Nghiên cứu các đặc điểm sinh học của bệnh thán thư Colletotrichum camelliae gây hại trên cây Trà hoa vàng .... Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài và kết quả khảo sát tại một số khu vực
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
LÝ A THANH
Tên đề tài:
XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN VÀ DIỄN BIẾN BỆNH THÁN THƯ
H ẠI TRÀ HOA VÀNG TẠI HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
LÝ A THANH
Tên đề tài:
XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN VÀ DIỄN BIẾN BỆNH THÁN THƯ
H ẠI TRÀ HOA VÀNG TẠI HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Với phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên hàng năm đã tổ chức cho sinh viên năm cuối đi thực tập tốt nghiệp Đây là cơ hội quý báu để các sinh viên tiếp cận và làm quen với công việc sẽ làm sẽ làm sau khi ra trường, được vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, từ đó nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân
Được sự giúp đỡ và đồng ý của nhà trường và khoa nông học Em đã thực
hiện khóa thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Xác định nguyên nhân và diễn biến
b ệnh thán thư hại trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ, Tỉnh Quảng Ninh”
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban
chủ nhiệm khoa Nông học Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn, sự kính trọng sâu sắc tới cô giáo TS Dương Thị Nguyên và TS Trịnh Xuân Hoạt đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo em hoàn thành khóa luận này Em xin cảm ơn Viện
Bảo vệ thực vật đã tạo điều kiện và giúp đỡ em để em có thể đi và hoàn thành bài thực tập tốt nghiệp Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình chú
Nịnh Văn Trắng, cũng như toàn thể công nhân viên tại Công ty CP Lâm sản Đạp Thanh tại Thôn Khe Xa, Xã Đạp Thanh, Huyện Ba Chẽ đã nhiệt tình giúp đỡ để em có thể hoàn thành công việc trong thời gian thực tập
Vì kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế,cũng như là lần đầu thực hiện
một chuyên đề, trong quá trình thực tập, hoàn thiện báo cáo này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý
thầy cô giáo, các bạn sinh viên để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành c ảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 7 năm 2020
Sinh viên:
Trang 4M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
PH ẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu cầu đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.2 Yêu cầu nghiên cứu 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PH ẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2 Tình hình nghiên cứu trà hoa vàng trên thế giới 4
2.2.1 Về thành phần hóa học và tác dụng sinh học 6
2.2.2 Nhân giống Trà hoa vàng 9
2.2.3 Về điều kiện sinh trưởng 9
2.2.4 Công dụng 9
2.2.5 Những nghiên cứu về bệnh hại 10
2.2.6 Biện pháp phòng trừ bệnh hại 12
2.3 Tình hình nghiên cứu về cây Trà hoa vàng ở Việt Nam 15
2.3.1 Về phân bố, đặc điểm sinh trưởng, sinh thái, phân loại và nhận biết 16
2.3.2 Về giá trị dinh dưỡng, hoạt chất dược liệu 18
2.3.3 Điều kiện sinh trưởng 18 2.3.4 Nhân giống Trà hoa vàng Error! Bookmark not defined
Trang 52.3.6 Biện pháp phòng trừ bệnh hại trên trà hoa vàng 21
PH ẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Nội dung 1 Điều tra, xác định thành phần bệnh hại trên cây trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ, Tỉnh Quảng Ninh 25
3.4.2 Nội dung 2 Xác định nguyên nhân gây bệnh thán thư hại trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ, Tỉnh Quảng Ninh 26
3.4.3 Nội dung 3 Nghiên cứu diễn biến của bệnh thán thư hại cây Trà hoa vàng 27
3.4.4 Nội dung 4 Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc hóa học đến tỉ lệ bệnh thán thư hại Trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ, Tỉnh Quảng Ninh 28
3.5 Phương pháp xử lý số liệu: 30
PH ẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Thành phần bệnh hại trà hoa vàng 31
4.2 Xác định nguyên nhân gây bệnh thán thư hại trà hoa vàng 32
4.2.1 Triệu chứng bệnh thán thư hại trà hoa vàng 33
4.2.2 Nguyên nhân gây bệnh thán thư 33
4.3 Nghiên cứu các đặc điểm sinh học của bệnh thán thư (Colletotrichum camelliae) gây hại trên cây Trà hoa vàng 33
4.4 Nghiên cứu diễn biến của bệnh thán thư hại Trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ, Tỉnh Quảng Ninh 36
4.5 Kết quả nghiên cứu các biện pháp hóa học trong phòng trừ bênh thán thư (Colletotrichum camelliae) trên cây Trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ 37
4.5.1 Biện pháp hóa học 37
Trang 6thư trên cây Trà hoa vàng tại vườn sản xuất 38
PH ẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Đề nghị 43
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 44
Trang 7
ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cs : Cộng sự
CT : Công thức
Đc : Đối chứng
KH&CN : Khoa học và công nghệ
NN&PTNN : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TB : Trung bình
TLB : Tỷ lệ bệnh
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
NSXL : Ngày sau xử lý
Trang 8ỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Thành phần bệnh hại trà hoa vàng tại Ba Chẽ, Quảng Ninh 32 Bảng 4.2: Đặc điểm hình thái của nấm thán thư gây hại lá trà hoa vàng
Colletotrichum camelliae 34
Bảng 4.3: Tỷ lệ bệnh thán thư trên trà hoa vàng trong điều kiện vườn ươm tại
các công thức thí nghiệm hóa học qua các kỳ điều tra 38 Bảng 4.4 Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật hóa học đến tỷ lệ bệnh
thán thư trên cây Trà hoa vàng 41
Trang 9ỤC HÌNH
Hình 1: Lá trà hoa vàng bị bệnh thán thư 33 Hình 2: Hình ảnh bào tử, sợi nấm và tản nấm C camelliae 35 Hình 3: diễn biễn bệnh thán thư tại Quảng Ninh năm 2020 37
Trang 10PH ẦN 1
M Ở ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh rất thuận lợi cho sự phát triển
của nhiều loại cây dược liệu khác nhau trong đó có Trà hoa vàng Nhiều loài cây dược liệu có giá trị cao trong y học phát triển tự nhiên trong các khu rừng trên địa bàn tỉnh Số liệu thống kê năm 2017, toàn tỉnh có 948 loài cây thuốc thuộc 182 họ, 561 chi khác nhau Với tiềm lực tự nhiên đó, ngành Y tế tỉnh đã
và đang xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Dược Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, tập trung hình thành vùng bảo tồn, phát triển cây dược liệu tập trung tại Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử và Thung lũng dược liệu Ngọa Vân - Yên Tử Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch thành lập 01 khu bảo tồn đa dạng sinh học, 01 vườn bảo tồn và phát triển cây thuốc và các vùng trồng cây dược liệu tại: Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Ba Chẽ, Tiên Yên và Bình Liêu (UBND tỉnh Quảng Ninh, 2018)
Trong số 13 loại cây dược liệu bản địa, cây Trà hoa vàng là loại cây cần được quan tâm đặc biệt Đến thời điểm hiện nay, tổng diện tích trồng Trà hoa vàng toàn tỉnh đã lên đến hơn 150 ha; trong đó, huyện Ba Chẽ có diện tích
trồng lớn nhất đạt khoảng 140 ha cho sản lượng 13 tấn lá tươi và 1,2 tấn hoa tươi, diện tích còn lại phân bố ở các huyện Hải Hà, Tiên Yên và Đầm Hà
Hiện nay, huyện Ba Chẽ đã quy hoạch đến năm 2020, diện tích trồng cây Trà hoa vàng đạt 500 ha Ngoài ra Quảng Ninh có chủ trương phát triển thành một trong những trung tâm cây dược liệu lớn nhất cả nước, nhiều loại cây dược
liệu đã và đang dần được đưa vào trồng thử nghiệm và sản xuất tại đây Để phát triển sản xuất cây dược liệu một cách bền vững bảo vệ cây dược liệu trước sự tấn công của sâu, bệnh hại, cần phải có nghiên cứu cơ bản về bảo vệ
thực vật để hiệu rõ bản chất của các đối tượng dịch hại và đề xuất các giải pháp phòng chống một cách kịp thời
Trang 11Theo kết quả nghiên cứu của Trường đại học Dược Hà Nội, Trà hoa vàng Quảng Ninh có thành phần dinh dưỡng phong phú, có tác dụng làm cảnh,
cải thiện môi trường và giá trị dược liệu quý và giá trị kinh tế cao Hiện nay,
diện tích trồng Trà hoa vàng khoảng 140 ha, trong đó 50 ha đã có thể thu
hoạch hoa và 60 ha cho thu hoạch lá, chủ yếu vẫn khai thác ngoài tự nhiên,
dẫn đến 1 số giống Trà hoa vàng có nguy cơ tuyệt chủng
Trà hoa vàng vừa là cây dược liệu quý, vừa có thể trồng làm cây cảnh, do
đó đem lại giá trị kinh tế rất cao Trà hoa vàng tươi có giá từ 1-1,3 triệu đồng/kg
và hoa Trà hoa vàng khô có giá 14-15 triệu đồng/kg Hiện nay, 140 ha Trà hoa vàng tại huyện Ba Chẽ, chiếm tỉ lệ lớn nhất tỉnh Quảng Ninh, phân bố chủ yếu ở các xã Thanh Sơn (40,3 ha); Đồn Đạc (36 ha) và Đạp Thanh (27,6 ha)
Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài và kết quả khảo sát tại một số khu vực trồng Trà hoa vàng cho thấy, Trà hoa vàng đã bị nhiễm một số đối tượng sâu bệnh hại như rệp, nhện đỏ, nấm muội, thối rễ, sâu đục thân…đặc biệt là bệnh thán thư bệnh phổ biến gây hại trên lá, cũng có thể gây tác hại nhất định với chồi non, chồi và nụ hoa Trường hợp nghiêm trọng có thể khiến chồi bị khô chết Bệnh thường bắt đầu ở đầu lá, mép lá và lan dần vào giữa lá
Việc phát triển vùng trồng nguyên liệu tập trung sẽ luôn tiềm ẩn nguy cơ
xảy ra dịch bệnh, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế của doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và thị trường tiêu thụ sản phẩm
Do vậy, các việc cấp bách phải nghiên cứu, xác định thành phần sinh vật hại trên cây Trà hoa vàng, và đề xuất được các giải pháp kỹ thuật xử lý chúng
một cách hiệu quả, bền vững nhằm bảo vệ các vùng sản xuất cây Trà hoa vàng
một cách hiệu quả và an toàn; cũng như là cơ sở quan trọng giúp huyện Ba Chẽ
mở rộng diện tích theo quy hoạch cần sớm có giải pháp căn cơ ứng phó kịp thời trên nguyên tắc phòng là chính, hữu cơ là đích đến của sản phẩm
Vì vậy việc xác định nguyên nhân gây bệnh thán thư hại trà hoa vàng
tại huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh là cần thiết, cấp bách làm cơ sở khoa học
Trang 12để nghiên cứu, khuyến cáo được các giải pháp bước đầu trong quản lý tổng
hợp bệnh hại trà hoa vàng tại huyện Ba chẽ, tỉnh Quảng Ninh.Xuất phát từ
thực tế trên em tiến hành nghiên cứu đề tài:“Xác định nguyên nhân và diễn
biến bệnh thán thư hại trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ, Tỉnh Quảng Ninh”
1.2 M ục tiêu và yêu cầu cầu đề tài
1.2.1 M ục tiêu nghiên cứu
Xác định nguyên nhân và diễn biến bệnh thán thư hại trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ, Tỉnh Quảng Ninh
1.2.2 Yêu c ầu nghiên cứu
- Xác định nguyên nhân bệnh thán thư hại Trà hoa vàng tại Huyện Ba
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để xác định được nguyên nhân từ
đó có biện pháp phòng trừ nhằm hạn chế được bệnh thán thư trên Trà hoa vàng,
ổn định năng suất, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh Quảng Ninh nói riêng và các tỉnh trồng Trà hoa vàng nói chung
- Là tài liệu trong học tập, là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan
Trang 13PH ẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 C ơ sở khoa học
Tìm hiểu nguyên nhân và diễn biến tình trạng của bệnh gây ra đối với cây là một yếu tố thiết yếu và cực kì quan trọng đối với mọi loại cây trồng Giúp ta làm rõ được nguồn gốc gây bệnh cho cây từ đó ta có biện pháp phòng tránh ngăn chặn Nhờ vậy giúp nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng
sản phẩm cây của cây trồng
Bệnh thán thư là bệnh khá phổ biến trên cây trà hoa vàng ảnh hưởng khá lớn tới năng suất sản lượng của cây do đó tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh thán thư hại trà hoa vàng để tìm biện pháp phòng tránh cũng như ngăn ngừa là
hết sức cần thiết
2.2 Tình hình nghiên c ứu trà hoa vàng trên thế giới
Theo hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan, vị trí phân loại của chi
Camellia L có thể được tóm tắt như sau:
hoặc kéo dài thành đuôi, gốc lá hình nêm hẹp, nêm rộng, tròn hay hình tim, mép có răng cưa nhọn hoặc tù Hoa đều, lưỡng tính, kích thước lớn hoặc nhỏ,
mọc đơn độc ở nách lá hoặc đầu cành Hoa màu đỏ, trắng hoặc vàng, cuống hoa ngắn hoặc gần như không có cuống Có từ 2-10 lá bắc, mọc xoắn trên
cuống hoa, có 4-19 cánh hoa hợp 1 phần ở gốc cùng với vòng nhị ngoài Nhị
Trang 14nhiều, dính với nhau ở phần gốc, vòng nhị phía trong rời nhau, chỉ nhị dài Bầu trên có 1-5 ô, 1-5 vòi nhụy, dạng sợi, rời hoặc dính nhau; bầu và vòi nhụy
nhẵn hay phủ lông mịn Quả nang, hình cầu dẹt hoặc hình trứng, khi khô chẻ
ô từ trên xuống thành 3, 4 hay 5 mảnh; vỏ quả dày hay mỏng, hóa gỗ Có 1 đến nhiều hạt trong mỗi ô, hình cầu, nửa cầu hay hình nêm, vỏ hạt màu nâu, nêu hạt giẻ nhạt hoặc nâu hồng, phủ lông hay nhẵn (Agarwal, và cs 1992)
Quá trình nghiên cứu về Trà hoa vàng trên thế giới đã được thực hiện
từ rất lâu và các thành phần hóa học của lá Trà hoa vàng đã được mô tả tương đối đầy đủ Các kết quả nghiên cứu cho thấy Trà hoa vàng có khoảng 120-130
hoạt chất khác nhau, sắp xếp thành các nhóm bao gồm: nhóm đường, nhóm pectin, nhóm tinh dầu, protein, acid amin, các sắc tố, các chất vô cơ, vitamin, các enzyme, chất nhựa, các chất hữu cơ, polyphenol, tannin và flavonoid Trong đó, nhóm các hợp chất polyphenol là thành phần được quan tâm nhiều
nhất trong lá Trà hoa vàng Các loại polyphenol này chiếm 20-35% trọng lượng chè khô ở lá búp non (Chang Hung Ta, 1981)
Trà hoa vàng đã được sử dụng như một phương thuốc trong y học Phương Đông từ rất lâu Những tác dụng về mặt dược lý của Trà hoa vàng là
do sự có mặt của các nhóm hợp chất catechin Nhiều công trình đã công bố về tác dụng của Trà hoa vàng và các hợp chất chiết suất đối với nhiều bệnh khác nhau như: bệnh ung thư, bệnh về đường tim mạch, bệnh tiểu đường, bệnh alzheimer, bệnh parkinson, bệnh béo phì, bệnh sỏi thận, bệnh về đường tiêu hóa, bệnh răng miệng, v.v Ngoài ra, Trà hoa vàng còn có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol, giảm khả năng bị nhiễm độc do kim loại, do phóng xạ gây
ra (Chang Hung Ta, 1991)
Lá Trà hoa vàng có thể uống, điều chỉnh các chất béo trong cơ thể, lượng đường trong máu, giải độc gan và thận, theo y học Trung Quốc công
bố, Trà hoa vàng có 9 tác dụng chính:
Trang 15- Trong lá chè có những hoạt chất làm giảm tổng hàm lượng lipit trong huyết thanh máu, giảm lượng cholesterol mật độ thấp (cholesterol xấu) và tăng lượng cholesterol mật độ cao (cholesterol tốt)
- Nước sắc lá chè có tác dụng hạ huyết áp rõ ràng và tác dụng được duy trì trong thời gian tương đối dài
- Nước sắc lá chè có tác dụng ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, chống sự hình thành huyết khối gây tắc nghẽn mạch máu
- Phòng ngừa ung thư và ức chế sự phát triển của các khối u khác
- Hưng phấn thần kinh
- Lợi tiểu mạnh
- Giải độc gan và thận, ngăn ngừa xơ vữa động mạnh máu;
- Ức chế và tiêu diệt vi khuẩn
Ngoài ra, lá chè còn có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và duy trì
trạng thái bình thường của tuyến giáp
2.2.1 V ề thành phần hóa học và tác dụng sinh học
Quá trình nghiên cứu về Trà hoa vàng trên thế giới đã được thực hiện
từ rất lâu và các thành phần hóa học của lá Trà hoa vàng đã được mô tả tương đối đầy đủ Các kết quả nghiên cứu cho thấy Trà hoa vàng có khoảng 120-130
hoạt chất khác nhau, sắp xếp thành các nhóm bao gồm: nhóm đường, nhóm pectin, nhóm tinh dầu, protein, acid amin, các sắc tố, các chất vô cơ, vitamin, các enzyme, chất nhựa, các chất hữu cơ, polyphenol, tannin và flavonoid Trong đó, nhóm các hợp chất polyphenol là thành phần được quan tâm nhiều
nhất trong lá Trà hoa vàng Các loại polyphenol này chiếm 20-35% trọng lượng chè khô ở lá búp non (Chang Hung Ta, 1981)
Trà hoa vàng đã được sử dụng như một phương thuốc trong y học Phương Đông từ rất lâu Những tác dụng về mặt dược lý của Trà hoa vàng là
do sự có mặt của các nhóm hợp chất catechin Nhiều công trình đã công bố về
Trang 16tác dụng của Trà hoa vàng và các hợp chất chiết suất đối với nhiều bệnh khác nhau như: bệnh ung thư, bệnh về đường tim mạch, bệnh tiểu đường, bệnh alzheimer, bệnh parkinson, bệnh béo phì, bệnh sỏi thận, bệnh về đường tiêu hóa, bệnh răng miệng, v.v Ngoài ra, Trà hoa vàng còn có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol, giảm khả năng bị nhiễm độc do kim loại, do phóng xạ gây
ra (Chang Hung Ta, 1991)
Gần đây, nhiều nghiên cứu về tác dụng chống oxy hóa của Trà hoa vàng đã được thực hiện Lixia Song và cộng sự đã tiến hành đánh giá khả năng chống oxy hóa của polyphenol trong 6 mẫu Trà hoa vàng thu hái ở Trung Quốc theo mô hình DPPH, được phân tích bằng phương pháp HPLC cho thấy có phản ứng rõ rệt giữa các thành phần catechin trong trà với DPPH
thể hiện rõ khi mà các đỉnh tương ứng tồn tại trong sắc ký đồ ban đầu của các chiết xuất ban đầu biến mất sau khi thêm DPPH Hoạt tính chống oxy hóa của các catechin trong trà, tính theo tỷ lệ mol, trong thử nghiệm chống lại sự hình thành các gốc tự do DPPH trong dung dịch nước được xếp theo trật tự giảm
dần như sau: epicatechin gallate ~ epigallocatechin gallte > epigallocatechin > gallic acid > epicatechin ~ catechin Với hàm lượng catechin tổng số chiếm khoảng 30% khối lượng khô, Trà hoa vàng và dịch chiết cũng thể hiện tính
chống oxy hóa rất mạnh trong các thử nghiệm, kết quả tính toán cho thấy thành phần catechin đóng góp khoảng 70-80% khả năng chống oxy hóa của trà (Atlantic Coast Camellia, 1994)
Tác dụng ngăn chặn và chữa trị bệnh ung thư của Trà hoa vàng và các
hợp chất catechin được nghiên cứu mạnh mẽ nhất Khi tiến hành nghiên cứu in vitro, nhiều công trình công bố đã cho thấy trà và các chất chiết được từ Chè
như EGCG, EGC, ECG, v.v có khả năng tương tác, ngăn chặn và hạn chế quá
trình khơi mào, hình thành và phát triển các tế bào ung thư Các thử nghiệm in vitro cho thấy khả năng tương tác trực tiếp và tăng cường hiệu quả của EGCG,
Trang 17EC vào hệ thống bảo vệ bằng enzyme của tế bào, hạn chế sự hình thành của các tác nhân gây biến đổi trong tế bào (Atlantic Coast Camellia, 1994)
Nghiên cứu của Madhumita Roy và cộng sư đã chứng minh rằng trà xanh với thành phần chủ yếu là các polyphenol và đặc biệt là EGCG (Epigallocatechingallat) có khả năng ức chế sự phát triển của một số dòng tế bào ung thư Nghiên cứu dịch tễ học của Nhật – một trong những quốc gia sử dụng chè nhiều nhất, đã chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa thói quen uống trà xanh và tỷ lệ người chết vì ung thư Một số công trình nghiện cứu khác đã
chứng minh tác dụng kìm hãm của polyphenol trong chè Trà xanh có thể bảo
vệ cơ thể khỏi ung thư bằng cách làm ngưng chu kỳ tế bào, kể cả chu kỳ nghiên phân của tế bào ung thư Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến 2 cơ chế chính vì tác
dụng ức chế sự phát triển tế bào u của Egcr: (1) tác dụng ngăn cản chu kì phân chia tế bào, dừng chu kì phân chia tế bào ở các pha G1, G2; (2) thúc đẩy quá trình hình thành tế bào ung thư (Atlantic Coast Camellia, 1994)
Tiến hành nghiên cứu thăm dò trên các tế bào ung thư nuôi cấy in vitro
cho thấy có tác dụng gây độc với các tế bào ung thư biểu mô người Hep-2, tế bào u tủy chuột Sp-2/0 và tế bào ung thư mô liên kết Sarcoma-180, nhưng không gây hủy hoại các tế bào máy ngoại vi người khỏe mạnh Mức độ tác
dụng này tùy thuộc vào nồng độ chế phẩm và thời điểm đưa chế phẩm vào môi trường nuôi cấy Bột chiết pholyphenol và EGCG trà xanh có tác dụng ức
chế sự phát triển tế bào của dòng tế bào ung thư phổi LU-1 và dòng tế bào ung thư gan Hep-G2, tác dụng rõ nhất trên dùng LU-1 với giá trị IC50 là 3,84 µM
của EGCG trà xanh Bức đầu phát hiện sự tăng hoạt đỗ của enzyme Caspase-3 trên dòng tế bào LU-1 được bổ sung EGCG trà xanh vào môi trường nuôi cấy
Màu vàng trên cánh hoa trà (C chrysantha) do một sắc tố màu vàng, tan trong nước, có thể là 1 loại flavonoids và sắc lạp không chứa carotenoid (Miyajima.1985)
Trang 182.2.2 Nhân gi ống Trà hoa vàng
Các giống trong chi Camellia có thể nhân giống bằng nhiều cách: bằng
hạt, giâm cành, ghép, bó bầu và nhân giống vô tính in vitro Việc gieo hạt ít
sử dụng vì sẽ có hiện tượng phân ly ở thế hệ sau vì vậy việc gieo hạt chỉ sử
dụng để làm gốc ghép là chính
Hiện nay giâm cành chè là phương pháp phổ biến trong nhân giống chè trên thế giới Giâm cành chè được nghiên cứu ở Trung Quốc từ năm 1900 và
Ấn Độ năm 1911, Grudia năm 1928, Srilanca 1938 Việt Nam năm 1938 (ở
miền Nam) bắt đầu nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất
Một số loại trà có thể trồng bằng hạt, thời gian gieo từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9, vùi sâu khoảng 1inch trong đất ẩm Hạt nảy mầm nhanh hơn nếu được
loại bỏ lớp vỏ và ủ ẩm trong khoảng 3 tuần (Atlantic Coast Camellia, 1994)
2.2.3 V ề điều kiện sinh trưởng
Độ pH đất có ảnh hưởng chính đến sự phát triển của trà Phần lớn các
giống trà phát triển tốt trên nền đất chua, pH từ 5,0 đến 5,5, một số giống có ghi nhận khả năng phát triển trên đất pha có mức pH 6
Một số loại trà có thể trồng bằng hạt, thời gian gieo từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9, vùi sâu khoảng 1inch trong đất ẩm Hạt nảy mầm nhanh hơn nếu được
loại bỏ lớp vỏ và ủ ẩm trong khoảng 3 tuần (Atlantic Coast Camellia, 1994)
2.2.4 Công dụng
Các nghiên cứu về Trà đã được thực hiện từ lâu trên thế giới Trong Trà
có khoảng 120-130 hoạt chất thuộc các nhóm đường, pectin, tinh dầu, protein
và axit amin, sắc tố, vitamin, enzyme, chất nhựa, chất hữu cơ và vô cơ, polyphenol, tannin và flavoniod Hợp chất chiếm tỉ trọng lớn nhất và được nghiên cứu nhiều nhất là polyphenol, có hoạt tính chống oxy hóa, 20-35%
trọng lượng khô của lá búp non (Ming Tien - Lu, 2000)
Trang 19Từ lâu trà đã được sử dụng như một phương thuốc đông y, chứa hợp chất catechin có tác dụng lên các bệnh ung thư, béo phì, sỏi thận, bệnh đường tiêu hóa, răng miệng Bên cạnh đó, trà còn có tác dụng giải độc và làm giảm lượng cholesterol Sáu mẫu Trà hoa vàng ở Trung Quốc được Lixia Song và
cộng sự đánh giá khả năng chống oxy hóa của polyphenol, các thành phần catechin trong trà bị biến tính sau phản ứng với DPPH (Vie-BC 26) Hàm lượng catechin chiếm khoảng 30% khối lượng khô và đóng góp 70-80% khả năng chống oxy hóa của trà (Nakamura, 1991)
Các hợp chất EGCG, EGC, ECG… trong dịch chiết từ trà được thử nghiệm in vivo cho thấy khả năng tương tác trực tiếp vào hệ thống enzyme
của tế bào, ngăn chăn và hạn chế quá trình khơi mào, hình thành và phát triển
của tế bào ung thư (Vie_BC 14,22) Các nghiên cứu dịch tễ học ở Nhật đã cho
thấy tỉ lệ nghịch giữa thói quen uống trà xanh và tỉ lệ người chết vì ung thư Tác dụng kìm hãm của polyphenol trong trà đến sự hình thành, phát triển và
di căn của khối u được thực hiện trong các nghiên cứu khác cho thấy, tác
dụng này chủ yếu do hiệu quả chống oxy hóa cao (Vie_BC 18,20) Trà xanh
có khả năng làm ngưng chi trình tế bào, kể cả quá kình nguyên phân của tế bào ung thư, qua đó bảo vệ cơ thể khỏi ung thư Hai cơ chế chính ức chế sự phát triển tế bảo u của EGCG là: ngăn chăn chu kì phân chia tế bào, dừng chu kì phân chia tế bào ở pha G1 và G2; thúc đẩy quá trình apoptosis (Ming Tien - Lu, 2000)
2.2.5 Nh ững nghiên cứu về bệnh hại
Trà là loại cây có giá trị cao, thích nghi tốt với khí hậu phía nam Carolina Các vấn đề thường gặp trên giống trà mai (Camellia sasanqua) và
giống trà Nhật (Camellia japonica) có thể được kiểm soát bằng biện pháp
canh tác thích hợp Ba bệnh nguy hiểm nhất xuất hiện ở Nam Carolina bao
gồm chết dần chồi và loét thân, tàn lụi hoa và thối rễ (Nakamura, Y., 1991)
Trang 20B ệnh tàn lụi hoa (Ciborinia camelliae)
Bệnh gây ra hiện tượng hoa chuyển màu nâu Bệnh xảy ra vào đầu mùa xuân khi độ ẩm cao Triệu chứng ban đầu là những đốm nâu nhỏ, hình dạng bất định xuất hiện trên cánh hoa Những đốm này sớm lan rộng ra toàn bộ bông hoa Bông hoa trên cây nhiễm bệnh khi hóa nâu hoàn toàn thường bị rụng trong vòng 24-48 giờ Bệnh này có thể dễ bị nhầm lẫn với 1 vài nguyên nhân khác cũng gây hại trên cánh hoa trà Vết nâu nhỏ ở viền cánh hoa có thể do ảnh hưởng của ánh
nắng và gió Vùng màu nâu lan nhanh và giữa cánh hoa thì có khả năng là bệnh tàn lụi Nhiệt độ thấp cũng có thể làm nâu hóa hoa trà, các mạch trên cánh hoa
có màu nâu, tối do lạnh là khác biệt so với bệnh tàn lụi (Ninh, T., 2003)
B ệnh thối rễ (Phytophthora cinnamomi)
Triệu chứng ban đầu lá đồng loạt chuyển vàng, chậm phát triển và héo toàn bộ cây Bộ rễ bị nhiễm bệnh không phát triển rễ con và bị biến màu dần
từ nâu đỏ sang nâu sẫm (rễ cây khỏe có màu trắng) Cây bị nhiễm bệnh có thể
chết nhanh nhưng cũng có cây duy trì trạng thái suy yếu trong vài năm Các
giống trà Nhật khá mẫn cảm với bệnh thối rễ, trong khi các giống trà mai là các giống kháng bệnh (Nakamura, Y., 1991)
B ệnh sùi lá (Exobasidium camelliaei)
Bệnh phổ biến trên các giống trà mai hơn các giống trà Nhật Bệnh sùi
lá thường thấy vào mùa xuân trên các đọt lá non Chồi và lá nở rộng, dày và
có vết sưng lên bất thường Màu sắc vết sưng có màu xanh nhạt đến gần trắng
hoặc hồng Sau đó các vết sưng vỡ ở phía mặt dưới của lá để lộ các đám bào
tử màu trắng Vết bệnh sau đó cứng hơn và chuyển màu nâu; tuy nhiên, cây hiếm khi bị tổn thương nghiêm trọng (Nakamura, Y., 1991)
B ệnh mốc xám (Botrytis cinerea)
Bệnh mốc xám là bệnh nấm phổ biến, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây trà Bệnh gây ra các vết đốm ở giữa hoa và làm hoa tàn lụi
Trang 21sớm Nấm B cinerea tạo thành các vòng tròn màu hồng ở mặt trên của hoa
Bệnh phát triển theo mùa, bắt đầu khoảng cuối tháng 4 và kéo dài đến hết mùa Lạnh và ẩm là những điều kiện lý tưởng cho nấm B cinerea sinh
trưởng, phát triển và trở thành trở ngại lớn với chủ vườn
B ệnh tàn lụi cánh hoa (Ciborinia camelliae)
Bệnh đã xuất hiện ở những nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ và các nước Tây Âu Bệnh nấm này lây lan trong không khí, bào tử bán vào hoa trà và
biến chúng thành màu nâu trong vài ngày Khi hoa tàn rụng xuống đất là thời điểm hoàn thành chu kỳ của nấm và sẵn sàng gây bệnh cho vụ sau Biện pháp phun thuốc hầu như không có hiệu quả Việc thu dọn tàn dư cây bệnh chỉ có tác dụng 1 phần vì gió đã lan truyền rộng tới 300 km (Nakamura, Y., 1991)
B ệnh vi rút đốm vàng lá (Camellia leaf yellow mottle vi rút - CLYMV)
Bệnh vi rút đốm vàng lá lây lan qua gốc ghép và cành bị nhiễm bệnh
Bệnh gây ra các vết đốm vàng không có hình dạnh nhất định, đa dạng về kích thước và hình dạng trên lá Một số có thể bị vàng toàn bộ lá, trên hoa bị bệnh
vết đốm xuất hiện có màu trắng
B ệnh muội đen
Bệnh muội đen phát triển trên sản phẩm sót lại được tiết ra bởi rệp mềm
và rệp vảy Để phòng trừ bệnh muội đen, cần phòng trừ rệp trước, sau đó sử dụng dầu trắng hoặc dầu làm vườn để tiêu diệt bào tử muội đen (Ninh, T., 2003)
2.2.6 Biện pháp phòng trừ bệnh hại
Saha và cộng sự (2005) đã nghiên cứu tác động của dịch chiết từ 20 loài cây sử dụng dung môi là cồn và nước lên 4 loài nấm gây bệnh trên cây
Trà (C sinensis) Nhìn chung, dịch chiết của 9 loài cây có khả năng ức chế sự
phát triển nấm bệnh, và dịch chiết cồn cho hiệu quả cao hơn dịch chiết nước Bào tử phân sinh của nấm Pestalotiopsis theae gây bệnh chấm xám bị ức chế
hoàn toàn bởi 2 loài dịch chiết cồn và nước từ cây cà độc dược (Datura
Trang 22metel), t ỏi (Allium sativum), và gừng (Zingiber officinale) Ngoài ra, dịch
chiết nước cây sầu đâu (Azadirnachta indica) và dịch chiết cồn từ cây khúc
khắc (Smilax zeylanica) và cây dương xỉ (Dryopteris filix-mas) cũng cho hiệu
quả tương tự Bào từ nấm (Colletotrichum camelliae) gây bệnh đốm nâu, còn
gọi là cao cành trà, bị ức chế hoàn toàn bởi dịch chiết tỏi với cả 2 loại dung môi cồn và nước Hiệu quả ức chế tương đương với dịch chiết nước dương xỉ
và dịch chiết cồn nghệ và cà độc dược Bệnh thối rễ Botryodiplodia
(Botryodiplodia theobromae) chỉ bị ức chế bởi dịch chiết cồn tỏi (Saha and Saha, 2005)
Đối với bệnh chết dần chồi và loét thân trà
Cần giữ cây khỏe mạnh nhất Trồng cây trên đất chua, thoát nước tốt, tránh làm cây bị thương và bón phân hợp lý Loại bỏ phần bệnh từ sớm bằng cách cắt bỏ một đoạn phía dưới chỗ loét Vệ sinh dụng cụ cắt giữa các lần cắt
bằng dung dịch thuốc tẩy pha loãng 10 lần Thuốc diệt nấm chứa hoạt chất thiophanate-metyl hay gốc đồng có thể sử dụng vào mùa mưa và mùa lá rụng
để bảo vệ lá non không bị nhiễm bệnh qua vết sẹo
Đối với bệnh tàn lụi hoa
Cần giữ vệ sinh tốt, nhổ bỏ và tiêu hủy hoa bị nhiễm bệnh Cào sạch và
loại bỏ toàn bộ lá, hoa và cành cây rơi rụng trên mặt đất Nấm bệnh tồn tại trong đất, bào tử nấm có thể lây lan theo gió Do đó, kiểm soát bệnh đạt hiệu
quả cao khi thực hiện với các ruộng trà khác trong khu vực Phun thuốc diệt
nấm chứa hoạt chất mancozeb cho hoa Tưới đẫm đất xung quanh cây bằng mancozeb hoặc captan đều đặn 2 tuần 1 lần từ cuối tháng 12 đến hết tháng 1
có thể giảm mức độ bệnh
Đối với bệnh thối rễ
Đây là bệnh khó xử lý khi bệnh đã xuất hiện, do đó việc phòng bệnh là
cực kỳ quan trọng Ở những vùng đã xảy ra bệnh, chuyển sang canh tác các
Trang 23giống trà mai hoặc thực hiện ghép trà Nhật lên gốc cây trà mai Mua giống cây khỏe, không có dấu hiệu héo hay lá bị vàng Nấm phát triển mạnh ở
những vùng đất ẩm và thoát nước kém Chọn vùng tiêu nước tốt để canh tác Thuốc diệt nấm chỉ hiệu quả phòng bệnh, cần phun nhắc lại Thuốc có chứa mefenoxam có thể áp dụng trong khu vườn của gia đình, nhưng không có khả năng chữa bệnh
Đối với bệnh sùi lá
Tiến hành nhổ bỏ và tiêu hủy lá bệnh trước khi mặt dưới lá chuyển màu
trắng và phát sinh bào tử, nếu không bệnh sẽ tồi tệ hơn vào năm sau Cào bỏ
và tiêu hủy lá rụng Tránh làm ướt lá khi tưới cây Không khí ẩm, đất ẩm và râm mát là điều kiện lý tưởng cho nấm sinh trưởng, phát triển và gây hại
Kiểm soát bằng thuốc hóa học như mancozeb ít có hiệu quả và cần phải phun phòng trước khi bệnh xảy ra Thời điểm phun từ khi bắt đầu ngắt nụ và tiếp
tục đến qua khoảng thời gian giữa 2 vụ từ 7-12 ngày
Đối với bệnh đốm tảo hại lá (bệnh gỉ đỏ) (Cephaleuros virescens)
Tác nhân gây bệnh đa thực, gây bệnh đốm tảo trên lá trà và nhiều loại cây trồng khác Vết bệnh có thể hình tròn hay dạng lốm đốm, và hơi nhô lên trên bề mặt cây Cạnh của vết đốm có hình sóng hoặc dạng lông Vết đốm có màu sắc thay đổi từ màu xanh xám đến màu nâu xanh nhạt Tuy nhiên, vào mùa hè tảo hình thành bảo tử vô tính, vết đốm trông mịn màng và có nâu đỏ
vì hình thành các bọc bào tử màu đỏ tươi Các bào tử này lan rộng nhờ mưa, nước tưới trên cao và gió Nếu số lượng khuẩn lạc lớn, lá có thể có màu vàng
và rụng sớm Cây thích ứng với điều kiện thời tiết ẩm ướt và cây sức sống kém do điều kiện nghèo dinh dưỡng
Bệnh đốm tảo thường không phải là vấn đề nghiêm trọng Khi bệnh chưa nghiêm trọng cần tiêu hủy cành, lá bị bệnh, cào bỏ và tiêu hủy lá rụng trên bề mặt Khi nhiễm bệnh, vấn đề thường thấy là cây đang bị stress, dó đó
Trang 24cần cải thiện điều kiện sinh trưởng cho cây Đảm bảo cây có đủ ánh sáng mặt trời, nước và phân bón Nếu cần thiết, cải thiện toàn hoàn không khí quanh cây bị ảnh hưởng bằng cách nhổ bỏ và tỉa thưa các cây xung quanh Tránh sử
dụng hệ thống tưới trên cao Khi bệnh nghiêm trọng hơn, có thể sử dụng thuốc có chứa gốc đồng, tiến hành phun 2 tuần 1 lần nếu thời tiết luôn ẩm ướt
2.3 Tình hình nghiên c ứu về cây Trà hoa vàng ở Việt Nam
Việt Nam được xác định là trung tâm phân bố các loài thuộc Camellia
và là một trong hai quốc gia trên thế giới (Việt Nam, Trung Quốc) hiện tại có chè Hoa Vàng trong môi trường tự nhiên
Người đầu tiên nghiên cứu về Camellia ở Việt Nam là L Pierre, trong
cuốn “Flore forestiere de la Cochinchine”, xuất bản năm 1888, tác giả đã mô
tả 6 loài thuộc chi Camellia có ở Việt Nam, trong đó có 2 loài mới, lần đầu tiên được mô tả và định danh, đó là loài Chè bạc (Camellia dormoyana (Pierre) Sealy) và loài Chè hoa Piquet (Camellia piquetiana (Pierre) Sealy)
Tiếp theo là các nghiên cứu của Pitard (1910), Gagnepain (1943), tại
thời điểm này, có 28 loài thuộc chi Camellia được mô tả Đến năm 1991,
trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam”, quyển 1, tác giả Phạm Hoàng Hộ đã thống kê,
mô tả 30 loài thuộc chi Camellia có ở Việt Nam
Từ 1992 đến nay có rất nhiều nhà thực vật trong và ngoài nước nghiên cứu tiếp về Camellia của Việt Nam, nổi bật nhất là Chang Hung Ta (Trung
Quốc); Hakoda (Nhật Bản); Rosmann (Pháp); Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu
Hiền, Đỗ Đình Tiến, Trần Ninh (Việt Nam) và đến nay các nhà khoa học đã
xác định ở Việt Nam có 55 loài thuộc chi Camellia, chiếm khoảng 19% số loài Camellia trên toàn thế giới Trong đó, 22 loài đặc hữu và 11 loài mới cho
khoa học đã được công bố trong 20 năm gần đây, đó là các loài: Camellia bolovenensis (Gagnep.) Chang; Camellia cucphuongensis Ninh; Camellia megasepala Chang; Camellia rosmannii Ninh; Camellia crassiphylla Ninh;
Trang 25Camellia murauchii Ninh; Camellia rubriflora Ninh; Camellia kirinoi Ninh; Camellia huulungensis Ninh; Camellia vidalii Rosmann và Camellia dongnaiensis Kết quả nghiên cứu trên phản ánh tính đa dạng cao và tính tập trung của Camellia ở Việt Nam
2.3.1 V ề phân bố, đặc điểm sinh trưởng, sinh thái, phân loại và nhận biết
Nước ta có mức độ da dạng sinh học cao, bao gồm 58 loài thuộc chi
Trà (Camellia L.) trong đó có 27 loài có hoa màu vàng Chúng được phân bố
chủ yếu ở các khu vực như Vườn Quốc gia Tam Đảo, Cúc Phương và một số khu rừng ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn và Lâm Đồng (Vie-Camellia 5) Tính đến nay, đã ghi nhận 5 loài chè trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh gồm có Camellia rosmannii (Trà hoa vàng Rotman), Camellia
furfuracea (Chè hoa cảm), Camellia euphlebia (Trà hoa vàng Tiên Yên), Camellia gilberti (Trà vàng Gilbec) và Camellia chrysanthoides (Định danh
sơ bộ) (Vie-camellia 5) (Hoa et al, 2016) Ngoài ra còn có một số loài Trà hoa vàng mọc tự nhiên chưa được định danh tại tỉnh Quảng Ninh đang bị khai thác tràn lan Trà hoa vàngcó tác dụng hạ đường huyết, hạ huyết áp, giảm lượng cholesterol, giảm mỡ máu, phòng chống u bướu, tăng cường hệ miễn
dịch (Vie-camellia 2,4) Một số nghiên cứu về thành phần hoạt chất trong một
số loài trà ở Tam Đảo đã được thực hiện (Vie-camellia 3)
Trong nghiên cứu của Hoa và cộng sự (2016), Trà hoa vàng ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh có nhiều đặc điểm tương đồng với loài Camellia
chrysantha phát hiện ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc Trà hoa vàng Ba Chẽ là cây gỗ nhỏ, chồi và cành non có lông mịn, thưa; cành già màu nâu, nhẵn Lá bao chồi hình elip, có từ 7-11 lá, phiến lá rộng 2-5 cm, mặt trong màu hồng
nhạt và nhẵn Cây dạng lá đơn, mọc so le, không có lá kèm, cuống lá ngắn, lõm ở mặt trên, lá bánh tẻ cứng, dày, dài 11-16,5 cm, rộng 4-5,5 cm, mép lá
có răng cưa, mật độ răng cưa tăng từ cuống lá đến ngọn lá Mặt trên lá màu xanh thẫm, bóng, mặt dưới màu nhạt, nhẵn Gân giữa lộ rõ, lõm sâu ở mặt
Trang 26trên, gân bên có khoảng 10 cặp Hoa trà đều, lưỡng tính mọc riêng lẻ ở đầu cành hoặc nách lá, hoa nở rộng, đường kính 4-4,5 cm (Hoa et al, 2016)
Các loài trong chi trà thường là cây bụi, thường xanh, có loài có chiều cao lên đến 20 m Cây có lá đơn, mọc so le, phiến lá dày, bóng, mép lá có răng cưa Hoa đều, lưỡng tính đường kính hoa có thể đạt 12 cm, cuống hoa
ngắn hoặc không có Hoa thường có từ 4-19 cánh, bao quanh nhị và nhụy phía trong Màu hoa đa dạng từ trắng đến hồng và đỏ, màu vàng chỉ có ở phía nam Trung Quốc và Việt Nam Một bông hoa gồm nhiều nhị có chung gốc, vòng
nhị rời nhau, chỉ nhị dài Bầu và vòi nhụy nhẵn hoặc phủ lông, bầu trên có 1-5
ô, vòi nhụy từ 1-5 sợi Quả trà là quả nang, hình cầu dẹt hoặc hình trứng, tự
chẻ thành 3-5 mảnh khi khô Vỏ quả hóa gỗ, có chứa 1 hoặc nhiều hạt trong mỗi ô (Chuyên, 1991; Hộ, 2000; Kế & Hồng, 1974; Mair & Hoh, 2009)
Theo các tài liệu từ điển thực vật thông dụng của Võ Văn Chi, sách Trà hoa vàng của Trần ninh chi Camellia L có đặc điểm sau:
Cây bụi hoặc cây nhỏ, thường xanh, cành nhẵn hoặc có lông, lá có cuống, đơn mọc so le không có lá kèm, chóp lá nhọn có đầu nhọn hoặc kéo dài thành đuôi, góc lá hình nêm hẹp, hay rộng, tròn hay hình tim, mép lá có răng cưa nhọn hoặc tù Hoa đều lưỡng tính, kích thước lớn hoặc nhỏ, mọc đơn độc ở nách lá hoặc đầu cành Hoa màu đỏ, trắng hoặc vàng Cuống hoa ngắn hoặc gần như không có Lá bắc 2-10 mọc xoắn trên cuống hoa Cánh hoa 4-19
hợp một phần ở gốc cùng với vòng nhị ngoài Nhị nhiều dính với nhau ở phía gốc, vòng nhị phía trong dời nhau, chỉ nhị dài Bầu trên 1-5 ô, vòi nhụy 1-5
dạng sợi hoặc dính nhau, bầu và vòi nhụy nhẵn hoặc phủ lớp long mịn Quả nang hình cầu dẹt hay hình trứng, khi khô chẻ ô từ trên xuống thành 3, 4 hay
5 mảnh, có trụ hay không, vỏ quả dày hay mỏng, hóa gỗ Hạt một hay nhiều
hạt trong mỗi ô, hình cầu, nửa cầu hay hình nêm, vỏ hạt màu nâu, nâu hạt dẻ
hoặc nâu hồng, phủ long hay nhẵn
Trang 27Trong điều kiện tự nhiên, cây phát triển dưới tán của cây khác, tránh ánh sáng thực tiếp và có độ ẩm cao
2.3.2 V ề giá trị dinh dưỡng, hoạt chất dược liệu
Bột lá Trà hoa vàng có màu xanh rêu, có mùi thơm đặc trưng Hoạt chất CA3 trong cắn dịch chiết lá Trà hoa vàng có hoạt tính gây độc cho một số dòng tế bào ung thư như ung thư gan, ung thư vú và ung thư trực tràng Kết
quả IC50 trên các dòng thế bào này cho tương ứng 29,95; 25,23; 36,81 µg/ml, nhưng hiệu quả đối với các dòng tế bào ung thư da và ung thư phổi là không cao với giá trị IC50 tương ứng là 64,46 và 53,13 µg/ml Khả năng đánh bắt gốc
tự do DPPH của cắn dịch chiết Trà hoa vàng đạt tỉ lệ thấp 9,31% ở nồng độ
mẫu 10 µg/ml với giá trị SC50 là 43,43 Kết quả này thấp hơn hoa Camellia sinensis do Zi-Ying Yang đánh giá dựa trên cùng phương pháp, giá trị SC50 là
11,6-19,7; khả năng dọn gốc tự do DPPH đạt 40% (Vie-Camellia 15) (Hoa et al., 2016) Tuy nhiên, nghiên cứu của Hoa và cộng sự chỉ đánh gia dịch chiết
lá, trong khi hoa là bộ phận quan trọng và có giá trị cao hơn
Nghiên cứu của Mai Tuyên và cộng sự cho thấy tác dụng chống oxy hóa vượt trội của polyphenol có trong lá trà xanh Việt Nam so với vitamin C và vitamin E (Vie_BC 4) Bột chiết polyphenol và EGCG trà xanh có tác dung ức
chế sự phát triển của dòng tế bào ung thư phổi LU-1 và dòng tế bào ung thư gan Hep-G2, thí nghiệm tiến hành trên tế bào ung thư nuôi cấy in vitro Bước đầu nghiên cứu phát hiện được sự tăng hoạt độ của enzyme caspase-3 trên dòng tế bào LU-1 khi được bổ sung EGCG và môi trường (Vie-BC 1)
2.3.3 Điều kiện sinh trưởng
Ánh sáng
Trà hoa vàng là loại cây ưa ánh sáng tán xạ từ 30 - 50 %,thích hợp với điều kiện phát triển dưới tán rừng, kỵ chiếu sáng mạnh, ánh sáng trực xạ sẽ làm cho chức năng quang hợp của lá bị thay đổi dẫn đến hiện tượng héo sinh
lý, nhất là khi độ chiếu sáng mạnh của mùa hè nhiệt độ tăng đột ngột quá trình
Trang 28quang hợp sẽ bị ngừng trệ ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý bình thường thậm chí phá hoại chất diệp lục lá chuyển sang màu nâu, xuất hiện hiện tượng lão hoá, Ngô Quang Đê, và cộng sự (2008)
Nhi ệt độ
Trà hoa vàng là loài ưa mát không thích hợp với môi trường ánh sáng, nhiệt độ cao Nhiệt độ thích hợp là 23,5 0 C Nhưng các giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau yêu cầu đối với nhiệt độ cũng khác nhau, nhiệt độ cao hay thấp đều có liên quan rất mật thiết đối với sinh trưởng phát triển của Trà hoa vàng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình ra chồi hoa và nụ hoa, là nhân tố quan trọng khống chế sự ra hoa Sinh trưởng mạnh nhất của Trà hoa vàng vẫn yêu cầu khí hậu mát mẻ của Mùa khô và những mùa nhiệt độ cao sinh trưởng
rất chậm, trong thời kỳ ra hoa môi trường nhiệt độ cao hoa khó hình thành
có thể khô héo và chết Nhưng, nếu quá nhiều nước, cây bị úng ngập, sinh trưởng phát triển của cây cũng bị ngừng trệ Quá ẩm ướt, sâu bệnh phát triển
mạnh, cây cho năng suất thấp, chất lượng kém Mỗi loại Trà hoa vàng yêu cầu
độ ẩm khác nhau Trà hoa vàng thích hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa yêu cầu độ ẩm khoảng 81% Lượng mưa trung bình năm là 1.526 mm, cây phát triển tốt ít sâu bệnh, ra hoa đẹp, chất lượng hoa cao
Đất
Đất là một yếu tố môi trường quan trọng cơ bản nhất, là nơi nâng đỡ cây trồng, cung cấp nước, dinh dưỡng cơ bản và không khí cho sự sống của
Trang 29cây hoa Phần lớn các cây hoa yêu cầu đất tốt, nhiều mùn, tơi xốp, thoát nước,
có khả năng giữ ẩm, tầng canh tác dày Nhìn chung Trà hoa vàng thích nghi
và phát triển tốt trên những loại đất Feralit phát triển trên đá mẹ Macmaxit kết tinh chua, đất hơi chua pH =5,17 - 5,63 Đất trồng Trà hoa vàng phải đảm bảo
đủ các yếu tố sau: Đất tơi xốp, đủ ẩm nhưng thoát nước, thông thoáng gió, nhiều mùn, đủ phân bón là phù hợp nhất
2.3.4 Nghiên c ứu về bệnh hại Trà hoa vàng
B ệnh thán thư
Bệnh phổ biến gây hại trên lá, cũng có thể gây tác hại nhất định với
chồi non, chồi và nụ hoa Trường hợp nghiêm trọng có thể khiến chồi bị khô chết Bệnh thường bắt đầu ở đầu lá, mép lá và lan dần vào giữa lá Các tổn thương ban đầu có màu nâu, sau chuyển nâu xám sang màu trắng, với các hạt
nhỏ màu nâu sẫm (thân nấm gây bệnh) rải rác ở mặt trước của lá
Quy luật phát bệnh: bệnh liên quan mật thiết đến nhiệt độ, độ ẩm Thông thường nhiệt độ thích hợp cho bệnh phát triển là 25-28˚C, khi nhiệt độ thích hợp,
độ ẩm tăng, đặc biệt gặp mưa có thể thúc tiến sự lây lan và phát triển dịch bệnh Tháng 4 bắt đầu phát bệnh, tháng 6-8 bệnh lan nhanh, từ tháng 10 trở đi bệnh có
xu hướng ổn định Bệnh cũng có liên quan đến giống: trà hoa vàng quả nhỏ tính kháng bệnh cao hơn, trà hoa vàng nhiều tua tỷ lệ phát bệnh cao hơn
B ệnh khô lá (Phyllosticta sp)
Bệnh phát sinh trên phần non của phiến lá, ban đầu chỉ là những vết
nhỏ màu nâu nhạt, sau đó lan rộng, màu từ nâu nhạt chuyển thành nâu thẫm,
có khi nhiều vết hợp thành ban to, dẫn đến phần lớn phiến lá khô, rụng Bào
tử phân sinh của nấm hình cầu, màu đen, nội sinh phần lớn không màu, đơn bào, mô phân sinh bào tử hình trứng
Quy luật phát bệnh: nấm bệnh tồn tại trên ký chủ, bào tử phát tán nhờ mưa, gió, tưới nước… Phát bệnh vào khoảng tháng 5, tháng 7-9 phát bệnh mạnh
Trang 30Giai đoạn nhiệt độ cao, khô hạn, cung cấp nước không đủ, cây kháng bệnh kém, phạt bệnh nặng Nấm bệnh là loại nấm ký sinh yếu, chỉ khi cây quá non, do nhiệt
độ cao tạo thành vết thương trên lá sau mới hình thành vết ban
B ệnh đốm rong ( Cephaleuros virescens)
Quy luật phát bệnh: mầm bệnh tồn tại trong tổ chức ký chủ qua mùa đông, đến khi gặp điều kiện độ ẩm tốt sẽ sản sinh bào tử du động, bám vào cây mới, nấm bệnh là loại nấm ký sinh thực vật rất yếu, ưa nhiệt độ và độ ẩm cao, khi cây phát triển không tốt, thông gió và ánh sáng kém dễ phát bệnh
2.3.5 Bi ện pháp phòng trừ bệnh hại trên trà hoa vàng
B ệnh thán thư
Bệnh thán thư thời gian phát bệnh mỗi năm dài, bệnh lan rộng, bộ phận
bị hại nhiều, ảnh hưởng lớn đến trà hoa vàng Vì vậy, bắt buộc phải tăng cường các biện pháp phòng trừ bệnh
Con đường lây lan bệnh thán thư là thông qua cây ươm nhiễm bệnh Cách phòng trừ: cây giống vận chuyển từ vùng khác đến bắt buộc phải tiến hành kiểm dịch nghiêm ngặt giống, nếu phát hiện cành nhiễm bệnh lập tức tiêu hủy Trước khi trồng, dùng Phenyl mercuric acetate 0,2 hoặc Thiram 50% pha loãng 1000 lần ngâm trong 24h, đầu xuân phun dung dịch Bordeaux 1%, tháng 6-8 mỗi tháng phun dung dịch Bordeaux 1% thêm nước bã trà 1-2% Khi thiếu nước có thể phun Phenyl mercuric acetate: vôi bột tỷ lệ 1:10
Pha loãng thiophanate 70% 800 lần, phun lên bề mặt lá vào giai đoạn
khởi phát bệnh, 5-7 ngày một lần, phun 3 lần liên tiếp Lượng phun 60 kg/mẫu Bệnh thán thư chủ yếu gây hại lá, quả, mầm non và ngọn non, bệnh không những ảnh hưởng đến cây non (tỷ lệ phát bệnh 33%, tỷ lệ chết cây 15%) mà còn ảnh hưởng đến cây trưởng thành
B ệnh khô lá (Phyllosticta sp)