/5 trường TH Huỳnh Ngọc Huệ) (3) Trái banh của em rất đẹp Trái banh của em đến từ nước Pháp Trái banh của em mặc áo màu xanh Trái banh của em được may bằng da tốt Trái banh của em có một lỗ nhỏ để bơm hơi
(Lê Đặng Hoàng Nguyên, lớp 4/8 trường TH Trần Cao Vân) (4) Milu đã ở nhà em bốn năm rồi Nó có thân hình mập mạp Nó có bộ lông trắng có vài chấm đen và nâu Nó có đôi mắt sáng và ẩn sau vài sợi lông Nó có đôi chân ngắn, mập nhưng chạy rất nhanh Chiếc đuôi của nó cong cong, lúc nào cũng hất qua hất lại trông rất đáng yêu
(Nguyễn Hoàng Xuân Hương, lớp 5/5 trường TH Huỳnh Ngọc Huệ)
Ở ví dụ (1), từ “bây giờ” đứng ở đầu câu được dùng lặp đi lặp lại nhiều lần,
những từ này không có tác dụng liên kết câu mà làm cho câu văn trở nên nặng
Trang 32Xét tương tự đối với ví dụ (2), học sinh sử dụng lặp lại nhiều từ “chú có” ở
đầu câu nhưng những từ đó không có tác dụng liên kết giữa câu sau với câu trước, nó không làm cho đoạn văn không lôgic trong diễn đạt về mặt nội dung
mà làm cho câu văn trở nên nặng nề, nhàm chán
Ở ví dụ (3) cũng vậy, trong đoạn văn trên, học sinh đã dùng lặp đi lặp lại
cụm từ “trái banh của em” ở đầu mỗi câu cũng không có tác dụng liên kết giữa
các câu với nhau
Xét ví dụ (4), từ “nó có” được học sinh sử dụng lặp lại trong hầu hết cả
đoạn văn nhưng lại không có tác dụng liên kết câu mà lại làm cho đoạn văn trở nên nặng nề, nhàm chán
Nguyên nhân mắc lỗi
Theo chúng tôi, nguyên nhân dẫn đến việc dùng sai phương tiện lặp là do học sinh chưa biết cách dùng phép lặp để liên kết câu, mà chỉ dùng lặp lại một từ hoặc một cụm từ ở đầu câu từ đầu đến cuối đoạn văn nên không có tác dụng liên kết câu mà làm cho câu văn trở nên nặng nề
2.4.3.3 Lỗi dùng sai phương tiện nối
Lớp 2: có 9/90 bài mắc lỗi, chiếm tỉ lệ 10%
Lớp 3: có 7/126 bài mắc lỗi, chiếm tỉ lệ 5,56%
Lớp 4: có 13/145 bài mắc lỗi, chiếm tỉ lệ 8,97%
Lớp 5: có 6/152 bài mắc lỗi, chiếm tỉ lệ 3,95%
Ví dụ:
(1) Tết mà ai chẳng chuẩn bị trước chứ Thế mà Tết năm nay nhà em sửa soạn
rất nhiều đồ đạc Trong số những đồ vật ấy ba em đã sửa soạn cho căn nhà một chậu mai to tướng Chậu hoa mai vô cùng đẹp Khiến cho căn nhà em thêm đẹp
(Trần Ngọc Ánh, lớp 4/8 trường TH Trần Cao Vân) (2) Nhà Mai ở bên cạnh nhà em Tuy bạn ấy bằng tuổi em nhưng thân hình nhỏ nhắn, gầy gò Mai rất hiền lành, tốt bụng luôn giúp đỡ người khác Nhà Mai rất nghèo Bạn ấy phải giúp ba mẹ làm việc rất vất vả Vì vậy Mai học rất giỏi Tối tối, Mai thường qua nhà em học bài và trò chuyện Cả nhà em ai cũng yêu quý Mai
(Võ Phương Thy, lớp 3/2 trường TH Hoa Lư)
Trang 33Xét ví dụ (1), để liên kết câu thứ nhất với câu thứ 2, học sinh đã sử dụng từ
chuyển tiếp “thế mà” Ở câu thứ nhất, học sinh viết “Tết mà ai chẳng chuẩn bị trước chứ” để nói đến việc tất yếu phải chuẩn bị cho ngày Tết Nhưng câu thứ 2 lại dùng từ “thế mà” để nối với câu thứ nhất Thông thường, từ chuyển tiếp “thế mà” có tác dụng liên kết câu nhưng đặt trong trường hợp này nó không có tác
dụng liên kết câu mà lại làm cho nội dung của câu sau không liên kết với câu trước
Xét ví dụ (2), dùng từ nối “vì vậy” trong trường hợp này không chính xác,
không có tác dụng liên kết câu và làm cho nội dung của câu sau không liên quan với câu đứng trước
Nguyên nhân mắc lỗi
Theo chúng tôi, nguyên nhân học sinh mắc lỗi này là do các em không nắm được ý nghĩa và cách dùng các quan hệ từ, phụ từ và các từ chuyển tiếp nên sử dụng các từ nối, từ chuyển tiếp để liên kết câu chưa chính xác làm người đọc hiểu sai về nội dung thông báo của câu văn và sai nội dung của đoạn văn
2.4.4 Nhận xét các lỗi liên kết đoạn trong văn bản của học sinh Tiểu học
Lớp 4 : có 145 bài ,trong đó có 39 bài mắc lỗi, chiếm tỉ lệ 26,89%
Lớp 5 : có 152 bài, trong đó có 23 bài mắc lỗi, chiếm tỉ lệ 15,13%
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy kĩ năng liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh lớp 5 tốt hơn học sinh lớp 4 Điều này phù hợp với quy luật phát triển tư duy và ngôn ngữ của học sinh Tiểu học
Theo số liệu khảo sát các lỗi liên kết đoạn văn trong văn bản, học sinh lớp
4, 5 mắc các lỗi như: lỗi dùng sai phương tiện liên kết đoạn, lỗi không tách đoạn
và lỗi tách đoạn tùy tiện Tuy nhiên, tỉ lệ mắc từng loại lỗi của học sinh không giống nhau Cụ thể:
2.4.4.1 Lỗi dùng sai phương tiện liên kết đoạn văn
Theo số liệu thống kê, học sinh lớp 4 không mắc lỗi dùng sai phương tiện liên kết đoạn văn
Lớp 5: có 1/152 bài mắc lỗi, chiếm tỉ lệ 0,06% Đây là loại lỗi chiếm tỉ lệ ít
Trang 34Từ đó, bàn tay nhỏ nhắn của cô viết lên bảng dòng chữ đều và đẹp: “Diện tích hình tròn” Và cô bắt đầu đi vào bài giảng Giọng cô giảng bài rất hay, làm chúng em rất dễ hiểu Đến giờ làm bài tập, cô đi vòng quanh lớp để quan sát
Có bạn nào không làm được, cô chỉ bảo rất tận tình Tiết học vừa kết thúc cũng là lúc báo hiệu giờ ra chơi đã đến Chúng em xếp sách vở và ùa ra sân chơi
Em rất thích giọng nói của cô và hình ảnh cô lúc giảng bài Em hứa sẽ học thật giỏi để cô vui lòng
(Nguyễn Thị Thảo Trang, lớp 5/5 trường TH Huỳnh Ngọc Huệ) Xét ví dụ trên, nếu không có từ “từ đó” thì đoạn văn sau liên kết với đoạn văn trước bằng phương tiện lặp đó là dùng lặp lại các từ “cô”,“bàn tay của cô”
Nhưng trong trường hợp này học sinh sử dụng từ đã sử dụng phương tiện liên
kết đoạn “từ đó” đứng ở đầu câu không phù hợp nó không có tác dụng liên kết
đoạn mà làm cho câu văn lủng củng
Nguyên nhân mắc lỗi
Nguyên nhân chủ yếu của lỗi này là do học sinh không biết cách sử dụng các phương tiện liên kết đoạn văn để liên kết các đoạn với nhau nên dẫn đến sử dụng sai các phương tiện liên kết giữa các đoạn văn nên làm các đoạn văn không liên kết với nhau
2.4.4.2 Lỗi tách đoạn tùy tiện
- Lớp 4: có 14/145 bài mắc lỗi, chiếm 9,66%
- Lớp 5: có 8/152 bài mắc lỗi, chiếm 5,26%
Ví dụ:
Trang 35(1) //Nó to bằng một gang tay của em Chú rất nhẹ, thân hình mũm mĩm trông rất dễ thương Bộ lông màu đỏ, pha mấy màu trắng ở tai, bụng và sau lưng
Cái đầu to hơn bàn tay em một chút Đôi mắt đen láy, nom rất tinh nghịch và thông minh Trên cổ nó có một cái nơ màu đỏ và làm cho nó xinh đẹp hơn Hai tay và hai chân giơ ra như đang đòi bế vậy Buổi tối em thường ôm nó ngủ Sau ngày sinh nhật em liền đem khoe với các bạn, bạn nào cũng trầm trồ khen ngợi Đó là kỉ niệm em nhớ nhất về nó.//
(Nguyễn Phương Thuận, lớp 4/8 trường TH Trần Cao Vân) (2) //Gấu bông của em trông rất dễ thương Nó không to lắm Nó là gấu ngồi nên dáng người tròn, hai tay dang ra Bộ lông nó màu nâu pha mấy mảng hồng nhạt ở tai, mõm làm nó trông khác với những con gấu bông khác
Hai mắt đen láy trông như mắt thật Mũi gấu màu nâu, nhỏ trông như chiếc cúc áo gắn trên mõm Trên cổ gấu thắt một chiếc nơ đỏ chói trước bụng làm nó càng đáng yêu.//
(Trương Thị Hương Giang, lớp 4/4 trường TH Huỳnh Ngọc Huệ)
(3) //Chiếc cặp màu hồng Chiều dài của cặp khoảng ba mươi lăm xăng - ti - met, chiều rộng khoảng hai mươi lăm xăng - ti - met Cặp được làm bằng vải dù nên rất chắc chắn Mặt trước của cặp có hình ba con búp bê rất đẹp Cặp có quai cầm, ở đằng sau cặp có hai cái dây đeo bằng vải mềm đeo rất thoải mái Bên trong cặp có ba ngăn, một ngăn to và hai ngăn nhỏ
Ngăn to em dùng để bỏ sách và đồ thay trưa Ngăn nhỏ em để bỏ bảng con và hộp phấn Ngoài ra, cặp còn có hai ngăn nhỏ hai bên Hai ngăn đó em dùng để bỏ sữa và bánh mang theo.//
(Nguyễn Thị Quỳnh Trang, lớp 4/4 trường TH Huỳnh Ngọc Huệ) (4) //Thân hình nó mảnh mai, bộ lông trắng muốt Khuôn mặt Bạch Tuyết tròn như quả banh nhỏ Đôi mắt tròn như hai viên bi ve Chiếc mũi của nó hồng hào, khi thở thì nhô lên trông thật ngộ nghĩnh
Bạch Tuyết có đôi môi đỏ hồng như son môi Hàm răng nó không sắc nhưng đủ làm cho người ta rất sợ Chiếc đuôi của nó lúc nào cũng ngoe nguẩy
Trang 36trông rất vui mắt Đôi chân nó có những móng vuốt sắc nhọn và lao như tên bắn rất là nhanh.//
(Nguyễn Gia Huy, lớp 5/5 trường TH Huỳnh Ngọc Huệ)
Ở ví dụ (1) và ví dụ (2), cả hai đoạn được tách ra đều diễn đạt cùng một tiểu chủ đề đó là miêu tả hình dáng bên ngoài của gấu bông nên không được tùy tiện tách đoạn Hai đoạn này chỉ là thực chất chỉ là một đoạn văn miêu tả hình dáng bên ngoài của gấu bông Muốn tách đoạn, học sinh phải căn cứ vào các cơ sở tách đoạn sau đây:
+ Tách đoạn theo một tiểu chủ đề
+ Tách đoạn dựa vào sự khác biệt về thời gian, về địa điểm, về nhân vật + Tách đoạn để nhấn mạnh ý
Tương tự với ví dụ (3), cả hai đoạn văn này đều diễn đạt về một tiểu chủ đề
đó là miêu tả hình dáng, các bộ phận của chiếc cặp nên học sinh tách thành 2 đoạn như vậy là không đúng
Xét ví dụ (4), chúng tôi nhận thấy cả hai đoạn văn đều miêu tả về hình dáng bên ngoài của con chó tên là Bạch Tuyết Vì vậy, trong ví dụ này, học sinh viết thành hai đoạn văn là không đúng vì cả hai đoạn đều cùng trình bày về một tiểu chủ đề đó là miêu tả hình dáng, ngoại hình của con vật
Ở cả ba ví dụ này, nếu muốn tách đoạn thì học sinh chỉ nên tách tại vị trí có kí hiệu //
Nguyên nhân mắc lỗi
Qua tất cả các lỗi đã khảo sát, chúng tôi nhận thấy nguyên nhân chính dẫn đến học sinh mắc lỗi tách đoạn tùy tiện là do các em không nắm được nguyên tắc tách đoạn nên lúc nào “tiện tay” thì tách sang một đoạn mới
2.4.4.3 Lỗi không tách đoạn
- Lớp 4: có 25/145 bài mắc lỗi, chiếm 17,24% Đây là loại lỗi chiếm tỉ lệ cao nhất
- Lớp 5: có 14/152 bài mắc lỗi, chiếm 9,21%
Ví dụ:
Trang 37(1) Em có một tủ kính để đựng những đồ chơi cũ mà em thích Trong số đồ chơi cũ đó, đồ chơi mà em thích nhất là em búp bê mà mẹ em tặng hồi học lớp một
Em đặt cho búp bê này tên là bé Kẹo Em có đôi mắt đen láy, thỉnh thoảng lại chớp chớp mắt rất đáng yêu Bé Kẹo có bộ tóc vàng óng ánh và được cài một chiếc nơ xinh xinh Em buộc cho bé Kẹo hai bím tóc ở hai bên Làn tóc mai cong cong ôm gọn lấy khuôn mặt trái xoan bầu bĩnh ửng hồng Bé Kẹo mặc chiếc váy hoa được viền những đăng ten đủ màu sặc sỡ Nó có đôi môi đỏ như son và cái miệng nhỏ nhắn chúm chím Làn da trắng, các ngón tay thon thon như những búp măng Em đeo cho bé Kẹo cái vòng bằng nhựa màu vàng lấp lánh Đôi chân
mang đôi hài // Em rất yêu bé Kẹo Tối nào em cũng ngủ cùng bé kẹo đáng yêu
(Mai Nguyễn Quỳnh Nhi, lớp 4/8 trường TH Trần Cao Vân) (2) Vừa rồi bố đi Đà Lạt về Mua cho em một món quà Meo meo Đấy là một chú mèo mà bố đã mua cho em
Cái đầu tròn như một quả bóng nho nhỏ Mắt chú mèo mới long lanh và
dễ thương làm sao Nhưng vào ban đêm mắt chú sáng rực lên để bắt chuột Mũi mèo ươn ướt hồng hồng và thêm bộ ria mèo Để tăng thêm vẻ duyên dáng Bộ lông mèo màu nâu nhạt Dưới chân chú có đệm thịt giúp chú đi lại không nghe tiếng động // Mỗi lần em cho nó ăn, chú mèo ăn từ từ từng miếng một Mỗi ngày cho chú tắm xong thì chú lại đi ra ngoài sân lựa chỗ nào có nắng để sưởi ấm
Lúc nào em đi học về chú chạy ra cửa mừng rỡ đón em
Em rất yêu chú mèo Chú mèo giúp nhà em hết chuột
(Lê Trần Hoàng Ngân, lớp 4/8 trường TH Trần Cao Vân) (3) Em đã được nghe rất nhiều câu chuyện hay nhưng em thích nhất là câu chuyện Cây khế Sau đây em xin kể cây chuyện Cây khế // Ngày xửa ngày xưa
có hai anh em cha mẹ mất sớm Người anh đã chiếm hết nhà cửa ruộng vườn chỉ để lại cho người em một túp lều và một cây khế Đến mùa, cây ra hoa, kết trái, có một con chim đến ăn khế Người em liền than thở: “nhà ta nghèo lắm, chim ăn hết khế ta đâu có tiền đong gạo” Con chim liền nói “ăn một quả trả
Trang 38đến chở người em ra đảo lấy vàng Sau đó người em trở nên giàu có // Người anh trai biết chuyện liền đổi hết gia tài của mình để lấy cây khế Người em đồng
ý Đến mùa, chim lại đến ăn khế Lúc này, người anh cũng giả vờ than thở, chim phượng hoàng liền nói như nói với người em Nhưng người anh tham lam đã bảo vợ may túi mười gang Hôm sau, chim bay đến đưa anh ta ra đảo lấy vàng Anh lấy vàng nhét đầy túi và nhét vào áo quần Khi về nhà, chim chở nặng quá nên mỏi đã nghiêng mình làm người anh rơi xuống biển // Câu chuyện khuyên chúng ta không nên tham lam vì tham lam sẽ có kết cục không tốt như người
anh
(Nguyễn Thị Mỹ Thanh, lớp 4/2 trường TH Hàm Nghi) (4) Vào buổi sáng mồng 2 tháng 9, công viên 29-3 rất nhộn nhịp Mọi người đều vào chơi những trò chơi và tham quan công viên // Công viên nằm trên dải đất rộng và bằng phẳng ở đường Điện Biên Phủ Buổi sáng trong công viên rất vui Có những người vào công viên để chơi các trò chơi Có người ngồi trên ghế đá và trò chuyện cùng nhau Trong công viên có nhiều loại cây như hoa hồng, hoa cúc, hoa đào… Cả nhà em rất thích đi công viên vì không khí ở đây rất trong lành và dễ chịu.// Em ước cuối năm được học sinh giỏi để bố mẹ chở đi công viên chơi
(Đỗ Thị Thục Nhi, lớp 5/5 trường TH Huỳnh Ngọc Huệ)
Ở ví dụ (1), giữa thân bài và kết bài của bài văn đã không được tách riêng
ra nên không đúng với bố cục của văn bản Ở ví dụ này, học sinh phải tách văn bản thành 3 đoạn: mở bài, thân bài và kết bài
Ở ví dụ (2), trong phần thân bài của bài văn tả loài vật, phần miêu tả hình dáng bên ngoài và phần miêu tả hoạt động của động vật phải được tách thành 2 đoạn, một đoạn miêu tả ngoại hình và một đoạn tả hoạt động của con vật để làm cho bài văn rõ ràng và mạch lạc
Ở ví dụ (3), khi làm bài văn, học sinh đã viết liền các thành tố nội dung khác nhau làm cho bố cục văn bản không rõ ràng Với ví dụ này, học sinh phải tách ra thành 4 đoạn: đoạn 1 chính là phần mở bài, đoạn 2, 3 chính là phần thân
Trang 39bài, đoạn còn lại là phần kết bài Trong phần thân bài, 2 đoạn được tách ra dựa vào sự khác biệt về thời gian và nhân vật
Nguyên nhân mắc lỗi
Lỗi này là do học sinh không nắm được các nguyên tắc tách đoạn nên đã không tách đoạn làm cho nội dung của văn bản không rõ ràng, mạch lạc
Trong các lỗi mà học sinh mắc phải thì lỗi dùng sai phương tiện liên kết câu
và lỗi không tách đoạn chiếm số lượng lớn nhất Chiếm tỉ lệ thấp nhất là lỗi dùng sai các phương tiện liên kết đoạn văn trong văn bản Trong lỗi dùng sai các phương tiện liên kết câu thì lỗi dùng sai phép nối chiếm tỉ lệ cao nhất so với lỗi dùng sai phép thế và phép lặp
Qua việc khảo sát, thống kê, phân loại các lỗi liên kết câu trong đoạn văn
và các lỗi liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh Tiểu học trên địa bàn quận Thanh Khê - TP Đà Nẵng, chúng tôi nhận thấy mỗi lỗi liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn văn trong văn bản do những nguyên nhân khác nhau gây
ra Vì vậy, để rèn luyện kĩ năng liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn văn trong văn bản của học sinh Tiểu học, người giáo viên phải thực hiện tốt việc chữa lỗi sai về liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn trong văn bản cho học sinh Nhận thức được tầm quan trọng của việc này, trên cơ sở số liệu đã khảo sát, chúng tôi tiến hành xây dựng một số bài tập nhằm rèn kĩ năng liên kết câu trong đoạn và liên kết đoạn văn trong văn bản cho học sinh Tiểu học ở chương 3 của khóa luận Tuy nhiên, nội dung kiến thức về các phương tiện liên kết câu chỉ
Trang 40tiến hành xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ cho học sinh lớp 5 để giúp các em củng cố các kiến thức đã học và rèn luyện kĩ năng liên kết câu trong đoạn văn và liên kết đoạn văn trong văn bản