1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐÁP án TÌNH HUỐNG MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

17 1,2K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 168,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌNH HUỐNG 1: Ngày 03062016, công ty A gửi thư chào hàng cho công ty B có đầy đủ nội dung chủ yếu của một hợp đồng, đề nghị bán cho công ty B một lô hàng máy tính xách tay trị giá 350.000USD, bảo hành trong vòng 1 năm, giao hàng trung tuần tháng 7 năm 2016, thời hạn trả lời là 18062016. Công ty B đến ngân hàng của mình xin bảo lãnh để mở LC thanh toán cho lô hàng đồng thời gửi cho công ty A bản sao giấy bảo lãnh này kèm theo đề nghị duy nhất là kéo dài thời hạn bảo hành cho lô hàng thành 18 tháng. Công ty A nhận được giấy bảo lãnh và đề nghị này vào ngày 16062016.

Trang 1

ĐÁP ÁN TÌNH HUỐNG LUẬT THƯƠNG MẠI

TÌNH HUỐNG 1:

Ngày 03/06/2016, công ty A gửi thư chào hàng cho công ty B có đầy đủ nội dung chủ yếu của một hợp đồng, đề nghị bán cho công ty B một lô hàng máy tính xách tay trị giá 350.000USD, bảo hành trong vòng 1 năm, giao hàng trung tuần tháng 7 năm 2016, thời hạn trả lời là 18/06/2016 Công ty B đến ngân hàng của mình xin bảo lãnh để mở L/C thanh toán cho lô hàng đồng thời gửi cho công ty A bản sao giấy bảo lãnh này kèm theo đề nghị duy nhất là kéo dài thời hạn bảo hành cho lô hàng thành 18 tháng Công ty

A nhận được giấy bảo lãnh và đề nghị này vào ngày 16/06/2016

Ngày 5/7/2016, công ty A bán lô hàng kể trên cho công ty C

Ngày 10/7/2016, công ty B yêu cầu công ty A xác nhận ngày giao hàng để mở L/C thanh toán nhưng công ty A thông báo đã bán hàng cho công ty C và không có hàng để giao Công ty B đề nghị công ty A cấp cho mình lô hàng tương tự với thời hạn giao hàng sẽ lùi lại nhưng công ty A không trả lời

Ngày 15/08/2016, công ty B mua số hàng máy tính xách tay kể trên từ công ty D với giá 380.000USD và thông báo cho công ty A biết về việc này Công ty A không có hồi đáp

Công ty B kiện công ty A ra trọng tài quốc tế yêu cầu công ty A thanh toán các khoản tiền sau:

‒ Phí bảo lãnh để xin mở L/C

‒ Thanh toán khoản tiền chênh lệch 30.000USD

‒ Thanh toán khoản tiền phạt hợp đồng do B chậm trễ giao lô máy tính này cho bên thứ ba

Phán quyết của trọng tài trong trường hợp này như thế nào? Biết luật áp dụng là công ước Viên 1980

Trả lời:

Chào hàng của công ty a gửi cho công ty b là chào hàng cố định Công ty b chưa trả lời chấp nhận nhưng đã yêu cầu ngân hàng để mở lc theo công ước viên 1980 thì hành

vi này được coi như là chấp nhận chào hàng Hành vi này cũng diễn ra trong thời hạn hiệu lực của chào hàng

Tuy nhiên trong trường hợp này người được chào hàng đã kéo dài thời hạn bảo lãnh, hành động này làm tăng trách nhiệm của người bán, theo khoản 2 điều 19, hành

vi đã làm thay đổi phạm vi trách nhiệm của các bên, do đó hợp đồng không hình thành Bên a không có nghĩa vụ giao hàng cho bên b như đã nên trong chào hàng

Công ty b yêu cầu công ty a cấp cho mình 1 lô hàng tương tự và kéo dài thời gian giao hàng, đây là 1 đề nghị ký kết hợp đồng mới xuất phát từ phía b, a không trả lời và giữa a và b không có thỏa thuận hay tập quán thói quen kinh doanh im lặng là đồng ý nên hợp đồng không hình thành a không có nghĩa vụ phải giao hàng cho b

Trong trường hợp này các khoản yêu cầu bồi thường của B là không có căn cứ

TÌNH HUỐNG 2:

Ngày 06/10/2015 công ty A (Mỹ) ký kết hợp đồng với công ty B (Việt Nam) có nội dung như sau:

Đối tượng hợp đồng: 5MT cua Hoàng đế đông lạnh loại I, xuất xứ Alaska

Trang 2

Giá cả: 60.000USD/MT giao hàng tại cảng Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; tổng tiền: 300.000USD

Thời hạn giao hàng: 06/01/2016 ; Thanh toán: Bên B ứng trước 50% ngay sau ký kết hợp đồng, sau khi A giao hàng 10 ngày, bên B thanh toán nốt 50% còn lại; Phương thức thanh toán: Bên B chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của bên A

Kiểm tra phẩm chất: Giấy chứng nhận phẩm chất ở cảng đến do Vinacontrol cấp có giá trị pháp lý cuối cùng

Luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp: Công ước Viên 1980

Diễn biến sự việc:

- 06/10/2015, Bên B chuyển 150.000USD vào tài khoản của bên A như trong hợp đồng quy định

- 06/01/2016, Bên A giao hàng cho bên B Ngay trong ngày, bên B đã mời Vinacontrol xuống cảng giám định, biên bản giám định ghi: “Lô hàng đã bắt đầu bị phân hủy và có mùi, không thể sử dụng được” Bên B đã tiến hành hủy lô hàng nói trên

- 10/01/2016, Bên B gửi thông báo tuyên bố hủy hợp đồng kèm theo giấy chứng chận phẩm chất của Vinacontrol, đồng thời yêu cầu bên A:

Trả lại 150.000USD công ty B đã chuyển, đồng thời thanh toán khoản tiền lãi trên số tiền 150.000USD theo lãi suất hiện hành ngân hàng của bên B

Thanh toán chênh lệch giá mua trong hợp đồng so với giá mua hiện hành ngày hủy hợp đồng (10/01/2016), do giá nhập cua Hoàng đế tăng mạnh vào thời điểm gần tết Nguyên Đán

Thanh toán lợi nhuận dự tính 20% giá trị lô hàng vì đây là mức lợi nhuận trung bình của B

Công ty A không chấp nhận với lý do, B đã mất quyền tuyên bố hủy hợp đồng vì B

đã hủy hàng và không thể hoàn trả lại hàng nguyên trạng như lúc nhận cho A

Phán quyết của trọng tài như thế nào? Giải thích?

Trả lời:

Người mua mất quyền tuyên bố hủy hợp đồng nếu họ không thể hoàn lại hàng hóa như tình trạng khi họ đã nhận hàng trừ trường hợp hàng hóa không thể sử dụng được theo điều 82 của công ước viên 1980 Trong trường hợp này, giấy chứng nhận của vinacontrol đã khẳng định hàng hóa đã phân hủy và không thể sử dụng được, hành động hủy hàng của b là hợp lý( tránh chi phí lưu kho, bảo quản) b không mất quyền tuyên bố hủy hợp đồng

Hợp đồng tuyên bố hủy hợp đồng của bên b giải phóng nghĩa vụ của các bên trừ các khoản bồi thường thiệt hại bên b có quyền lợi đòi lại khoản tiền họ đã thanh toán

(điều 81) và khoản tiền lãi (điều 84 khoản 1) nhưng phải là khoản tiền lãi mà a có thể nhận được

Vì vậy a sẽ phải trả lại 150000usd công ty b đã chuyển cho, đồng thời thanh toán khoản tiền lãi xuất hiện hành ngân hàng của bên b thanh toán chênh lệch giá mua trong hợp đồng so với giá mua hiện hành ngày nhận và hủy hàng (06/01/2016) Không phải là ngày tuyên bố hủy hợp đồng

Khoản lợi nhuận dự tính không có căn cứ xác định vì lợi nhuận trung bình của công

ty chưa chắc đã là lợi nhuận của lô hàng này và việc lô hàng có lãi hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh doanh nên khoản này không được bồi thường

TÌNH HUÔNG 3:

Trang 3

Công ty A (Singapore) và công ty B (Việt Nam) là hai đối tác quen thuộc trong một cuộc điện đàm, đại diện theo pháp luật của hai bên vào ngày 10/1/2016 đã trao đổi với nhau một nội dung như sau:

B: Chúng tôi hiện đang có một lô hàng 1000 tấn nhớt FO phẩm cấp loại I, giá 850USD/tấn giao tại cảng Hải Phòng

A: Chúng tôi cũng đang cần số lượng nhớt như vậy nhưng giá 850USD là quá cao, chúng tôi khó có thể mua được với giá trên 750USD/ tấn

B: Vậy chúng tôi sẽ để cho các anh với giá 800USD/tấn

A: Chúng tôi sẽ thanh toán trước 50% trị giá lô hàng theo phương thức chuyển tiền vào tài khoản bên công ty anh vào ngày mai Số tiền còn lại sẽ được thanh toán bằng L/C trả ngay, không hủy ngang L/C sẽ được mở cho các anh trong tháng này và rất mong anh sẽ giao hàng cho chúng tôi vào trung tuần tháng tới

B: Chúng tôi đồng ý

A đã thực hiện đúng như cam kết trong điện đàm Trung tuần tháng sau, giá nhớt trên thị trường tăng lên thành 1000USD/tấn, A gửi thông báo cho B về lịch dự kiến và địa điểm tàu đến, bên B không có ý kiến gì Đến ngày tàu cập cảng B đã không giao hàng cho A, A đã kiện B ra Tòa trọng tài ICC, yêu cầu B:

‒ Trả lại khoản tiền A đã thanh toán trước cũng với tiền lãi tính theo lãi suất của ngân hàng bên A từ ngày thanh toán đến ngày hoàn trả lại tiền

‒ Bồi thường cước phí A đã phải trả cho hãng tàu

‒ Bồi thường khoản chênh lệch giá giữa giá hai bên đã thỏa thuận với giá trên thị trường vào thời điểm đáng lẽ B phải giao hàng (200USD/tấn)

‒ Do không nhận được hàng, A đã không thể ký kết hợp đồng với công ty C A yêu cầu B bồi thường về thiệt hại uy tín và những khoản lợi kinh doanh dự tính vì không ký được hợp đồng với C

Phán quyết của trọng tài như thế nào nếu theo thói quen mua bán giữa hai bên luật được dẫn chiếu trong hợp đồng là luật của nước người bán?

Trả lời:

Luật thương mại 2005 và bộ luật dân sự 2005 là 2 nguồn luật được dẫn chiếu để giải quyêt tranh chấp trên theo bộ luật dân sự, hình thức của hợp đồng trái với quy định cuả pháp luật sẽ dẫn đến hợp đồng vô hiệu

Theo luật thương mại, hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài phải dưới hình thức văn bản hoặc các hình thức khác tương đương văn bản ……

Do đó bên b có lỗi và phải bồi thường………

Trả lại tiền cho a và số tiền lãi tính tư thời điểm nhận tiền đến thời điểm hoàn trả tiền nhưng theo lãi suất của ngân hàng b

Trả cho a cước phí đã trả cho hãng tàu

Khoản chênh lệch giá không được bồi thường vì khi hợp đồng vô hiệu quyền sở hữu

về lô hàng kể trên của bên a chưa phát sinh nếu a không thể được hưởng lợi do việc tăng giá của lô hàng Thiệt hại về uy tín và lợi nhuận không xác đáng vì a có thể mua hàng thay thế để ký hợp đồng với c

TÌNH HUỐNG 4:

Trang 4

Ngày 19/05/2016 công ty A (người bán) và công ty B (người mua) ký kết hợp đồng mua bán 30.000 áo sơ mi nam trị giá 600.000USD, tiến hành giao hàng thành ba đợt, đợt I từ 01/08 đến 15/08, đợt II từ 15/09 đến 30/09, đợt III từ 15/10 đến 30/10 Tiền hàng được thanh toán lần đầu trước khi giao hàng là 40%, lần thứ hai thanh toán 50% sau khi B nhận hàng đợt II, 10% còn lại sẽ được thanh toán ngay sau khi A giao hàng

và chứng từ Bên nào thực hiện nghĩa vụ hợp đồng chậm sẽ bị phạt 0,5% giá trị phần vi phạm cho một ngày chậm, nhưng tổng mức phạt không vượt quá 5% giá trị phần vi phạm

Diễn biến sự việc:

Đợt I: Hai bên thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng (giao hàng đúng phẩm chất và thanh toán đúng hạn)

Đợt II: B cử đại diện của mình kiểm tra hàng hóa tại cảng đi và phát hiện hàng hóa không đúng quy cách như trong hợp đồng Sau đó 7 ngày, B đã thông báo cho A về sự không phù hợp này B sau đó vẫn nhận hàng và thanh toán như hợp đồng Tuy nhiên sau đó B đã phải gia công lại lô hàng với chi phí 10.000USD và chấp nhận bán lô hàng này lỗ 30.000USD và đều lưu lại chứng từ thanh toán phí gia công và mua bán

Đợt III: A giao hàng đúng phẩm chất và đúng thời hạn Ngày 30/10 A chuyển chứng

từ yêu cầu B thanh toán nốt 10% còn lại của hợp đồng B đã không thanh toán hợp đồng với lí do đợt II, A đã giao hàng sai phẩm chất khiến cho B bị thiệt hại

25/11/2016, A kiện B ra trọng tài quốc tế yêu cầu B:

-Thanh toán nốt 10% giá trị hợp đồng

-Thanh toán khoản tiền phạt vi phạm là 0,5% giá trị hợp đồng nhân với số ngày quá hạn thanh toán

Bên B kiện lại bên A, yêu cầu khoản 10% đó phải được dùng thay thế vào khoản tiền

lẽ ra A phải bồi thường cho B cho khoản tiền lỗ trực tiếp, chi phí gia công, thất thu lợi nhuận do lô hàng thứ hai được giao không đúng chất lượng

Trọng tài sẽ xét xử như thế nào nếu luật được áp dụng là Công ước Viên 1980

Trả lời:

Việc a giao hàng sai quy cách phẩm chất trong đợt 2 là vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng và cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng và khiến b buộc phải gia công lại hàng hóa

b cũng đã thông báo sau 7 ngày là 1 khoảng thời gian hợp lý về việc hàng không đúng phẩm chất nên b không mất quyền khiếu nại đối với a

Tuy nhiên việc a vi phạm hợp đồng nhưng b không tuyên bố tạm ngừng, đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng không thể lấy lý do a giao hàng sai phẩm chất để từ chối không thực hiện nhiệm vụ thanh toán Vì thế trong trường hợp b không thanh toán là vi phạm nghĩa vụ thanh toán Vì thế trong trường hợp này, việc b không thanh toán là vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng và là vi phạm trong điều khoản phạt vi phạm

B sẽ phải thanh toán nốt 10% trị giá lô hàng còn lại cho a là 60000usd

Thanh toán khoản tiền phạt là 5% số tiền chậm thanh toán vì đã quá 10 ngày (3000Usd)

Về phía a do bên a đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng dẫn đến việc b thiệt hại, nên

a phải bồi thường cho b khoản thiệt hại là hậu quả của hành vi vi phạm của mình (điều 74)

A phải bồi thường cho b khoản phí gia công 10000USD

Khoản tiền lỗ 36000USD

Thất thu lợi nhuận sẽ được bồi thường nếu b chứng minh được khoản thất thu này (ví dụ: xuất trình hợp đồng với 1 bên thứ 3 và chứng minh mình không thể tìm được

Trang 5

hàng hóa thay thế cho lô hàng thứ 2 bị hỏng) Nhưng thông thường trọng tài hay tòa án bác khoản tiên này do khó xác thực

Vậy khi đòi tiền b sẽ phải thanh toán cho a khoản tiền là 83000usd

Tình huống 5:

TÌNH HUỐNG5:

Ngày 05/01/2016, Công ty A (người bán) và công ty B (người mua) ký kết hợp đồng mua bán hồ tiêu có các điều khoản như sau:

Số lượng: 1000MT, đơn giá 600USD/MT

Thời hạn giao hàng: 15/02

Thanh toán: bằng L/C trả ngay Bên B phải mở L/C trị giá 100% giá trị hợp đồng, trong vòng 10 ngày kể từ ngày kí kết hợp đồng tại ngân hàng có uy tín của nước bên B Phạt vi phạm: Bên chậm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng sẽ bị phạt 0,5% giá trị của phần vi phạm cho một ngày chậm nhưng tổng số tiền phạt không quá 5% giá trị phần vi phạm

Miễn trách: Các bên sẽ được miễn trách trong các trường hợp sau đây: xảy ra đình công, bạo loạn, chiến tranh, lũ lụt, hỏa hoạn, hay các quy định cấm của Chính phủ

Diễn biến sự việc:

- 09/01, bên B mở L/C cho bên A là người hưởng lợi đúng như quy định trong hợp đồng

- 01/02, xảy ra vụ cháy lớn ở nhà máy bên cạnh và lửa lan sang nhà máy của A khiến nhà kho của A bị cháy toàn bộ, trong đó có hàng hóa chuẩn bị giao cho bên B -15/02, A không giao hàng cho B B đã gửi công văn yêu cầu A giao hàng, và nhận được hồi đáp không thể giao hàng kèm giấy chứng nhận của cơ quan chức năng về vụ hỏa hoạn trên B đề nghị gia hạn cho A thêm 3 tháng để có thể giao hàng cho B và A chấp thuận

-15/04, B cử đại diện của mình đến nhà máy của A để kiểm tra sản phẩm thì thấy bên A mới hoàn thành sản xuất được 500MT và nhận định A không thể hoàn thành việc giao hàng vào ngày 15/05 Do đó, B đã tuyên bố hủy hợp đồng với lý do A đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng đồng thời yêu cầu A:

Thanh toán khoản tiền phạt 30.000USD tương đương 5% giá trị hợp đồng

Thanh toán tiền phí mở L/C của bên B

Thanh toán khoản lợi nhuận dự tính và các chi phí phát sinh khác do việc chậm trễ giao hàng

A từ chối thanh toán các khoản tiền trên với lý do rằng việc A không giao hàng vì gặp hỏa hoạn, là trường hợp miễn trách đã được quy định trong hợp đồng

Trọng tài sẽ xét xử như thế nào biết luật áp dụng là Công ước Viên 1980? Giải thích?

Trả lời:

Trường hợp xảy ra hỏa hoạn là trường hợp được miễn trách được quy định trong hợp đồng nhưng bên a đã không thực hiện nghĩa vụ thông báo về sự việc trong thời gian hợp lý cho bên b biết (b yêu cầu giao hàng thì a mới thông báo) do đó trong trường hợp này a không được miên trách(điều 79) Vậy hành vi không giao hàng của a

là hành vi vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng

B đã gia hạn cho a thời gian thêm 3 tháng để thực hiện nghĩa vụ của hơp đồng nên trong trường hợp này với bất kỳ lý do gì trừ trường hợp a thông báo rằng không thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trong thời hạn bổ sung, b không có quyền tuyên

Trang 6

bố hủy hợp đồng khi thời hạn bổ sung chưa kết thúc(điều 47) Hơn nữa việc b nhận định a không thể thực hiện hợp đồng là nhận định chủ quan không có cơ sở, chẳng han

a có thể tăng cường công suất nhà máy để hoàn thành việc sản xuất hàng nên đó không thể là lý do b có thể hủy hợp đồng

Tuy nhiên b vẫn có quyền đòi bồi thường do hành vi vi phạm của a

A phải thanh toán khoản tiền phạt vi phạm 30000 usd cho b

A không phải thanh toán khoản phí mở lc do hợp đồng giữa A và B vẫn có hiệu lực, nghĩa vụ mở LC là nghĩa vụ của b trong hợp đồng

Khoản lợi nhuận dự tính và các khoản phí phát sinh nếu b chứng minh được là hậu quả của hành vi giao hàng chậm của a thì a phải bồi thường cho B

Tình huống 6:

TÌNH HUỐNG6:

Ngày 10/01/2014, Người bán (Đức) kí kết hợp đồng với người mua (Canada):

Đối tượng của hợp đồng 350 đôi giày thể thao cùng mẫu và cùng màu

Phẩm chất: Có quy cách, màu sắc như lô hàng đã giao vào ngày 15/01/2013

Tổng giá trị của lô hàng: 14.000USD, thanh toán bằng chuyển khoản một lần sau khi người mua nhận hàng

Thời hạn giao hàng: 08/02/2014, phương thức vận chuyển đường hàng không Diễn biến sự việc:

- Ngày 20/01/2014, người mua yêu cầu hủy hợp đồng với lý do khách hàng phàn nàn nhiều về màu sắc của lô hàng ngày 15/01/2013 nhưng người bán không chấp thuận

- Ngày 08/02/2014, người bán giao hàng cho người mua như trong hợp đồng quy định Ngày 10/02/2014 bên mua thông báo đã nhân được hàng

- Ngày 28/02/2014, người mua thông báo cho người bán những khiếu nại do lỗi sản xuất: các lót giày có độ dài khác nhau, nhiều mũi khâu bị hở, ngoài ra nhiều khách hàng phàn nàn rằng giày bị phai màu và gây nhiều phiền toái trong quá trình sử dụng

- Ngày 05/03/2014, người mua thanh toán một phần hóa đơn là 10.000USD và thông báo cho người bán rằng sẽ từ chối thanh toán phần còn lại

Người bán từ chối không chấp nhận khiếu nại của người mua và kiện người mua ra trọng tài quốc tế yêu cầu người mua: thanh toán nốt phần tiền còn lại; thanh toán khoản tiền lãi đối với số tiền trên hóa đơn kể từ ngày 10/02/2014 đến khi số tiền còn lại được thanh toán; bồi thường cho bên bán những thiệt hại ngẫu nhiên

Trọng tài sẽ xét xử như thế nào? Giải thích? Biết Đức và Canada là hai thành viên của Công ước Viên 1980

Trả lời:

Tham chiếu điều 1b của công ước viên 1980 giữa đức và canada đều là thành viên của công ước viên lên luật được lựa chọn để giải quyết tranh chấp là công ước này Khiếu nại của người mua không hợp lệ do vi phạm thời hạn khiếu nại quá muộn Người mua đã nhận hàng từ ngày 10/2 nhưng phải 1 thời gian dài sau đó ngày 28/2 người mua mới tuyên bố hàng kém phẩm chất

Khuyết tất của hàng hóa không phải là ẩn tỳ mà là những khuyết tật dễ bị phát hiện nên người mua có đủ sự cần mẫn cần thiết để tìm ra những khuyết tật khi nhận hàng Việc người mua kiểm tra qua loa mà đã nhận hàng và không có bất kì những kiến nghị nào có thể coi là người mua đã mặc nhiên chấp nhận chất lượng của lô hàng Riêng với trường hợp giày bị phai màu do đã được cảnh báo trước từ lô hàng đầu tiên nên

Trang 7

người mua cần lập tức kiểm tra thực tế xem giày có bị phai màu hay không bằng các biện pháp nghiệp vụ đã biết Nếu người mua sẵn sàng tiến hành một cuộc kiểm tra hợp

lý sẽ có thể sớm phát hiện những khiếm khuyết kể trên ngay tại thời điểm nhận hàng Việc thông báo hàng kém phẩm chất không kịp thời do lỗi của bên mua, đặc biệt trong hoàn cảnh đã có sự vi phạm về phẩm chất của lô hàng trước do đó người mua

đã mất quyền khiếu nại đối với hàng hóa(điều 38 và 39)

Việc thanh toán chậm và không thanh toán nốt phần tiền còn lại cho bên bán là vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng Do đó bên mua phải:

Thanh toán nốt khoản tiền 4000 usd cho bên bán

Trả tiền lãi cho số tiền 14000 usd từ ngày 10/2 đến ngày 5/3 và tiền lãi cho số tiền 4000usd kể từ 5/3 cho đến hết thời điểm bên bán nhận được nốt tiền thanh toán

Thiệt hại ngẫu nhiên là những thiệt hại không có căn cứ nên không được bồi thường

TÌNH HUỐNG 7:

Người mua Hàn Quốc và người bán Việt Nam ký hợp đồng mua bán có nội dung như sau:

Hàng hóa: 10MT Chè Thái Nguyên loại I

Tiêu chuẩn hàng: Thủy phần tối đa 9%, Tro tối đa 6%, tạp chất tối đa 6%

Điều kiện giao hàng: FOB Hải Phòng, Incoterms 2010

Tổng trị giá hợp đồng: 40.000USD

Diễn biến sự việc:

Ngày 12/06/2016, bên bán đã mời Vinacontrol đến giám định và Vinacontrol đã cấp chứng thư ghi “hàng hóa đúng theo tiêu chuẩn quy định” Vào cùng ngày hày hàng được chuyển từ cảng Hải Phòng đến cảng Busan Hàn Quốc

Bên bán đã gửi cho bên mua chứng thư do Vinacontrol cấp, theo đó bên mua đã mở L/C có giá trị bằng 100% trị giá hợp đồng, người hưởng lợi là người bán

Ngày 12/12/2016, bên mua mời cục vệ sinh dịch tễ Busan đến kiểm định lại lô hàng

đã được dỡ khỏi tàu Kết quả giám định cho thấy: “Thủy phần 8%, tro không tan trong nước 10% và tạp chất có lưu huỳnh 6,5%” Với tiêu chuẩn này, hàng hóa không thể được nhập vào Hàn Quốc phục vụ mục đích tiêu dùng Cơ quan chức năng của Hàn Quốc yêu cầu lưu kho và tái xuất lô hàng Bên mua đã thông báo ngày lập tức cho bên bán về vấn đề này

Bên mua khiếu nại bên bán yêu cầu hủy hợp đồng và buộc bên bán:

Hoàn trả lại số tiền hàng đã thanh toán

Thanh toán phí lưu kho và cước phí thuê tàu tái xuất hàng về Việt Nam

Thanh toán phí mở L/C

Bên bán từ chối các đề nghị này với lý do đã gửi chứng thư giám định của Vinacontrol cho bên mua, và không chấp nhận kết quả giám định của cục vệ sinh dịch

tễ Busan do người mua đã không giám định ngay mà sau gần 6 tháng mới tiến hành giám định đối với mặt hàng có tính hấp thụ cao như chè

Trọng tài sẽ xét xử thế nào? Giải thích? Luật áp dụng là luật nước người bán

Trả lời:

Hợp đồng không quy định kết quả giám định tại cảng đi là kết quả có giá trị pháp lý cuối cùng nên bên bán không có lý do chính đáng để từ chối kết quả giám định của cục

vệ sinh dịch tễ Hàn Quốc Hơn nữa chứng thư của Vinacontrol cũng chỉ ghi chung chung hàng hóa đúng theo tiêu chuẩn quy định mà không giải thích rõ ràng phẩm chất

Trang 8

hàng hóa đã kiểm tra Vì vậy chứng thư giám định được sử dụng để giải quyết tranh chấp là chứng thư do nước bên mua cấp

Bên bán không thể viện dẫn lý do mặt hàng chè là mặt hàng có tính chất hấp thụ cao bởi vì lý do cơ quan chức năng của Hàn Quốc không cho nhập khẩu là vì mặt hàng này

có nhiều tạp chất không dùng làm thực phẩm Đây chính là tính chất vốn có của hàng hóa không do tác động từ bên ngoài

Theo lập luận trên bên bán đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, bên mua cũng tiến hành khiếu nại trong thời gian khiếu nại (theo luật thương mại là 6 tháng đối với khiếu nại liên quan đến phẩm chất hàng hóa) chính vì vậy bên mua có quyền tuyên bố hủy hợp đồng

Bên mua có quyền:

Yêu cầu bên bán trả lại số tiền đã thanh toán

Thanh toán phí lưu kho và cước phí lưu thuê tàu do đây là hậu quả trực tiếp của hành vi vi pham

Phí mở lc không được hoàn lại vì đây là 1 phần trách nhiệm thuộc về bên mua, do bên mua không kiểm tra kỹ đã tiến hành mở lc

TÌNH HUỐNG 8:

Công ty A (bên mua) và công ty B (bên bán) ký kết hợp đồng mua bán dây chuyền sản xuất bo mạch điện tử có các điều khoản như sau:

Tổng trị giá dây chuyền sản xuất: 12.500.000USD

Giao hàng: các bộ phận của thiết bị sẽ được giao thành 3 lần vào tháng 1, 2, 3 năm

2016 Sau khi kết thúc giao hàng, người bán sẽ cử nhân viên kỹ thuật của mình đến lắp ráp và chạy thử cho người mua Bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chịu rủi ro về hàng hóa đến cơ sở của bên mua

Thanh toán: Bên mua có nghĩa vụ thanh toán 30% trị giá hợp đồng bằng chuyển khoản vào lần giao hàng thứ nhất, thứ hai và thứ ba ngay sau khi nhận được giấy chứng nhận hàng đã gửi của bên bán 10% giá trị của hợp đồng sẽ được thanh toán chậm nhất là 5 ngày kể từ ngày người bán hoàn thành việc lắp đặt và chạy thử

Diễn biến sự việc:

Ngày 15/01/2016, A thanh toán cho B 30% giá trị hợp đồng sau khi nhận được giấy gửi hàng

Ngày 10/02/2016, A thanh toán cho B 30% giá trị hợp đồng sau khi nhận được giấy gửi hàng

Ngày 20/02/2016, khi nhận hàng A phát hiện thùng hàng chứa bảng điện tử trung tâm của dây chuyền bị ướt nên đã kiểm tra thiết bị này A nhận thấy thiết bị bắt đầu bị rỉ sét và không thể hiển thị khi cắm điện A đã thông báo cho B biết về việc này

Ngày 28/02/2016, B gửi chuyên gia của mình đến cơ sở của A sửa chữa nhưng không thể sửa chữa được do bảng điện tử đã bị ngấm nước biển

Ngày 15/03, B gửi hàng đợt ba và chuyển phát nhanh giấy chứng nhận hàng đã gửi kèm thông báo sẽ tiếp tục tiến hành sửa chữa khi lắp đặt và chạy thử dây chuyền Ngày 18/03, A tuyên bố hủy hợp đồng và từ chối thanh toán, đồng thời yêu cầu B: Nhận lại toàn bộ số hàng đã giao

Trả tiền lãi cho số tiền 7.500.000USD đã chuyển từ ngày 15/01 đến ngày hoàn trả lại tiền

Thanh toán cho A các chi phí xếp dỡ và các chi phí chung khác

Trang 9

B đã từ chối yêu cầu của A với lí do: bảng điện tử bị nước biển ngấm vào do trong hành trình tàu chở hàng đã gặp sóng lớn nên nước tràn vào toàn bộ khoang chứa hàng Và việc hàng đã giao đợt hai bị hư hỏng thì A chỉ có quyền tuyên hủy hợp đồng đối với lô hàng đó nên A phải nhận hàng và thanh toán nốt tiền hàng đợt ba

Trọng tài sẽ xét xử như thế nào? Giải thích? Biết luật áp dụng là Công ước Viên 1980

Trả lời:

Lập luận của bên b không chính xác Việc sóng lơn nước vào tàu làm ướt hàng không được coi là 1 sự kiện miễn trách với b vì đây là việc mà b hoàn toan có thể lường trước được khi gửi hàng đường biển B đáng lẽ ra phải chọn 1 bao bì phù hợp cho lô hàng này để không bị nước ngấm vào hàng

Do dây chuyền sản xuất là thiết bị đồng bộ không thể tách rời việc bảng điện tử bị hư hỏng sẽ khiến người mua không thể sử dụng được dây chuyền Người bán đã cử người đến sửa chữa nhưng không sửa được lên lô hàng t1 và t3 không thể sử dụng được cho mục đích mà bên mua dự tính khi ký kết hợp đồng Trong trường hợp này bên mua có quyền tuyên bố hủy hơp đồng với các lô hàng dã giao hoặc sẽ được giao Việc hủy hợp đồng của bên A dẫn đến việc giải phóng nghĩa vụ của các bên Các bên bồi hoàn lại cho nhau những gì đã nhận đồng thời có lỗi sẽ phải bồi thường Theo

đó bên B phải:

Nhận lại hàng đã giao và ngừng việc giao hàng đợt 3

Trả lại cho bên A số tiền đã thanh toán 7500000 USD

Trả tiền lãi cho 3750000 USD từ ngày 15/01 và tiền lãi của 3750000 USD từ 10/02 đến khi hoan trả lại tiền

Các chi phí A đã bỏ ra như xếp dỡ và các chi phí khác nếu như A chứng minh được

là hậu quả của việc vi phạm hợp đồng thì được bồi thường

TÌNH HUỐNG 9.

Công ty A bán thiết bị thu phát sóng cho công ty B Trong hợp đồng hai bên có thỏa thuận với nhau công ty A phải lắp đặt hoàn chình và vận hành, chạy thử cho công ty B Sau khi khảo sát công ty A hoàn thảnh lắp đặt và chạy thử Sau đó công ty B vận hành thiết bị nhưng không chạy đuợc do nguồn điện tại công ty B không đồng bộ với nguồn của thiết bị Bên B thông báo và sau nhiều lần thương lượng bên A đã tiến hành sửa chữa cho bên B Tuy nhiên sau một thời gian vận hành thiết bị vẫn không sử dụng được Bên B tiếp tục thông báo để bên A sửa chữa nhưng không được bên A hồi đáp Bên B quyết định trả lại hàng cho bên A và mua thiết bị thay thế từ bên khác (đã thông báo cho bên A biết về giao dịch này), đồng thời yêu cầu bên A:

-Hoàn lại sổ tiền đã thanh toán

-Trả khoản tiền chênh lệch giữa thiết bị cũ và mới

-Bồi thường nhừng thiệt hại ngẫu nhiên

Phản quyết của trọng tài sẽ như thả nào? Giải thỉch?

Trả lời:

Bên A đã tiến hành khảo sát do dó yếu tố nguồn điện không dồng bộ là yếu tố bên A cần phải biết và cần phải điều chỉnh thiết bị để sử dụng được với điều kiện của bên B hoặc yêu cầu bên B thay đổi nguồn điện cho phù họp với thiết bị

Bên A đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, giao hàng không đúng phẩm chất, không phù hợp với hợp đồng dẫn đến hậu quả bên B không thể sử dụng được thiết bị

Trang 10

Chế tài được áp dụng là chế tài buộc thực hiện đúng hợp dồng Tuy nhiên bên B đã thông báo nhưng bên A không trả lòi do vậy bên B có quyền mua hàng hoá thay thế và bên A phải hoàn lại sổ tiền đã thanh toán đồng thời trả khoản tiền chênh lệch giữa thiết

bị cũ và mới

Những thiệt hại ngẫu nhiên do không chứng minh được là hậu quả trực tiếp của hành vi vi phạm nên sẽ không được bồi thường

TÌNH HUỐNG 10

Người mua Việt Nam (NM) và người bán Hàn Quốc (NB) kí kết hợp đồng mua bán:

- Tên hàng: Thép thanh

- Sổ lương: 80.000 tấn

- Giá: 350USD/ tấn chưa bao gồm cước vận chuyển

- Thòi gian giao hàng: từ ngày 15/6/2016 đến 15/12/2016

- Quyền mua đặc biệt: Bên mua có quyền mua lên đến 160.000 tấn với giá như trong hợp đồng nhưng phải thông báo cho bên bán trước ngày 15/10/2016

Diễn biến sự việc:

Ngày 1/10/2016, NM thông báo cho người bán thực hiện quyền mua đặc biệt,

nâng số hàng muốn mua lên 160.000 tấn Vào thời điểm này giá thép trên thế giới tăng đáng kể nên NB đã yêu cầu NM thương lượng về giá cả của số thép mua thêm

so với hợp đồng NM đã kiên quyết từ chối yêu cầu tăng giá của NB và đề nghị NB thực hiện giao hàng đúng như giá thỏa thuận trong hợp đồng Ngày 15/12/2016, NB không giao hàng, NM gửi thông báo nhấn mạnh NB đã vi phạm HĐ và gia hạn thêm thời hạn giao hàng cho NB đến ngày 30/12/2016 Ngày 5/1/2017, NM đã mua thép từ Nhật Bản với giá 380USD/tấn (đã bao gồm cước vận chuyển là 5USD/tấn) để phục

vụ sản xuất cho kịp tiến độ và yêu cầu NB thanh toán so tiền chênh lệch

2.400.000USD NB không đồng ý với các lý do:

- Hành động mua thép của NM từ Nhật Bản không được coi là hành động mua hàng thay thế do NM đã không thông báo ý định cho NB

- Khi NM đàm phán về việc tảng giá bán thép, NB đã đưa ra mức giá 376USD/tấn, thấp hơn giá NM đã mua hàng thay thế Việc NM không mua thép của NB là một diều vô lý

Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

Trả lời:

Những lập luận của NM để từ chối bồi thường khoản chênh lệch là không

chính xác

Mặc dù NM không thông báo cho NB về việc mua hàng từ bên thứ ba nhưng việc mua hàng để phục vụ tiến độ sản xuất, vì vậy có thể coi đây là một hành

động chủ động nhằm làm giảm thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra

(hành vi không giao hàng) và NM trên thực tế không hề đòi một khoản chi phí

phát sinh nào ngoại trừ tiền chênh lệch giá

Trên thực tế giá NM mua đã có cước vận chuyển, do đó giá NM thực mua chi có 375USD/tấn, thấp hơn so với giá của NB đã đưa ra

Người mua chỉ có thể đòi bồi thường những thiệt hại thực tế mà họ phải

chịu trong trường hợp này, sồ tiền bồi thường sẽ chỉ là: 25x 80000 =

2.000.000USD do người mua đã tiết kiệm được 5USD tiền cước vận chuyển

khi mua hàng từ bên thứ ba

Ngày đăng: 09/04/2018, 21:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w