1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp phát triển ba kích trên địa bàn huyện ba chẽ, tỉnh quảng ninh

83 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 804,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM THẾ HIỀN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BA KÍCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH Ngành: Kinh tế nông n

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM THẾ HIỀN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN BA KÍCH TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên , năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM THẾ HIỀN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN BA KÍCH TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 8 62 01 15 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người Hướng dẫn khoa học: TS Dương Hoài An

\

L ỜI CAM ĐOAN

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là hoàn toàn trung thực, chưa từng được ai sử dụng trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2020

H ọc viên

Ph ạm Thế Hiền

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp

đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong

suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến TS Dương Hoài An đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Kinh tế và PTNT, Phòng Đào tạo, Ban Giám hiệu - Trường Đại học Nông lâm đã tạo điều

kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên trong đề tài còn nhiều thiếu xót, tôi rất mong

nhận được sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành c ảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2020

H ọc viên

Ph ạm Thế Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN i

L ỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu và điều tra: 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu: 3

4 Ý nghĩa của đề tài 3

4.1 Ý nghĩa khoa học 3

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả kinh tế 4

1.1.2 Cơ sở thực tiễn 8

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ba kích Ba Chẽ 9

1.2.1 Các yếu tố tự nhiên thuộc hệ sinh thái và môi trường 9

1.2.2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội 10

1.2.3 Nhóm nhân tố kỹ thuật 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 17

1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả trồng ba kích tại các địa phương 17

1.2.2 Bài học rút ra cho huyện Ba Chẽ 19

Trang 6

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 21

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên – Kinh tế xã hội huyện Ba Chẽ 21

2.1.1 Vị trí địa lý và các yếu tố tự nhiên 21

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26

2.2 Nội dung nghiên cứu 30

2.2.1 Tình hình sản xuất ba kích của huyện Ba Chẽ 30

2.2.2 Đánh giá hiệu quả của cây ba kích Ba Chẽ theo kết quả điều tra 30

2.2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ba kích tại huyện Ba Chẽ 30

2.2.4 Đánh giá chung về tình hình sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ba kích tại huyện Ba Chẽ 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Phương pháp tiếp cận 30

2.3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 30

2.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu và thông tin 30

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 34

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35

2.3.1 Nhóm chỉ tiêu thể hiện điều kiện, khả năng phát triển sản xuất ba kích 35

2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh phát triển sản xuất ba kích theo chiều rộng 35

2.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh phát triển sản xuất ba kích theo chiều sâu 35

2.3.4 Cách tính toán một số chỉ tiêu cụ thể trong nghiên cứu này 35

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Tình hình sản xuất ba kích của huyện Ba Chẽ 37

3.1.1 Khái quát cơ cấu sản xuất ba kích của huyện Ba Chẽ 37

3.1.2 Biến động diện tích, năng suất và sản lượng ba kích huyện Ba Chẽ giai đoạn 2017 – 2019 40

Trang 7

3.2 Đánh giá hiệu quả của cây ba kích Ba Chẽ theo kết quả điều tra 45

3.2.1 Tình hình chung của nhóm hộ nghiên cứu 45

3.2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng ba kích của các hộ điều tra 46

3.2.3 Tình hình đầu tư trong sản xuất cây ba kích tại huyện Ba Chẽ 48

3.2.4 Kết quả và thu nhập từ sản xuất kinh doanh ba kích Ba Chẽ 54

3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ba kích tại huyện Ba Chẽ 55

3.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cây ba kích Ba Chẽ 55

3.3.2 Hiệu quả xã hội và môi trường sản xuất cây ba kích tại huyện Ba Chẽ 57 3.3.3 Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của ba kích tại huyện Ba Chẽ 58

3.4 Đánh giá chung về tình hình sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ba kích tại huyện Ba Chẽ 60

3.4.1 Những mặt đạt được 60

3.4.2 Những mặt còn hạn chế 60

3.4.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của cây ba kích trên địa bàn huyện Ba Chẽ 61

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

1 Kết luận 67

2 Kiến nghị đối với huyện Ba Chẽ 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất của huyện Ba Chẽ giai đoạn 2017-2019 23

Bảng 2.2 Một số thông tin các xã trong vùng nghiên cứu 30

Bảng 2.3: Số hộ chọn điều tra tại 3 xã 30

Bảng 3.1: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành của huyện Ba Chẽ 38

Bảng 3.2: Diện tích, sản lượng một số cây dược liệu chính 38

của huyện Ba Chẽ 38

Bảng 3.3 Cây dược liệu phân theo các xã của huyện Ba Chẽ 40

Bảng 3.4 : Diện tích ba kích của huyện Ba Chẽ qua 3 năm 2017- 2019 41

Bảng 3.5: Diện tích, năng suất, sản lượng ba kích 42

của huyện Ba Chẽ 2017 - 2019 42

Bảng 3.6 Tình hình cơ bản của các hộ được điều tra năm 2019 46

Bảng 3.7 Diện tích, năng suất, sản lượng ba kích của các hộ điều tra 47

Bảng 3.8: Chi phí trồng mới và kiến thiết cơ bản cho 1 ha ba kích 49

ở huyện Ba Chẽ 49

Bảng 3.9: Chi phí đầu vào cho 1 ha ba kích Ba Chẽ ở giai đoạn kinh doanh năm 2019 52

Bảng 3.10: Kết quả sản xuất kinh doanh ba kích Ba Chẽ của các nhóm hộ điều tra (tính trên 1 ha ba kích cho thu hoạch) 54

Bảng 3.11: Hiệu quả kinh tế sản xuất cây ba kích của các nhóm hộ tại huyện Ba Chẽ năm 2019 56

Bảng 3.12: Các yếu tố của ma trận SWOT trong tình hình sản xuất ba kích Ba Chẽ ở hộ nông dân 58

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên đề tài: Đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp phát triển Ba kích

trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

Ngành đào tạo: Kinh tế nông nghiệp

Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thuận lợi nên

có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú và đa dạng Theo kết quả điều tra nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005 của Viện dược liệu (2006) cho biết Việt nam có 3.984 loài thực vật bậc cao, bậc thấp và nấm lớn được dùng làm thuốc để chữa bệnh Cũng theo Võ Văn Chi (2012) đã thống kê ở Việt nam hiện có 4.700 loài thực vật làm thuốc ở nước ta Trong đó có khoảng 30% số loài đặc hữu chỉ có ở Việt nam, không tìm thấy ở nơi khác

Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy các loại cây dược liệu trong tự nhiên đang bị giảm cả về số lượng và chất lượng Điều này xuất phát từ việc khai thác bừa bãi, quá mức của con người, những cây ít có giá trị hoặc chưa được nghiên cứu sử dụng lại bị tàn phá nhường chỗ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; tri thức bản địa về khai thác, sử dụng và bảo tồn các loài cây hữu ích đang bị mai một do không được tư liệu hóa; đặc biệt là sự biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đang diễn ra ngày một nguy hiểm

Là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Ninh, huyện Ba Chẽ là địa phương có nhiều tiềm năng trong việc phát triển các cây dược liệu quý Với diện tích tự nhiên là 60.855,56 ha Là huyện có thế mạnh về rừng và đất rừng (rừng và đất rừng chiếm 90,8% diện tích tự nhiên); cộng thêm đặc điểm địa hình hướng phơi, độ cao, khí hậu, thủy văn, tác động của con người kết hợp với các đặc tính sinh thái của từng loài đã tạo nên sự đa dạng của hệ thực vật

Trang 10

tại huyện Ba Chẽ, đặc biệt là tài nguyên cây thuốc Trong đó, Ba kích được coi là loài có giá trị sử dụng tốt nhất, mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân

Ba kích huyện Ba Chẽ có chất lượng tốt nhất tại Quảng Ninh có giá từ 1,5 – 1,7 triệu đồng/ kg khô (05 kg tươi được 01 kg khô) Suốt một thời gian dài, Ba kích mọc hoang, phân bổ nhiều ở vùng đồi núi thấp huyện Ba Chẽ, tuy nhiên phần lớn là khai thác tự nhiên, bừa bãi thiếu khoa học nên số lượng Ba kích còn lại rất ít Bên cạnh đó, diện tích phân bố tự nhiên của loài cây này cũng bị thu hẹp do người dân phát nương, làm rẫy, thay thế rừng tự nhiên bằng rừng trồng dẫn đến hệ lụy là rừng bị tàn phá và nghèo nàn thảm thực vật dưới tán rừng khiến chi Ba kích lâm vào tình trạng gần như tuyệt chủng và được đưa vào sách đỏ Việt nam cần được bảo vệ

Xuất phát từ thực tiễn trên tôi tiến hành thực hiện luận văn: “Đánh giá

hiệu quả và đề xuất giải pháp phát triển Ba kích trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” nhằm đóng góp các thông tin cơ bản về hiệu quả

cũng như các đặc điểm sinh thái, sinh học của loài Ba kích, từ đó góp phần bảo tồn cũng như phát triển loài cây thuốc quý này tại địa phương huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

- Góp phần hệ thống hoá về cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh

tế, nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ba kích

- Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất cây ba kích trên địa bàn huyện Ba Chẽ năm 2017 - 2019

- Phân tích những thuận lợi, khó khăn trong việc sản xuất và nâng cao hiệu quả cây ba kích

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây ba kích tại huyện Ba Chẽ

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu và điều tra:

- Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến phát triển cây Ba Kích, hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất cây ba

4 Những đóng góp mới của đề tài

Huyện Ba Chẽ là một huyện mà ngành trồng trọt được xem là ngành mũi nhọn Đã từ lâu các hộ gia đình vẫn áp dụng việc trồng xen nhiều loại cây với nhau Cây ba kích Ba Chẽ với những giá trị mà nó đem lại đã và đang ngày càng được phát triển với số lượng và diện tích ngày càng tăng Qua quá trình điều tra, khảo sát và kết quả phân tích được trình bày ở những chương trước, ta thấy tình hình sản xuất của cây ba kích Ba Chẽ có một số điểm sau:

- Khái quát cơ cấu sản xuất ba kích của huyện Ba Chẽ

Trong những năm gần đây, thấy được hiệu quả kinh tế trồng ba kích cao hơn hẳn một số cây trồng khác Nhiều hộ nông dân đã mạnh dạn đầu tư chăm sóc, phát triển cây ba kích, nhiều diện tích trồng cây lương thực: khoai, sắn đã được chuyển sang trồng ba kích Có thể khẳng định cây ba kích ngày càng có vị trí quan trọng trong kinh tế hộ Đối với diện tích ba kích trồng mới tốc độ tăng bình quân qua 3 năm 43,75% Cụ thể năm 2018 diện tích ba kích trồng mới là

8 ha, tăng 4 ha tức là tăng 100% so với năm 2017 Nhưng đến năm 2019 diện tích ba kích trồng mới giảm đạt 7 ha, giảm 1 ha tức là giảm lên 12,5% so với năm 2018 Đối với diện tích ba kích kiến thiết cơ bản tốc độ tăng bình quân qua 3 năm giảm 18,65% Cụ thể năm 2017 diện tích ba kích kiến thiết cơ bản

là 16,9 ha; Năm 2018 là 12,45ha Đến năm 2019 diện tích ba kích kiến thiết

Trang 12

cơ bản là 18,27ha

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thuận lợi nên

có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú và đa dạng Theo kết quả điều tra nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005 của Viện dược liệu (2006) cho biết Việt Nam có 3.984 loài thực vật bậc cao, bậc thấp và nấm lớn được dùng làm thuốc để chữa bệnh Cũng theo Võ Văn Chi (2012) đã thống kê ở Việt nam hiện có 4.700 loài thực vật làm thuốc ở nước ta Trong đó có khoảng 30% số loài đặc hữu chỉ có ở Việt nam, không tìm thấy ở nơi khác

Là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Ninh, huyện Ba Chẽ là địa phương có nhiều tiềm năng trong việc phát triển các cây dược liệu quý Với diện tích tự nhiên là 60.855,56 ha Là huyện có thế mạnh về rừng và đất rừng (rừng và đất rừng chiếm 90,8% diện tích tự nhiên); cộng thêm đặc điểm địa hình hướng phơi, độ cao, khí hậu, thủy văn, tác động của con người kết hợp với các đặc tính sinh thái của từng loài đã tạo nên sự đa dạng của hệ thực vật tại huyện Ba Chẽ, đặc biệt là tài nguyên cây thuốc Trong đó, Ba kích được coi là loài có giá trị sử dụng tốt nhất, mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân

Ba kích huyện Ba Chẽ có chất lượng tốt nhất tại Quảng Ninh có giá từ 1,5 – 1,7 triệu đồng/ kg khô (05 kg tươi được 01 kg khô) Suốt một thời gian dài, Ba kích mọc hoang, phân bổ nhiều ở vùng đồi núi thấp huyện Ba Chẽ, tuy nhiên phần lớn là khai thác tự nhiên, bừa bãi thiếu khoa học nên số lượng Ba kích còn lại rất ít Bên cạnh đó, diện tích phân bố tự nhiên của loài cây này cũng bị thu hẹp do người dân phát nương, làm rẫy, thay thế rừng tự nhiên bằng rừng trồng dẫn đến hệ lụy là rừng bị tàn phá và nghèo nàn thảm thực vật dưới tán rừng khiến chi Ba kích lâm vào tình trạng gần như tuyệt chủng và được đưa vào sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ

Do vậy việc phát huy hiệu quả và nghiên cứu gây trồng cây Ba kích đang được coi là hướng đi chủ đạo, góp phần bảo tồn, phát triển nguồn gen

Trang 14

dược liệu quý đồng thời giải quyết việc làm, tạo nguồn thu nhập cho người dân Biết được hiệu quả trên, một số cơ quan nghiên cứu đã có những thử nghiệm bước đầu về nhân giống đối với cây Ba kích; Thực hiện Quyết định

số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 (ưu tiên phát triển Ba Kích), tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo các cơ

quan chức năng tham mưu xây dựng Quy hoạch phát triển cây Ba Kích (Quy

hoạch vùng nguyên liệu; cơ sở sản xuất giống; cơ sở chế biến tiêu thụ sản phẩm) Tuy nhiên, do tỉnh còn thiếu thông tin về thực trạng công nghệ sản

xuất giống, kỹ thuật trồng, vùng trồng nguyên liệu, chế biến, thị trường tiêu thụ… nên đến nay tỉnh Quảng Ninh vẫn chưa xây dựng được Quy hoạch phát triển bền vững cây Ba Kích Để định hướng cho việc phát triển cây Ba Kích, ngày 27/5/2014, Ủy ban nhân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành công văn số 2802/UBND-NLN1 về việc tạm thời chấp thuận phương án vùng trồng Ba

Kích tập trung (Hoành Bồ là 200 ha; Ba Chẽ là 616 ha)

Xuất phát từ thực tiễn trên tôi tiến hành thực hiện luận văn: “Đánh giá

hiệu quả và đề xuất giải pháp phát triển Ba kích trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” nhằm đóng góp các thông tin cơ bản về hiệu quả

cũng như các đặc điểm sinh thái, sinh học của loài Ba kích, từ đó góp phần bảo tồn cũng như phát triển loài cây thuốc quý này tại địa phương huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

- Góp phần hệ thống hoá về cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh

tế, nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ba kích

- Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất cây ba kích trên địa bàn huyện Ba Chẽ năm 2017 - 2019

- Phân tích những thuận lợi, khó khăn trong việc sản xuất và nâng cao hiệu quả cây ba kích

Trang 15

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây Ba kích tại huyện Ba Chẽ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu và điều tra:

- Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến phát triển cây Ba Kích, hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất Ba

Đề tài nghiên cứu những nội dung về tình hình sản xuất, hiệu quả kinh

tế và các giải pháp phát triển cây Ba Kích tại huyện Ba Chẽ

4 Ý nghĩa của đề tài

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả kinh tế

1.1.1.1 Các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh

tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất

xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế

Xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế

Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế Ngày nay, quan điểm này không còn phù hợp, bởi vì nếu cùng một kết quả xuất phát từ hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng một hiệu quả

Quan điểm thứ hai: Hiệu quả xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả kinh tế sẽ cao khi nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó cao Nhưng chi phí hoặc nguồn lực được sử dụng tăng nhanh vì sao? Hơn nữa, điều kiện sản xuất hiện tại khác với năm trước, yếu tố bên trong bên ngoài của nền kinh tế bị ảnh hưởng cũng khác nhau Do đó, quan điểm này chưa thỏa đáng

Quan điểm thứ ba: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm đó được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị được đánh giá toàn diện từ ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường

Trang 17

Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy rằng hiệu quả là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế và quản lý Hơn nữa việc xác định hiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp về lý luận và cả thực tiễn Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất

và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Muốn vậy, sản xuất không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

Quan điểm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thoả mãn vấn

đề tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo

vệ môi trường Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn diện cả ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Do đó khi xem xét hiệu quả kinh tế chúng ta phải xem xét trên tất cả các góc độ để có cái nhìn toàn diện, chính xác, tùy theo mục đích và yêu cầu nghiên cứu (Đỗ Kim Chung, 2009)

1.1.1.2 Nội dung và bản chất hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế chung nhất, có liên qua trực tiếp đến nền sản xuất hàng hóa và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác

Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra

Một giải pháp kỹ thuật quản lý có hiệu quả kinh tế cao là phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư

Từ khái niệm chung đó cần xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế Đây là phần phức tạp, còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất Tuy nhiên nhiều nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả kinh tế là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các tài nguyên

Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế trong điều kiện cụ thể, trong giai đoạn nhất định Việc nâng cao hiệu

Trang 18

quả kinh tế là mục tiêu chung và xuyên suốt trong mọi thời kỳ, tiêu chuẩn là lựa chọn đánh giá bằng định lượng theo tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng khác nhau

Mặt khác tùy thuộc vào nội dung của hiệu quả mà có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế quốc dân và hiệu quả xắ nghiệp Vì vậy nhu cầu thì đa dạng, thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất Mặt khác nhu cầu còn nhiều loại: nhu cầu tối thiểu, nhu cầu khả năng thanh toán và nhu cầu theo ước muốn chung Có thể coi thu nhập tối đa trên đơn

vị chi phắ là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay

Đối với toàn xã hội thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là khả năng thỏa mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra, trong nền kinh tế thị trường còn đòi hỏi yếu tố chất lượng và giá thành đáp ứng khả năng cạnh tranh Đối với doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh

tế thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế phải là thu nhập tối đa trên chi phắ hoặc công lao động bỏ ra (Đỗ Kim Chung, 2009)

1.1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh tế

a, Phân loại theo nội dung và bản chất

Có thể xem xét hiệu quả kinh tế theo nhiều góc độ khác nhau tương đối sau: Hiệu quả kinh tế là thể hiện mối tương quan đạt được về mặt kinh tế với chi phắ bỏ ra ra để đạt kết quả đó

Hiệu quả xã hội: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả đạt được tổng hợp trong ở các lĩnh vực kinh tế và trong xã hội với các chi phắ bỏ ra để đạt đýợc kết quả đó nhý: bảo vệ môi trýờng, lợi ắch công cộng, trật tự xã hộiẦ

Hiệu quả phát triển: Thể hiện sự phát triển của công ty, của vùng, đây

là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như tình hình đời sống, dân trắ của công dân, nhân dân, phát triển cơ sở hạ tầng, sự phát triển sản xuất của cả vùngẦ

Hoạt động kinh tế luôn luôn nhằm đạt được mục đắch kinh tế và mục

Trang 19

đích xã hội Mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội luôn gắn với nhau Hiệu quả kinh tế xem xét dưới góc độ là kết quả sản xuất gồm các chỉ tiêu kinh tế như tổng giá trị sản phẩm, tổng chi phí, tổng sản lượng, thu nhập, lợi nhuận…Hiệu quả xã hội được đánh giá thông qua các chỉ tiêu về giải quyết công ăn việc làm, bảo vệ môi trường, an ninh chính trị xã hội… trong thời kỳ trước mắt cũng như lâu dài

Hiệu quả phát triển được đánh giá thông qua các chỉ tiêu về tốc độ phát triển, mức độ tái sản xuất mở rộng, sự tăng trưởng về kinh tế xã hội

Trong các loại hiệu quả thì hiệu quả kinh tế cho là quan trọng nhất và quyết định nhất Hiệu quả kinh tế chỉ được đánh giá đầy đủ và đúng đắn nhất khi có sự liên kết hài hòa của hiệu quả xã hội và hiệu quả phát triển (Đỗ Kim Chung, 2009)

b, Phân loại hiệu quả kinh tế theo phạm vi đối tượng xem xét

Phạm trù này được đề cập đến mọi đối tượng của nền sản xuất xã hội như các ngành địa phương, các ngành sản xuất đến một phương án sản xuất hay một quyết định quản lý… Có thể phân loại phạm trù hiệu quả kinh tế theo phạm vi và đối tượng xem xét như sau:

Hiệu quả kinh tế quốc dân: là hiệu quả kinh tế tính chung trong toàn bộ nền sản xuất xã hội

Hiệu quả kinh tế ngành là hiệu quả tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất như ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ…, trong nông nghiệp được chia thành hiệu quả kinh tế cây công nghiệp, hiệu quả kinh tế cây lương thực, hiệu quả kinh tế chăn nuôi gia súc, gia cầm…

Hiệu quả kinh tế theo vùng lãnh thổ: tính theo từng vùng, khu vực và địa phương (từng tỉnh, từng huyện)…

Hiệu quả kinh tế của từng quy mô sản xuất - kinh doanh như hộ gia đình, HTX, nông trường quốc doanh, công ty, tập đoàn sản xuất

Hiệu quả kinh tế của từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố chi phí đầu tư

Trang 20

vào sản xuất như biện pháp giống, chi phí phân bón, chi phí bảo vệ thực vật…

c, Phân loại hiệu quả kinh tế theo các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất

- Hiệu quả sử dụng đất

- Hiệu quả sử dụng lao động

- Hiệu quả sử dụng vốn

- Hiệu quả ứng dụng công nghệ

- Hiệu quả sử dụng biện pháp kỹ thuật (Đỗ Kim Chung, 2009)

1.1.2 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật sản xuất cây Ba kích

* Đặc điểm kinh tế cây ba kích

Đời sống kinh tế của cây Ba kích tương đối ngắn, khoảng 5 -7 năm là

có thể thu hoạch Do vậy những biện pháp cơ bản trong khâu trồng mới: Chọn giống, làm đất, bón phân, cải tạo đất cũng như các giải pháp về chính sách kinh tế tác động đến cây ba kích là rất quan trọng, nếu làm tốt thì cây Ba kích

sẽ có khả năng làm cho năng suất cao, ổn định và chất lượng tốt

* Ba kích cần lượng vốn đầu tư thấp

Vì thế để phát triển ba kích đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú trọng từ những khâu đầu tiên, áp dụng những chính sách đầu tư hợp lý, loại

bỏ dần những phong tục tập quán trồng Ba kích lạc hậu… Để tạo ra được những sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu tư sản xuất trong và ngoài nước Nếu coi cây Ba kích là cây trồng mũi nhọn thì cần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm Ba kích góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân trồng ba kích

* Đặc điểm kỹ thuật cây Ba kích

Ba kích là cây dây leo bằng thân quấn, hóa gỗ ít, phân cành nhiều Rễ nạc dài, có nhiều ngấn giống ruột gà Thân và cành lúc non có lông, khi già thì nhẵn Lá có cuống ngắn, mọc đối, phiến lá thuôn hình bầu dục, nhọn hai đầu, dài 6 - 14cm, rộng 3 - 6 cm Lá kèm hình ống mỏng, ôm sát thân Cụm hoa

Trang 21

dạng tán, mọc ở đầu cành, cuống cụm hoa dài 0,5 - 3cm, có nhiều lông Hoa nhỏ màu trắng ngà, đài hình chén gồm những lá đài không bằng nhau Nhị 4, bầu hạ, thường có 2 ô, vòi nhụy rất ngắn Quả hạch hình cầu nhỏ, mọc rời hoặc đính nhiều quả với nhau, khi chín màu đỏ cam Hạt màu vàng, vỏ hạt nhám

Ba kích là cây ưa ẩm và chịu bóng khi còn nhỏ Trong tự nhiên thường mọc ở trong rừng thứ sinh phục hồi, các đồi cây bụi hoặc trên đất bỏ hoang lâu ngày Cây thường phân bố tự nhiên ở độ cao từ 300 - 900m, nơi có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 230C, lượng mưa trên 2000mm/năm Ba kích có phân bố trên nhiều loại đất khác nhau như feralit đỏ vàng, vàng đỏ, đất mùn trên núi; môi trường đất từ trung tính đến hơi chua Cây sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm, trong mùa đông thường rụng lá nhưng không nhiều; ra hoa nhiều hàng năm, nhưng đậu quả ít và chu kỳ sai quả không đều Tái sinh từ hạt và chồi tốt

Hình thái cây ba kích tím phân bố tại Quảng Ninh là cây dây leo, sống nhiều năm, thân non màu tím, có lông, cành non có cạnh Lá mọc đối, cứng nhọn, hình ngọn giáo thuôn dài 6-14cm, rộng 2,5-6cm, lúc non màu xanh, có lông dài ở mặt dưới, sau đó ít lông và có màu trắng mốc; lá kèm hình ống Hoa nhỏ, màu trắng sau hơi vàng, 2-10 cánh hoa, 4 nhị, mọc thành cụm ở kẽ

lá, đầu cành Quả tròn, khi chín màu đỏ, có tác dụng tốt cho sức khỏe con người và xử dụng rộng rãi trong các ngành chế biến dược phẩm

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây

B a kích Ba Chẽ

1.1.3 1 Các yếu tố tự nhiên thuộc hệ sinh thái và môi trường

Ở Việt Nam, thị trường cây dược liệu ngày càng sôi động với nhiều loại cây thuốc được đầu tư phát triển Tuy nhiên, chúng ta biết rằng, “đất nào cây ấy”, mỗi loại cây trồng lại phù hợp với điều kiện sinh thái khác nhau

Để nâng cao hiệu quả kinh tế của cây ba kích Ba Chẽ lâu dài thì trong quá trình sản xuất các hộ nông dân trên cơ sở tận dụng các mặt có lợi của địa phương

Trang 22

phải tích cực cung cấp chất dinh dưỡng, cải tạo chất lượng của đất trồng Đất đai

là tư liệu sản xuất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và cây ba kích Ba Chẽ nói riêng Đất đai là yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng, chất lượng sản phẩm

Các hộ gia đình trồng ba kích phải thay đổi suy nghĩ, có cái nhìn tổng quát để có những định hướng phát triển rõ ràng, áp dụng các khoa học công nghệ trên cơ sở bảo vệ hệ sinh thái và môi trường (Lê Lâm Bằng, 2008)

1.1.3 2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội

a Thị trường tiêu thụ

Kinh tế học đã chỉ ra 3 vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu, buộc người sản xuất phải trả lời cho được, để trả lời câu hỏi này người sản xuất tìm kiếm thị trường, tức là xác định được nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường đối với hàng hoá mà họ sẽ sản xuất ra được người tiêu dùng chấp nhận ở mức độ nào, giá cả có phù hợp hay không, từ đó hình thành mối quan hệ giữa cung và cầu một cách toàn diện Khi bắt tay vào sản xuất sản phẩm thì người sản xuất phải xác định được quy trình sản xuất cụ thể, sản xuất như thế nào để tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, các khâu trong quá trình sản xuất và tiêu thụ phải có mối liên kết chặt chẽ với nhau Cuối cùng là vấn

đề sản xuất cho ai? ở đây muốn đề cập tới khâu phân phối Hàng hoá sản xuất

ra được tiêu thụ như thế nào? ai là người được hưởng lợi ích từ việc sản xuất

đó, cụ thể là bao nhiêu? Có như vậy mới kích thích được sự phát triển sản xuất có hiệu quả

Khi kinh tế càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng thì sản phẩm hàng hóa trên thị trường càng có tính cạnh tranh cao Với điều kiện

tự nhiên thuận lợi cho ba kích phát triển, nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng thì việc phát triển và đưa ba kích trở thành sản phẩm quan trọng trên cơ sở chính sách kinh tế có tác dụng như đòn bẩy mạnh mẽ, là một yêu cầu cấp bách trong

Trang 23

giai đoạn hiện nay

b Giá cả

Thực tế cho thấy rằng, thực hiện cơ chế thị trường, sự biến động của cơ chế thị trường ảnh hưởng lớn đến đời sống của người sản xuất Do đó, việc ổn định giá cả và mở rộng thị trường tiêu thụ ba kích là hết sức cần thiết cho sản phẩm ba kích góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành nông nghiệp

Để ổn định giá cả và mở rộng thị trường ba kích, một yếu tố cần thiết là thị trường đầu ra Cần có một đầu ra ổn định để ba kích phát huy hết giá trị của một sản phẩm đã có thương hiệu, nâng cao hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó thị trường đầu vào cũng ảnh hưởng hưởng tới kết quả sản xuất cây ba kích, đó là: giá các yếu tố đầu vào như: giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vốn sản xuất và lao động, có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển sản xuất, hình thành giá cả sản phẩm, là nhân tố trực tiếp làm thay đổi trạng thái sản xuất, nâng cao chất lượng và khối lượng sản phẩm quả, gây tác động lớn tới kết quả và hiệu quả kinh tế (Lê Lâm Bằng, 2008)

c Vốn

Trong sản xuất ba kích, vốn luôn là yếu tố không thể thiếu và nó mang tính quyết định đến kết quả và hiệu quả trong sản xuất Hơn nữa, vốn giúp cho các hộ sản xuất cây ba kích có điều kiện thâm canh, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, trên cơ sở đó mới có điều kiện giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế Trong giai đoạn kiến thiết cơ bản và giai đoạn kinh doanh đều cần vốn để đầu tư sản xuất, mặt khác chu kỳ sản xuất ba kích không quá dài nên sự thu hồi vốn là khá nhanh, dẫn đến nông hộ sẽ ít gặp khó khăn về vốn Do vậy muốn phát triển nhanh về diện tích, quy mô trồng cây ba kích đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn như: cho vay với lãi suất ưu đãi, trợ giá cây giống, phân bón,

d Lao động

Trang 24

Con người là tác nhân quan trọng trong mọi quá trình sản xuất Đặc biệt trong sản xuất ba kích đòi hỏi con người phải có kinh nghiệm sản xuất, trình

độ kỹ thuật, trình độ học vấn để áp dụng đúng kỹ thuật chăm sóc, bón phân, phòng chống sâu bệnh hại nhằm tăng năng suất cũng như chất lượng ba kích Hơn thế, con người phải nắm bắt được nhu cầu thị trường để ra những quyết định sản xuất hợp lý từ đó cung cấp được sản phẩm phù hợp với thị hiếu và đáp ứng được nhu cầu của thị trường Do vậy, người trồng ba kích phải có kinh nghiệm sản xuất, nhạy bén và năng động

e Chính sách, pháp luật của Nhà Nước

Các chính sách của Đảng và Nhà nước đã đóng góp một phần quan trọng vào thành tựu của đất nước nói chung, lĩnh vực nông nghiệp nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay chưa có chính sách ưu đãi riêng cho ngành hàng rau quả Sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau, quả chỉ được hưởng những chính sách dành cho ngành nông nghiệp nói chung Ví dụ như: Chính sách về đất đai, Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP, Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, các chính sách

về tín dụng,… Nhìn chung, những chính sách khuyến khích phát triển sản xuất đã tác động tích cực đến ngành nông nghiệp, trong đó có ngành hàng rau quả và tạo nên những bước biến đổi lớn, từng bước hình thành các vùng sản xuất cây dược liệu tập trung

Như vậy, các chính sách pháp luật của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn

để phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất cây ba kích (Lê Lâm Bằng, 2008)

1.1.3 3 Nhóm nhân tố kỹ thuật

- Giống ba kích: Ba kích là loại cây trồng có chu kỳ sản xuất trung bình,

giống ba kích tốt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sản xuất Do vậy, việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng vùng sản xuất được các nhà khoa học và người sản xuất quan tâm từ rất sớm Tuy giống ba kích Ba Chẽ mang tính chất địa lý nhưng để sản phẩm đạt năng suất, chất lượng cao thì

Trang 25

người sản xuất phải chọn lựa giống cẩn thận, chọn giống có năng suất cao, không sâu bệnh, ổn định, phẩm chất tốt Bởi vậy chọn giống tại trung tâm giống

ba kích của huyện sẽ giúp người dân có những giống ba kích tốt và chọn lọc kỹ càng

Ba kích có thể nhân giống từ hạt, hom và nuôi cấy mô

- Nhân giống từ hạt:

Theo Nguyễn Tập (2007), chọn cây mẹ lấy hạt và hom từ 3-5 tuổi trở lên, cây sinh trưởng phát triển tốt, không sâu bệnh, ra hoa kết quả đều Hàng năm vào cuối tháng 10 - 11, khi quả đã chín đỏ thì tiến hành thu hái Quả chín thu hái về ủ 2-3 ngày cho mềm vỏ để chế biến lấy hạt, chà xát, đã bỏ phần thịt quả và hạt lép, vớt ra phơi trong nắng nhẹ cho ráo vỏ sau đó gieo ngay Trộn hạt Ba kích với cát vàng theo tỷ lệ 1 hạt + 3 cát ủ trong túi vải và tưới ẩm hàng ngày Sau 17-25 ngày, hạt nứt nanh thì đem cấy vào bầu, tỷ lệ nảy mầm đạt cao nhất tới 91%, sau 35-45 ngày cây mầm nhú lên khỏi mặt đất Ngoài

ra, Ba kích cũng có thể nhân giống bằng phương pháp giâm hom, chọn những cành bánh tẻ dưới 1 năm tuổi, cắt thành đoạn 6 - 8cm, chấm vào thuốc kích thích ra rễ và cấy vào bầu Tuy nhiên, thuốc kích thích ra rễ và nồng độ chưa được tác giả nêu rõ

Nguyễn Chiều (1999) đã nghiên cứu sản xuất giống cây ba kích từ hạt:

Quả chín đỏ hái về loại bỏ quả thối và tạp chất rồi ủ cho đến khi thịt quả chín

nhũn ra thì đãi lấy hạt Loại bỏ hạt lép, hạt thối sau đó hong khô hạt đến khối lượng không đổi (1.000 hạt: 10g) Đem gieo thí nghiệm

- Nhân giống từ hom:

Nguyễn Chiều (1999), Nghiên cứu sản xuất giống từ hom thân ba kích,

Các công thức thí nghiệm xử lý hom giống bằng chế phẩm của Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia – Viện Công nghệ sinh học Kết

quả cho thấy hom không ra rễ chỉ sống tối đa 33 ngày, tỷ lệ hom ra rễ cao

nhất 48,75% Những hom ra rễ tiếp tục cấy vào bầu sau 73 ngày mới có hom đầu tiên ra chồi

Trang 26

- Để cải thiện hệ số nhân giống và chất lượng giống cây ba kích, một

số tác giả đã nghiên cứu sử dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

+ Võ Châu Tuấn và Huỳnh Minh Tư (2010), đã nghiên cứu đưa ra quy

trình nhân giống invitro cây ba kích như sau: Giai đoạn vào mẫu, sử dụng đoạn

thân 1-1,5 cm có mắt lá của cây ba kích 1 năm tuổi huyện Tây Giang - Quảng Nam ngâm trong dung dịch thuốc diệt nấm (0,3%) khoảng 15 phút sau đó khử trùng bằng cồn 700 trong 60 giây, khử tiếp bằng HgCl2 0,1% trong 7 phút, tái sinh chồi cơ bản trên môi trường MS bổ sung 0,25 mg/l Kinetin + 30 g/l đường sacharose + 8 g/l agar Nhân nhanh trên môi trường MS + 3,5 mg/l BA + 0,2 mg/l IBA+ 30 g/l đường sacharose + 8 g/l agar đạt 15 chồi/mẫu cấy Chồi được tạo rễ trên môi trường MS bổ sung IBA hoặc NAA, hình thành rễ tốt nhất trên

môi trường MS bổ sung 0,2 - 0,25 mg/l IBA Cây in vitro đưa ra nhà lưới 97,9%

cây sống và thích nghi với điều kiện tự nhiên, giá thể phù hợp là đất cát pha

+ Hoàng Thị Thế, Nguyễn Thị Phương Thảo, Ninh Thị Thảo, Nguyễn Thị

Thuỷ (2013), đã đưa ra quy trình nhân giống invitro cây ba kích như sau: Giai

đoạn vào mẫu là đoạn thân mang mắt ngủ khử trùng bằng Ca(ClO)2 10% trong thời gian 15 phút và HgCl2 trong thời gian 5 phút Trên môi trường MS + 0,25 mg/l kinetin + 1,0 mg/l BA, 96,6% đoạn thân ba kích cảm ứng tạo chồi sau 30 ngày nuôi cấy Hệ số nhân chồi đạt cao nhất (10,13 lần) sau 45 ngày nuôi cấy trên môi trường MS + 3,0 mg/l BA + 0,2 mg/l IBA + 10 mg/l Riboflavin Môi

trường thích hợp để cảm ứng tạo rễ cho chồi in vitro là 1/2 MS + 0,2 mg/l IBA +

0,4 g/l than hoạt tính Tỷ lệ chồi tạo rễ đạt 100%, số rễ trung bình đạt 3,5 rễ/chồi

sau 30 ngày nuôi cấy Cây in vitro sau tạo rễ 35 ngày thích hợp nhất để chuyển

ra trồng ở vườn ươm Trên giá thể hữu cơ gồm 50% bột dừa và 50% phế liệu sản xuất nấm ăn, tỷ lệ cây sống cao (96,1% sau 60 ngày), cây sinh trưởng phát triển tốt

- Làm đất: Đối với đất trồng mới cần làm đất cẩn thận trước khi thực

hiện sản xuất ba kích Ba Chẽ Trong quá trình làm đất cần loại bớt cỏ dại, xử

lý đất bằng vôi bột, belate, basudin và quan trọng là phải thiết kế thoát nước

Trang 27

giữa các băng luống Bởi vì thời tiết khắc nghiệt, lũ lụt nhiều nên khi làm đất cần làm đúng quy trình để tránh ngập úng trong quá trình sản xuất

- Khoảng cách và mật độ trồng: Để năng suất cao cần đảm bảo mật độ

và khoảng cách trồng ba kích thích hợp Mật độ trồng tuỳ thuộc vào phương thức trồng (trồng thuần hay trồng xen dưới tán), độ dốc của đất, độ dầy của tầng đất, độ phì của đất, khả năng chăm sóc

+ Đối với trồng dưới tán cây (cây ăn quả trong vườn hộ, cây rừng tự nhiên, cây rừng trồng) Mật độ trồng khoảng 1000 – 4500 cây/ha

+ Đối với trồng thuần trong điều kiện đất dốc trên 10 độ đến dưới 250,

có đủ điều kiện tưới và thoát nước tốt Mật độ khoảng 2500 – 5000 cây/ha

+ Đối với đất có độ dốc dưới 10 độ, đất tốt, tầng đất dầy, thoát nước với điều kiện chăm sóc tốt: Mật độ trồng khoảng 5500 – 8.000 cây/ha Bên cạnh

đó cần trồng thêm các cây chắn gió, chắn nắng, đây chính là những đai rừng chắn gió mạnh thường xuyên gây hại cho quá trình phát triển của cây ba kích

và chắn nắng từ phía Tây ảnh hưởng trực tiếp tới mẫu mã cũng như chất lượng sản phẩm

- Thời vụ và cách trồng: Thời vụ trồng tốt nhất vào vụ xuân, khoảng

tháng 2 đến tháng 3, có thể trồng vào vụ thu, tháng 9, 10

- Chăm sóc: Trong quá trình chăm sóc bón phân cho ba kích là một

biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng sự sinh trưởng của cây ba kích, tăng năng suất và chất lượng ba kích Trước khi trồng ba kích 1 - 2 tháng cần bón lót để cung cấp chất dinh dưỡng cho đất, khi cây con từ năm thứ hai trở đi thì bắt đầu bón thúc cho cây Các đợt bón phân nên tiến hành làm cỏ sạch sẽ Chính vì vậy, để đảm bảo cho cây ba kích sinh trưởng tốt và cho năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo được mục đích canh tác lâu dài, bảo vệ môi trường và duy trì thu nhập thì bón phân cho ba kích là một biện pháp không thể thiếu được

- * Chăm sóc sau trồng: Trong 2 năm đầu, cần làm cỏ xới đất quanh

Trang 28

khóm cây, nhặt cỏ dại và diệt bỏ những cây chèn ép 3 – 4 lần/năm sau đó mỗi năm 2 – 3 lần Năm thứ 2 trở đi bón bổ sung 3kg phân chuồng hoai + 0,3kg NPK che tủ gốc cẩn thận Chú ý điều chỉnh độ che tán 30-50% tuỳ theo giai đoạn

- * Phòng trừ sâu bệnh: Ba kích ít khi bị bệnh Nhưng có thể bị vàng lá

khi thâm canh cao Cần sử dụng Boocđô nồng độ 0,5% hoặc kết hợp với Benlat 0,1% để phun vào gốc và lá để phòng và trị Ba kích thường bị Dế mèn

và Chuột phá hại cần rắc vôi và có những biện pháp thích hợp để phòng chống hai đối tượng này

- Thu hoạch: Đối với ba kích Ba Chẽ cần thu hoạch đúng thời điểm để

đảm bảo chất lượng, không thu hoạch sớm quá khi củ ba kích chưa tích lũy và chuyển hóa các chất đầy đủ, không thu hoạch muộn quá củ ba kích bị tiêu hao dinh dưỡng

Cây trồng sau 3-5 năm có thể thu hoạch được Thời vụ thu hoạch vào giai đoạn sau khi quả chín (tháng 10- 11) Đào rộng cần tránh làm sây sát, đứt đoạn rễ ở nhiều chỗ Khi thu hoạch cần kết hợp lấy dây thân làm hom giống Dùng cuốc lấp kín đất vào gốc cây vừa khai thác để mọc thành bụi mới

Củ thu hoạch về được phân làm 3 loại:

+ Loại A: đường kính củ từ 1,2 cm trở lên;

+ Loại B: đường kính củ từ 0,8 – 1,1 cm trở lên;

+ Loại C: đường kính củ nhỏ hơn 0,8 cm

Chế biến

Củ đào về rửa sạch, loại bỏ rễ con, ủ 18- 24 giờ, phơi nắng nhẹ đến khi phần thịt rễ dẻo lại (2 ngày nắng nhẹ) độ ẩm còn khoảng 50%, đập nhẹ hoặc nén nhẹ cho dẹp phần thịt rễ Không làm nát hoặc bong phần thịt rễ ra khỏi lõi

gỗ, sau đó tiếp tục phơi cho khô hẳn (độ ẩm không quá 13%) cắt thành đoạn 10-13 cm Củ hình cong queo, có dạng chuỗi hạt, vỏ có màu nâu nhạt, xù xì,

có vân cứng Mặt cắt rễ có màu tím xám hoặc nâu hồng Ba kích khô có vị hơi ngọt Dược liệu đựng trong bao 2 lớp: trong bao nilông buộc kín ngoài bao

Trang 29

gai có ghi nhẫn đầy đủ: mã lô sản xuất, nơi và ngày đóng gói

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả trồng ba kích tại các địa phương

a, Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ba kích tại Nông trường Trần Phú, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

Là một tỉnh nằm trong vùng phân bố tự nhiên của cây Ba kích nên việc đưa Ba kích tím vào cơ cấu cây dược liệu của Yên Bái là hoàn toàn phù hợp… Sau 2 năm triển khai thực hiện dự án Xây dựng mô hình liên kết sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ dược liệu khu vực miền núi phía Bắc, giai đoạn 2018-2020 (Mô hình trồng Ba kích tím) tại thị trấn Nông trường Trần Phú, huyện Văn Chấn Bước đầu cho thấy cây Ba kích tím sinh trưởng và phát triển tốt, phù hợp với khí hậu địa phương Các hộ dân tham gia mô hình đều tâm huyết, tích cực, thường xuyên có những trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm về cách trồng và chăm sóc Ba kích để đạt hiệu quả cao

Là một hộ dân tham gia mô hình trồng Ba kích tím, anh Phí Văn Hiếu chia sẻ Cây Ba kích tím hoàn toàn không khó trồng nhưng để đạt tỷ lệ sống cao và cây sinh trưởng phát triển tốt, phải lưu ý làm tốt các khâu từ chọn giống, làm đất cho tới chăm sóc

Thứ nhất, theo anh việc đầu tiên cần quan tâm là chọn cây giống Cây giống Ba kích tím đủ tiêu chuẩn đem trồng phải khỏe mạnh, xanh tốt, không sâu bệnh, không cụt ngọn, bộ rễ phát triển đầy đủ và còn nguyên bầu Chiều cao cây từ 20 - 30 cm, bắt đầu vươn ngọn leo Để đảm bảo quá trình bốc xếp, vận chuyển cây con không bị vỡ bầu, tổn thương nên chọn cây con đã được đảo bầu, phân loại và giảm tưới trước khi xuất vườn

Thứ hai, khâu làm đất phải thật cẩn thẩn như đã được tập huấn, đào hố đúng kích thước 40 x 40 x 40 cm và lấp hố, bón lót phân trước khi trồng Lượng phân mà gia đình anh sử dụng bón lót là 0,5 kg phân chuồng hoai mục

và 0,2 kg phân NPK Vì đây là cây dược liệu lấy củ nên anh tuyệt đối không

Trang 30

sử dụng thuốc trừ cỏ khi làm đất, xử lý thực bì Để Ba kích tím sau trồng đạt

tỷ lệ sống cao gia đình anh còn ưu tiên trồng Ba kích tím xen trong vườn cây

ăn quả đã có tán Mật độ trồng Ba kích tím xen dưới tán cây ăn quả mà anh áp dụng là cây cách cây 2m, hàng cách hàng 2,5m

Thứ ba là quá trình chăm sóc Ba kích tím đặc biệt quan trọng khâu làm

cỏ xới đất Trong 2 năm đầu trồng Ba kích để cây sinh trưởng phát triển tốt anh tiến hành làm cỏ xới đất 4 lần/năm Ngoài ra còn bón lót thêm phân NPK5.10.3với lượng 0,2 kg/cây/năm Thời gian bón chăm sóc tốt nhất nên bón vào giai đoạn đón mùa sinh trưởng của cây, tức là vào lần chăm sóc tháng 3 -

4 hàng năm Tương tự như làm cỏ trước khi trồng, những lần làm cỏ chăm sóc này gia đình anh cũng tuyệt đối không sử dụng thuốc trừ cỏ mà làm cỏ hoàn toàn bằng tay Theo anh trong 2 năm đầu khi cây còn bé nên làm cỏ, xới đất thường xuyên vừa tránh cạnh tranh dinh dưỡng, giúp đất tơi xốp tạo điều kiện cho cây phát triển thuận lợi còn giúp vệ sinh vườn trồng hạn chế tình trạng nấm bệnh phát sinh, phát triển Qua quan sát anh thấy rễ ba kích không ăn sâu, vì vậy nếu không làm cỏ thường xuyên mà để cỏ lên quá cao khi nhổ cỏ

có thể ảnh hưởng đến bộ rễ của Ba kích từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây…

Hộ bác Trần Văn Tiếp tham gia mô hình trồng Ba kích tím năm 2019 Ngay từ khi trồng gia đình bác tập trung làm đất, cuốc xới, đào hố và bón lót đầy đủ Khâu trồng cây bác trực tiếp trồng chứ không thuê người Bác xác định, cây Ba kích tuy có mọc dại ở địa phương, nhưng thực tế chưa đưa vào trồng kinh doanh dược liệu rộng rãi Vì vậy, bác là người tham gia tập huấn

kỹ thuật cũng phải là người trực tiếp trồng để đảm bảo trồng đúng quy trình

kỹ thuật được cán bộ khuyến nông tập huấn Sau khi trồng bác làm luôn giá

đỡ cho cây leo bám Công việc thăm vườn được gia đình bác tiến hành thường xuyên Theo Bác Tiếp, việc kiểm tra giúp phát hiện cây chết sau trồng

để tiến hành trồng dặm kịp thời Ngoài ra bác thấy cây Ba kích ít bị sâu bệnh

Trang 31

hại nhưng dễ bị nấm Quá trình thăm vườn bác có thể kiểm tra tình hình sinh trưởng phát triển của cây, buộc lại giá đỡ bị lỏng lẻo tránh tình trạng ngọn Ba kích không bám giá đỡ bị gục xuống có thể gây nấm, thối ngọn

b, Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ba kích tại xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Năm 2018, Trung tâm Khuyến nông Thái Nguyên triển khai mô hình trồng cây ba kích tím tại xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai, với quy mô 5 ha,

có 9 hộ nông dân tham gia Ông Hà Thanh Thịnh ở xóm Bản Trang, xã Nghinh Tường, có nhiều năm kinh nghiệm trồng cây dược liệu ba kích, tham gia mô hình ông được bầu làm tổ trưởng tổ liên kết

Ông Thịnh cho biết, trước đây người dân trồng ba kích mang tính tự phát, manh mún, không tập trung, tỷ lệ cây sống thấp, năng suất không được cao Tham gia mô hình, các hộ được hướng dẫn đồng bộ các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng và tăng thu nhập

Theo ông Thịnh, ba kích dễ trồng, chăm sóc; củ ba kích tím tại địa phương rất có giá, người dân bán được 180 – 200 nghìn đồng/kg củ tươi

Tại xã Nghinh Tường, kết quả kiểm tra qua một năm trồng cho thấy, cây ba kích sinh trưởng phát triển tốt, tỷ lệ sống trên 90%, không có sâu bệnh hại Hiện cây đã phân nhánh gốc từ 2-3 nhánh, chiều cao cây đạt từ 1,8 – 2m

Tại xã Vinh Sơn, sau 3 tháng trồng, cây sinh trưởng phát triển tốt, đã bắt đầu phân nhánh, tỷ lệ sống trên 95% Bước đầu đánh giá cây ba kích tím phù hợp với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng tại các địa phương

Hiện, Trung tâm Khuyến nông Thái Nguyên tiếp tục phối hợp với các địa phương theo dõi tình hình sinh trưởng, phát triển của cây ba kích, các đối tượng sâu bệnh phát sinh gây hại để có biện pháp chỉ đạo chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh kịp thời ở những năm tiếp theo, làm cơ sở để tuyên truyền, khuyến cáo trước khi nhân rộng mô hình

1.2.2 Bài học rút ra cho huyện Ba Chẽ

Trang 32

Theo đánh giá của Phòng Nông nghiệp huyện Ba Chẽ, việc phát triển các loài cây dược liệu trên địa bàn Huyện chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế sẵn có Do vậy, bài học rút ra cho huyện Ba Chẽ là:

Thứ nhất: Cần đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hiện chế biến ba kích Việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hiện chế biến dược liệu là khâu rất quan trọng để bảo đảm chất lượng của sản phẩm dược liệu, tăng sức cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên, trên địa bàn chưa có nhà máy sơ chế, chế biến các loại dược liệu

Thứ hai: Cần ký kết biên bản ghi nhớ và thỏa thuận hợp tác với một số doanh nghiệp, trường đại học về các nội dung liên quan đến sản xuất, chế biến

và tiêu thụ sản phẩm ba kích Ba kích là một trong những nguồn tài nguyên quý của huyện Ba Chẽ Nếu được khai thác, sản xuất, chế biến kết hợp với bảo tồn một cách bài bản thì sẽ tạo ra lượng hàng hóa có giá trị kinh tế lớn, mang lại thu nhập đáng kể cho người dân Cùng với đó, vận dụng các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp HTX, hộ gia đình đầu tư vào lĩnh vực phát triển và chế biến ba kích

Thứ 3: Đẩy mạnh quảng bá thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ ba kích Đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát huy giá trị cây ba kích Huyện cần xây dựng các nhãn hiệu và thông qua phương tiện truyền thông, tổ chức sự kiện, lễ hội, xây dựng Trung tâm giới thiệu sản phẩm OCOP… các sản phẩm ba kích của Ba Chẽ đã được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh biết đến, thị trường tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định

Trong thời gian tới, huyện tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn và phát triển vùng trồng ba kích tương xứng tiềm năng, tạo ra giá trị kinh tế cao hơn nữa cho người dân

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Vị trí địa lý và các yếu tố tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Ba Chẽ là một huyện miền núi vùng cao, nằm ở phía đông bắc tỉnh Quảng Ninh cách thành phố Hạ Long 100 km theo đường bộ Phía Bắc giáp huyện Đình Lập - Tỉnh Lạng Sơn; phía Nam giáp huyện Hoành Bồ (nay là Thành phố Hạ Long) và Thành phố Cẩm Phả; phía Đông giáp huyện Tiên

Yên; phía Tây giáp huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang

2.1.1.2 Yếu tố tự nhiên

- Địa hình địa mạo

Ba Chẽ có diện tích tự nhiên 60.855,56 ha (chiếm 10% diện tích toàn tỉnh) Địa hình núi cao Núi non trùng điệp chia cắt đất đai thành nhiều vùng nhỏ Cao nhất là núi Khau Giang cao trên 900m ở phía tây huyện

Ba Chẽ thuộc địa hình đồi núi cao nằm trong cánh cung Bình Liêu - Đông Triều, các dãy núi chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Ba Chẽ

có địa hình dốc bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đất tạo thành các thung lũng hẹp và các con suối, sông lớn nhỏ Độ cao trung bình của Ba Chẽ từ 300m - 500m so với mực nước biển Đất có độ dốc lớn, phần lớn trên 20o Chủ yếu là đất dốc nên người dân Ba Chẽ sống chủ yếu bằng nghề rừng Đất nông nghiệp rất hẹp và manh mún, chủ yếu là các thung lũng dưới chân núi có thể cấy lúa nước, còn phần lớn là ruộng bậc thang và đất đồi trồng lúa nương, sắn, ngô, khoai Đồng thời với địa hình dốc thoải ở một số khu vực thuộc các xã Lương Mông, Đạp Thanh, Thanh Lâm, Thanh Sơn là điều kiện tốt để phát triển đồng

cỏ chăn nuôi

Trang 34

- Khí hậu

Ba Chẽ nằm trong vùng khí hậu mang tính đặc trưng của các tỉnh trung

du và miền núi Đó là khu vực nhiệt đới gió mùa, phân làm hai mùa rõ rệt: Mùa khô và mùa mưa Mua khô (mùa Đông) bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau thời kỳ này rét, mưa ít, nhiệt độ bình quân dưới 200C, tháng lạnh nhất là tháng 1 (t0 = 15,20C) Độ ẩm trung bình 80,33% là điều kiện cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt Độ ẩm cao cũng là nguyên nhân dẫn đến cây trồng nhiều sâu bệnh

Đặc điểm tình hình khí hậu trên địa bàn huyện cho thấy mùa khô kéo dài không lâu, nhưng sẽ là thích hợp cho việc đa dạng hoá cây trồng ngắn ngày thích nghi với mùa khô ở các địa phương này, mùa mưa kéo dài khí hậu mát

mẻ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tưới tiêu và trồng cây dài ngày nhưng

cũng phải trông trừ lũ lụt có thể xảy ra

2.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

* Đất đai

Huyện Ba Chẽ có tổng diện tích là 60.855,56 ha Trong đó: đất nông nghiệp năm 2017 là 15.980,58 ha (chiếm 25,8% tổng diện tích); năm 2018 là 18.600,09 ha (chiếm 30% tổng diện tích) và tăng dần đến năm 2019 là 19.063,83 ha (chiếm 30,88% tổng diện tích) Diện tích đất nông nghiệp chiếm

tỉ lệ thấp, vì vậy cần phải đầu tư, thâm canh, tăng vụ

Trang 35

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất của huyện Ba Chẽ giai đoạn 2017-2019

ĐVT: Ha

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN 60.855,56 60.855,56 60.855,56 Đất Nông nghiệp 15.980,58 18.600,09 19.063,83

Đất trồng cây hàng năm khác 2.488,82 2.439,76 3.350,59

Đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản 322,15 316,07 259,05 Đất Lâm nghiệp (Diện tích đất có

Trang 36

Diện tích cây hàng năm nhìn chung ít có sự biến động Diện tích cây lâu năm có xu hướng tăng lên, tăng bình quân mỗi năm là 4,76% Diện tích cây lâu năm tăng lên là do người dân đã sử dụng một phần đất chưa sử dụng

và đất rừng đã khai thác không có khả năng phục hồi vào làm tăng diện tích đất Diện tích mặt nước không có biến động nhiều Những năm qua diện tích đất vườn tạp giảm mạnh là do giá đất tăng lên, người đân đã chuyển mục đích

* Tài nguyên nước

Sông lớn là sông Ba Chẽ, bắt nguồn từ núi Am Váp trên đất Hoành Bồ, dài 80km, lưu vực 978km2, chảy qua nhiều xã

Đây là con sông chính lớn nhất trong hệ thống sông suối Ba Chẽ Đoạn thượng lưu rất dốc, nhiều ghềnh thác Từ thị trấn Ba Chẽ ra biển, lòng sông rộng dần (Cửa sông Ba Chẽ gặp cửa sông Tiên Yên ở phía bắc và gặp cửa sông Voi Lớn ở phía nam Chỗ gặp gỡ ba cửa sông - Ba chẽ sông - chính là gốc tên Ba Chẽ Cửa sông Ba Chẽ lớn nhất là Cửa Cái và đoạn hạ lưu sông Ba Chẽ có tên sông Cửa Cái) Ba Chẽ còn có nhiều suối lớn như suối Quánh, suối Luông, Suối Đoắng, suối Cổng, khe Lọng, khe Hổ và suối Nam Kim)

- Hệ thống sông Quánh bắt nguồn từ huyện Hoành Bồ chảy qua phía Nam xã Minh Cầm, chảy theo hướng Bắc đổ vào sông Ba Chẽ dài 85km (đây

là nhánh bắt đầu nguồn chính của sông Ba Chẽ)

Trang 37

- Hệ thống sông Đoáng bắt nguồn từ phía Nam xã Đạp Thanh chảy về hướng Bắc, đổ vào sông Ba Chẽ dài 80km

- Hệ thống sông Làng Cổng từ phía Nam xã Đồn Đạc, chảy về phía Bắc

đổ vào sông Ba Chẽ dài 95km

- Hệ thống suối Khe Hương, Khe Lầy, Khe Liêu, Khe Buông, Khe Tráng bắt nguồn từ phía Tây xã Lương Mông đổ vào sông Ba Chẽ dài 150km

- Hệ thống suối Khe Lạnh từ phía Bắc xã Thanh Lâm, chảy về phía Nam đổ vào sông Ba Chẽ dài 75km

- Hệ thống suối Khe Nháng cũng chảy từ phía Bắc xã Thanh Lâm theo hướng Nam đổ vào sông Ba Chẽ, dài 70km

- Sông Khe Tân chảy từ phía Bắc xã Nam Sơn theo hướng Nam đổ vào sông Ba Chẽ dài 75km

Do có hệ thống sông suối chằng chịt nên vào mùa mưa (nhất là vào tháng 8, tháng 9) thường xảy ra lũ lụt Tại Thị trấn Ba Chẽ mực nước sông Ba Chẽ có năm dâng cao tới 5 - 6m gây ách tắc giao thông và phá hoại mùa màng của nông dân Gần đây do việc khai thác rừng bừa bãi cho nên nguồn sinh thủy bị ảnh hưởng, lượng nước rất hạn chế

Hầu hết các xã đều có đập nước trên các con suối, kèm theo là hệ thống kênh mương dâng nước tưới cho lúa và hoa màu Ngoài các sông suối, nhân dân Ba Chẽ có thể tận dụng nguồn nước bằng cách đào giếng phục vụ sinh hoạt

Nhìn chung chất lượng nước ở Ba Chẽ trong và tương đối sạch, pH trung tính đạt yêu cầu đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp Nước trên các suối qua

xử lý sẽ đảm bảo chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân

* Tài nguyên du lịch, bản sắc văn hóa dân tộc

* V ề du lịch:

- Khu di tích Miếu Ông – Miếu Bà nổi tiếng được xây dựng từ thế kỷ

13, 14

Trang 38

- Tại Làng Mới xã Nam Sơn có một lò sứ cổ mới được phát hiện từ năm

2009 Trải qua hơn 200 năm nhưng những hiện vật tại di chỉ này vẫn còn nguyên hiện trạng

- Với hệ thống các sông, suối được thiên nhiên tạo hoá rất đa dạng, phong phú nên đã tạo ra được nhiều thác nước đẹp như: Thác Trúc, thác Khe Lạnh, thác Khe Ngại - xã Nam Sơn; Thác Đá Vuông, thác Sông Cổng, thác Khe O - xã Đồn Đạc; Thác Khe Lào, Thác Khe Xoong - xã Thanh Lâm; Thảo nguyên Khe Lầy - xã Đạp Thanh rất phù hợp với các điều kiện để phát triển được các điểm du lịch sinh thái

* V ề đặc sản của địa phương:

- Ba Chẽ có nhiều đặc sản, như: mía Đồn Đạc, đậu lạc Thanh Lâm, sa

nhân Lương Mông, quýt ba kích Đạp Thanh, ba kích Minh Cầm, măng tre mai, cua lông…

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Tình hình kinh tế của huyện Ba Chẽ

Dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự đoàn kết, nhất trí của nhân dân các dân tộc trong huyện, những năm qua, huyện Ba Chẽ đã đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận Kinh tế của huyện có bước phát triển khá, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ Các chỉ tiêu chủ yếu Nghị quyết Đại hội Đảng

bộ huyện lần thứ XXIV, nhiệm kỳ 2015-2020 đề ra đều đạt và vượt Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm là 18,94%, chỉ tiêu đại hội là 13-15% (Trong đó, công nghiệp tăng 35,13%; dịch vụ tăng 12,31%; nông nghiệp tăng 5,9%) Cơ cấu kinh tế năm 2020: công nghiệp 48,2%; dịch vụ 31%; nông nghiệp 20,8%

Thời kỳ 2017-2019, kinh tế - xã hội của huyện phát triển khá, quy mô nền kinh tế lớn mạnh không ngừng, năm 2019 tổng giá trị sản xuất tăng 293 tỷ đồng so với năm 2017

Trang 39

Bảng 2.1 Giá trị sản xuất giai đoạn 2017-2019

STT Chỉ tiêu Đ.vị tính Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019

Tốc độ tăng trưởng (%)

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ba Chẽ năm 2019)

Đến hết năm 201, tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt 1.490 tỷ đồng (theo giá so sánh 2010) Trong đó: trồng trọt 540 tỷ đồng; chăn nuôi 399,4 tỷ đồng; thuỷ sản 111 tỷ đồng; lâm nghiệp 120 tỷ đồng; dịch vụ nông nghiệp 319,6 tỷ đồng Tổng sản lượng lương thực (cây có hạt) 162,5 nghìn tấn

Sản xuất nông, lâm nghiệp:

Tích cực triển khai các chủ trương, chính sách, đẩy mạnh công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật, giám sát phòng chống dịch bệnh, có cơ chế hỗ trợ cho phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp; chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi theo hướng năng suất, chất lượng và sản xuất hàng hoá Có 11.343,8 ha diện tích đạt trên 50 triệu đồng/ha/năm, trong đó có 350 ha đạt trên 100 triệu đồng/ha/năm Nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất trong các khâu chọn giống, nuôi trồng và chăm sóc; các giống lúa lai, lúa năng suất cao, chất lượng tốt, chiếm 16% diện tích; giống ngô lai và ngô hàng hoá đạt 100% diện tích Chăn nuôi phát triển theo hướng chăn nuôi tập trung, trang trại, đạt hiệu quả kinh tế, trên địa bàn có trên 50 trang trại, trong đó có

31 trang trại chăn nuôi quy mô công nghiệp (trang trại gà 4.000 – 8.000 con/lứa, trang trại lợn 1.000 – 2.000 con/lứa) Nuôi trồng thuỷ sản được chú trọng phát triển, tiếp thu được nhiều dự án Có nhiều hộ nông dân làm giàu từ

Trang 40

sản xuất nông - lâm nghiệp, thu nhập hàng năm đạt trên 100 triệu đồng Đã hình thành vùng sản xuất tập trung có giá trị kinh tế cao như rau, hoa và chè,

vv Sản lượng lương thực 37.000 tấn = 107,28%; trồng chè mới 320 ha = 106,6%; sản lượng chè búp tươi 24.950 tấn = 113,4%; trồng rừng mới 5.712,7 ha = 285,6%; độ che phủ rừng đạt 51,48%, vượt 3,48% so với nghị quyết đề ra

Nhìn chung, sản xuất nông, lâm nghiệp đã có nhiều bước tiến trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, chuyển được nhiều diện tích đất sử dụng không hiệu quả sang nuôi trồng các loại cây, con đem lại hiệu quả kinh tế cao Tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp đạt 5,9%/năm (chỉ tiêu Đại hội là 3,7%)

Thương mại, dịch vụ:

Lĩnh vực thương mại, dịch vụ được quan tâm đầu tư, tăng trưởng trên 12%/9m Xây dựng mới 03 chợ tại trung tâm thuộc các xã Nam Sơn, Minh Cầm, Thanh Lâm Thường xuyên sửa chữa, nâng cấp, duy trì hoạt động 05 chợ trong toàn huyện; đồng thời kiện toàn tổ chức, sắp xếp, quản lý các chợ nên đã nâng cao hiệu lực quản lý, đảm bảo công tác thu ngân sách đạt hiệu quả hơn

Ngày đăng: 12/06/2021, 19:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w