Khái niệm: Trong các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có một định nghĩa cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng dựa trên những khái niệm chung về hợp đồng dân sự, hợp đồng mua
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LUẬT
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2
Mã Bài tập lớn: 06
Họ và tên: Hoàng Thị Quỳnh Ly MSSV: 21A4060175
Lớp niên chế: K21LKTC Nhóm lớp tín chỉ: LAW46A01
Số thứ tự theo danh sách điểm: 43
ĐIỂM TRUNG BÌNH:
Trang 3BÀI TẬP LỚN 06
CÂU 1 VIẾT LUẬN
Viết một bài luận từ 05 đến 07 trang với chủ đề: Hợp đồng mua bán hàng hoá và hợp đồng mua bán tài sản – Pháp luật điều chỉnh
Yêu cầu: Trong bài luận sinh viên cần giải quyết được các nội dung sau:
- Căn cứ vào cá quy định của pháp luật và thực tiễn hay chỉ các căn cứ để phân định hoạt động mua bán hàng hoá trong thương mại với hoạt động mua bán tài sản trong dân sự
- Sau khi phân định được giữa hai hoạt động, sinh viên căn cứ vào lý luận
và các quy định cụ thể để xác định nguyên tắc áp dụng pháp luật điều chỉnh đối với quan hệ mua bán hàng hoá trong thương mại
Lưu ý: Bài luận cần có đầy đủ ba phần: Mở bài, thân bài và kết luận Nội
dung của bài luận không chỉ là việc liệt kê, copy các quy định của pháp luật mà
phải có được những phân tích, đánh giá, so sánh các quy định của pháp luật Bên
cạnh đó, sinh viên cần nghiên cứu tìm hiểu thực tiễn thi hành pháp luật Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật, khuyến khích sinh viên đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật hoặc kiến nghị, khuyến nghị, lưu ý đối với việc thi hành các quy định của pháp luật.
1
Trang 4MỤC LỤC
Lời nói đầu
I Khái quát chung về chủ đề:
1 Hợp đồng mua bán hàng hóa
a.Khái niệm
b.Đặc điểm
2.Hợp đồng mua bán tài sản
a.Khái niệm
b.Đặc điểm
II Phân tích, so sánh, đánh giá về hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản
1.Phân tích, so sánh
2.Đánh giá và thực tiễn thi hành pháp luật trên thực tế của hợp đồng mua bán
hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản
III Đề xuất giải pháp
IV Danh mục tài liệu tham khảo
2
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Hợp đồng - một cầu nối gắn kết quan trọng giúp mọi người thực hiện các giao lưu, hợp tác để đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thường ngày hay công việc kinh doanh của mỗi bên Quan hệ hợp đồng đang ngày càng trở nên phổ biến hơn và hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam Ngày nay, khi việc hợp tác cùng phát triển diễn ra ngày càng sôi động trên khắp các khía cạnh, lĩnh vực của đời sống xã hội, với đa số các giao dịch đều được cụ thể hóa ý chí mỗi bên dưới hình thức hợp đồng, và nó được coi là cơ sở nhằm ràng buộc các phía theo những gì mà họ đã cam kết, để khi có tranh chấp xảy ra thì chính hợp đồng sẽ là một trong các căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm của các bên
Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm…từ đây đã xuất hiện các hợp đồng khác nhau, điều chỉnh các đối tượng khác nhau trong từng ngành luật Cụ thể việc xuất hiện của hợp đồng mua bán hàng hóa
và hợp đồng mua bán tài sản lại khiến không ít người lầm tưởng rằng hai hợp đồng này là một và các cách gọi khác nhau này chỉ chung một loại hợp đồng Sự lầm tưởng này có thể do bắt nguồn từ cách hiểu sai về khái niệm hàng hóa và tài sản Do
đó việc nhận định, so sánh, phân tích, đánh giá hợp đồng mua bán hàng hóa trong quy định của Luật thương mại và hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ luật dân sự là điều hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay Đây sẽ là tiền đề quan trọng cho chúng ta có được những định hướng nhất định, có cái nhìn khách quan chính xác hơn và hiểu rõ hơn khi tiếp cận các tình huống trên thực tế xảy ra Xuất phát từ tầm quan trọng đó, em đã bắt tay vào nghiên cứu về chủ đề: “Hợp đồng mua bán hàng hoá và hợp đồng mua bán tài sản – Pháp luật điều chỉnh”
Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã cố gắng vận dụng những kiến thức được học cùng tài liệu tham khảo và sự định hướng của giảng viên Tuy nhiên, vì điều kiện thời gian cũng như kiến thức chuyên sâu và việc tiếp cận thực tế của em còn hạn chế nên bài tập lớn này khó tránh khỏi những thiếu sót về mặt nội dung và hình thức Vì vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để bài tập lớn này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
3
Trang 6I.Khái quát chung về chủ đề:
1 Hợp đồng mua bán hàng hóa
a Khái niệm:
Trong các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có một định nghĩa cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng dựa trên những khái niệm chung về hợp đồng dân sự, hợp đồng mua tài sản và khái niệm mua bán hàng hóa1, từ đó có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa như sau: “Hợp đồng mua bán hàng hóa là
sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền
sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”
b Đặc điểm:
-Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân
-Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa được quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005
- Mục đích chủ yếu của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sinh lợi
- Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện dưới ba dạng: bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Tuy nhiên, dựa vào đặc tính của quan hệ mua bán hàng hóa nên hợp đồng mua bán hàng hóa thường được giao kết bằng văn bản
2.Hợp đồng mua bán tài sản
a.Khái niệm
Hợp đồng mua bán tài sản là dạng giao dịch dân sự quen thuộc, thường gặp trong cuộc sống hằng ngày Hợp đồng mua bán tài sản được quy định cụ thể, chi tiết trong điều 430 BLDS 2015: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán”
chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Điều 430 BLDS 2015: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận của các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán Khoản 8 Điều 3 LTM 2005: Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhân thanh toán ; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận
4
Trang 7b.Đặc điểm:
- Hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng song vụ2, bên bán có quyền yêu cầu bên mua nhận vật và trả tiền mua vật, bên mua có quyền yêu cầu bên bán chuyển giao vật và nhận tiền bán vật
- Hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng có đền bù, cụ thể khoản tiền mà bên mua tài sản phải trả cho bên bán tài sản là khoản đền bù về việc mua bán tài sản
- Mục đích của hợp đồng mua bán tài sản là chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản từ bên bán sang bên mua
- Đối tượng của hợp đồng mua bán là tài sản được phép giao dịch và được quy định tại Điều 105 BLDS 2015
- Hình thức của hợp đồng mua bán tài sản có thể bằng lời nói, hành vi hoặc bằng văn bản do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định
II Phân tích, so sánh về hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản:
1.Phân tích, so sánh
Hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản là hai dạng hợp đồng được sử dụng phổ biến trong kinh doanh thương mại, sinh hoạt hằng ngày Nó đều được xác lập và thực hiện trên cơ sở sự thỏa thuận tự nguyện, bình đẳng giữa hai bên mua bán đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật như một hợp đồng dân
sự phải có Hình thức của hai loại hợp đồng này đều có các hình thức xác lập hợp đồng như nhau và tồn tại dưới ba dạng: hành vi, lời nói, văn bản Dù hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng của hợp đồng mua bán tài sản, song vì được quy định trong bộ luật khác nên hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ mang những nội dung riêng, đặc trưng, khác biệt với hợp đồng mua bán tài sản
- Thứ nhất, về khái niệm
+ Hợp đồng mua bán hàng hóa: Luật thương mại không đưa ra định nghĩa cụ thể, nó vẫn có những nét đặc trưng của hợp đồng dân sự
+ Hợp đồng mua bán tài sản: là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán
-Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng:
nhau
5
Trang 8+ Hợp đồng mua bán hàng hóa: có đối tượng là hàng hóa (tất cả các loại động sản,
kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005)
+ Hợp đồng mua bán tài sản: là các tài sản3 được liệt kê tại Điều 105 của Bộ luật dân sự 2015 gồm có: vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản (quyền đối nhân và quyền đối vật), động sản và bất động sản (có thể là hiện có hoặc được hình thành trong tương lai) Ta có thể thấy rằng, khái niệm tài sản rộng hơn khái niệm hàng hóa Để là hàng hóa trước tiên đó phải là tài sản, các loại hàng hóa đều là tài sản, nhưng các loại tài sản chưa chắc đã trở thành hàng hóa Cụ thể như, quyền sử dụng đất là một loại tài sản tuy nhiên nó không phải hàng hóa (do đất là bất động sản nên quyền sử dụng đất cũng là bất động sản) Do đó, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản rộng hơn ở hợp đồng mua bán hàng hóa
-Thứ ba, về hình thức hợp đồng
+ Hợp đồng mua bán hàng hóa: gồm ba hình thức là văn bản, lời nói, hoặc hành vi Tuy nhiên, trên thực tế, đối tượng là hàng hoá thường mang số lượng và giá trị lớn cho nên để đảm bảo lợi ích, tránh xảy ra tranh chấp không đáng có thì hình thức hợp đồng bằng văn bản được ưu tiên hơn do những ưu điểm mà nó mang lại Khi đó hợp đồng đóng vai trò là bằng chứng khi xảy ra tranh chấp, là cơ sở pháp lý đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng
+ Hợp đồng mua tài sản: có thể đa dạng với nhiều hình thức phụ thuộc vào đối tượng, chủ thể và mục đích trong hợp đồng
-Thứ tư, về chủ thể
+ Hợp đồng mua bán hàng hóa: do quan hệ mua bán hàng hóa là quan hệ thương mại nên chủ thể chủ yếu là thương nhân4 Bên cạnh đó trong một số trường hợp, chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là không phải thương nhân và hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận, tuy nhiên phải đáp ứng điều kiện là có ít nhất một bên là thương nhân
+ Hợp đồng mua bán tài sản: do quan hệ mua bán tài sản là những giao dịch dân sự,
do đó chủ thể trong hợp đồng có thể là mọi tổ chức, cá nhân với điều kiện là có đầy
cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh
6
Trang 9đủ năng lực dân sự, có nhu cầu mua bán tài sản Điều này cho thấy, chủ thể trong hợp đồng mua bán tài sản rộng hơn chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa
-Thứ năm, về mục đích
+ Hợp đồng mua bán hàng hóa: vì mua bán hàng hóa gắn liền với hoạt động mang tính chất nghề nghiệp của thương nhân- hoạt động thương mại, cho nên hoạt động kinh doanh của họ sẽ hướng đến mục đích chủ yếu là sinh lợi
+ Hợp đồng mua bán tài sản: thì không nhất thiết là có mục đích kinh doanh mà có thể nhằm nhiều mục đích khác nhau như: tiêu dùng, tặng, cho, từ thiện … do chính chủ thể quyết định từng mục đích
-Thứ sáu, về nội dung hợp đồng
+ Hợp đồng mua bán hàng hóa: Nội dung là sự phát triển tiếp tục những quy định của Bộ luật Dân sự, tuy nhiên đề cao nghĩa vụ đảm bảo sở hữu trí tuệ trong hợp đồng cụ thể tại Điều 46 LTM 2005 quy định: Bên bán không được bán hàng hoá vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; trường hợp bên mua yêu cầu bên bán phải tuân theo bản
vẽ kĩ thuật, thiết kế, công thức hoặc những số liệu chi tiết do bên mua cung cấp thì bên mua phải chịu trách nhiệm về các khiếu nại liên quan đến những vi phạm quyền
sở hữu trí tuệ phát sinh từ việc bên bán đã tuân thủ những yêu cầu của bên mua.” + Hợp đồng mua bán tài sản: Nội dung được quy định chi tiết trong Điều 398 Bộ luật Dân sự 2015 về đối tượng, số lượng, chất lượng, giá, phương thức thanh toán, thời hạn, địa điểm, quyền và nghĩa vụ các bên, phương thức giải quyết tranh chấp
và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, không có quy định cụ thể về vấn
đề đảm bảo sở hữu trí tuệ trong hợp đồng mua bán tài sản
Cuối cùng, về thời điểm chuyển rủi ro
Cả hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật thương mại 2005 và hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ luật Dân sự 2015 đều áp dụng chung một nguyên lý đó là khi quyền
sở hữu chuyển giao thì rủi ro cũng chuyển giao Tuy nhiên:
+ Trong hợp đồng mua bán hàng hóa: tại Điều 62 Luật Thương mại 2005 quy định:
“Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao” Bên cạnh đó, hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại cũng được quy định chi tiết hơn về các thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa (trường hợp có và không có địa điểm giao hàng xác định, trường hợp mua bán hàng
7
Trang 10hóa đang trên đường vận chuyển ) nhưng không phân biệt các thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa phải đăng ký quyền sở hữu
+Trong hợp đồng mua bán tài sản: tại Khoản 2 Điều 441 Bộ luật Dân sự 2015 có phân biệt về các thời điểm chuyển rủi ro khi tài sản phải đăng ký quyền sở hữu:
“Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán phải chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”
Từ đây ta có thể thấy rằng, quy định như vậy là phù hợp với hai chuyên ngành luật
Ví dụ về quyền sở hữu ô tô hay xe máy, trong Dân sự nếu muốn sở hữu buộc chủ thể phải đăng ký quyền sở hữu nhưng trong Thương mại các thương nhân không phải đăng ký quyền sở hữu mà chỉ cần cung cấp hóa đơn, chứng từ làm bằng chứng thể hiện việc kinh doanh của họ là hợp pháp Trong quan hệ Thương mại không đặt
ra vấn đề đăng ký mà chỉ xem xét trên khía cạnh thực tế đã chuyển giao cho người mua hay chưa, còn người mua trong quan hệ Dân sự lúc này cần đi đăng ký quyền
sở hữu tài sản đưa vào lưu thông để Nhà nước có thể kiểm soát, thu thuế
2.Đánh giá và thực tiễn thi hành pháp luật trên thực tế của hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản
Chế định hợp đồng là chế định quan trọng xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Pháp luật Việt Nam đã sớm xác định vai trò, ý nghĩa của chế định này trong việc vận hành các yếu tố của nền kinh tế thị trường từ đó ban hành các văn bản pháp luật phù hợp để điều chỉnh các đối tượng khác nhau trong xã hội Đây có thể coi là những bước đi quan trọng thể hiện quyết tâm của Việt Nam trên con đường xây dựng một nhà nước pháp quyền và một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong nền kinh tế hiện nay, quan hệ mua bán phản ánh mối quan hệ kinh tế về trao đổi vật tư, sản phẩm tạo điều kiện cho mọi công dân, tổ chức cùng tồn tại và phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân Tuy nhiên trên thực tiễn, việc thi hành pháp luật trên thực thế vẫn còn xuất hiện nhiều bất cập tồn đọng cần được giải quyết
III Khuyến nghị
8
Trang 11- Pháp luật hợp đồng của Việt Nam hiện nay đang được các nhà làm luật tiếp tục sửa đổi, bổ sung để bắt kịp với thực tiễn xã hội, thể chế hóa theo đường lối, chủ trương, chính sách của nhà nước Tuy còn một vài điểm hạn chế nhưng nhìn chung được xem là khá tiến bộ và phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ hiện nay
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ, giao kết hợp đồng truyền thống đang dần được thay thế bởi một phương thức mới chính là giao kết hợp đồng điện tử
Khi giao kết thông qua hợp đồng điện tử các doanh nghiệp đã giảm đáng kể được chi phí giao dịch, thời gian giao dịch, dễ dàng hơn trong việc tiếp xúc với khách hàng và thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài Xét trong giai đoạn hội nhập hiện nay, Việt Nam ra nhập WTO chưa lâu nên việc giao kết thông qua hợp đồng điện tự không chỉ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể vươn ra thị trường quốc tế mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận với các hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Giáo trình Luật Thương mại tập II , Trường Đại học luật Hà Nội, NXB CAND, năm 2009.
9