Những Chức NĂNG Chủ Yếu Của Quản Trị Chức năng quản trị là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản trị đối với đối tượng bị quản trị, là quá trình xác định những côn
Trang 212 2017
Trang 3
Chương 1 Chương 1
Tổng QUAN Về Quản Trị
Tổng QUAN Về Quản Trị
1.1 Thực Chất Và VAI Trò Của Quản Trị
1.1.1 Thực chất về quản trị
Thuật ngữ quản trị và quản lý hiện nay đang được sử
dụng khá phổ biến, đôi khi được hiểu như nhau do thói
quen trong xã hội Trong hai thuật ngữ này thì ở Việt
Nam, quản trị gần đây mới được chấp nhận rộng rãi Thời
kỳ dài của cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương thức tập
trung bao cấp, trong tất cả các tổ chức đều dùng thuật ngữ
quản lý để ngầm định công việc quản lý điều hành các tổ
chức Trong chương trình môn học này chúng tôi thống
nhất dùng thuật ngữ quản trị cho mọi trường hợp
Tất cả các tổ chức trong xã hội để tồn tại phát triển
trong điều kiện môi trường xung quanh tác động mạnh và
luôn biến đổi, do vậy phải thường xuyên thay đổi cách thức
quản trị một cách tương xứng Sự thay đổi cách thức quản
trị trong các tổ chức nhằm đạt tới sự phù hợp và hiệu quả
trong những điều kiện mới
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng
sâu và rộng, cạnh tranh mạnh, gay gắt, ảnh hưởng rất lớn
đến sự tồn tại phát triển của mỗi quốc gia cũng như từng
tổ chức Để giữ được vị trí và chiến thắng trong cạnh tranh, giành giật lợi thế trên trường quốc tế, các quốc gia, các tổ chức của các quốc gia này phải luôn thay đổi lối suy nghĩ, cách thức tư duy trong quản trị, bao gồm quản trị các lĩnh vực hoạt động cũng như con người
Nền kinh tế đang trong xu thế hội nhập mạnh mẽ, để tồn tại và phát triển tất cả các tổ chức đều phải huy động
và sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực như nhân lực, tài chính, thông tin, công nghệ, lợi thế vô hình… Việc huy động và sử dụng các nguồn lực này một cách có hiệu quả cũng phải dựa vào tư duy và cách thức quản trị
Đối với một tổ chức doanh nghiệp, lực lượng lao động tham gia rất đa dạng, việc kết hợp các cá nhân lại thành một tập thể mạnh sẽ đem lại những lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Trong quá trình vận hành doanh nghiệp, biết cách kết hợp, khai thác tối ưu các yếu tố đầu vào sẽ tạo ra và giữ được ưu thế cạnh tranh Như vậy, lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp cũng xuất phát từ quản trị
Một địa phương cụ thể như thành phố hoặc một tỉnh hay một vùng, để phát triển kinh tế cũng cần phải huy
động, phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý, hiệu quả Bên cạnh đó, mỗi địa phương cần phải khai thác tối đa lợi thế của mình cho công cuộc phát triển Ví dụ, một địa phương có thể khai thác lợi thế về du lịch, phát triển sản phẩm truyền thống, nhân rộng mô hình đặc sản địa phương hoặc tạo lợi thế từ vị trí địa lý… Tuy nhiên, quá
Trang 4
trình huy động, phân bổ các nguồn lực của địa phương
cũng như việc tạo và khai thác những lợi thế cần phải thực
hiện theo những chủ trương, chính sách, nguyên tắc, quy
định cụ thể, được ban hành thống nhất ở các cấp quản lý
Cách thức xác định mục tiêu hoạt động, huy động,
phân bổ, quản lý, khai thác, vận hành các yếu tố, các quá
trình của một tổ chức được gọi là quản trị
Vậy quản trị là gì?
Quản trị là một quá trình do một hay nhiều người
thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những người
khác để đạt được những kết quả mà một người hoạt động
riêng rẽ không thể nào đạt được
Với cách tiếp cận này, hoạt động quản trị là những
hoạt động phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành
nhóm, thành tập thể Mỗi cá nhân sống và hoạt động độc
lập thì không xuất hiện hoạt động quản trị Hoạt động
quản trị chính là hoạt động của con người và gắn với hoạt
động của con người trong một tổ chức
Trong cuốn Những vấn đề cốt yếu của quản lý các tác
giả cho rằng “Quản trị là nghệ thuật đạt mục đích thông
qua nỗ lực của những người khác”
Theo Drumaux “Quản trị là công tác phối hợp có
hiệu quả các hoạt động của những cá nhân khác nhau
trong tổ chức”
Trong một tổ chức bao gồm nhiều cá nhân với nhiều
hoạt động khác nhau nếu không có định hướng, chỉ dẫn,
quy chế, nguyên tắc, quy định, chỉ đạo sẽ không thể kết hợp các cá nhân, các hoạt động đó để đạt được mục tiêu của tổ chức Tóm lại, không có hoạt động quản trị các cá nhân đó sẽ không biết hành động như thế nào, vào lúc nào
đối với những công việc cụ thể Cả tập thể bao gồm nhiều cá nhân khác nhau có thể sẽ trở nên lộn xộn, mỗi cá nhân
sẽ hành động theo một hướng khác nhau, thậm chí xung
đột, mâu thuẫn với nhau, từ đó có thể sẽ lệch hướng mục tiêu chung của nhóm, bộ phận và cả tổ chức
Quản trị là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản trị lên đối tượng bị quản trị nhằm sử dụng
có hiệu quả các tiềm năng, cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường luôn biến động
Một cách tổng quát, có thể đưa ra cách tiếp cận về quản trị như sau:
Quản trị tổ chức là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường luôn biến động
Theo quan điểm tiếp cận này, quản trị được giới hạn trong phạm vi của một tổ chức nhất định, quản trị chính là những hoạt động cụ thể của con người trong một tổ chức Các nguồn lực của một tổ chức chính là những yếu tố
đầu vào cần huy động trong quá trình vận hành tổ chức để tạo kết quả đầu ra Trong quản trị các tổ chức, yếu tố nguồn
Trang 5
lực này thường được chia thành hai nhóm: Nguồn lực hữu
hình và nguồn lực vô hình Việc phân chia nhóm các nguồn
lực này tùy thuộc vào tính chất hoạt động của tổ chức
Nguồn lực hữu hình là những nguồn lực tồn tại dưới
dạng hình thái vật chất cụ thể, có thể cảm nhận trực quan
(nhìn thấy, sờ được ) như: Nguồn lực nhân sự, tài chính,
thiết bị công nghệ, nhà xưởng văn phòng, vật kiến trúc,
phương tiện vận tải, công cụ dụng cụ, nguyên nhiên vật
liệu,… Đối với mỗi tổ chức, yếu tố hữu hình luôn bị giới
hạn trong một mức độ nhất định, nghĩa là yếu tố này luôn
hữu hạn vì thế giá trị khai thác sử dụng cũng hữu hạn
Một doanh nghiệp, tập tập đoàn kinh tế có tiềm lực tài
chính mạnh nhưng cũng không thể đủ tài trợ cho các dự
án mở rộng quy mô ngày càng lớn Một bệnh viện đa khoa
có hệ thống thiết bị y tế hiện đại bậc nhất khu vực nhưng
trong tương lai gần có thể bị cũ, lạc hậu do quá trình sử
dụng hoặc các phát minh sáng chế mới trong cùng lĩnh vực
ra đời Những thực tế này, buộc các tổ chức phải sử dụng
tối ưu nguồn lực hữu hình, tham gia tái tạo, cải tiến, đổi
mới chúng nhằm đạt hiệu quả cao nhất cho tổ chức Trên
thực tế, nhiều tổ chức để tạo ta những kết quả cụ thể, bên
cạnh các nguồn lực hữu hình được coi như tiền đề của quá
trình hoạt động, cần phải huy động những yếu tố khác
nữa, đó chính là các nguồn lực vô hình của tổ chức
Nguồn lực vô hình là những yếu tố được huy động
trong quá trình tạo kết quả đầu ra nhưng không thể quan
sát hoặc sờ mó được vào chúng Các yếu tố nguồn lực này
chỉ có thể cảm nhận ở một chừng mực nhất định khi chúng thể hiện giá trị, vai trò bản thân Các yếu tố vô hình thường được các tổ chức sử dụng như: Danh tiếng, thương hiệu, kỹ năng, quy trình, phương pháp quản lý, tính chuyên nghiệp, cấu trúc nền văn hóa, các mối quan hệ,… Khác với các nguồn lực hữu hình, các yếu tố vô hình có thể
đem lại giá trị vô hạn cho các tổ chức nếu biết tạo lập, phát triển, duy trì và khai thác chúng một cách hợp lý Ngày nay, các yếu tố vô hình được coi là tài sản của các tổ chức,
do vậy, để tạo ra mỗi loại tài sản này, các tổ chức đều phải
đầu tư thời gian, công sức, chi phí để hình thành, duy trì
và phát triển chúng
Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao, các tổ chức cần phải căn cứ vào điều kiện thực tế để cân đối, kết hợp hài hòa trong việc huy động và
sử dụng các nguồn lực của mình
Quá trình hoạt động của một tổ chức có thể có nhiều những công việc khác nhau tạo thành một hệ thống bao gồm nhiều khâu, bộ phận khác nhau Biểu hiện của những khâu công việc này ra bên ngoài chính là những hoạt động
cụ thể được chuyên môn hóa ở mức độ nhất định như hoạt
động nhân sự, tài chính kế toán, marketing, pháp lý… Quản trị là một khoa học
Nhận định quản trị là một môn khoa học bởi lẽ, trong quá trình quản trị có đối tượng nghiên cứu và có các phương pháp quản trị khác nhau
Trang 6
Đối tượng nghiên cứu của quản trị bao gồm rất nhiều
các lĩnh vực khác nhau, có liên quan ít nhiều đến hoạt
động của tổ chức Các lĩnh vực cần nghiên cứu trong quản
trị như: Kinh tế, chính trị, văn hóa, tự nhiên, công nghệ…
Trong mỗi lĩnh vực lại bao gồm nhiều các yếu tố khác
nhau, khi các yếu tố đó biến đổi sẽ tác động ảnh hưởng đến
hoạt động của tổ chức
Chẳng hạn, lĩnh vực kinh tế bao gồm các yếu tố: Giá
cả, lạm phát, lãi suất, tỷ giá, tốc độ tăng trưởng kinh tế, chu
kỳ kinh tế… Các yếu tố này luôn biến động theo những
chiều hướng khác nhau, qua đó chúng có tác động đến tổ
chức ở những phương diện và mức độ khác nhau Để đạt
được kết quả trong quản trị đòi hỏi các tổ chức phải nghiên
cứu phân tích sự tác động và mức độ tác động từ những yếu
tố này đến hoạt động của tổ chức Nghiên cứu sự tác động
của chính trị đến hoạt động của một tổ chức gồm các nội
dung như các đường lối, chính sách, các Bộ luật, vai trò của
Chính phủ, sự ổn định chính trị,… Bên cạnh đó, đối tượng
của quản trị còn bao gồm cả các mối quan hệ quản trị phát
sinh trong quá trình vận hành tổ chức
Trên thực tế, không phải các tất cả các lĩnh vực đều
được nghiên cứu một cách đầy đủ, kỹ lưỡng, mà chỉ xem
xét các yếu tố tác động mạnh đến quá trình hoạt động và
thực hiện mục tiêu của tổ chức Trong quá trình hoạt động,
các yếu tố thuộc các lĩnh vực tác động đến các tổ chức với
các mức độ khác nhau, do đó, yêu cầu nghiên cứu và phân
tích các yếu tố, các lĩnh vực là hoàn toàn khác nhau
Bên cạnh những lĩnh vực có liên quan, hoạt động quản trị còn phải nghiên cứu xem xét và vận dụng các quy luật khách quan Trong quản trị, việc nhận thức đúng sự vận động và vận dụng hợp lý các quy luật khách quan sẽ
đạt hiệu quả cao, ngược lại sẽ không đạt hiệu quả mong muốn và làm tổn hại đến tổ chức Do đó, đòi hỏi các nhà quản trị phải nắm vững sự vận động của các quy luật khách quan liên quan đến hoạt động của tổ chức Các quy luật khách quan bao gồm các quy luật kinh tế như quy luật cung cầu, cạnh tranh, giá trị,… các quy luật tâm lý xã hội, các quy luật tự nhiên, quy luật công nghệ… Nhận thức đúng hệ thống các quy luật chính là nắm vững hệ thống lý luận cơ bản về quản trị
Ngoài ra, tính khoa học của quản trị còn đòi hỏi các nhà quản trị cần sử dụng những phương pháp quản trị thích hợp Khi sử dụng các phương pháp quản trị các nhà quản trị có thể áp dụng các thành tựu khoa học và kỹ thuật tiên tiến như áp dụng vào các phương pháp dự báo, thống kê, định lượng, tâm lý xã hội…
Quản trị là một nghệ thuật Quản trị là một nghệ thuật bởi lẽ các đối tượng của quản trị rất đa dạng, phong phú, luôn vận động biến đổi
Đối tượng quản trị bao gồm tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội và quy luật khách quan mà trong quản trị phải nghiên cứu, xem xét, biểu hiện cụ thể đó là những sự vật và hiện tượng Khi các sự vật, hiện tượng biến đổi có tác động đến quá trình hoạt động của tổ chức, do vậy đòi
Trang 7
hỏi các nhà quản trị phải nhận thức đúng về bản chất của
chúng và vận dụng một cách khéo léo, linh hoạt trong việc
xử lý các vấn đề phát sinh
Một trong số các đối tượng quản trị là con người với
những nhu cầu mong muốn rất đa dạng, mỗi con người
trong tổ chức lại có những yếu tố cá nhân không đồng nhất
(tuổi tác, trình độ, quan điểm, cá tính, tâm tư tình cảm,)
Để đạt được các mục tiêu quản trị, nhà quản trị phải xử lý
một cách khéo léo các mối quan hệ quản trị phát sinh
trong tổ chức, tùy từng đối tượng, điều kiện không gian,
thời gian mà có thể sử dụng các phương pháp quản trị
khác nhau Trong thực tế, kết quả và mức độ thành công
của hoạt động quản trị tùy thuộc rất nhiều vào các yếu tố
cá nhân của nhà quản trị Các yếu tố thuộc bản thân nhà
quản trị như: Tài năng, kinh nghiệm, hệ thống lý luận, tri
thức, cá tính, phong cách, tố chất cá nhân,… Những yếu tố
cá nhân này hầu như không trùng lặp và đồng nhất giữa
từng nhà quản trị Nếu có, thường chỉ ở một vài điểm, vài
yếu tố nhất định, chính vì thế, trong quản trị, cùng một
tình huống nhưng nhà quản trị khác nhau sẽ tạo ra các
kết quả rất khác nhau Trong cùng một điều kiện, giải
quyết một tình huống quản trị, nhà quản trị có thể thành
công nhưng người khác ở vị trí tương đương có thể không
thành công và ngược lại
Quản trị là một nghề
Để thực hiện các công việc quản trị thông thường đòi
hỏi mỗi cá nhân đều phải được học, được đào tạo với những
chương trình và mức độ nhất định Hoạt động quản trị là
một lĩnh vực hoạt động cụ thể trong xã hội nhưng phải
được tham gia đào tạo mới có thể thực hiện, do vậy, quản trị là một nghề
Đào tạo và học tập của các nhà quản trị để có thể hành nghề quản trị có thể xem xét theo hai hướng Một là, tham gia các khóa học dài hạn, ngắn hạn với các chương trình cụ thể qua các trường lớp, gọi là đào tạo bài bản Hai
là, bản thân các nhà quản trị tự tìm tòi nghiên cứu những tri thức, kiến thức có liên quan đến công việc trong tổ chức, quá trình này gọi là tự đào tạo
Trong thực tế, quá trình đào tạo học tập của các nhà quản trị cũng chưa thể khẳng định sự thành công chắc chắn Sự thành công trong quá trình quản trị thực tế còn tùy thuộc nhiều yếu tố như: Cơ sở đào tạo, người tham gia hướng dẫn đào tạo, mức độ phù hợp của chương trình, năng lực nhận thức của người được đào tạo Ngoài ra, sự thành công trong quản trị còn tùy thuộc vào khát vọng của bản thân và những tố chất cá nhân của từng nhà quản trị cũng như những điều kiện cụ thể về môi trường và vật chất cho sự khởi đầu của công việc quản trị
Một cá nhân muốn trở thành hoặc tổ chức muốn có
được nhà quản trị có năng lực, các tổ chức và cá nhân cần phải có những biện pháp đúng đắn, kịp thời Đối với các tổ chức cần phát hiện những cá nhân có tố chất, có triển vọng
để đưa vào các chương trình đào tạo ngắn hạn và dài hạn với các nội dung cụ thể để có thể phát triển thành nhà quản trị trong tương lai Đối với các cá nhân, nếu có khát
Trang 8
vọng quản trị và tố chất cá nhân về quản trị cần phải
tham gia vào các chương trình cụ thể để tiếp cận quản trị
sớm Bên cạnh đó, tự tìm tòi nghiên cứu, tích lũy kinh
nghiệm tạo ra và chờ cơ hội nghề nghiệp quản trị phù hợp
với trình độ năng lực
Ngày nay, nghề quản trị đã được công nhận một cách
rộng rãi, tư duy về nghề quản trị đã thực sự thay đổi theo
hướng tích cực Biểu hiện cụ thể của sự thay đổi này đó
chính là đã có các chương trình, các cơ sở chuyên đào tạo
nghề quản trị như các công ty, các trường đào tạo doanh
nhân, khoa quản trị ở các trường đại học Các tổ chức
doanh nghiệp và phi doanh nghiệp cũng đã thường xuyên
có chương trình thi tuyển để tìm các nhà quản trị cho tất
cả các cấp Ví dụ, các cuộc thi tuyển Hiệu trưởng các
trường phổ thông và trường chuyên nghiệp, thi tuyển
Giám đốc các sở, ngành ở một số địa phương,…
1.1.2 Vai trò của quản trị
Đến nay, việc nghiên cứu quản trị đã trở thành một
lĩnh vực rộng khắp của đời sống xã hội trên phạm vi toàn
cầu Trước đây, các nhà nghiên cứu khoa học quản trị cho
rằng chỉ có các quốc gia như: Nhật Bản, Mỹ và các nước
phát triển khác cần nghiên cứu quản trị cả trên hai
phương diện lý thuyết và thực tiễn Tuy nhiên, hiện nay để
tồn tại và phát triển bất kỳ một tổ chức của một quốc gia
nào, hay bất kỳ một quốc gia nào cũng đều phải nghiên
cứu và thực hiện mọi quá trình quản trị một cách nghiêm
túc, khoa học
Như vậy, quản trị có vai trò to lớn đối với các tổ chức, các quốc gia, việc nghiên cứu lý luận quản trị, áp dụng lý luận quản trị vào thực tiễn có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của các tổ chức và các quốc gia
Trong thực tế, để tồn tại và phát triển, mọi cá nhân trong xã hội cần phải phối hợp với nhau để hoạt động, quá trình phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt mục tiêu chung của tổ chức Quá trình hoạt động của các tổ chức ngày càng có quy mô to lớn hơn, tính phức tạp cao hơn đòi hỏi sự phân công, hợp tác liên kết mọi thành viên trong tổ chức cao hơn
Nhờ có hoạt động quản trị mà các thành viên trong tổ chức thấy rõ mục đích và cách thức hoạt động của mình Trong bất kỳ tổ chức nào, mục tiêu hoạt động, cách thức hoạt động là những yếu tố quan trọng nhất đối với mọi thành viên, bộ phận trong tổ chức Mục đích của tổ chức là nhân tố tác động mạnh đến tâm tư tình cảm của mọi thành viên, tạo ra bầu không khí trong quá trình thực hiện Mục đích thực tế, tích cực sẽ kích thích tâm lý các thành viên và tạo bầu không khí phấn khích, ngược lại nếu thiếu thực tế, không mang tính tích cực sẽ làm cho các thành viên chán nản, không khí của tổ chức ủ dột
Bất kỳ tổ chức nào quá trình hoạt động cũng cần phải
có những nguồn lực nhất định Để quá trình hoạt động đạt hiệu quả cao thì các nguồn lực phải được huy động, khai thác,
sử dụng, quản lý có hiệu quả Điều này nghĩa là quản trị có vai trò quan trọng trong việc huy động, sử dụng, quản lý các nguồn lực của tổ chức nhằm tạo đầu ra cho các tổ chức
Trang 9
Quá trình hoạt động của tổ chức chịu nhiều tác động
của các yếu tố môi trường xung quanh, sự biến đổi của các
yếu tố có thể làm cho tổ chức đạt được hoặc không đạt được
mục tiêu đề ra Nhờ quá trình quản trị, các tổ chức phân
tích, dự báo sự thay đổi của các yếu tố, đón nhận những
thời cơ, né tránh những rủi ro thách thức
1.2 Những Chức NĂNG Chủ Yếu Của Quản Trị
Chức năng quản trị là hình thức biểu hiện sự tác
động có chủ đích của chủ thể quản trị đối với đối tượng bị
quản trị, là quá trình xác định những công việc cụ thể mà
các quản trị viên phải thực hiện trong quá trình điều hành
các hoạt động của tổ chức
Chủ thể quản trị là các nhà quản trị (một cá nhân
hoặc một nhóm)
Đối tượng bị quản trị có thể là con người (một cá
nhân hoặc tập thể) hoặc các yếu tố khác như vật tư, tiền
vốn, máy móc thiết bị, sản phẩm, thương hiệu…
Các chức năng quản trị chính là nội dung cơ bản của
mọi quá trình quản trị trong quá trình vận hành tổ chức
Nền kinh tế càng phát triển, cấp độ cạnh tranh ngày càng
gia tăng, các chức năng quản trị càng thể hiện rõ hơn vai
trò của nó, bên cạnh đó, những nội dung này cũng ngày
càng được gọt giũa, hoàn thiện, hợp lý và đưa lại hiệu quả
cao hơn
Lĩnh vực quản trị rất phong phú, đa dạng, có vai trò
quan trọng ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Mỗi
lĩnh vực quản trị có thể tiếp cận và nghiên cứu quản trị
một cách khác nhau Thực tế này dẫn đến có nhiều cách thức tiếp cận và nghiên cứu quản trị, trong đó mỗi cách thức lại có thể đặt ra những mục tiêu khác nhau, trong những điều kiện nghiên cứu nhất định, do vậy có nhiều quan điểm khác nhau về chức năng quản trị
- Theo quan điểm của Giáo sư Harold Koontt (1909- 1984) quản trị nói chung có năm chức năng chủ yếu:
+ Lập kế hoạch (thiết lập các mục tiêu, ra quyết định, xây dựng chiến lược, chính sách)
+ Công tác tổ chức (phân chia cơ cấu quản trị, xác
định và phân chia quyền hạn, các mối quan hệ tài chính) + Xác định biên chế (định biên, lựa chọn cán bộ, phát triển tổ chức)
+ Lãnh đạo (lãnh đạo con người, thông tin liên lạc, nghiên cứu động cơ hoạt động của con người,…)
+ Kiểm tra (giám sát, theo dõi tất cả các hoạt động của con người trong tổ chức)
- James Stoner và Stephen Roblein chia các chức năng quản trị thành: Hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm tra
- Trong thập niên 30 của thế kỷ 20, Gulick và Urwich nêu ra bảy chức năng quản trị: Hoạch định; tổ chức; nhân sự; chỉ huy; phối hợp; kiểm tra; và tài chính
- Henri Fayol lại đề xuất năm chức năng quản trị: Hoạch định; tổ chức; chỉ huy; phối hợp; và kiểm tra
Trang 10
Bên cạnh các quan điểm trên còn một số quan điểm
khác nữa nghiên cứu về chức năng quản trị, các quan điểm
này ra đời và tồn tại trong suốt quá trình phát triển của
các trường phái quản trị
Thực ra, việc phân chia các chức năng quản trị chỉ
mang tính tương đối Giữa các quan điểm nghiên cứu
không mâu thuẫn, khác biệt về nội dung khoa học mà đơn
thuần do điều kiện, quan điểm và mục tiêu nghiên cứu
khác nhau Cách thức biểu hiện sự khác nhau mà người
đọc cảm nhận được đơn thuần là sự gộp lại hoặc tách ra
một cách cơ học, đơn giản
Trong chương trình môn quản trị học, chúng tôi đề
xuất chia các chức năng quản trị thành bốn chức năng cơ
bản, với lý do đây là quan điểm được nhiều tác giả viết về
quản trị đồng thuận và sử dụng rộng rãi trong nhiều tài
liệu và sách về quản trị Bốn chức năng quản trị bao gồm:
Trước hết, phân tích đánh giá các yếu tố thuộc phạm
vi bên ngoài tổ chức như kinh tế, chính trị, tự nhiên, văn hóa, công nghệ Phân tích yếu tố bên ngoài nhằm xác định những cơ hội và thách thức đối với những mục tiêu đã xác
định của tổ chức
Ngoài ra, những yếu tố bên trong tổ chức như: Nhân
sự, tài chính, cơ cấu quản trị, cấu trúc nền văn hóa,… cũng
có thể tác động đến việc hoàn thành có hiệu quả hoặc không hiệu quả các mục tiêu mà tổ chức đã đưa ra Để nắm bắt, khai thác được những lợi thế, cơ hội từ bên ngoài, hạn chế, giảm thiểu những rủi ro, quá trình phân tích
đánh giá luôn đòi hỏi nhà quản trị thực hiện một cách khách quan, đúng đắn, trung thực bằng những phương pháp khoa học cụ thể, nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu, các quyết sách phù hợp nhất trong từng điều kiện cụ thể Trong cả quá trình hoạt động của một tổ chức, hoạch
định luôn được coi là nền tảng, cơ bản của mọi quá trình quản trị, hoạch định luôn được coi là chìa khóa cho những hoạt động tiếp theo
Trang 11
1.2.2 Chức năng tổ chức
Tổ chức là quá trình gắn kết, phân công, phối hợp
nhiều người vào làm việc cùng nhau trong một tổ chức bao
gồm nhiều loại công việc khác nhau, nhằm thực hiện mục
tiêu chung đã đề ra
Chức năng tổ chức là hoạt động quản trị nhằm thiết
lập một hệ thống các vị trí cho mỗi cá nhân và bộ phận
trong cùng một tổ chức sao cho các cá nhân, bộ phận phối
hợp với nhau một cách hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu
của tổ chức đã đề ra trong chiến lược hoạt động
Đối với mọi hệ thống, tổ chức được coi là chức năng cơ
bản quan trọng hàng đầu trong quản trị Thực hiện chức
năng tổ chức cũng được coi là một trong những nội dung
quản trị chứa đựng sự khó khăn và phức tạp nhất Mức độ
khó khăn, phức tạp của chức năng này là do đối tượng tác
động chủ yếu của nó chính là con người và các mối quan hệ
quyền lực, lợi ích trong tổ chức
Chức năng tổ chức bao gồm hai nội dung chủ yếu:
• Tổ chức con người (vấn đề nhân sự)
Vấn đề nhân sự trong một tổ chức bao gồm các công
việc liên quan đến tuyển dụng, đào tạo, phát triển, bố trí,
sắp xếp lực lượng nhân sự của tổ chức Kết quả của các
hoạt động này xác lập lên vị trí, quyền hạn và trách nhiệm
của mỗi cá nhân trong tổ chức
Đây là vấn đề khó khăn, phức tạp nhất trong hoạt
động của các tổ chức Bởi lẽ, mỗi tổ chức đi vào hoạt động
phải có những con người cụ thể khác nhau về tuổi tác, kinh nghiệm, chuyên môn, nghiệp vụ, quan điểm, hoàn cảnh, điều kiện cuộc sống Trên thực tế, xét về bản chất khi một tổ chức gồm nhiều cá nhân khác nhau về mọi tiêu thức của cuộc sống sẽ rất khó hợp tác với nhau trong quá trình thực hiện mục tiêu của tổ chức Khi thực hiện công việc tổ chức sẽ xác định và đặt mỗi con người cụ thể đó vào những vị trí, quyền lực, lợi ích khác nhau, từ đó việc kết hợp một cách hài hòa các thành viên này lại càng trở lên khó hơn
Để thực hiện được mục tiêu chung của tổ chức, đòi hỏi các nhà quản trị phải bố trí, phối hợp các cá nhân lại thành một hệ thống cùng nhau thực hiện các công việc theo một trình tự hợp lý và khoa học
Thực hiện tổ chức con người trong chức năng tổ chức
đòi hỏi các nhà quản trị phải nắm được các quy định chung
có liên quan, thực hiện đúng quyền hạn, trách nhiệm giữa các cấp quản lý, các khâu quản lý Khi các quyết định đã
được thực thi, mỗi thành viên của tổ chức cần dựa vào quyền hạn trách nhiệm của mình để hoàn thành nhiệm vụ
được giao Các công việc được thực hiện tốt khi và chỉ khi mỗi thành viên của tổ chức có sự liên lạc, phối hợp với nhau một cách tốt nhất
• Tổ chức công việc Một tổ chức trong quá trình hoạt động sẽ phát sinh nhiều công việc khác nhau, tạo thành khâu công việc, đầu việc cụ thể Số lượng các khâu công việc nhiều hay ít tùy
Trang 12
thuộc vào lĩnh vực, ngành nghề hoạt động và quy mô của
tổ chức đó Hiệu quả hoạt động của tổ chức tùy thuộc vào
việc thực hiện các khâu công việc có hợp lý hay không hợp
lý Năng suất lao động trong tổ chức cũng tùy thuộc vào
việc tổ chức công việc, nếu tổ chức hợp lý thì năng suất lao
động sẽ cao và ngược lại
Kết quả của quá trình tổ chức công việc hình thành
lên bộ máy tổ chức quản trị Bộ máy tổ chức quản trị được
hình thành bắt đầu từ chuyên môn hóa các công việc có
liên quan với mục tiêu năng suất, chất lượng và hiệu quả
của từng công việc Năng suất, chất lượng, hiệu quả công
việc tùy thuộc rất nhiều vào hoạt động tổ chức công việc,
do vậy, đòi hỏi mỗi tổ chức cần phải thực hiện nội dung
này một cách nghiêm ngặt, khoa học, tuân thủ các quy
định có liên quan
Một doanh nghiệp chuyên sản xuất ôtô sẽ bao gồm
nhiều công việc khác nhau từ nghiên cứu cơ bản cho tới
thực hiện việc phân phối sản phẩm
+ Nghiên cứu thị trường, quảng cáo sản phẩm (bộ
Trong hệ thống các công việc trên các nhà quản trị
phải biết sắp xếp tổ chức công việc nào trước, công việc nào
sau, ví như, không thể sản xuất thử trước khi nghiên cứu sản xuất kết thúc hoặc doanh nghiệp không thể phân phối sản phẩm khi chưa sản xuất Trong đó, nghiên cứu thị trường được chuyên môn hóa thuộc bộ phận Marketing, nghiên cứu sản xuất thuộc bộ phận R-D, sản xuất thử và sản xuất thuộc bộ phận sản xuất,… Các bộ phận được thiết
kế mang tính độc lập bên ngoài nhưng lại liên hệ phụ thuộc với nhau, có những nghiệp vụ phát sinh mang tính trình tự, có nghiệp vụ song song, gối đầu…
Một trường đại học quy mô vừa với chức năng và nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo nghiên cứu khoa học để đi vào hoạt động cần phải tiến hành nhiều các công việc khác nhau, được thiết kế ở các bộ phận khác nhau như: Đào tạo, khảo thí & quản lý chất lượng, quản lý sinh viên, tổ chức cán bộ, khoa học, đoàn thanh niên, tài chính kế toán, các khoa chuyên ngành,… ở các bộ phận này được giao nhiệm
vụ cụ thể và được chuyên môn hóa một cách tối đa có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau
Mỗi một công việc phát sinh đòi hỏi một chuyên môn, nghiệp vụ khác nhau, các khâu công việc bề ngoài có thể tách biệt nhau nhưng lại có mối quan hệ qua lại ràng buộc lẫn nhau một cách chặt chẽ Mối quan hệ giữa các khâu công việc, quyết định đến năng suất lao động và chất lượng
đầu ra
Để thực hiện được mục tiêu chung đã đề ra, các nhà quản trị cần thực hiện một cách hiệu quả chức năng tổ chức Chức năng tổ chức quyết định nhiều đến tiến độ và chất
Trang 13
lượng các công việc trong quá trình hoàn thành các mục tiêu
đã xây dựng và lựa chọn trong từng thời kỳ cụ thể
1.2.3 Chức năng lãnh đạo
Lãnh đạo là một phần của quản trị, nhưng không
phải toàn bộ công việc quản trị Nghiên cứu về lãnh đạo
hiện nay đang tồn tại một số quan điểm nghiên cứu cụ thể:
Lãnh đạo là thuyết phục những người khác hăng hái
phấn đấu cho những mục tiêu đã được xác định
Trong các chương trình đào tạo của Stephen R Covey
cho rằng “lãnh đạo là một quá trình nhờ đó một cá nhân
gây được ảnh hưởng đối với những người khác”
Trong giáo trình này chúng tôi sử dụng một cách
thống nhất quan niệm về lãnh đạo như sau:
Lãnh đạo là việc định ra chủ trương, đường lối, mục
đích, tính chất, nguyên tắc hoạt động của một tổ chức
trong các điều kiện môi trường nhất định
Hoạt động quản trị với những việc làm cụ thể như: Lập
kế hoạch, tổ chức, ra quyết định và kiểm tra nhưng thực ra
vẫn chỉ nằm ở dạng tiềm năng trong mỗi cá nhân, bộ phận
cho đến khi người lãnh đạo khơi dậy nguồn động lực trong
mỗi con người và dẫn dắt họ hướng đến các mục tiêu
Theo quan điểm trên, lãnh đạo là một chức năng cơ
bản không thể thiếu trong quá trình quản trị các tổ chức
Trong thực tế những nhà quản trị không phải lúc nào
cũng là nhà lãnh đạo đạt hiệu quả Tuy nhiên, ở hầu hết
các tổ chức dù bất kỳ quy mô nào đều muốn có hay cố gắng xây dựng, phát triển những nhà quản trị đồng thời là nhà lãnh đạo
Để thực hiện chức năng lãnh đạo trong quản trị nói chung các nhà quản trị cần phải có một số quyền lực nhất định
- Quyền lực cưỡng chế: Quyền lực này dựa trên cơ sở
sự sợ hãi, một thuộc cấp nhận thức rõ ràng rằng nếu không tuân theo những mệnh lệnh, ước muốn của cấp trên
sẽ dẫn đến bị kỷ luật Dựa trên sự phán đoán của các cá nhân, nếu không tán thành những chỉ thị của cấp trên có thể sẽ bị kỷ luật
- Quyền lực khen thưởng: Đối lập với quyền lực cưỡng chế, thuộc cấp nhận thức rõ ràng rằng việc phục tùng cấp trên sẽ dẫn đến những hình thức khen thưởng ở các mức
độ khác nhau
- Quyền lực hợp pháp: Quyền lực này xuất phát từ thứ bậc trong cơ cấu quản trị, thứ bậc của tổ chức Ví dụ, trong một công ty cổ phần chủ tịch hội đồng quản trị có quyền hợp pháp nhiều hơn các thành viên khác trong hội
đồng quản trị
- Quyền lực chuyên môn: Một cá nhân có quyền lực chuyên môn là một người có trình độ tay nghề, kỹ năng chuyên môn cao Nhờ có quyền lực này mà một cá nhân
được thuộc cấp, đồng cấp kính trọng Những cá nhân có quyền lực chuyên môn được bố trí vào các vị trí quản trị phù hợp sẽ đạt tới khả năng lãnh đạo
Trang 14
- Quyền lực ám thị: Quyền lực này dựa trên sự đồng
cảm của thuộc cấp đối với cấp trên, các cá nhân trong tổ
chức đều muốn ủng hộ người có quyền lực
ở một số tổ chức, trong quá trình hoạt động các nhà
quản trị thể hiện vai trò lãnh đạo thông qua chức năng
lãnh đạo của quản trị thường được biểu hiện cụ thể bằng
việc điều khiển tổ chức đó hoạt động Ngoài ra, chức năng
này còn phải thể hiện thông qua các nhà quản trị đại diện
cho tổ chức của mình giải quyết các mối quan hệ phát sinh
từ bên ngoài với tổ chức của họ
Điều khiển tổ chức hoạt động, các nhà quản trị
thường sử dụng các biện pháp: Ra lệnh, động viên, khuyến
khích, thúc đẩy, tùy theo từng trường hợp, đối tượng cụ
thể mà các nhà quản trị sử dụng biện pháp nào để điều
khiển nhằm đạt hiệu quả cao
Các nhà quản trị với vai trò lãnh đạo, đại diện cho tổ
chức để xử lý, giải quyết các mối quan hệ phát sinh trong
quá trình hoạt động Các chủ thể bên ngoài tổ chức có
những phát sinh liên quan đến sự tồn tại phát triển của tổ
chức, giải quyết các mối quan hệ này thường là nhà quản
trị đứng đầu tổ chức hoặc đồng cấp với người của tổ chức
liên quan đứng ra với vai trò lãnh đạo
1.2.4 Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là quá trình theo dõi và giám sát mọi hoạt
động của người thừa hành trong tổ chức nhằm phát hiện
những sai sót để kịp thời đưa ra những giải pháp để khắc
phục, hạn chế những sai sót đó
Hoạt động của một tổ chức bao gồm nhiều các công việc khác nhau từ đơn giản đến phức tạp do vậy quá trình thực hiện các công việc cụ thể này khó tránh khỏi những vướng mắc, sai sót nhất định Trong quá trình thực thi các nhiệm vụ, công việc được giao, lực lượng người thừa hành luôn tìm mọi cách để hoàn thành công việc sớm nhất, vì thế họ luôn tìm kiếm những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật công nghệ, nhờ có hoạt động kiểm tra có thể phát hiện những sáng kiến, cải tiến này Những sáng kiến, cải tiến, giải pháp được công nhận chủ yếu thông qua hoạt động kiểm tra trong quản trị và kết quả công việc được giao Như vậy, kiểm tra không đơn thuần là phát hiện ngăn ngừa những sai sót mà quá trình kiểm tra còn tìm kiếm, phát hiện những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để khai thác, thúc đẩy hoạt động của tổ chức nhằm đạt hiệu quả cao hơn Hoạt động kiểm tra giúp cho nhà quản trị đánh giá hiệu quả của các hoạt động quản trị như: Hoạch định, tổ chức, điều khiển,… Bên cạnh đó, việc kiểm tra còn được thực hiện với hoạt động cụ thể hơn ở từng nhóm, từng bộ phận như: Marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự… Từ
đó, kiểm tra không phải là một chức năng chỉ dành cho nhà quản trị cấp cao mà là chức năng cần có cho tất cả các cấp, các thứ bậc quản trị trong tổ chức Tuy ở mỗi cấp bậc hoạt động kiểm tra có những yêu cầu khác nhau, nhưng do kiểm tra có nguyên tắc tự kiểm tra, do vậy các tổ chức thường mở rộng tính dân chủ tăng hiệu quả hoạt động của các thành viên thông qua việc những người lao động trực tiếp cũng được tham gia thực hiện chức năng kiểm tra
Trang 15
Kiểm tra là chức năng quan trọng không thể thiếu
của các nhà quản trị từ cấp cao đến cấp cơ sở và cả người
thừa hành trong một tổ chức Qua hoạt động kiểm tra nhà
quản trị biết được những sai lệch so với các chỉ tiêu đưa ra
ban đầu, tìm ra những nguyên nhân gây ra những sai
lệch, và có giải pháp khắc phục kịp thời
1.3 Nhà Quản Trị, VAI Trò, Nhiệm Vụ Của
Nhà Quản Trị TRONG Tổ Chức
1.3.1 Nhà quản trị
Một tổ chức cho dù ở quy mô nào (lớn, vừa, nhỏ) lực
lượng con người trong tổ chức thường được chia thành hai
nhóm: Những người thừa hành và các nhà quản trị
Người thừa hành: Là những người trực tiếp làm một
công việc cụ thể, một nhiệm vụ được giao và không có
trách nhiệm giám sát công việc của người khác (không
tham gia quản trị)
Ví dụ, công nhân sản xuất, nhân viên bán hàng, thợ
cơ khí, nhân viên chăm sóc sức khỏe, chuyên viên quan hệ
khách hàng, giảng viên ở trường đại học,… là những người
thừa hành Trong một tổ chức, xét về số lượng người thừa
hành thường nhiều hơn các nhà quản trị
Nhà quản trị là những người điều khiển, chỉ huy
công việc của người khác, giúp họ hoàn thành tốt các công
việc được giao
Nhà quản trị cũng có thể tự họ làm một công việc
nhất định nào đó, ví dụ, tự sửa ôtô, bán hàng, chăm sóc sức
khỏe, giảng dạy, nghiên cứu… Tuy nhiên, đã là nhà quản trị họ còn có nhiệm vụ chỉ huy, điều khiển, giám sát hoạt
động của những người khác trong tổ chức
Nhằm làm rõ nội dung, nhiệm vụ quản trị trong một
tổ chức người ta thường chia các nhà quản trị thành ba cấp: Quản trị cấp cơ sở, quản trị cấp trung gian và quản trị cấp cao
- Nhà quản trị cấp cơ sở là những nhà quản trị ở cấp bậc cuối cùng trong hệ thống cấp bậc của các nhà quản trị trong một tổ chức
Quản trị cấp cơ sở thường có các chức danh: Tổ trưởng, nhóm trưởng, đốc công,…(đơn vị sản xuất kinh doanh) Nội dung quản trị: Hướng dẫn, đốc thúc, điều khiển công việc của người thừa hành trong các công việc thường nhật nhằm đảm bảo hoàn thành mục tiêu của tổ chức Công việc hàng ngày của họ là tập trung giải quyết các mối quan hệ phát sinh trong từng nhóm ở từng bộ phận Trong một số trường hợp, các nhà quản trị cấp cơ sở cũng thường
là người trực tiếp tham gia các công việc cụ thể như nhân viên dưới quyền
Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh có quy mô nhỏ, điều này là khá hợp lý bởi lẽ, trong các đơn vị này nhà quản trị cũng là người lao động trực tiếp, ở một khía cạnh nào đó khi quản trị viên tham gia vào một công việc cụ thể
là một dấu hiệu tích cực trong hoạt động của tổ chức Ví
dụ, nhóm trưởng nhóm bán hàng có thể là người trực tiếp bán hàng, tổ trưởng môn học cũng tham gia trực tiếp việc
Trang 16
giảng dạy Bác sỹ trưởng khoa thậm chí giám đốc bệnh
viện cũng tham gia trực tiếp các ca mổ, khám bệnh cho
bệnh nhân
- Nhà quản trị cấp trung gian: Đó là những nhà quản
trị thực hiện công việc quản trị theo những chức năng được
quản trị cấp cao giao phó
Cấp quản trị này thường được gọi là chỉ huy cấp
trung gian, đứng trên nhà quản trị cấp cơ sở, đứng dưới
nhà quản trị cấp cao
ở cấp trung gian, các nhà quản trị thường có các chức
danh như trưởng, phó các phòng ban bộ phận, trưởng khoa
trong trường đại học,…
Nội dung quản trị: Cấp trung gian quản trị các hoạt
động mang tính chức năng, nghiệp vụ trong từng phạm vi
cụ thể thực hiện cho việc thực hiện các chiến lược chung
của tổ chức Các công việc cụ thể của quản trị cấp trung
gian cơ bản dựa trên tính chất chuyên môn như: Sản xuất,
nhân sự, tài chính, nghiên cứu phát triển (đối với một tổ
chức là doanh nghiệp)
Để thực hiện được nhiệm vụ của quản trị cấp cao,
quản trị viên cấp trung gian có chức năng thực hiện các kế
hoạch và chính sách của tổ chức bằng cách phối hợp các
công việc được thực hiện nhằm hướng đến việc hoàn thành
mục tiêu chung của tổ chức
- Nhà quản trị cấp cao: Là những nhà quản trị đứng
đầu một tổ chức chịu trách nhiệm về sự tồn tại và phát
triển của tổ chức đó
Cấp quản trị này thường có các chức danh: Chủ tịch,
ủy viên hội đồng quản trị, hiệu trưởng, tổng giám đốc, giám đốc điều hành
Nội dung quản trị: đề ra mục tiêu chiến lược cho tổ chức xây dựng các phương án, các chiến lược để đối phó với các vấn đề phát sinh trong thực tế
Quản trị cao cấp
Quản trị cấp trung gian
Quản trị cấp cơ sở
Hình 1.1: Ba cấp quản trị
Sự phân chia cấp, thứ bậc các quản trị viên chỉ là tương đối Các tổ chức có quy mô lớn, sự phân chia này rõ nét, dễ nhận biết hơn Các tổ chức quy mô nhỏ sự phân chia này không thể rõ ràng bởi lẽ một nhà quản trị ở từng
điều kiện cụ thể có thể có các nội dung quản trị, nhiệm vụ quản trị khác nhau
ở mỗi cấp quản trị các nhà quản trị đều có chức danh rõ ràng, riêng biệt, yêu cầu quản trị và trình độ quản trị khác nhau Mức độ khác nhau về yêu cầu quản trị, trình độ quản trị xuất phát từ yêu cầu phát triển của một tổ chức
Trang 17Tổ chức giáo dục (Trường đại học)
Cơ quan nhà nước
Quản trị cấp cao
- Trưởng các tiểu ban
- Giám sát,…
Hình 1.2: Minh họa các cấp quản trị
trong một số tổ chức Mặc dù, yêu cầu về trình độ quản trị khác nhau
nhưng tất cả các cấp quản trị trong một tổ chức đều có
điểm chung là phải thực hiện các chức năng quản trị
Trong quá trình điều hành hoạt động của tổ chức, các nhà
quản trị phải thực hiện tốt các chức năng quản trị, để thực
hiện được các chức năng có hiệu quả, nhà quản trị cần
phải có các kỹ năng quản trị cơ bản
1.3.2 Kỹ năng quản trị
Kỹ năng quản trị là năng lực vận dụng có hiệu quả các kiến thức và tri thức vào trong quá trình điều hành tổ chức Kiến thức của nhà quản trị là những nội dung chuyên môn mà các nhà quản trị cần có để thực hiện các nhiệm vụ, các chức năng cụ thể, ví dụ, kiến thức chuyên môn về tài chính ngân hàng, marketing, thiết kế đồ họa, quản trị khách sạn, quản trị nhân sự… Kiến thức chuyên môn của các nhà quản trị cơ bản được hình thành, được trang bị từ các chương trình đào tạo, đôi khi là do nhà quản trị tự đào tạo
Tri thức là hệ thống tổng hợp các kiến thức, hiểu biết của một con người cụ thể cần có để thực hiện một vị trí công việc, trong đó bao gồm cả kiến thức chuyên môn Như vậy, ngoài kiến thức chuyên môn, tri thức còn bao gồm các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, văn hóa, tự nhiên…
Để có một hệ thống tri thức vững vàng, ngoài việc được đào tạo, các nhà quản trị cần phải dày công tự học hỏi nghiên cứu và tích lũy các kiến thức có liên quan
Tuy nhiên, có kiến thức, giàu tri thức chưa chắc là đã
có kỹ năng Việc vận dụng chúng một cách linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả mới được coi là có kỹ năng
Đối với các nhà quản trị, dù ở cấp nào trong tổ chức, việc hình thành và vận dụng các kỹ năng là rất cần thiết
Có nhiều các kỹ năng được vận dụng trong quản trị, trong chương trình này, xin giới thiệu ba kỹ năng cơ bản
Trang 18
1.3.2.1 Kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật
Là một trong số những kỹ năng quan trọng cần phải
có của các nhà quản trị Kỹ năng chuyên môn là kỹ năng
có được nhờ quá trình đào tạo hoặc tự đào tạo Các nhà
quản trị trải qua khóa đào tạo dài hạn ở các trường chuyên
nghiệp như cao đẳng, đại học, sau đại học, cũng có thể các
nhà quản trị được đào tạo qua thực tế, một số trường hợp
tự đào tạo cá nhân để trang bị chuyên môn cần thiết
Ví dụ, chuyên môn về Marketing, pháp luật kinh tế,
thiết kế đồ họa, xây dựng dân dụng, tài chính ngân hàng,
quản trị sản xuất, quản trị nhân sự,…
Biểu hiện của nhà quản trị có kỹ năng chuyên môn là
kiến thức chuyên môn vững vàng và năng lực vận dụng
những kiến thức đó vào trong quản trị một cách khoa học,
linh hoạt và chuẩn xác
Để có kỹ năng chuyên môn tốt, đáp ứng được yêu cầu
công việc quản trị, các nhà quản trị thường phải được đào
tạo bài bản qua các trường lớp, sau đó tích lũy kiến thức
chuyên môn qua thực tế công việc
Chuyên môn là kỹ năng cơ bản quan trọng đối với các
cấp quản trị Trên thực tế, kỹ năng này đặc biệt quan
trọng đối với quản trị viên cấp cơ sở và cấp trung gian vì
các nhà quản trị cấp thấp thường trực tiếp làm công tác
chuyên môn và quản trị chuyên môn nghiệp vụ là chủ yếu
Kỹ năng này không giống như kỹ năng chuyên môn,
kỹ năng chuyên môn có được là từ đào tạo là chủ yếu, kỹ năng nhân sự phần lớn là do tự cá nhân nhà quản trị, có thể là tài năng thiên bẩm, có thể một phần kinh nghiệm
đúc rút từ thực tế qua những năm tháng làm việc trong các tổ chức Nhân sự là kỹ năng quan trọng hàng đầu trong quản trị, dù ở cấp quản trị nào cũng đòi hỏi kỹ năng này một cách nghiêm túc, bởi lẽ, ở mỗi cấp quản trị đều phải tổ chức các công việc cụ thể đối với những con người khác nhau
1.3.2.3 Kỹ năng tư duy
Kỹ năng tư duy là kỹ năng biểu hiện thông qua khả năng tổng hợp, phân tích, phán đoán những thông tin, những sự kiện có liên quan đến tổ chức, trên cơ sở đó đưa
ra những ý tưởng, những sáng kiến, quyết sách đúng đắn, chính xác trong quản trị
Trang 19
Tư duy là một kỹ năng quan trọng của nhà quản trị,
được sử dụng trong nhiều tình huống khó khăn phức tạp,
có kỹ năng này là nhà quản trị có thể đưa các vấn đề từ
phức tạp thành đơn giản ứng với các giải pháp phù hợp và
đưa ra quyết định
Để có phát triển kỹ năng tư duy, đòi hỏi các nhà quản
trị phải trang bị một hệ thống tri thức, hệ thống lý luận và
tự tích lũy kinh nghiệm thực tế qua các sự vụ phát sinh
trong đời sống quản trị Bên cạnh đó, tố chất cá nhân của
từng nhà quản trị cũng phục vụ tốt cho việc phát triển kỹ
Quản trị viên cấp cao Hình 1.3: Kỹ năng quản trị của các cấp quản trị
Tất cả các nhà quản trị đều cần phải trang bị những
kỹ năng quản trị cần thiết, trong đó, đặc biệt là ba kỹ năng
trên, tầm quan trọng của mỗi kỹ năng tùy theo cấp bậc
quản trị trong tổ chức Xét theo sự tăng, giảm của cấp bậc
quản trị mà yêu cầu các kỹ năng này cũng thay đổi Kỹ
năng chuyên môn giảm dần mức độ quan trọng khi cấp
quản trị lên cao dần trong hệ thống cấp bậc quản trị ở cấp
quản trị càng cao, nhà quản trị càng phải cần khả năng tư
duy chiến lược nhiều hơn, do đó không thể tập trung đầu tư một cách đồng đều cho cả ba kỹ năng
Đối với các quản trị viên cấp cơ sở kỹ năng chuyên môn được coi trọng hàng đầu bởi những nhà quản trị cấp này trong quá trình hoạt động gắn liền với các công việc cụ thể, vì thế, năng lực chuyên môn kỹ thuật được xem trọng hơn Kỹ năng nhân sự cần thiết đối với mọi cấp quản trị bởi lẽ dù ở cấp quản trị nào, các nhà quản trị cũng đều phải làm việc với những con người cụ thể, đòi hỏi họ phải
tổ chức các hoạt động cho con người để đạt các mục tiêu quản trị đã đề ra Tầm quan trọng của các kỹ năng quản trị được biểu hiện hình vẽ như hình 1.3
1.3.3 Vai trò của nhà quản trị Quản trị các tổ chức bao gồm nhiều các hoạt động khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp, các nhà quản trị phải làm nhiều việc khác nhau, giải quyết, xử lý nhiều mối quan hệ trong tổ chức (cấp trên, cấp dưới), các đối tác ngoài tổ chức như khách hàng, đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương… Giải quyết các công việc này nhà quản trị thể hiện các vai trò khác nhau, vai trò của nhà quản trị được chia thành ba nhóm lớn: Vai trò quan hệ, vai trò thông tin
và vai trò quyết định
1.3.3.1 Vai trò quan hệ với con người Vai trò quan hệ được thể hiện trong việc nhà quản trị
đại diện cho tổ chức của mình để giải quyết các mối quan
hệ phát sinh có thể là quan hệ bạn hàng, quan hệ nhà
Trang 20
cung ứng, quan hệ cạnh tranh, có thể là mối quan hệ hành
chính với các tổ chức, cơ quan nhà nước… Ví dụ, một tổ
chức kinh doanh (doanh nghiệp) đi tìm kiếm một lĩnh vực
đầu tư trên một địa bàn mới, các nhà quản trị đại diện cho
tổ chức kinh doanh phải giải quyết mối quan hệ với ủy ban
nhân dân, các cơ quan thẩm quyền trong việc cấp phép
đầu tư, mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng mới,
đối thủ cạnh tranh… Thực hiện vai trò này bằng việc đại
diện cho tổ chức, qua đó một phần thể hình ảnh của tổ
chức, ở góc độ sâu hơn có thể thực hiện được những nét đặc
trưng cơ bản của tổ chức thông qua đại diện
Bên cạnh việc đại diện cho một tổ chức, nhà quản trị
còn thể hiện vai trò lãnh đạo, sử dụng những quyền lực nhất
định để điều hành hoạt động của tổ chức có thể trực tiếp hoặc
gián tiếp Việc đào tạo nhân viên, ra mệnh lệnh sản xuất,…
nhà quản trị có thể trực tiếp đảm nhận Một số trường hợp
khác như đánh giá tiêu chuẩn chất lượng công việc,… Nhà
quản trị thể hiện vai trò lãnh đạo một cách gián tiếp
Các nhà quản trị bên cạnh thực thi chức năng lãnh
đạo, trong tổng thể các mối quan hệ của tổ chức, cấp trên,
cấp dưới, các quan hệ này phải được điều hòa một cách tốt
nhất, tạo dựng và phát triển các mối quan hệ trong tổ chức
cũng là một phần thể hiện của vai trò mà các nhà quản trị
phải đảm trách
1.3.3.2 Vai trò thông tin
Trong hoạt động các tổ chức cần nhiều nguồn thông
tin khác nhau từ nhiều phía: Thông tin từ bên ngoài,
thông tin nội bộ tổ chức Trong điều kiện hiện nay đối với tất cả các tổ chức, đặc biệt các tổ chức kinh doanh, thông tin ngày càng trở nên quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của các tổ chức Thông tin được coi là một nguồn lực, một loại vốn mới của các tổ chức kinh doanh Các nhà quản trị ra quyết định thực sự hiệu quả, có căn cứ khoa học khi được dựa trên những thông tin chính xác, đầy đủ, cập nhật
Trong điều kiện môi trường luôn thay đổi biến động, các tổ chức và đặc biệt tổ chức kinh doanh nhiều trường hợp thành công hay thất bại chỉ nhờ vào tính trung thực, kịp thời của các thông tin Nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích xung quanh lý thuyết bất đối xứng về thông tin Nội dung chủ yếu của lý thuyết này cho rằng một tổ chức, một quốc gia có được những quyết định quan trọng, hiệu quả dẫn đến sự thành công chính là nhờ vào nguồn thông tin
đầy đủ, chính xác và ngược lại có thể dẫn đến thất bại nếu nguồn thông tin thiếu chính xác, không đầy đủ, kịp thời
Do vậy, thực hiện vai trò thông tin các nhà quản trị cần phải: Thường xuyên thu nhận các thông tin liên quan
đến các hoạt động của tổ chức Sau khi thu nhận các quản trị viên phải tiến hành phân loại, đánh giá, phân tích các thông tin, bên cạnh đó phải xem xét phân tích những biến
động của tình hình thực tế xung quanh Các thông tin thường xuất hiện trên đại chúng như: Báo chí, các loại văn bản, mạng Internet,… Đối với tổ chức kinh doanh, thông tin cũng có thể chỉ tồn tại dưới dạng tin đồn, mang tính
Trang 21
phi chính thức Các thông tin xuất hiện dù có lợi cho tổ
chức hay bất lợi, các quản trị viên đều phải phân tích xử lý
và truyền tải đến những đối tượng có liên quan như: Cấp
trên, cấp dưới, bộ phận có liên quan khác trong tổ chức
Đối với các chủ thể ngoài tổ chức nhưng có liên quan đến
các thông tin, nhà quản trị thể hiện chức năng đại diện
đưa những thông tin đến với các chủ thể đó một cách kịp
thời và hiệu quả nhất
1.3.3.3 Vai trò quyết định
Việc thể hiện tốt vai trò thông tin, vai trò quan hệ là
quan trọng nhưng chỉ là quan trọng đối với các yếu tố đầu
vào của tổ chức, tự nó không thể là mục đích của một quá
trình quản trị, cốt lõi của quá trình quản trị là dẫn đến
một quyết định cụ thể Quá trình ra quyết định quản trị
thể hiện vai trò ra quyết định của các nhà quản trị:
Trong việc phân bố các nguồn lực của tổ chức, xử lý
những biến động trong tổ chức, cải tiến thúc đẩy các hoạt
động của tổ chức
Trong vai trò người giải quyết những biến động: Nhà
quản trị đưa ra các quyết định, các giải pháp nhằm đối phó
với vấn đề phát sinh khách quan của môi trường hoạt động
mà các nhà quản trị khó kiểm soát Các biến động xung
quanh môi trường hoạt động của tổ chức sẽ dẫn đến sự xáo
trộn bên trong tổ chức, do đó cần phải ổn định lại tổ chức
bằng các quyết định cụ thể kịp thời Thực tế này cho thấy
vai trò quyết định luôn có ưu thế hơn các vai trò khác của
nhà quản trị
Ví dụ, bộ phận bán hàng trong siêu thị báo cáo về mức
độ phản ứng của các khách hàng về việc sản phẩm quá hạn
sử dụng, nhà quản trị phải đưa ra quyết định trong thời gian ngắn nhất Bộ phận quản lý khách hàng của Công ty
du lịch báo cáo ảnh hưởng của dịch SART, nhà quản trị phải quyết định đối phó nhằm giảm thiểu rủi ro Phòng cung ứng vật tư của công ty vận tải báo cáo sự biến động tăng giá xăng dầu của Nhà nước, lãnh đạo công ty cần có quyết định kịp thời nhằm bình ổn hoạt động kinh doanh
Một tổ chức hoạt động cần phải có những nguồn tài lực nhất định, hoạt động của tổ chức có hiệu quả khi quyết định phân bố nguồn tài lực đó một cách hợp lý Nguồn tài lực của
tổ chức như: Nhân lực, tiền vốn, thời gian, trang thiết bị,… các nguồn lực này luôn ở tình trạng thiếu hụt và khan hiếm, vấn đề không phải là phân bổ đều cho các đối tượng sử dụng
mà phân bổ hợp lý gắn vào các mục tiêu cụ thể Trong các vai trò ra quyết định thì vai trò quyết định phân bổ các nguồn lực có vị trí quan trọng nhất của nhà quản trị
Một đơn vị kinh doanh phải giải quyết một số khoản
nợ phải trả, với quỹ tiền mặt có hạn, nhà quản trị phải đưa
ra quyết định phân bổ lượng tiền mặt để thanh toán nợ như thế nào cho hợp lý nhất Để đạt được sự hợp lý nhà quản trị phải xem xét cân nhắc khoản nợ nào quan trọng, nhạy cảm có liên quan nhiều nhất đến quá trình sản xuất kinh doanh hiện tại
Vai trò người chủ trì (vai trò doanh nhân) với mục tiêu là tạo ra những thay đổi tích cực trong tổ chức Thực
Trang 22
hiện các vai trò này, các nhà quản trị thường hay đưa ra
các ý tưởng, các cải tiến, phương pháp mới để nâng cao
năng suất lao động, nâng cao chất lượng nhằm nâng cao
uy tín cho tổ chức
Chủ nhiệm bộ môn của một trường đại học luôn tìm
một phương pháp cải tiến phương pháp giảng dạy, nâng
cao chất lượng giáo trình, củng cố uy tín của bộ môn
Chủ tịch một Công ty luôn tìm kiếm ý tưởng kinh
doanh sáng tạo như phát triển thêm hoặc thay đổi ngành
nghề kinh doanh từ sản xuất sang dịch vụ, cải tiến và
nâng cấp sản phẩm, thay đổi phương thức bán hàng nhằm
tăng doanh số và lợi nhuận
Trong việc xử lý những biến động của tổ chức và
phân bổ nguồn lực các nhà quản trị phải thường xuyên bàn
bạc, trao đổi với các cá nhân có liên quan, bộ phận trong tổ
chức và trao đổi đàm phán với các chủ thể khác Quá trình
này thể hiện vai trò thương lượng của nhà quản trị Mục
tiêu của các cuộc thương lượng luôn nhằm tới những lợi
thế về phía của các nhà quản trị
1.3.4 Nhiệm vụ của nhà quản trị
Thực hiện các nội dung quản trị, các nhà quản trị thể
hiện ba vai trò cơ bản như phần trên đã nêu Tuy nhiên,
thực hiện tốt các chức năng quản trị và thể hiện rõ các vai
trò, nhà quản trị phải hoàn thành một số nhiệm vụ cụ thể:
(1) Xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, (2) lựa chọn
chiến lược hoạt động cho tổ chức, (3) phát triển thị trường
và phát triển sản phẩm (đối với các tổ chức kinh doanh)
1.3.4.1 Xây dựng môi trường làm việc lành mạnh
Định hướng và xây dựng môi trường làm việc lành mạnh là công việc quan trọng trong hệ thống công việc quản trị, là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi quản trị viên trong một tổ chức
Môi trường làm việc của một tổ chức bao gồm nề nếp, tác phong cung cách cư xử, thái độ, tinh thần trách nhiệm,
sự công bằng các mối quan hệ, trách nhiệm của mỗi thành viên và của tổ chức đó ở một góc độ nào đó môi trường làm việc lành mạnh biểu hiện bằng bầu không khí sôi nổi và hiệu quả của các công việc Môi trường làm việc là một phần quan trọng hình thành và tạo ra nền văn hóa của tổ chức
đó Các yếu tố này quyết định rất nhiều đến hiệu quả hoạt
động của tổ chức do vậy, một tổ chức xây dựng được một môi trường làm việc lành mạnh sẽ dễ dẫn đến thành công Một môi trường làm việc lành mạnh phải do chính những con người trong tổ chức đó xây dựng, vun đắp, chứ không phải nó tự có, tự hình thành theo thời gian và năm tháng Trong đó, lực lượng tham gia xây dựng và tạo ra môi trường làm việc tốt, đầu tiên phải kể đến các nhà quản trị
Dù ở tổ chức nào, phong cách và quan điểm các nhà quản trị cũng ảnh hưởng rất mạnh đến những người xung quanh Thực tế hành động cụ thể của nhà quản trị ảnh hưởng đến thuộc cấp nhiều hơn những lời chỉ đạo hoặc các văn bản chính thống Những nhà quản trị có phong cách tốt, có đạo đức nghề nghiệp, công bằng sẽ tạo được niềm
Trang 23
tin cho thành viên trong tổ chức và ngược lại Do vậy, đạo
đức, tác phong chuẩn mực, tính trung thực, công tâm của
các nhà quản trị luôn được coi là điều kiện cần thiết, là
nền tảng để xây dựng một môi trường làm việc lành mạnh
1.3.4.2 Xây dựng và lựa chọn chiến lược hoạt
động thích hợp
Trong một điều kiện môi trường nhất định, đối với
bất kỳ tổ chức nào, để hoạt động có hiệu quả đều phải xác
định mục tiêu cụ thể, rõ ràng Khi xác định và lựa chọn
được mục tiêu cần thực hiện các nhà quản trị phải xem
xét, nghiên cứu tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố
Một là, nghiên cứu sự biến động và ảnh hưởng của các
yếu tố bên ngoài tổ chức, từ đó, chỉ ra những cơ hội và
nguy cơ đối với mục tiêu của tổ chức Hai là, xem xét các
yếu tố bên trong nội bộ tổ chức nhằm nhận diện những
điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức Một chiến lược thích
hợp được xây dựng và lựa chọn luôn phải dựa trên việc
kết hợp những cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh và điểm yếu
đó Mục tiêu chiến lược và hệ thống chiến lược của tổ
chức sẽ chi phối toàn bộ hoạt động của tổ chức trong từng
giai đoạn nhất định Tuy nhiên, chiến lược của tổ chức có
thể thay đổi xuất phát từ việc thay đổi mục tiêu Việc
thay đổi, điều chỉnh mục tiêu và chiến lược trong từng
giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể nếu các nhân tố của môi
trường bên ngoài biến động quá mạnh hoặc các yếu tố của
tổ chức có sự biến động Trong những tình huống như vậy
nhà quản trị phải hoàn toàn chủ động sáng tạo để lựa
chọn những chiến lược tốt nhất cho tổ chức
1.3.4.3 Phát triển thị trường, phát triển sản phẩm Phát triển thị trường và phát triển sản phẩm là nhiệm vụ quan trọng của nhà quản trị trong các doanh nghiệp Nhà quản trị phải tìm kiếm thị trường để tăng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm, phát triển các sản phẩm mới
để nâng cao năng lực cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Phát triển thị trường các nhà quản trị thường sử dụng ba cách cụ thể:
Một là, tìm thị trường trên địa bàn mới Một doanh nghiệp thông thường phải có những vùng thị trường mới, tiềm năng chưa khai thác có thể cùng lãnh thổ Đối với những vùng thị trường này, doanh nghiệp sau quá trình nghiên cứu cơ bản và chi tiết sẽ đưa ra quyết định thâm nhập bằng cách quảng bá hình ảnh sản phẩm, mở chi nhánh, đại lý tiêu thụ
Thị trường Hà Nội và các tỉnh phía Bắc đầu những năm 2000 đang là thị trường tiêu thụ mới của sản phẩm bia Sài Gòn Nhà sản xuất Sabeco khi đó đang xúc tiến các bước thâm nhập địa bàn mới bằng cách đầu tư ồ ạt vào thị trường mới này, mở nhiều đại lý tiêu thụ và thực hiện nhiều các chương trình xúc tiến yểm trợ cho việc tiêu thụ sản phẩm Từ năm 2007 trở lại đây, nhà sản xuất này đã thực thi đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất với quy mô lớn tại miền bắc, điển hình như nhà máy tại các công ty Sài Gòn Phú thọ, công ty Sài Gòn Đồng Xuân
Trang 24
Hai là, tìm ra trị trường mục tiêu mới Trường hợp
này doanh nghiệp tìm ra nhóm đối tượng khách hàng mục
tiêu hoàn toàn mới trên thị trường hiện có Thực ra, phát
triển thị trường thông qua cách thức này các doanh nghiệp
có thể chỉ cần thay đổi một vài chỉ tiêu về sản phẩm hoặc
thay đổi cách thức kinh doanh
Công ty Quảng cáo đang phục vụ mọi đối tượng
khách hàng đã xác định lại nhóm khách hàng mục tiêu là
các công ty sản xuất mỹ phẩm và sản xuất kem đánh răng
Các nhà sản xuất này chuyên lựa chọn cách thức quảng
cáo tĩnh bằng hình ảnh nhưng khá hiệu quả trên phương
tiện công cộng như xe buýt, nhà chờ xe buýt Qua thực tế
đó, công ty quảng cáo đó chuyển hướng chiến lược kinh
doanh sang kinh doanh các sản phẩm có liên quan đến
nhóm khách hàng mục tiêu đầy tiềm năng này
Ba là, tìm ra giá trị sử dụng mới của sản phẩm Một
giá trị sử dụng mới có thể mở ra một thị trường mới và
tiềm năng, doanh nghiệp có thể khai thác công dụng của
sản phẩm để mở rộng thị trường
Trong nền kinh tế hiện đại, công nghệ càng phát
triển thì công dụng mới càng được phát triển Ví dụ, than
đá và gỗ tự nhiên đã được dùng vào nhiều lĩnh vực sản
xuất khác nhau Điện thoại di động lúc ban đầu chỉ được
sản xuất để gọi và nghe về sau các nhà sản xuất đã phát
triển thêm phần mềm gửi tin nhắn, viết thư, truy cập
Internet, gửi ảnh, âm thanh, thực hiện các chương trình
giải trí khác Hiện nay sản phẩm điện thoại di động đã
được thiết kế với nhiều tính năng vượt trội so với trước
đây, được gọi là những điện thoại thông minh
1.4 Sự Phát Triển TƯ Tưởng Quản Trị Nghiên cứu quản trị học giúp cho chúng ta có những kiến thức cơ bản cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt
động của tổ chức Xuất phát từ việc các nhà quản trị quan tâm đến hiệu quả hoạt động của tổ chức đã thúc đẩy các nhà quản trị phát hiện một cách có hệ thống các lý thuyết và tư tưởng quản trị nhằm giúp cho hoạt động của các nhà quản trị được trang bị những kiến thức khoa học một cách bài bản
Hoạt động quản trị có từ khi xuất hiện loài người trên trái đất nhưng các lý thuyết về quản trị lại là sản phẩm của xã hội hiện đại Đại đa số các lý thuyết đều được xây dựng từ đầu thế kỷ 20 trở lại đây
Năm 1911 lý thuyết đầu tiên của F.Taylor ra đời, đâu
đó có rất nhiều các lý thuyết của các tác giả đều cố gắng giải thích các khía cạnh khác nhau từ công việc quản trị,
đề xuất những cơ sở lý thuyết giúp các nhà quản trị sử dụng hợp lý các nguồn lực của tổ chức và khai thác tối đa những tác động của môi trường Các lý thuyết, các tư tưởng quản trị ra đời đã hình thành những trường phái quản trị khác nhau, mỗi trường phái đại diện cho một hệ tư tưởng, một quan điểm nhất định về quản trị các tổ chức trong xã hội, trong chương này chúng tôi giới thiệu một số trường phái, tư tưởng quản trị sau:
- Trường phái quản trị khoa học
Trang 25
- Trường phái quản trị hành chính
- Trường phái lý thuyết tâm lý xã hội
- Trường phái lý thuyết quản trị định lượng
- Phương pháp quản trị quá trình
- Phương pháp tình huống ngẫu nhiên
1.4.1 Trường phái quản trị khoa học
Năm 1911, F.Taylor cho ra đời tác phẩm đầu tiên với
tựa đề “Các nguyên tắc quản trị một cách khoa học
(Principles of Scientific Management) Từ đó, thuật ngữ
này được sử dụng để chỉ các ý kiến của một nhóm tác giả
người Mỹ, đứng đầu là F.Taylor (1856-1915) Các ý kiến
đều nhấn mạnh muốn nâng cao hiệu quả quản trị phải tác
động bằng phương pháp tăng năng suất lao động của công
nhân F.Taylor được coi là cha đẻ của trường phái quản trị
khoa học, tên tuổi của ông gắn liền lý thuyết quản trị
khoa học, vì lý thuyết này là sự cố gắng nỗ lực đầu tiên của
con người trong việc trình bày một cách hệ thống những
nguyên nhân cơ bản của quản trị các cơ sở sản xuất Lý
thuyết quản trị khoa học của F.Taylor có nhiều tên gọi
khác nhau: Lý thuyết Taylor, chủ nghĩa Taylor…
Trong thời gian làm quản trị tại các xí nghiệp, ông
đã tìm ra và chỉ trích mạnh mẽ những nhược điểm trong
phong cách quản lý cũ, Taylor đã tìm ra nhược điểm như:
- Khi thuê người công nhân chỉ sử dụng sức lao động
không quan tâm đến khả năng tay nghề của công nhân, ai
- Tất cả công việc và trách nhiệm đều giao cho công nhân
- Quản trị viên làm việc không được thừa nhận tính chuyên nghiệp, không được thực hiện chức năng lập kế hoạch và tổ chức
Sau khi nghiên cứu kỹ điểm hạn chế trong phương pháp quản trị sản xuất của các xí nghiệp công nghiệp F.Taylor đã xây dựng và đưa ra một số nguyên tắc quản trị: Phương pháp khoa học là thành tố cơ bản trong công việc của công nhân, thay cho phương pháp cũ dựa vào kinh nghiệm
Xây dựng và áp dụng chức năng hoạch định của nhà quản trị thay cho công việc công nhân tùy ý lựa chọn phương pháp làm việc
Tuyển chọn và huấn luyện công nhân, phát triển tinh thần hợp tác đồng đội thay vì khích lệ những nỗ lực cá nhân Phân chia công việc giữa nhà quản trị và công nhân
để cho cả nhà quản trị và công nhân làm tốt trách nhiệm của họ, thay đổi cung cách cũ là tất cả đổ lên đầu người công nhân
Từ những nguyên tắc khoa học quản trị trên, F.Taylor đưa ra phương pháp quản trị tương ứng
Trang 26
Nghiên cứu định mức thời gian, phương pháp thao
tác hợp lý để thực hiện các công việc cụ thể
Mô tả chi tiết công việc nhằm lựa chọn đối tượng công
nhân phù hợp, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, chương
trình huấn luyện chính thức cho nhân viên
- Trả công lao động theo nguyên tắc khuyến khích
theo sản lượng, năng suất đảm bảo an toàn lao động bằng
dụng cụ lao động thích hợp
- Chú trọng đến việc thăng tiến trong công việc, quan
tâm nhiều đến việc lập kế hoạch và tổ chức các hoạt động
Tuy vậy, F.Taylor không phải là tác giả duy nhất của
trường phái quản trị khoa học, bên cạnh lý thuyết của
F.Taylor còn một số tác giả khác cũng xoay quanh lý
thuyết này
Frank và Lillian Gilbreth: Frank (1886-1924), Lillian
(1878-1972) là những người tiên phong trong việc nghiên cứu
thời gian lao động và động tác của người lao động và phát
triển lý thuyết khác hẳn Taylor Hai ông đã phát triển một
hệ thống các thao tác để hoàn thành một công việc, đưa ra
một hệ thống sắp xếp lại bao gồm các động tác như cách thức
nắm, sử dụng đồ vật, cách di chuyển… Các động tác khoa học
có quan hệ chặt chẽ với nhau nên những liên quan giữa các
loại động tác dư thừa với sự mệt nhọc trong lao động, loại bỏ
các động tác cơ bản không thích hợp nhằm làm giảm sự mệt
nhọc và tăng năng suất lao động
Henry Gantt (1801-1919) Gantt phát triển một sơ đồ
trong quản lý sản xuất, sơ đồ mang tên ông, sơ đồ mô tả
dòng công việc cần để hoàn thành một công việc một cách
có hiệu quả nhất trong sơ đồ ngoài việc vạch ra kế hoạch, sơ đồ ghi cả thời gian hoạch định và thời gian thực hiện theo một trình tự kế hoạch Trong kinh doanh hiện đại phương pháp Gantt là một công cụ quan trọng trong quản trị tác nghiệp
* Trường phái quản trị khoa học có nhiều đóng góp
đáng kể, có giá trị cho sự phát triển tư tưởng quản trị, trường phái này phát triển kỹ năng quản trị qua sự phân công lao động và chuyên môn hóa quá trình sản xuất, bước
đầu hình thành quy trình sản xuất theo dây chuyền Hệ tư tưởng đầu tiên nêu lên phương pháp tuyển chọn nhân viên, dùng chính sách đãi ngộ để thúc đẩy nhân viên, tăng năng suất lao động, coi quản trị là một đối tượng nghiên cứu khoa học, tuy nhiên trường phái này cũng có hạn chế nhất định Theo lý thuyết này các phương pháp chỉ áp dụng trong môi trường kinh doanh ít biến động; lý thuyết quá đề cao bản chất kinh tế và xem nhẹ yếu tố con người đánh giá thấp nhu cầu xã hội, và sự thể hiện của con người
1.4.2 Trường phái quản trị hành chính Trường phái quản trị hành chính chủ yếu phát triển những nguyên tắc quản trị cho cả một tổ chức do vậy trường phái này được gọi là tư tưởng quản trị tổ chức cổ điển Đại diện của tổ chức này là Henry Fayol và Max Weber:
Henry Fayol (1841-1925 ) là một đại diện của trường phái quản trị hành chính Năm 1916 ông xuất bản tác phẩm “quản trị công nghiệp và quản trị tổng quát” Trong
Trang 27
công trình nghiên cứu này của Fayol ông cho rằng năng
suất lao động của con người làm việc chung cho một tổ chức
tùy thuộc vào sự sắp xếp, tổ chức của nhà quản trị Việc bố
trí sắp xếp con người trong tổ chức Fayol gọi là công việc
quản trị tổng quát, theo ông công việc này có quan trọng
như những việc trong sản xuất kinh doanh như Marketting,
tài chính sản xuất, quản lý tài sản và con người
Để làm tốt việc bố trí sắp xếp tốt các xí nghiệp Fayol
đưa ra một loạt các nguyên tắc cho các nhà quản trị
+ Phải phân công lao động
+ Phải xác định rõ mối quan hệ giữa quyền hạn và
trách nhiệm
+ Phải duy trì kỹ thuật trong doanh nghiệp
+ Mỗi công nhân chỉ nhận lệnh từ một cấp chỉ huy
trực tiếp duy nhất
+ Phải thu nhận các ý kiến của chỉ huy, của nhà quản trị
+ Quyền lợi chung phải được đặt trên quyền lợi riêng
+ Quyền lợi kinh tế phải tương xứng với công việc
+ Quyền quyết định trong xí nghiệp phải tập trung
về một mối
+ Xí nghiệp phải được tổ chức theo cấp bậc từ giám
đốc đến công nhân
+ Sinh hoạt trong xí nghiệp phải trật tự
+ Đối xử trong xí nghiệp phải công bằng
+ Công việc trong xí nghiệp mỗi người phải ổn định + Nhà quản trị phải tôn trọng ý kiến của mọi người + Phải xây dựng tinh thần tập thể trong xí nghiệp
* Max Weber (1861-1920 ) Max Weber có nhiều đóng góp vào hệ thống lý thuyết quản trị thông qua việc phát triển các tổ chức hành chính, bàn giấy Khái niệm về quan liêu bàn giấy được ông định nghĩa là hệ thống chức vụ và nhiệm vụ được xác định rõ ràng phân công chính xác, các mục tiêu được phân biệt, hệ thống quyền hành có trật tự Thực chất những quan điểm
ý tưởng của ông là:
Phân công lao động với thẩm quyền và trách nhiệm
được quy định rõ và được hợp pháp hóa như nhiệm vụ chính thức
- Các chức vụ được thiết lập theo hệ thống chỉ huy, với chức vụ nằm dưới một chức vụ cao hơn
- Các hành vi hành chính và các quyết định phải làm thành văn bản
- Quản trị phải tách rời sở hữu
- Nhà quản trị phải tuân thủ điều lệ thủ tục
- Việc thăng cấp theo khả năng và qua thi cử Trường phái quản trị hành chính cho rằng năng suất lao động sẽ tăng cao và nếu một tổ chức được sắp xếp một cách hợp lý Trường phái này đã có những đóng góp to lớn trong cả lý luận và thực tế quản trị Hiện nay có nhiều
Trang 28
nguyên tắc của trường phái này vẫn được áp dụng trong
các tổ chức Các nguyên tắc tổ chức, ủy quyền đang được
áp dụng phổ biến Trường phái này có những hạn chế đó là
tư tưởng được xây dựng trong một tổ chức ổn định, ít thay
đổi quan điểm quản trị cứng rắn, không chú ý nhiều đến
con người và xã hội do vậy dẫn đến việc xa rời thực tế
1.4.3 Trường phái lý thuyết tâm lý xã hội trong
quản trị
Lý thuyết này cho rằng, hiệu quả của quản trị do năng
suất lao động quyết định, nhưng năng suất lao động không
chỉ do các yếu tố vật chất quyết định mà còn do sự thỏa mãn
các nhu cầu tâm lý xã hội của con người Trường phái này
phát triển mạnh nhất giai đoạn đầu thế kỷ XX, nhưng sau
đó bị lãng quên, tham gia trường phái này có các đại diện
như: Lillian Gilbreth, Hugo Munsterberg, Mary P Follet…
Ngoài ra còn nhiều tác giả đã đóng góp bổ sung cho lý
thuyết này như: McGregor, Chris Argyris, A Maslow
- Hugo Munsterberg
Trong tác phẩm “Tâm lý học và hiệu quả trong công
nghiệp” xuất bản năm 1913 Munsterberg đã đặt vấn đề phải
nghiên cứu một cách khoa học tác phong của con người để
tìm ra những mẫu mực chung và giải thích sự khác biệt
cũng suy nghĩ và lập luận giống như lý thuyết của trường
phái quản trị khoa học Munsterberg cho rằng năng suất lao
động sẽ cao hơn nếu công việc giao phó cho họ được nghiên
cứu được phân tích chu đáo và hợp lý cũng như phù hợp sức
lực, đặc điểm tâm lý của người thừa hành công việc
Ông đề nghị dùng các bài thi trắc nghiệm tâm lý để tuyển chọn nhân viên, phải tìm hiểu tác phong của con người trước khi đi tìm các kỹ thuật thích hợp để có thể
động viên khuyến khích họ làm việc Những ý kiến đề xuất của ông lúc đó ít được các tổ chức quan tâm, tuy nhiên, trong kinh doanh hiện đại ngày nay được coi trọng và thường xuyên được sử dụng rộng rãi ở các tổ chức
- Mary P Follet (1863-1933 ) Mary Follet là một trong số ít người quan tâm, lưu ý
đến các khía cạnh tâm lý và xã hội trong quản trị Follet cho rằng các tổ chức sản xuất kinh doanh, ngoài khía cạnh kinh tế kỹ thuật, còn được xem là một hệ thống của những quan hệ xã hội
Sau này nghiên cứu các ý kiến đề xuất của Follet, giáo sư Roblinrs đã cho rằng những quan điểm của Follet
đã được người Nhật tin tưởng và áp dụng rộng lớn trong các xí nghiệp
- Elton Mayo (1880-1949) là một giáo sư tâm lý học của Trường kinh doanh Harvard đã giải thích hiện tượng liên quan đến tâm lý, tác phong trong quản lý
Nghiên cứu đầu tiên Mayo cho thấy ánh sáng nơi làm việc không ảnh hưởng đến năng suất lao động của công nhân Nghiên cứu thứ 2 của Mayo lại cho kết luận điều kiện làm việc không có hoặc ít có quan hệ với năng suất lao
động Nghiên cứu thứ ba, Mayo lại cho kết luận tiền lương
và tiền thưởng không tạo ra tác động nào đối với năng suất lao động
Trang 29
Từ những nghiên cứu tại các xí nghiệp Mayo cho
thấy tâm lý tác phong có mối quan hệ rất chặt chẽ với
nhau Mayo cho rằng khi một người làm việc trong một tập
thể thì ảnh hưởng của tập thể có vai trò lớn hơn trong việc
tạo ra tác phong cá nhân Những người công nhân thường
có xu hướng tuân theo các quy định của tập thể kể cả các
quy định không chính thức, do ít chịu tác động kích thích
từ bên ngoài
Những kết quả nghiên cứu của Mayo mở ra một kỷ
nguyên mới trong quản trị, được gọi là phong trào quan hệ
con người Với sự nhấn mạnh mối quan hệ con người trong
quản trị, là cơ sở để các nhà quản trị phải tìm cách thỏa
mãn nhu cầu tâm lý và tinh thần của nhân viên
Abraham Maslow (1908-1970), ông là một tâm lý
học người Mỹ đã xây dựng một lý thuyết về nhu cầu của
con người gồm năm bậc được xếp từ thấp đến cao: Nhu cầu
vật chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được
tôn trọng, nhu cầu tự hoàn thiện
Theo lý thuyết của Maslow nhu cầu quyết định tác
phong của con người, con người có xu hướng thỏa mãn nhu
cầu của mình cung bậc từ thấp đến cao Hoạt động quản
trị phải căn cứ vào nhu cầu đang cần được thỏa mãn
Các lý thuyết các quan điểm của các tác giả đều nhấn
mạnh đến con người với tư cách là một cá nhân trong một
tổ chức - đây là bước tiến quan trọng so với lý thuyết cổ
điển Về cơ bản các tác giả của trường phái này đều cho
rằng năng suất lao động tùy thuộc nhiều vào các yếu tố
tâm lý và yếu tố xã hội của công nhân Nội dung cơ bản của lý thuyết tâm lý xã hội được đề cập như sau:
- Các tổ chức kinh doanh là một hệ thống có tính xã hội
- Nhà quản trị động viên con người trong tổ chức không chỉ vật chất mà cả yếu tố tinh thần, tâm lý xã hội Các nhóm không chính thức trong một tổ chức xã hội
có tác động nhiều đến tinh thần, thái độ và năng suất lao
động của công nhân
Các nhà lãnh đạo quản trị các tổ chức, bên cạnh các chức năng, nhiệm vụ quản trị cụ thể còn phải dựa vào các yếu tố tâm lý xã hội
- Mức độ thỏa mãn tinh thần liên quan chặt chẽ với năng suất lao động
Tại một thời điểm một thành viên trong một tổ chức
đều có nhiều nhu cầu tâm lý, xã hội cần được thỏa mãn Trường phái tâm lý xã hội có những đóng góp cơ bản trong việc cải tiến cách thức và tác phong quản trị Nêu rõ
ảnh hưởng của tác phong quản trị, mối quan hệ giữa các cá nhân trong tổ chức, vai trò của nhóm trong bộ phận trong một tổ chức đến thái độ và làm việc và năng suất lao động
Từ những đóng góp to lớn vào nghiên cứu và thực hành quản trị, các nhà quản trị hiểu rõ hơn về tác dụng việc
động viên con người ảnh hưởng của tập thể đối với cá nhân, mối quan hệ nhân sự trong tổ chức Giúp các nhà quản trị có thái độ quan tâm đúng mực hơn khi đối xử với nhân viên, lựa chọn phong cách lãnh đạo thích hợp
Trang 30
1.4.4 Trường phái lý thuyết quản trị định lượng
Sau đại chiến thế giới thứ hai, các tổ chức kinh doanh
của các quốc gia tư bản chuyên phục vụ cuộc chiến với
những kỹ thuật hiện đại nhất đã được đưa vào ứng dụng
trong sản xuất phục vụ cho phát triển kinh tế Kỹ thuật
được ứng dụng nhiều trong các hãng sản xuất ô tô các
chuyên gia áp dụng trong nghiên cứu chế tạo nhằm nâng
cao tính chính xác của các quyết định quản trị Giai đoạn
này chính là thời kỳ phát triển đầu tiên của lý thuyết quản
trị định lượng
Lúc đầu lý thuyết này có nhiều tên gọi khác nhau:
Lý thuyết định lượng về quản trị, lý thuyết hệ thống,
nghiên cứu tác vụ… Dù tên gọi nào thì lý thuyết này
cũng nêu rõ: Các quyết định quản trị phải đúng, nhà
quản trị phải có quan điểm hệ thống khi xem xét, phân
tích thông tin, sự việc
Lý thuyết này được tóm lược ở một số nội dung sau:
- Nhấn mạnh đến phương pháp khoa học trong việc
giải quyết các vấn đề quản trị
- áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống để giải
quyết các vấn đề
- Sử dụng các mô hình toán học trong kinh doanh, sử
dụng máy tính điện tử
- Lượng hóa các yếu tố có liên quan
- Đánh giá yếu tố kinh tế, kỹ thuật cao hơn yếu tố
tâm lý xã hội trong quản trị
Kỹ thuật định lượng đã giải quyết được nhiều vấn đề quản trị trong các tổ chức cả hành chính và kinh doanh như xây dựng kế hoạch ngân sách, chương trình hóa sản xuất, phát triển chiến lược sản xuất, bố trí sử dụng các nguồn lực Tuy vậy, lý thuyết này không giải quyết được khía cạnh con người trong quản trị Đối với các chức năng như tổ chức lãnh đạo lý thuyết này ít tác dụng
1.4.5 Phương pháp quản trị quá trình
Từ sau 1960 Harold Koontz và các cộng sự đã tiếp tục phát triển phương pháp quản trị quá trình Phương pháp Harold Koontz này cho rằng quản trị là một quá trình liên tục bao gồm việc thực hiện các chức năng quản trị
Bất kỳ một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nào, quá trình quản trị đều phải thực hiện đầy đủ các chức năng Tác giả của phương pháp đã xây dựng và phát triển phương pháp này trở thành một trong những phương pháp
Trang 31Từ đó, điều kiện của một hệ thống là: (1) Phải có ít
nhất hai phần tử trở lên (điều kiện cần); (2) Các phần tử
này phải có những mối quan hệ ràng buộc tương tác lẫn
nhau (điều kiện đủ)
- Hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ chặt chẽ
với nhau, tác động qua lại nhau một cách có quy luật để
tạo thành một chỉnh thể, đảm bảo thực hiện những chức
chặt chẽ với nhau, tác động ảnh hưởng đến nhau
+ Trong quá trình tồn tại và hoạt động, bất kỳ một sự
thay đổi nào về lượng cũng như về chất của một phần tử
Như vậy, trong thực tế, các tổ chức đều là hệ thống vì bao gồm các phần tử là những con người liên kết với nhau
để tạo nên sức mạnh tổng thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định đã được lựa chọn của tổ chức trong từng giai đoạn, thời điểm cụ thể
1.5.1.2 Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống là một khoa học nghiên cứu các quy luật về sự ra đời, tồn tại, hoạt động và biến đổi của các hệ thống nhằm quản trị có hiệu quả các hệ thống
Đó là một khoa học mang tính tổng hợp, sử dụng kết quả nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học khác như sinh học, logic học, toán học, tin học, kinh tế học ; cho phép các chủ thể liên quan nhìn nhận mọi sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan theo một cách thức thống nhất
Nhiều khái niệm của lý thuyết hệ thống đã thực sự
đi vào đời sống quản trị và tiềm thức của các nhà quản trị Trong chương trình này chúng tôi chỉ tập trung giới thiệu một số khái niệm và phương pháp cơ bản của lý thuyết hệ thống
Trang 32
1.5.1.3 Quan điểm toàn thể
Quan điểm toàn thể là quan điểm đầu tiên, quan
trọng cần xem xét khi nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết
hệ thống Theo quan điểm này:
- Khi nghiên cứu các sự vật hiện tượng phải tôn trọng
mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và tinh thần
Quan điểm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
hoạt động quản trị các tổ chức Để tồn tại và hoạt động con
người trước tiên phải được bảo đảm những yếu tố vật chất
nhất định như cái ăn, cái mặc, nơi ở và quyền sở hữu cá
nhân (thỏa mãn nhu cầu bậc thấp) Khi những nhu cầu vật
chất đã được thỏa mãn tới một mức độ nhất định thì con
người mới phát sinh những nhu cầu về tinh thần như hội
nhập, được công nhận, được tôn trọng, được tự khẳng
định Các nhà quản trị thành công, đạt thành tích cao
trong các tổ chức là những người biết kết hợp hài hòa hai
yếu tố vật chất và tinh thần một cách có hiệu quả trong
những điều kiện cụ thể, nhất định của tổ chức
- Các sự vật hiện tượng luôn có sự tác động qua lại và
chi phối lẫn nhau
Các bộ phận trong một tổ chức, các cá nhân tạo nên
tổ chức liên hệ với nhau bằng nhiều mối quan hệ khác
nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp, chính thức hoặc phi chính
thức Chính những mối quan hệ này làm cho sự thay đổi
trong một bộ phận có thể gây nên sự thay đổi ở các bộ phận
khác và cả hệ thống
Một hệ thống, một tổ chức không thể tồn tại hoàn toàn độc lập mà luôn tồn tại trong những điều kiện môi trường nhất định Môi trường đó tác động lên tổ chức và ngược lại, tổ chức cũng tác động trở lại môi trường, góp phần thay đổi môi trường Trong điều đó đòi hỏi các nhà quản trị phải xem xét tổ chức trong tổng thể các yếu tố tác
động lên nó, tức là trong môi trường hoạt động của tổ chức Trong các mối quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng, nhà quản trị cần chú ý đến mối quan hệ nhân quả Khi xem xét nghiên cứu quan hệ nhân quả đòi hỏi các nhà quản trị khi giải quyết một vấn đề cụ thể phải tìm cách hiểu được nguyên nhân của nó Đồng thời, trước khi ra quyết định cụ thể nhà quản trị đã phải tính toán, dự báo trước được những hậu quả có thể mang lại từ các quyết
định đó
Các sự vật không ngừng biến đổi Ngày nay, con người đã coi sự thay đổi như là một quy luật hiển nhiên Mọi con người, tổ chức và cả thế giới
đều được sinh ra, vận động và biến đổi không ngừng Nhiệm vụ của các nhà quản trị là tìm hiểu logic của những
sự thay đổi, hiểu được và quản trị được những sự thay đổi
đó ở những cấp độ khác nhau
- Động lực chủ yếu quyết định sự phát triển của các
hệ thống nằm bên trong hệ thống Việc xác định yếu tố nào quyết định sự phát triển của một cá nhân, một tổ chức, một quốc gia là một vấn đề các nhà quản trị phải trả lời trong quá trình quản trị Trong
Trang 33
xu hướng liên kết, hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay,
môi trường hoạt động có vai trò ngày càng quan trọng đối
với sự tồn tại và hoạt động các hệ thống Tuy nhiên muốn
tận dụng được những cơ hội, né tránh những rủi ro thách
thức từ môi trường đem lại, các nhà quản trị trước tiên
phải phát hiện, tính toán và phát huy được thế mạnh của
nội lực bên trong của chính bản thân tổ chức, quốc gia
1.5.2 Các thành phần cơ bản của hệ thống
1.5.2.1 Phần tử của hệ thống
Phần tử là tế bào nhỏ nhất của hệ thống, mang tính
độc lập tương đối, thực hiện chức năng nhất định và không
thể phân chia nhỏ thêm được nữa dưới giác độ hoạt động
của hệ thống
Trong hệ thống kinh tế, phần tử chính là các đơn vị
sản xuất, kinh doanh Trong một doanh nghiệp, phần tử là
những con người của doanh nghiệp đó Với cùng một đối
tượng nghiên cứu, khái niệm phần tử có thể là khác nhau
tùy thuộc vào từng góc độ nghiên cứu khác nhau Chẳng
hạn, theo hệ thống quản trị trước đây phần tử của hệ
thống sản xuất nông nghiệp là các hợp tác xã nông nghiệp
Hiện nay trong cơ chế quản lý mới hiện hành, phần tử của
hệ thống sản xuất nông nghiệp lại là các hộ nông dân
1.5.2.2 Môi trường của hệ thống
Môi trường của hệ thống là tập hợp các yếu tố có
quan hệ tương tác với hệ thống (tác động lên hệ thống và
chịu sự tác động của hệ thống)
Cũng có thể phân chia môi trường của hệ thống thành môi trường bên trong và môi trường bên ngoài Môi trường bên trong: Là tập hợp các yếu tố bên trong tạo nên điều kiện hoạt động của hệ thống Ví dụ, các nhiệm vụ, cấu trúc các hệ thống bên trong tổ chức (hệ thống tài chính kế toán, hệ thống marketing, văn hóa tổ chức ) Môi trường bên trong còn được gọi là môi trường
có thể kiểm soát của hệ thống, và nhà quản trị có thể chủ
động tạo ra hoặc thay đổi theo hướng có lợi cho việc thực hiện mục tiêu của hệ thống
Môi trường bên ngoài: Là tập hợp các yếu tố bên ngoài hệ thống có liên quan đến hoạt động của hệ thống, bao gồm các yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp Những yếu tố tác động trực tiếp là những yếu tố gây ảnh hưởng trực tiếp và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những hoạt động chính của hệ thống, ví dụ, các đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách hàng, các nhà cung ứng các sản phẩm dịch vụ thay thế đối với một tổ chức doanh nghiệp Yếu tố tác động gián tiếp, ví dụ, sự biến động kinh tế, các khuynh hướng xã hội và chính trị, Các yếu tố này gây
ảnh hưởng đến môi trường mà trong đó hệ thống đang hoạt động và chúng có thể trở thành các yếu tố tác động trực tiếp đối với hệ thống
Các yếu tố của môi trường bên ngoài nằm ngoài khả năng kiểm soát của hệ thống, nghĩa là nhà quản trị tổ chức gần như không thay đổi được các yếu tố môi trường này Vì vậy, để tồn tại, phát triển thì hệ thống phải tìm cách thích
Trang 34
nghi được với sự biến đổi của môi trường và đáp ứng được
những đòi hỏi của nó Sự vận động của môi trường đem lại
cho hệ thống những cơ hội và cả những mối đe dọa Đối với
cơ hội các tổ chức cần tận dụng khai thác và né tránh,
giảm thiểu những đe dọa Chính vì vậy, phân tích và dự
báo được xu thế biến động của môi trường là nhiệm vụ đặc
biệt quan trọng của các nhà quản trị Hệ thống chỉ có thể
phát triển nếu có một môi trường thuận lợi Thực tế này
đòi hỏi các nhà quản trị tổ chức phải dành nhiều thời gian,
công sức cho việc phân tích đánh giá dự báo những biến
động của môi trường để có những chính sách phù hợp
trong từng điều kiện cụ thể Đồng thời, Nhà nước là chủ
thể có trách nhiệm tạo ra môi trường ổn định, thuận lợi
bình đẳng cho sự hoạt động của các tổ chức (môi trường
kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp, công nghệ…)
1.5.2.3 Đầu vào của hệ thống
Với tư cách là một hệ thống, các tổ chức thường có
những đầu vào sau: 1 Nguồn tài chính, 2 Nguồn nhân
lực, 3 Nguồn nguyên nhiên vật liệu, 4 Công nghệ, 5
Thông tin và thị trường, 6 Các mối quan hệ, 7 Tác động
của Nhà nước, 8 Các cơ hội và rủi ro, 9 Các tác động cản
trở của các hệ thống khác Nhiệm vụ của các nhà quản trị
là huy động và sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hiệu
quả, biến chúng thành các nguồn lực của tổ chức và hạn
chế đến mức thấp nhất những tác động bất lợi của môi
1.5.2.5 Mục tiêu của hệ thống Mục tiêu của hệ thống là những kết quả cuối cùng, là trạng thái mong đợi, cần có và có thể có của hệ thống sau một thời gian nhất định Trạng thái này là cần có vì nó xuất phát từ đòi hỏi của hệ thống và của môi trường, là có thể có vì xuất phát từ những nguồn lực và tiềm năng có thể huy động của hệ thống
Không phải hệ thống nào cũng có mục tiêu (hệ thống thời tiết, hệ thống vô sinh), nhưng có mục tiêu lại là đặc trưng quan trọng nhất của các tổ chức Chẳng hạn, một doanh nghiệp luôn có những mục tiêu như lợi nhuận, thị trường và thị phần, phát triển các nguồn lực, Và quản trị tồn tại là để xác định cho tổ chức những mục tiêu đúng và dẫn dắt tổ chức đi tới mục tiêu một cách có hiệu quả
Xét mối quan hệ của hệ thống với môi trường thì mục tiêu có hai loại: (1) Các đầu ra cần có (gọi là mục tiêu ngoài), (2) Các đầu vào có thể sử dụng và cấu trúc bên trong hệ thống (gọi là mục tiêu trong của hệ thống)
Xét theo mối quan hệ bên trong, hệ thống có mục tiêu chung là mục tiêu định hướng của cả hệ thống và các mục
Trang 35
tiêu riêng là mục tiêu cụ thể của từng phần tử, từng phân
hệ trong hệ thống Giữa mục tiêu chung và các mục tiêu
riêng có thể có sự thống nhất hoặc không thống nhất
1.5.2.6 Chức năng của hệ thống
Chức năng của hệ thống là những nhiệm vụ cụ thể
mà hệ thống phải thực hiện, là khả năng của hệ thống
trong việc biến đổi đầu vào thành đầu ra
Chức năng của hệ thống thể hiện lý do ra đời và tồn
tại của hệ thống Ví dụ, chức năng của các doanh nghiệp là
thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Chức năng của
các trường đại học là thực hiện công tác đào tạo và nghiên
cứu Chức năng của phòng marketing là quản trị và thực
hiện các hoạt động marketing Chức năng của Tổng giám
đốc là điều hành các hoạt động của doanh nghiệp Việc
phân định rõ ràng chức năng cho tổ chức cũng như các bộ
phận và con người trong tổ chức là nội dung, nhiệm vụ
quan trọng của quản trị
1.5.2.7 Nguồn lực của hệ thống
Nguồn lực của hệ thống là tập hợp các yếu tố mà hệ
thống sử dụng được để thực hiện mục tiêu của mình
Nguồn lực của hệ thống có thể rất đa dạng Đối với các
tổ chức nguồn lực được phân loại theo một số tiêu chí sau:
Theo đầu vào cho các hoạt động của tổ chức: Nguồn
vốn, nhân lực, đất đai, nguyên nhiên liệu, máy móc thiết
bị, công nghệ, thông tin
Theo tính chất: Nguồn lực hữu hình (tiền vốn, lực lượng lao động, đất đai nhà xưởng, nguyên nhiên liệu, máy móc thiết bị ) và nguồn lực vô hình (tiềm năng của nguồn nhân lực uy tín sự quen biết,…)
Mọi hệ thống đều có những điểm mạnh và điểm yếu của nguồn lực Các nhà quản trị phải hiểu rõ của các nguồn lực nhằm sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực vì mục tiêu của tổ chức
Nguồn lực của tổ chức luôn hạn chế nhưng tiềm năng của nguồn lực lại là vô hạn Đánh thức tiềm năng, biến tiềm năng thành những nguồn lực thông qua các chính sách hợp lý chính là nhiệm vụ của quản trị
1.5.2.8 Cơ cấu (cấu trúc) của hệ thống Cơ cấu của hệ thống là một trong những phạm trù có
ý nghĩa quan trọng bậc nhất của hệ thống Hiểu biết cơ cấu của hệ thống tức là hiểu biết quy luật sinh ra của các phần tử và các mối quan hệ giữa chúng xét trong không gian và thời gian
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về cơ cấu của hệ thống Tuy nhiên có thể hiểu rằng: Cơ cấu của hệ thống là hình thức cấu tạo của hệ thống, phản ánh sự sắp xếp có trật tự của các phân hệ, bộ phận và phần tử cũng như các quan hệ giữa chúng theo một dấu hiệu nhất định
Thứ nhất, cơ cấu tồn tại như một thành phần bất biến tương đối của hệ thống Nhờ có cơ cấu mà hệ thống có
được sự ổn định để đảm bảo trạng thái nội cân bằng của
Trang 36
nó Tuy được coi là một hệ tĩnh, cơ cấu không phải là
không biến đổi Khi mối quan hệ giữa các phần tử hoặc số
phần tử của hệ thống thay đổi đến một mức độ nhất định
nào đó thì cơ cấu sẽ thay đổi Để sự thay đổi của cơ cấu
không gây cản trở cho việc thực hiện chức năng cần phải
tiến hành quản trị sự thay đổi của hệ thống
Thứ hai, một hệ thống thực tế có rất nhiều cách cấu
trúc khác nhau, tùy theo các dấu hiệu quan sát, gọi là sự
chồng chất cơ cấu
Thứ ba, một hệ thống khi đã xác định được cơ cấu thì
nhiệm vụ nghiên cứu quy về việc lượng hóa đến mức có thể
các thông số đặc trưng của các phần tử và các mối quan hệ
của chúng Khi cơ cấu của hệ thống rất khó quan sát (hệ
thống có cơ cấu yếu hoặc khó cấu trúc) thì việc nghiên cứu
cơ cấu hệ thống chỉ có thể dừng lại ở mức độ định tính
Trong thực tế cần kết hợp cả hai mức độ nghiên cứu định
tính và định lượng
Trong các hệ thống có thể gặp nhiều loại cấu trúc
khác nhau Có cấu trúc chặt chẽ và cấu trúc lỏng Có
cấu trúc hiện (được hình thức hóa một cách rõ ràng) và
cấu trúc mờ (không được hình thức hóa hoặc hình thức
hóa không rõ ràng) Có cấu trúc một cấp và cấu trúc
Trạng thái của hệ thống còn được gọi là thực trạng của hệ thống Ví dụ như thực trạng của tập đoàn kinh tế Vinashin năm 2009, nó quy định rõ không gian, thời gian
cụ thể của hệ thống được đem ra xem xét
1.5.2.11 Quỹ đạo của hệ thống Quỹ đạo là chuỗi các trạng thái nối hệ thống từ trạng thái đầu về trạng thái cuối (tức mục tiêu của hệ thống) trong một khoảng thời gian nhất định
Như vậy quỹ đạo vạch ra con đường đi của hệ thống
để đến được mục tiêu Đối với các tổ chức, quỹ đạo cần phải
được xác định từ chức năng lập kế hoạch Thực hiện kế
Trang 37
hoạch chính là đưa tổ chức chuyển dịch từ trạng thái này
sang trạng thái khác dọc theo quỹ đạo định trước để đến
ra những lực hoạt động cùng chiều Động lực ngoài là lực
tác động của môi trường bên ngoài tác động vào Động lực
chủ yếu quyết định sự phát triển của hệ thống là động lực
bên trong
1.5.2.13 Cơ chế của hệ thống
Cơ chế của hệ thống là phương thức hoạt động hợp
với quy luật khách quan vốn có của hệ thống Cơ chế tồn
tại đồng thời với cơ cấu của hệ thống, là điều kiện để cơ
cấu phát huy tác dụng
Đối với các hệ thống tự nhiên, cơ chế hoàn toàn mang
tính khách quan và hoạt động một cách tự phát Đối với
các hệ thống do con người tạo ra, cơ chế ít nhiều mang tính
chủ quan vì có hoạt động tự giác của con người Nếu sự can
thiệp có ý thức của con người phù hợp với quy luật hoạt
động khách quan của hệ thống thì cơ chế sẽ thúc đẩy sự
phát triển của hệ thống, ngược lại sẽ kìm hãm sự phát
triển của hệ thống
1.5.3 Nghiên cứu hệ thống 1.5.3.1 Quan điểm nghiên cứu Quan điểm nghiên cứu hệ thống là tổng thể các yếu
tố chi phối quá trình thông tin và đánh giá hệ thống Quan
điểm nghiên cứu giúp chúng ta trả lời câu hỏi: Trong quá trình nghiên cứu cần đạt được những thông tin nào? Việc
đánh giá hệ thống đưa vào những tiêu chí nào?
Những quan điểm khác nhau có thể dẫn nhà nghiên cứu đến những cách nhìn nhận hết sức khác nhau về hệ thống Chính vì vậy xác định quan điểm nghiên cứu là việc
mà nhà nghiên cứu cần phải làm trước khi bước vào nghiên cứu một hệ thống
Nếu lấy cơ sở là lượng thông tin cần có về hệ thống,
sẽ có những quan điểm nghiên cứu hệ thống sau đây:
- Quan điểm macro (vĩ mô) Quan điểm vĩ mô là quan điểm nghiên cứu hệ thống nhằm trả lời các câu hỏi sau về hệ thống:
- Mục tiêu, chức năng của hệ thống là gì?
- Môi trường của hệ thống là gì?
- Đầu ra, đầu vào của hệ thống là gì?
Đây là quan điểm nghiên cứu tổ chức của những cơ quan quản lý Nhà nước Quan điểm nghiên cứu này thường xem xét, nhìn nhận một tổ chức từ góc độ bên ngoài Cũng chính vì vậy quản lý Nhà nước được gọi là quản lý vĩ mô
Trang 38
- Quan điểm micro (vi mô)
Quan điểm nghiên cứu vi mô là quan điểm nghiên
cứu nhằm có được đầy đủ thông tin về hệ thống:
- Mục tiêu, chức năng của hệ thống
- Môi trường của hệ thống
- Đầu vào, đầu ra của hệ thống
Đối với các tổ chức, đây là quan điểm nghiên cứu của
chủ thể quản lý bên trong tổ chức đối với tổ chức của mình
(Tổng giám đốc đối với doanh nghiệp, Hiệu trưởng đối với
trường học, chủ tịch đối với UBND) Chính vì vậy quản trị
trong các tổ chức được gọi là quản trị vi mô
- Quan điểm Mezzo (hỗn hợp)
Quan điểm hỗn hợp là quan điểm kết hợp hai quan
điểm trên để có được thông tin tùy theo mục đích nghiên cứu
Chẳng hạn, cơ quan thanh tra của ngành Thuế (mặc
dù là cơ quan quản lý Nhà nước) sẽ không chỉ nghiên cứu
một doanh nghiệp có dấu hiệu gian lận thuế theo quan
điểm vi mô mà sẽ đi sâu xem xét hoạt động quản lý tài
chính của doanh nghiệp đó Các cơ quan quản lý Nhà
nước chỉ nên áp dụng quan điểm này khi thật cần thiết, tránh việc can thiệp quá sâu vào hoạt động của các tổ chức cơ sở
1.5.3.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thống Căn cứ vào những thông tin có được và hệ thống, có thể chia các phương pháp nghiên cứu hệ thống thành ba phương pháp sau:
* Phương pháp mô hình hóa Phương pháp mô hình hóa là phương pháp nghiên cứu hệ thống thông qua các mô hình về hệ thống
Mô hình là sự tái tạo lại hệ thống với các đặc trưng cơ bản của nó nhờ nhận thức của con người và những công cụ nhất định Mô hình có thể là một luận đề, một công thức toán học, một sơ đồ vật lý hoặc một chương trình trên máy
vi tính
Trình tự sử dụng phương pháp mô hình hóa bao gồm các bước:
- Xác định vấn đề nghiên cứu:
+ Xác định ý đồ và mục tiêu nghiên cứu + Xác định đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu + Thu thập thông tin về đối tượng theo nội dung cần thiết
- Xây dựng mô hình: Thiết lập mối quan hệ ràng buộc giữa các yếu tố
- Phân tích mô hình và tiến hành dự báo
Trang 39
- Ra quyết định quản trị hệ thống
Phương pháp mô hình hóa được sử dụng ngày càng
phổ biến trong nghiên cứu các hệ thống kinh tế - xã hội
vì nó cho phép hình dung hệ thống một cách rõ ràng,
tường tận hơn thông qua việc giữ lại các mối quan hệ
chủ yếu và loại bỏ những mối quan hệ thứ yếu Tuy vậy,
phương pháp này chỉ sử dụng có hiệu quả khi biết rõ các
yếu tố đầu vào, các đầu ra, cấu trúc, cơ chế hoạt động
của hệ thống
* Phương pháp “hộp đen”
Phương pháp “hộp đen” là phương pháp nghiên cứu
hệ thống bằng cách quan sát hay tác động lên hệ thống bởi
những hệ đầu vào, đo lường những phản ứng của hệ thống
ở đầu ra, sau đó thông qua việc phân tích mối quan hệ
giữa đầu vào và đầu ra mà rút ra được những kết luận
nhất định về bản chất bên trong hệ thống
“Hộp đen” là một hệ thống bất kỳ mà người nghiên
cứu không có thông tin về nó Phương pháp “hộp đen”
được áp dụng để nghiên cứu các hệ thống khi biết đầu
vào và đầu ra của hệ thống nhưng không nắm được cơ
cấu của nó
Phương pháp hộp đen có thể sử dụng rất hiệu quả
trong thực tế vì có nhiều hệ thống có cấu trúc rất mờ hoặc
rất phức tạp làm cho việc nghiên cứu trở nên rất khó khăn,
tốn kém
* Phương pháp tiếp cận hệ thống
Phương pháp tiếp cận hệ thống là phương pháp nghiên cứu hệ thống bằng cách phân tích hệ thống thành những phân hệ nhỏ hơn mang tính độc lập tương đối trong khi vẫn quan tâm đến các mối liên hệ ràng buộc giữa chúng
Việc phân tích hệ thống phải tuân theo các yêu cầu sau: Việc nghiên cứu từng phân hệ, từng phần tử không
được tách rời một cách tuyệt đối khỏi hệ thống, đồng thời phải nghiên cứu sự tác động của phân hệ và phần tử trở lại với hệ thống
Hệ thống chỉ phát triển khi là hệ mở, cho nên khi xem xét hệ thống phải đặt nó trong điều kiện môi trường
cụ thể
Các hệ thống phức tạp là những hệ có cơ cấu phân cấp, bao gồm nhiều phân hệ Các phân hệ có quan hệ tương tác với nhau; đồng thời các phân hệ với tư cách là một hệ độc lập lại bao gồm trong nó các phần tử nhỏ hơn với các quan hệ ràng buộc nhất định
Các hệ thống phức tạp, nếu quan sát từ nhiều góc độ
có các cơ cấu khác nhau, nói một cách khác hệ thống là sự
“chồng chất” các cơ cấu Vấn đề quan trọng là phải kết hợp các cơ cấu khác nhau đó để tìm nét đặc trưng, điển hình của hệ thống
Ngày nay, phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng rất rộng rãi trong nghiên cứu các hệ thống lớn và phức tạp như các hệ thống chiến lược, chính sách, các tổ chức lớn, và nó thường được kết hợp với hai phương pháp
ở trên
Trang 40
1.5.4 Điều khiển và điều chỉnh hệ thống
1.5.4.1 Điều khiển và hệ điều khiển
Điều khiển hệ thống là quá trình tác động liên tục
lên hệ thống để hướng hành vi của nó tới mục tiêu đã định
trong điều kiện môi trường luôn biến động
Hệ thống điều khiển (hệ điều khiển) phải thỏa mãn
các điều kiện sau đây:
Hệ thống phải có cơ cấu rõ ràng với hai phân hệ là
chủ thể điều khiển và đối tượng điều khiển
Hệ thống phải có mục tiêu và trong tập hợp các trạng
thái cho phép của hệ thống phải có trạng thái đạt được
mục tiêu đó Hành vi có hướng đích là vấn đề quan trọng
nhất của điều khiển, nó vừa là mục tiêu, vừa là kết quả
của điều khiển
Quá trình điều khiển là quá trình thông tin với 4
nguyên tắc cơ bản Thứ nhất, hệ thống phải có khả năng
cảm nhận, theo dõi và quan sát tỉ mỉ các khía cạnh quan
trọng của môi trường Thứ hai, hệ thống phải gắn thông
tin nhận được với các tiêu chuẩn hoạt động chỉ hướng cho
hành vi của hệ thống Thứ ba, hệ thống phải có khả năng
phát hiện những lệch lạc đối với các tiêu chuẩn đã đề ra
Thứ tư, hệ thống phải đề ra được các biện pháp sửa đổi khi
xuất hiện các sai lệch
Nếu như có đầy đủ những điều kiện trên thì sẽ hình
thành một quá trình trao đổi thông tin liên tục giữa hệ
thống và môi trường, Do đó cho phép hệ thống bám sát những thay đổi và có các biện pháp thích hợp Như vậy hệ thống sẽ hoạt động một cách thông minh và tiến hành tự
đối tượng
- Bước 2: Thu thập và xử lý thông tin về môi trường
và đối tượng điều khiển thông qua mối liên hệ ngược
- Bước 3: Xây dựng phương án và chọn phương án quyết định tối ưu, sau đó truyền đạt cho đối tượng thực hiện (đóng vai trò một trong các đầu vào của đối tượng)
- Bước 4: Đối tượng thực hiện điều chỉnh hành vi theo tác động chỉ dẫn của chủ thể (sơ đồ)