1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuong 1 hieu biet ve CNTT

44 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Phân loại: - Thiết bị lưu trữ: Khái niệm này được sử dụng để chỉ các cấu kiện máy tính, thiết bị và các phương tiện ghi/chứa dữ liệu cho phép lưu trữ dữ liệu số sử dụng trong tính toán

Trang 1

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

1

CHƯƠNG I HIỂU BIẾT VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Bài 1: Cơ bản về máy tính và mạng máy tính Sau khi hoàn thành bài này, bạn có thể nắm được:

 Khái niệm cơ bản về máy tính và mạng máy tính

Máy tính, còn được gọi là máy vi tính hay máy điện toán, là những thiết bị hay

hệ thống dùng để tính toán hay kiểm soát các hoạt động mà có thể biểu diễn dưới dạng

số hay quy luật lôgic

Máy tính được lắp ghép bởi các

thành phần có thể thực hiện các chức

năng đơn giản đã định nghĩa trước Quá

trình tác động tương hỗ phức tạp của các

thành phần này tạo cho máy tính một khả

năng xử lý thông tin Nếu được thiết lập

chính xác (thông thường bởi các chương

trình máy tính đã được lập trình) máy

tính có thể mô phỏng lại một số khía

cạnh của một vấn đề hay của một hệ

thống Trong trường hợp này, khi được

cung cấp một bộ dữ liệu thích hợp nó có

thể tự động giải quyết vấn đề hay dự

đoán trước sự thay đổi của hệ thống

Khoa học nghiên cứu về lý thuyết, thiết

kế và ứng dụng của máy tính được gọi là

khoa học máy tính, hay khoa học điện toán

Từ "máy tính" (computers), đầu tiên, được dùng cho những người tính toán số học, có hoặc không có sự trợ giúp của máy móc, nhưng hiện nay nó hoàn toàn có nghĩa

Hình 1.1: Máy tính cá

nhân

Trang 2

là một loại máy móc Đầu tiên máy tính chỉ giải các bài toán số học, nhưng máy tính hiện đại làm được nhiều hơn thế

Đến những năm 1990, khái niệm máy tính đã thực sự tách rời khỏi khái niệm điện toán và trở thành một ngành khoa học riêng biệt với nhiều lĩnh vực đa dạng và khái niệm hơn hẳn ngành điện toán thông thường và được gọi là công nghệ thông tin Tuy vậy đến ngày nay, một số người vẫn còn nhầm lẫn giữa hai khái niệm điện toán và công nghệ thông tin

* Máy tính cá nhân:

Thuật ngữ máy tính cá nhân nêu trên được phổ biến bởi tạp chí Byte, cũng như Máy tính Apple, vào cuối thập niên 1970 đầu thập niên 1980, và sau đó là IBM với máy tính cá nhân IBM

Máy tính cá nhân (tiếng Anh: Personal Computer, viết tắt là PC) là một loại máy

vi tính nhỏ với giá cả, kích thước và sự tương thích của nó khiến nó hữu dụng cho từng

cá nhân Những máy tính cá nhân còn được gọi là máy tính gia đình

b/ Phân biệt máy để bàn, máy xách tay, máy tính bảng

Trang 3

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

3

* Máy tính xách tay - Laptop:

Có chức năng tương tự như máy tính để bàn, tuy nhiên kích thước nhỏ hơn Đặc điểm chính của máy tính xách tay là:

- Tiện lợi: Dễ dàng mang theo khi di chuyển, có thể sử dụng trong thời gian dài mà không cần có điện lưới bằng cách dùng pin

- Hạn chế: Để có thể sử dụng pin thì cần phải mang theo sạc pin, thời gian sử dụng tuỳ vào từng loại pin và độ bền của pin; Chi phí mua sắm thường cao

* Máy tính bảng – Tablet:

Đây là một dạng biến thể giữa máy tính và điện thoại thông minh, giống như

Hình 1.2: Các bộ phận thường có của máy tính để bàn

Trang 4

tấm bảng được sử dụng cho học sinh trong các lớp học Việc điều khiển và nhập dữ liệu

sử dụng màn hình cảm ứng có trên thiết bị Đặc điểm của thiết bị máy tính bảng:

- Tiện lợi: Thiết bị thường nhỏ gọn, nhẹ và mỏng; pin có thể sử dụng lâu hơn máy laptop, việc sử dụng và thao tác đơn giản, tiện lợi trên màn hình cảm ứng của thiết bị

- Hạn chế: Các bộ phận của máy tính bảng thường được thiết kế theo khối, đồng bộ, nên nếu cần sửa chữa hay thay thế linh kiện thường có giá thành đắt, khó tìm thiết bị Phần mềm hệ điều hành cũng có khác biệt với máy tính bàn và laptop, nói chung khác hẳn về kiểu dáng và cách sử dụng

1.1.2 Các thiết bị di động

Thiết bị di động cầm tay là bất cứ thiết bị điện thoại nhỏ vừa lòng bàn tay của người sử dụng và có thể mạng theo người Tuỳ theo nhu cầu sử dụng, người dùng có thể sử dụng một thiết bị cầm tay như điện thoại di động để có thể gửi và nhận tin nhắn văn bản hoặc âm thanh, hay một máy tính xách tay Nhiều thiết bị cầm tay cũng cho phép sao chép hay tải các tập tin nhạc, sách điện tử từ trên mạng

* Thiết bị điện thoại thông minh – Smartphone

Các thiết bị điện thoại di động hiện nay khá tinh vi, ngoài các dịch vụ điện thoại như thông thường, các thiết bị còn được tích hợp thêm các tính năng mới nâng cao như:

• Phát và nghe nhạc

• Chụp hình và quay video

• Gửi tin nhắn văn bản, tin nhắn đa phương tiện (MMS)

• Nhắn tin vô tuyến

Hình 1.4: Máy tính bảng IPad của Apple

Trang 5

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

5

• Nhận và gửi thư điện tử

• Truy cập Internet mọi lúc, mọi nơi

• Hệ thống định vị toàn cầu (GPS)

Tuỳ theo từng loại tài khoản mà bạn đăng ký sử dụng hay loại điện thoại di động bạn đang dùng, mà các dịch vụ bạn có thể lựa chọn cũng khác nhau Ví dụ, một người làm nghề môi giới bất động sản có thể lựa chọn một chiếc điện thoại di động đồng thời

là thiết bị hỗ trợ cá nhân số để không chỉ xử lý khối lượng lớn cuộc gọi mà còn để cập nhật các thông tin trực tiếp từ Internet liên quan tới công việc của họ Tất cả các loại điện thoại di động đều được gắn một con chip cho phép nó cung cấp những dịch vụ phù hợp với dòng máy đó, mặc dù không phải tất cả các dịch vụ có thể kích hoạt trên tài khoản đó Ở phần lớn các thiết bị smartphone, người sử dụng có thể kích hoạt các dịch vụ thông qua bàn phím của thiết bị

1.1.3 Một số thuật ngữ phần cứng thông dụng

Khối hệ thống thường là bộ phận quan trọng và đắt tiền nhất trong hệ thống máy tính Trong khối hệ thống có nhiều thiết bị riêng biệt thực hiện các chức năng khác nhau, nếu một trong các thiết bị này hỏng thì thường sẽ phải thay thể thiết bị đó Nguồn điện cung cấp cho nó cũng được đặt trong hộp có bảo vệ Dưới đây sẽ giới thiệu và mô

tả các thiết bị chính cấu thành lên một hệ thống máy tính

* Thiết bị điều khiển trung tâm (Central Processing Unit - CPU): Có thể được xem như một phần tử cốt lõi nhất của máy vi tính Nhiệm vụ chính của CPU là xử lý các chương trình vi tính và dữ kiện CPU có nhiều kiểu dáng khác nhau, có thể là một thiết bị chip đơn giản hay cũng có thể được ráp sẵn trong các bộ mạch với hàng trăm con chip khác CPU là một mạch xử lý dữ liệu theo chương trình được thiết lập trước Nó là một mạch tích hợp phức tạp gồm hàng triệu transitor trên một bảng mạch nhỏ Bộ xử lý trung tâm bao gồm Khối điều khiển và Khối tính toán

Hình 1.5: Điện thoại thông minh

Trang 6

- Khối điều khiển: Là thành phần của CPU có nhiệm vụ thông dịch các lệnh của chương trình và điều khiển hoạt động xử lí, được điều tiết chính xác bởi xung nhịp đồng hồ hệ thống Mạch xung nhịp đồng hồ hệ thống dùng để đồng bộ các thao tác xử

lí trong và ngoài CPU theo các khoảng thời gian không đổi Khoảng thời gian chờ giữa hai xung gọi là chu kỳ xung nhịp Tốc độ theo đó xung nhịp hệ thống tạo ra các xung tín hiệu chuẩn thời gian gọi là tốc độ xung nhịp – tốc độ đồng hồ tính bằng triệu đơn vị mỗi giây (Mhz)

- Khối tính toán: Chức năng là thực hiện các phép toán số học và logic sau đó trả lại kết quả cho các thanh ghi hoặc bộ nhớ

* Thiết bị ngoại vi: Là tên chung nói đến một số loại thiết bị bên ngoài thùng máy được gắn kết với máy tính với tính năng nhập xuất (IO) hoặc mở rộng khả năng lưu trữ (như một dạng bộ nhớ phụ) Thiết bị ngoại vi của máy tính có thể là:

• Thiết bị cấu thành lên máy tính và không thể thiếu được ở một số loại máy tính

• Thiết bị có mục đích mở rộng tính năng hoặc khả năng của máy tính

* Phân loại:

- Thiết bị lưu trữ: Khái niệm này được sử dụng để chỉ các cấu kiện máy tính, thiết bị và các phương tiện ghi/chứa dữ liệu cho phép lưu trữ dữ liệu số sử dụng trong tính toán trong một khoảng thời gian nhất định Lưu trữ dữ liệu đóng một trong các chức năng chính của tính toán hiện đại: lưu giữ thông tin Bên cạnh đó, thiết bị lưu trữ còn được dùng để chỉ tới các phương tiện từ tính có dung lượng lớn như đĩa cứng, thẻ nhớ USB,

ổ cứng di động, các loại ổ cứng tốc độ cao như: SSD, SSHD; và các phương thức khác

có tốc độ thấp hơn RAM nhưng có khả năng lưu trữ lâu hơn RAM Trước đây bộ nhớ thường được gọi là lưu trữ sơ cấp hoặc bộ nhớ trong và lưu trữ được gọi là lưu trữ thứ cấp hoặc bộ nhớ ngoài

- Thiết bị xuất/nhập dữ liệu: Loại thiết bị này cho phép người dùng giao tiếp với máy tính Có 3 loại thiết bị nhập xuất dữ liệu thường được sử dụng:

• Gửi thông tin đến máy tính (như bàn phím, chuột, máy quét, máy quét)

• Hiển thị hoặc truyền thông tin đi từ máy tính (như màn hình, máy in, loa)

• Dùng trao đổi thông tin giữa các máy tính với nhau (modem, thiết bị mạng)

Như vậy có thể coi bất cứ thiết bị gì được sử dụng để đưa thông tin vào máy tính thì được gọi chung là thiết bị đầu vào, hay thiết bị nhập dữ liệu Còn các thiết bị có chức năng hiển thị thông tin từ máy tính gửi đi đều có thể gọi là thiết bị xuất dữ liệu hay thiết bị đầu ra Khái niệm này cũng đúng với cả những thiết bị được gắn trong (cài đặt bên trong máy tính) và bên ngoài máy tính (kết nối từ ngoài tới máy tính)

- Thiết bị mạng và truyền thông: Đây là khái niệm dùng để chỉ các thiết bị được sử dụng để kết nối máy tính tới hệ thống mạng cục bộ hoặc mạng Internet Những thiết bị loại này có nhiệm vụ vận chuyển dữ liệu từ thiết bị máy tính nguồn đến thiết bị đích

Trang 7

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

7

thông qua môi trường truyền dẫn Môi trường truyền dữ liệu có thể là: đường truyền có dây dẫn, môi trường truyền không dây Các thiết bị truyền thông bao gồm:

• Card mạng (Network Interface Card – NIC):

đây có thể là thiết bị phần cứng được tích hợp trực

tiếp trên các bản mạch của máy tính hoặc là các thiết

bị ngoài Card ma ̣ng có nhiệm vu ̣ mã hoá dữ liệu

truyền đi và giải mã dữ liệu nhận đựợc thông qua

môi trường ma ̣ng Để Card ma ̣ng có thể hoa ̣t động

được thì chúng cần có trình điều khiển (driver thiết

bị), trình điều khiển có trên đĩa CD kèm theo Card

ma ̣ng hoặc trên đĩa cài đặt Mainboard nếu card ma ̣ng

Onboard

• Repeater: Trong một mạng LAN, giới hạn của

cáp mạng là 100m (cho loại cáp mạng CAT 5 UTP –

là cáp được dùng phổ biến nhất), bởi tín hiệu bị suy

hao trên đường truyền nên không thể đi xa hơn Vì

vậy, để có thể kết nối các thiết bị ở xa hơn, mạng cần

các thiết bị để khuếch đại và định thời lại tín hiệu,

giúp tín hiệu có thể truyền dẫn đi xa hơn giới hạn

này Repeater là một thiết bị ở lớp 1 (Physical Layer)

trong mô hình OSI Repeater có vai trò khuếch đại tín

hiệu vật lý ở đầu vào và cung cấp năng lượng cho tín

hiệu ở đầu ra để có thể đến được những chặng đường

tiếp theo trong mạng Điện tín, điện thoại, truyền thông tin qua sợi quang…và các nhu cầu truyền tín hiệu đi xa đều cần sử dụng Repeater

• Switch, hay còn gọi là thiết bị chuyển

mạch, là một thiết bị dùng để kết nối các

đoạn mạng với nhau theo mô hình mạng

hình sao (star) Theo mô hình này, switch

đóng vai trò là thiết bị trung tâm, tất cả các

máy tính đều được nối về đây Switch đóng

vai trò là thiết bị nhận tín hiệu vật lý, chuyển

đổi thành dữ liệu, từ một cổng, kiểm tra địa

chỉ đích rồi gửi tới một cổng tương ứng

• Modem (viết tắt từ modulator and demodulator) là một thiết bị điều chế sóng tín hiệu tương tự nhau để mã hóa dữ liệu số, và giải điều chế tín hiệu mang để giải mã tín hiệu số Đây là thiết bị được sử dụng để chuyển đổi tín hiệu từ đường dây điện thoại

Hình 1.6: Card mạng máy tính

Hình 1.7: Thiết bị repeater

Hình 1.8: Thiết bị Switch

Trang 8

(tín hiệu liên tục) sang tín hiệu mạng (tín hiệu rời rạc), dùng để kết nối máy tính tới Internet Modem thường được phân loại bằng lượng dữ liệu truyền nhận trong một khoảng thời gian, thường được tính bằng đơn vị bit trên giây, hoặc "bps"

* Kết nối các thiết bị ngoại vi: Để kết nối một thiết bị ngoại vi với máy tính, ta cần có: dây kết nối và cổng kết nối phù hợp với thiết bị đó, sau đó cần có phần mềm nhận dạng thiết bị và cài đặt phần mềm để điều khiển thiết bị đúng cách

Bất cứ thiết bị nào có thể dùng tương tác với máy tính đều có dây kết nối với máy tính Đầu dây nối thể hiện kiểu kết nối ta cần để có thể nối được thiết bị với loại cổng tương ứng trên máy tính Trong một số trường hợp, ta có thể cần cáp phụ để điều chỉnh tương thích với một loại dây nối sao cho phù hợp với cổng nối trên máy tính Dưới đây là một số loại cổng kết nối các thiết bị ngoại vi với máy tính:

• Cổng song song: Những cổng này thường được dùng để kết nối với máy in, tuy nhiên giờ được thay thế bằng cổng USB hoặc Ethernet

• Cổng nối tiếp: Thường được dùng để kết nối chuột máy tính hoặc modem Loại kết nối này cũng có thể được thay thế bằng kết nối USB hoặc Firewire ở tất cả lĩnh vực tiêu dùng và trong hầu hết ứng dụng thương mại Tuy nhiên các cổng kết nối này vẫn còn được dùng phổ biến ở các thiết bị công nghiệp chuyên dụng

• Cổng giao diện hệ thống máy tính nhỏ (SCSI): Thường được dùng để kết nối thiết bị đòi hỏi tốc độ truyền dữ liệu cao, như ổ cứng, ổ CD-DVD, sau này được thay bằng kết nối kiểu SATA (Serial Advanced Technology Attachment) vì công nghệ này

có hiệu quả cao mà không đòi hỏi nhiều về việc truyền dữ liệu

• Cổng USB: Hỗ trợ các hệ thống plug-and-play khi hệ điều hành nhận các thiết

bị mới dưới dạng cắm vào và hiển thị thông tin ngày khi nó phát hiện ra thiết bị

• Cổng kết nối mạng: Những cổng này trông như giắc đường dây điện thoại và có thể kết nối với máy tính khác trong một hệ thống mạng, với mode, hoặc trực tiếp với Internet

1.1.4 Các thành phần cơ bản của máy tính

* Bộ xử lý trung tâm (còn gọi là CPU): Bộ xử lý thường được coi như là bộ não của máy tính vì các lệnh từ chương trình phần mềm và nhập dữ liệu đầu vào từ người sử dụng đều được nó nhận và xử lý CPU được thiết kế riêng với sự chú trọng vào hiệu năng và tiết kiệm năng lượng, chúng có thể thay đổi tốc độ làm việc tuỳ theo yêu cầu của hệ thống Để hạ giá thành sản phẩm, một số máy tính xách tay cũng sử dụng các bộ

xử lý của máy tính cá nhân để bàn (thường rất ít)

Mỗi dòng hay loại CPU xử lý thông tin và câu lệnh với tốc độ khác nhau, được

đo bằng đơn vị MegaHertz (MHz) hoặc GigaHertz (GHz) Hertz (Hz) được sử dụng để

đo tốc độ xung nhịp bên trong máy tính về tần suất hay số vòng xoay mỗi giây MHz

Trang 9

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

* Phân biệt bộ nhớ động (RAM) và bộ nhớ chỉ đọc (ROM):

+ Bộ nhớ động: hay còn gọi là bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (Random Access Memory, viết tắt là RAM) Bộ nhớ RAM được đặt trong khối hệ thống và là một loại bộ nhớ điện tử nơi máy tính lưu giữ bản sao các chương trình và dữ liệu Máy tính dùng RAM

để lưu trữ tạm thời những phần mềm mà người dùng đang chạy và dữ liệu tạo ra trong phần mềm ấy, còn được biết đến là RAM hệ thống RAM có đặc điểm “không ổn định”, do chỉ làm việc khi máy tính bật và thông tin biến mất khi tắt máy tính Do đó, các chương trình phần mềm phải thường trú ở đĩa cứng hoặc đĩa quang Từ đó, máy tính có thể tải chương trình và tập tin vào bộ nhớ khi chương trình chạy và xoá khỏi bộ

nhớ khi chương trình hoặc tập tin được đóng lại

Tốc độ của RAM được đo bằng nano giây (ns); mỗi nano giây tương đương với một phần tỷ của giây, là quãng thời gian một yêu cầu được đưa ra cho đến khi hoàn tất (còn được gọi là thời gian truy cập) Một nano giây là khoảng thời gian cực ngắn, một máy tính có thể thực hiện một khối lượng nhiệm vụ khổng lồ trong thời gian 10 nano giây

Chip RAM được dùng trong card đồ hoạ, có thể gia tăng tốc độ hiển thị hình ảnh trên màn hình RAM còn được dùng để nhớ đệm thông tin gửi đến máy tính Nó tăng tốc độ in và cho phép máy tính thực hiện các thao tác khác trong khi tài liệu đang được in (cơ chế đa nhiệm – multi-tasking)

+ Bộ nhớ chỉ đọc (ROM): Bộ nhớ chỉ đọc (tiếng Anh: Read-Only Memory - ROM) là một loại thiết bị lưu trữ dùng trong máy tính và các thiết bị khác Nó có tên như vậy vì không dễ để ghi thông tin lên nó, cần phải có cơ chế đặc biệt mới có thể lưu trữ các thông tin trên ROM ROM chỉ cho phép đọc dữ liệu từ chúng tuy nhiên tất cả các loại

Hình 1.9: RAM máy tính

Trang 10

ROM đều cho phép ghi dữ liệu ít nhất một lần, hoặc khi sản xuất lần đầu hoặc trong bước lập trình Một số loại ROM cho phép xóa và lập trình lại nhiều lần Không giống như RAM, thông tin trên ROM vẫn được duy trì dù nguồn điện cấp không còn

Phân loại ROM:

- PROM (Programmable Read-Only Memory):

Được chế tạo bằng các mối nối (cầu chì - có thể

làm đứt bằng mạch điện) Nó thuộc dạng WORM

(Write-Once-Read-Many) Chương trình nằm

trong PROM có thể lập trình được bằng những

thiết bị đặc biệt Loại ROM này chỉ có thể lập

trình được một lần

- EPROM (Erasable Programmable Read-Only

Memory): Được chế tạo bằng nguyên tắc phân

cực tĩnh điện Loại ROM này có thể bị xóa bằng

tia cực tím và ghi lại thông qua thiết bị ghi EPROM

- EAROM (Electrically Alterable Read-Only Memory): Loại ROM này có thể thay đổi từng bit một lần Tuy nhiên quá trình viết khá chậm và sử dụng điện thế không chuẩn Việc viết lại EAROM không được thực hiện thường xuyên

- EEPROM (Electrically Erasable Programmable Read-Only Memory): Được tạo bằng công nghệ bán dẫn Nội dung của ROM này có thể viết vào và xóa (bằng điện)

* Các đơn vị đo dung lượng (KB, MB, GB):

Đối với hệ thống máy tính dùng để lưu trữ thông tin, máy cần cài chip bộ nhớ

Bộ nhớ được đo bằng đơn vị bits và bytes Bit là đơn vị dữ liệu nhỏ nhất mà máy tính

sử dụng, có thể mang một trong hai giá trị 0 hoặc 1 Một nhóm 8bits tạo thành 1byte Đơn vị đo lường dữ liệu nhỏ nhất mà con người sử dụng là một ký tự chữ cái hoặc chữ

số ('a' đến 'z', hoặc '0' đến '9') cần nguyên một byte trong bộ nhớ máy tính để biển hiện

Bảng quy đổi đơn vị đo dung lượng thường dùng:

Hình 1.10: ROM máy tính

Trang 11

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

11

hình ảnh Tập tin càng lớn thì càng cần nhiều bộ nhớ để xử lý và lưu trữ thông tin trong

đó Thậm chí một tập tin không được lưu trữ trên máy tính thì máy vẫn cần bộ nhớ để

có thể xử lý nó, thể hiện ở dung lượng của RAM càng lớn thì khả năng lưu trữ dữ liệu càng lớn, tốc độ xử lý càng nhanh

1.1.5 Các phương tiện lưu trữ dữ liệu

b/ Các loại đĩa quang (CD, DVD)

* Cấu tạo của đĩa CD-ROM:

Khác với đĩa mềm và đĩa cứng hoạt động bằng phương pháp nhiễm từ, đĩa CD hoạt động bằng phương pháp quang học Nó được sản

xuất bằng cách người ta tạo từng mẫu pit và land lên

trên những đường chỉ polycarbonate của đĩa CD

không được phân chia thành những track đồng tâm và

sector như đĩa từ Mà thay vào đó CD được ghi dưới

dạng những track có đường xoắn ốc liên tục nhau chạy

dài từ trục đến lớp ngoài cùng

Trong suốt quá trình hoạt động, CD sẽ sử dụng

chùm tia laser và máy dò laser để cảm nhận được sự

hiện diện hoặc sự vắng mặt của pit Cặp laser/ máy dò

sẽ được gắn lên trên bộ phận quay, làm bộ phận sẽ

theo dấu các track xoắn ốc của đĩa CD Chùm tia laser

sẽ chiếu lên mặt bên dưới của đĩa CD, nơi đây sẽ được phủ một lớp nhựa trong dày khoảng 1mm trước khi nó chiếu lên bề mặt phản xạ Khi chùm laser chiếu sáng vào

Hình 1.11: Đĩa CD-ROM

Trang 12

land, ánh sáng sẽ được phản xạ về hướng một máy dò và sẽ tạo ra một tín hiệu xuất rất mạnh Khi chùm tia laser chiếu sáng vào pit, ánh sáng sẽ vượt ra ngoài tiêu cự, kết quả

là hầu hết năng lượng đến của tia laser sẽ được tán xạ ra mọi hướng và vì đó có rất ít tín hiệu xuất sẽ được một máy dò tạo ra Việc biến đổi từ pit sang land và ngược lại sẽ ứng với hai nút tín hiệu đó là có hoặc không có pit hoặc land Tín hiệu ánh sáng tương

tự do máy do máy dò trả về sẽ được giải mã Quá trình giải mã là cần thiết để chuyển chuỗi các pit và land thành những thông tin nhị phân có ý nghĩa

Một đĩa CD-ROM có thể lưu trữ 79

phút dữ liệu Tuy nhiên, có nhiều đĩa

CD-ROM đã giới hạn con số này đến mức 60

phút bởi vì 14 phút dữ liệu cuối cùng sẽ được

mã hóa ở phần ngoài không gian đĩa 50mm

ngoài cùng, phần đĩa này là phần rất khó sản

xuất và rất khó giữ sạch trong khi sử dụng

Với 60 phút chúng ta có 270000 khối dữ liệu,

một khối có 2048 byte dữ liệu thì dung lượng

đĩa sẽ là 553 MB Nếu chúng ta sử dụng hết

79 phút thì sẽ có 681MB Hầu hết các đĩa

CD-ROM đều được sản xuất với dung lượng

từ 700MB-750MB, DVD dung lượng 4,7GB

Kích thước của chúng có hai loại: 3,25

inches và 5,25 inches Cách thức bảo quản và

sử dụng đĩa CD-DVD:

• Không nên bẻ cong đĩa

• Không đốt nóng đĩa

• Không làm trầy xước bề mặt đĩa

• Không sử dụng hoá chất trên bề mặt đĩa

c/ Thiết bị thẻ nhớ, ổ nhớ di động

Các hệ thống lưu trữ di động có thể gồm các

thẻ nhớ, que nhớ, hoặc ổ nhớ USB Có thể bao gồm

cả ổ cứng ngoài có cơ chế hoạt động tương tự các

loại thiết bị lưu trữ di động khác Lợi thế của các loại

thiết bị này là tính lưu động, dung lượng lưu trữ khá

lớn, có khả năng chia sẻ dữ liệu Ổ USB flash (ổ

cứng di động USB, ổ cứng gắn nhanh cổng USB), là

thiết bị lưu trữ dữ liệu sử dụng bộ nhớ flash (một dạng IC nhớ hỗ trợ cắm nóng, tháo lắp nhanh) tích hợp với giao tiếp USB (Universal Serial Bus) Chúng có kích thước

Hình 1.12: Đầu đọc đĩa CD - DVD Rom

Hình 1.13: Thiết bị nhớ USB

Trang 13

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

13

nhỏ, nhẹ, có thể tháo lắp và ghi lại được Dung lượng của các ổ USB flash trên thị trường hiện nay có thể lên đến 256 GB và còn có thể lên nữa trong tương lai Ví dụ: hiện nay phần lớn mọi người sử dụng thẻ nhớ trong máy chụp hình để lưu các bức hình hoặc các đoạn video, thẻ nhớ nhỏ, do đó rất dễ mạng theo nhưng lại có khả năng lưu trữ khối lượng dữ liệu lớn; việc lưu trữ dữ liệu hay sao chép các tập tin từ máy tính này sang máy tính khác cũng thường sử dụng các thiết bị thẻ nhớ USB

d/ Đơn vị đo thường dùng

- Đơn vị đo dung lượng lưu trữ:

Đơn vị nhỏ nhất để biểu diễn thông tin gọi là bit Một bit tương ứng với một sự kiện có 1 trong 2 trạng thái Ví dụ: Một mạch đèn có 2 trạng thái là:

- Tắt (off) khi mạch điện qua công tắc là hở

- Mở (On) khi mạch điện qua công tắc là đóng

Số học nhị phân sử dụng hai ký số 0 và 1 để biểu diễn các số Vì khả năng sử dụng hai số 0 và 1 là như nhau nên một chỉ thị gồm một chữ số nhị phân có thể xem như là đơn vị chứa thông tin nhỏ nhất - bit là chữ viết tắt của Binary digital

Các đơn vị đo dung lượng lưu trữ thường dùng như:

Tên gọi Ký hiệu Giá trị

Các tốc độ quay thông dụng thường là:

• 3.600 rpm: Tốc độ của các ổ đĩa cứng đĩa thế hệ trước

• 4.200 rpm: Thường sử dụng với các máy tính xách tay mức giá trung bình và thấp trong thời điểm 2007

• 5.400 rpm: Thông dụng với các ổ đĩa cứng 3,5" sản xuất cách đây 2-3 năm; với các ổ đĩa cứng 2,5" cho các máy tính xách tay hiện nay đã chuyển sang tốc độ 5400 rpm để đáp ứng nhu cầu đọc/ghi dữ liệu nhanh hơn

• 7.200 rpm: Thông dụng với các ổ đĩa cứng sản xuất trong thời gian hiện tại (2007)

• 10.000 rpm, 15.000 rpm: Thường sử dụng cho các ổ đĩa cứng trong các máy tính

cá nhân cao cấp, máy trạm và các máy chủ có sử dụng giao tiếp SCSI

e/ Lưu trữ dữ liệu trên mạng là gì?

Trang 14

Lưu trữ dữ liệu trên mạng đó là việc sử dụng các dịch vụ lưu trữ dữ liệu trực tuyến để lưu trữ các tập tin tài liệu, song song với việc lưu trữ dữ liệu trên máy tính cục

bộ Việc này cho phép người sử dụng có thể lưu trữ các tập tin có dung lượng lớn trên môi trường mạng và có thể truy xuất đến dữ liệu đó từ bất kì đâu với kết nối Internet Hiện nay có rất nhiều các dịch vụ trực tuyến hỗ trợ thao tác này, nguời dùng cần đăng

ký một tài khoản, tuỳ theo dịch vụ cần dùng, đó có thể là tài khoản miễn phí hay phải trả phí cho nhu cầu sử dụng và dung lượng lưu trữ Sau khi có được tài khoản truy cập, người dùng sử dụng các chức năng của hệ thống để có thể tải lên các tập tin và tổ chức thành các thư mục lưu trữ trên kho dữ liệu trực tuyến Bên cạnh đó, người dùng có thể thực hiện chia sẻ các tập tin đó với người dùng khác thông qua các đường liên kết do

hệ thống tự động tạo ra Việc này cực kì hữu ích khi mà hiện nay các tài khoản email của cá nhân như Gmail, Yahoo mail, MSN chỉ cho phép người dùng gửi kèm các tập tin có dung lượng giới hạn, thì cách lưu trữ dữ liệu là một giải pháp phù hợp và kinh tế Bên cạnh đó, dung lượng mà người sử dụng được cấp bởi các dịch vụ lưu trữ trực tuyến thường khá lớn, có thể lên tới hàng chục GB, điều này giúp giảm đáng kể nhu cầu lưu trữ dữ liệu của người dùng, thay vì phải mua các thiết bị lưu trữ dữ liệu ngoài như USB, ổ cứng di động

Một số các dịch vụ lưu trữ dữ liệu trực tuyến được sử dụng phổ biến hiện nay:

• Google Drive (5GB miễn phí)

• Microsoft SkyDrive (7GB miễn phí)

• Yahoo! Box (5GB miễn phí)

• DropBox với 10GB miễn phí

ngoài ra còn có các dịch vụ chia sẻ như RapidShare, YouSendIt, MediaFire, v.v

1.1.6 Các thiết bị nhập dữ liệu chuẩn

* Bàn phím

Là thiết bị chính giúp người sử dụng giao tiếp và điều khiển hệ thống máy tính Bàn phím có thiết kế nhiều ngôn ngữ, cách bố trí, hình dáng và các phím chức năng khác nhau Về hình dáng, bàn phím là

sự sắp đặt các nút, hay phím Một bàn

phím thông thường có các ký tự được

khắc hoặc in trên phím; với đa số bàn

phím, mỗi lần nhấn một phím tương ứng

với một ký hiệu được tạo ra Tuy nhiên,

để tạo ra một số ký tự cần phải nhấn và

giữ vài phím cùng lúc hoặc liên tục; các

phím khác không tạo ra bất kỳ ký hiệu Hình 1.14: Bàn phím máy tính

Trang 15

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

15

nào, thay vào đó tác động đến hành vi của máy tính hoặc của chính bàn phím Thông thường một bàn phím có từ 83 đến 105 phím và chúng được chia bốn nhóm phím: phím dùng soạn thảo, phím chức năng, các phím số và nhóm phím điều khiển màn hình Bàn phím được nối với máy tính thông qua cổng PS/2 và USB hoặc thông qua kết nối không dây Bluetooth

* Chuột máy tính

Đây là thiết bị trợ giúp người sử dụng thao tác với máy tính, nó có hình dáng giống chuột Chúng thường sử dụng trên các giao diện đồ hoạ Được nối với máy tính qua cổng PS/2, COM hay USB Chuột máy tính phân loại theo nguyên lý hoạt động có hai loại chính: Chuột bi và chuột quang

+ Chuột bi: Chuột bi là chuột sử dụng nguyên lý xác định chiều lăn của một viên bi khi thay đổi, khi di chuyển chuột để xác định sự thay đổi toạ độ của con trỏ trên màn hình máy tính Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của chuột bi có dây bao gồm:

• Viên bi được đặt tại đáy chuột, có khả năng tiếp xúc

với bề mặt bằng phẳng nơi chuột tiếp xúc Viên bi có thể lăn

tự do theo các chiều khác nhau

• Hai thanh lăn trong bố trí tiếp xúc với viên bi Bất kỳ

sự di chuyển của viên bi theo phương nào đều được quy đổi

chuyển động theo hai phương và làm quay hai thanh lăn này

Tại các đầu thanh lăn có các đĩa đục lỗ đồng trục với thanh

lăn dùng để xác định sự quay của thanh lăn

• Hai bộ cảm biến ánh sáng (phát và thu) để xác định

chiều quay, tốc độ quay tại các đĩa đục lỗ trên thanh lăn

• Mạch phân tích và chuyển đổi tín hiệu Dây dẫn và đầu cắm theo kiểu giao tiếp của chuột truyền kết quả điều khiển về máy tính

+ Chuột quang: Chuột quang là một loại chuột vi tính

được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới hiện nay Chuột

quang hoạt động trên nguyên lý phát hiện phản xạ thay đổi

của ánh sáng (hoặc Lade) phát ra từ một nguồn cấp để xác

định sự thay đổi toạ độ của con trỏ trên màn hình máy

tính Ưu điểm của chuột quang:

• Độ phân giải đạt được cao hơn nên cho kết quả

chính xác hơn so với chuột bi nếu sử dụng trên chất liệu

mặt phẳng di chuột hợp lý (hoặc các bàn di chuyên dụng)

• Điều khiển dễ dàng hơn do không sử dụng bi

• Trọng lượng nhẹ hơn chuột bi

Hình 1.15: Chuột máy tính

Hình 1.16: Chuột quang máy

tính

Trang 16

Nhược điểm của chuột quang thường là sự kén chọn mặt phẳng làm việc hoặc bàn di chuột, trên một số chuột quang không thể làm việc trên kính Những nhược điểm này sẽ dần được khắc phục về thiết kế khi chuột quang sử dụng công nghệ Lade

Ngày nay chuột quang và các loại chuột khác đang dần thay thế chuột bi do chúng có nhiều ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của chuột bi thường thấy ở trên

* Bảng chạm (Touchpad):

Thiết bị cảm ứng cho phép người sử dụng có thể dùng tay để di chuyển chuột khắp màn hình Thiết bị này phổ biến trên các máy laptop, notebook, và hoàn toàn có thể mua rời để dùng cho máy để bàn Bảng cảm ứng có 2 nút hoạt động tương tự như chuột trái và phải của chuột máy tính

• Để di chuyển con trỏ chuột khắp màn hình, chỉ cần đặt ngón tay vào điểm bất ký trên bảng cảm ứng và trượt ngón tay trên đố theo hướng bạn muốn di chuyển con trỏ chuột

• Để lựa chọn một đối tượng, di chuyển chuột đến đối tượng đó rồi gõ một lần lên bảng cảm ứng hoặc nhấp phím bên trái ở phía dưới bảng cảm ứng

• Để kích hoạt một đối tượng, đặt con trỏ chuột vào đối tượng rồi gõ 2 lần liên tục vào bảng cảm ứng hoặc nhấp đúp vào nút bên trái dưới bảng cảm ứng

• Để kéo một đối tượng, đặt chuột vào đối tượng, nhấn phím Ctrl rồi di tay trên bảng cảm ứng tới vị trí mong muốn

• Để hiển thị menu rút gọn, đặt trỏ chuột vào đối tượng rồi nhấp nút phải dưới

Trang 17

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

17

bất cứ thứ gì, miễn là có sự va chạm trên bề mặt của thiết bị cảm ứng như máy tính bảng, điện thoại cảm ứng

* Cần điều khiển (Joystick):

Cần điều khiển là một thiết bị đầu vào bao gồm

một cần có thể xoay quanh một trục và thông báo giá trị

góc hoặc hướng của mình cho các thiết bị mà nó kiểm

soát Cần điều khiển, còn được gọi là cột kiểm soát, là

thiết bị điều khiển chính trong buồng lái của các máy

bay dân sự và quân sự Nó thường có công tắc bổ sung

để kiểm soát các khía cạnh khác nhau của máy bay Cần

điều khiển thường được sử dụng để điều khiển trò chơi

video, và thường có một hoặc nhiều nút nhấn mà trạng

thái của nó được gửi tới và xử lý trên máy tính Một

dạng phổ biến khác của các phím điều khiển được sử

dụng trên game console hiện đại là cần analog Cần điều

khiển cũng được sử dụng cho các máy móc như cần cẩu,

xe tải, xe không người lái dưới nước, xe lăn, camera

giám sát Một mô hình thu nhỏ của cần điều khiển chính là nút điều hướng được thiết

kế trên các thiết bị điện thoại di động, khi đó, các thao tác của người sử dụng trên nút điều khiển sẽ được thu giữ và gửi về trung tâm xử lý

* Máy ghi hình trực tiếp (webcam)

Webcam (viết ghép từ Website camera, viết tắt là wc) là loại thiết bị ghi hình kỹ thuật số được kết nối với máy vi tính để truyền trực tiếp hình ảnh nó ghi được lên một website nào đó, hay đến một máy tính khác nào đó thông qua mạng Internet Về cơ bản, webcam giống như máy ảnh kỹ thuật số nhưng khác ở chỗ các chức năng chính của nó do phần mềm cài đặt trên máy tính điều khiển và xử lý Thiết bị này thường được sử dụng tích hợp vào các phần mềm cho phép người dùng gửi tin nhắn trực tuyến như: Yahoo, Facebook, Hangouts

Ngày nay, nhiều webcam còn có thể dùng để quay phim, chụp ảnh rồi lưu vào máy vi tính, hoặc dùng trong công tác an ninh như truyền hình ảnh nó ghi được đến trung tâm kiểm soát từ xa

* Máy ảnh kỹ thuật số

Đây là một máy điện tử dùng để thu và lưu giữ

hình ảnh một cách tự động thay vì phải dùng phim ảnh

giống như máy chụp ảnh thường, thiết bị có khả nằng

thu hình ảnh dưới dạng dữ liệu số hoá để người sử dụng

có thể chuyển trực tiếp sang máy tính, sau đó được xem

Hình 1.18: Cần điều khiển

Joystick

Hình 1.19: Máy ảnh kỹ thuật số

Trang 18

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

hình thông qua một dây cáp đặc biệt nối máy chụp hình với máy tính hoặc Tivi, hoặc người dùng có thể in hình bằng máy in ảnh Đôi khi người dùng có thể dùng thẻ nhớ với dung lượng lưu trữ và kích thước khác nhau để có thể lưu được nhiều file ảnh hơn

Những máy chụp ảnh số đời mới thường có nhiều chức năng, ví dụ như có thể ghi âm, quay phim Ngày nay, máy chụp ảnh số bán chạy hơn máy chụp ảnh phim 35mm Máy ảnh số hiện nay bao gồm từ loại có thể thu gọn vào trong điện thoại di động cho đến sử dụng trong các thiết bị chuyên nghiệp như kính viễn vọng không gian Hubble và các thiết bị trên tàu vũ trụ

* Microphone

Microphone cho phép người dùng thực hiện công việc ghi âm và chuyển những

âm thanh đó sang dạng số hoá để sử dụng trên máy tính Phần mềm chuyên dụng nhận dạng giọng nói của bạn rồi chuyển những gì bạn nói sang dạng văn bản hiện trên màn hình Điều này đặc biệt có lợi cho những người dùng có yêu cầu đặc biệt, không thể thao tác và sử dụng máy tính như người bình thường Microphone thường không bao gồm trong máy tính để bàn, tuy nhiên trên các thiết bị laptop hiện nay, nó thường được tích hợp sẵn trên thiết bị

* Máy quét ảnh (Scanner)

Máy quét ảnh hay thường được gọi tắt là máy quét,

là một thiết bị quét quang học hình ảnh, văn bản trên giấy,

chữ viết tay hay vật thể chuyển đổi thành ảnh kỹ thuật số

Máy quét thường đi kèm một thiết bị đầu ra là máy tính

Ngoài việc sử dụng trong quá trình số hóa các tài liệu

thành ảnh kỹ thuật số, nếu hình ảnh là văn bản in thì khi

kết hợp máy quét với một phần mềm nhận dạng ký tự

tương thích người ta có thể biến các văn bản in thành các

văn bản lưu trữ trên máy tính

1.1.7 Các thiết bị xuất dữ liệu chuẩn

* Màn hình

Màn hình được coi là thiết bị xuất dữ liệu chuẩn của máy tính, đây là thiết bị điện tử gắn liền với máy tính với mục đích chính là hiển thị và giao tiếp giữa người sử dụng với máy tính Đối với các máy tính cá nhân (PC), màn hình máy tính là một bộ phận tách rời Đối với máy tính xách tay màn hình là một bộ phận gắn chung không thể tách rời Đặc biệt: màn hình có thể dùng chung (hoặc không sử

dụng) đối với một số hệ máy chủ

Về phân loại, có nhiều loại màn hình máy tính, theo

nguyên lý hoạt động thì có các loại màn hình máy tính sau:

+ Màn hình máy tính loại CRT: là các loại màn hình máy tính với

Hình 1.20: Máy quét -

scanner

Trang 19

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

+ Màn hình máy tính loại tinh thể lỏng: là loại màn hình máy tính dựa trên công nghệ

về tinh thể lỏng nên rất linh hoạt, có nhiều ưu điểm hơn màn hình CRT truyền thống,

do đó hiện nay đang được sử dụng rộng rãi, dần thay thế màn hình CRT

- Ưu điểm: Mỏng nhẹ, không chiếm diện tích trên bàn làm

việc Ít tiêu tốn điện năng so với màn hình loại CRT, ít ảnh

hưởng đến sức khoẻ người sử dụng so với màn hình CRT

- Nhược điểm: Giới hạn hiển thị nét trong độ phân giải

thiết kế (hoặc độ phân giải bằng 1/2 so với thiết kế theo cả

hai chiều dọc và ngang), tốc độ đáp ứng chậm hơn so với

màn hình CRT , màu sắc chưa trung thực bằng màn hình

CRT

* Màn hình cảm ứng

Màn hình cảm ứng là một thiết bị sử dụng trong máy vi tính hoặc các thiết bị cầm tay thông minh Thiết bị bao gồm:

• Một màn hình hiển thị thông thường như LCD hoặc LED

• Một lớp cảm ứng phía trên bề mặt để thay thế cho chuột máy vi tính Lớp cảm ứng là một ma trận xác định vị trí nhấn lên trên màn hình

Về cấu tạo của lớp cảm ứng thì có nhiều loại:

Hình 1.22: Màn hình LCD

Hình 1.22: Màn hình cảm ứng trên máy tính bảng

Trang 20

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

• Cảm ứng hồng ngoại Đây là loại cảm ứng xuất hiện đầu tiên với việc sử dụng một ma trận các tia hồng ngoại không nhìn thấy đan xen trên bề mặt của màn hình hiển thị

• Cảm ứng sóng âm bề mặt: Loại cảm ứng này sử dụng một sóng vô tuyến bước sóng ngắn Nguyên lý hoạt động giống cảm ứng hồng ngoại

• Cảm ứng điện trở 5 lớp: Đây là lớp cảm ứng sử dụng trên nguyên lý tăng trở kháng của ma trận dây dẫn để cảm nhận được vị trí bấm nhấn trên màn hình Lớp cảm ứng này chỉ cảm nhận được 1 điểm tại cùng một thời điểm nhấn, cần lực nhấn lên trên

• Cảm ứng sóng âm bề mặt đa chiều: Đây là lớp cảm ứng phát triển lên từ cảm ứng sóng âm bề mặt Lớp cảm ứng này có thể cảm nhận được các tác động ở một khoảng cách khá xa với màn hình hoặc một mặt phẳng đích được nhắm tới Lớp cảm ứng này mới chỉ đang được nghiên cứu trên một số thiết bị chuyên dụng như máy chiếu hoặc máy tính bảng thế hệ mới

Hiện nay rất nhiều hệ thống phần cứng sử dụng màn hình cảm ứng trong việc tương tác với người sử dụng, có thể dùng tay hoặc bút điện tử để chọn và kích hoạt các chức năng trên màn hình của chương trình ứng dụng Những hệ thống này có thể là các thiết bị máy tính bảng, điện thoại thông minh, hay các thiết bị hỗ trợ cá nhân số (PDA)

* Máy in

Máy in là thiết bị được sử dụng để chuyển những gì hiển thị trên màn hình sang dạng bản in khi bạn kích hoạt lệnh in từ chương trình ứng dụng Các chương trình ứng dụng cho phép bạn có các lựa chọn in khác nhau như in theo chiều ngang, chiều dọc, kích thước giấy và đặt giấy in bằng tay hay tự động

Tuỳ thuộc vào nhu cầu và mục đích sử dụng mà lựa chọn loại máy in cho phù hợp Máy in dùng trong văn phòng bao gồm nhiều thể loại và công nghệ khác nhau Thông dụng nhất và chiếm phần nhiều nhất hiện nay trên thế giới là máy in ra giấy và

sử dụng công nghệ laser, ngoài ra còn một số loại máy in

khác nhau như: máy in phun, máy in ảnh hoặc máy in đa

năng

Đa phần các máy in được sử dụng cho văn phòng,

chúng được nối với một máy tính hoặc một máy chủ dùng in

Trang 21

Hiểu biết về Công nghệ thông tin

Máy in laser có tốc độ in thường cao hơn các loại máy in khác, chi phí cho mỗi bản in thường tương đối thấp Máy in laser có thể in đơn sắc (đen

trắng) hoặc có màu sắc

- Máy in kim: Máy in kim sử dụng các kim để chấm qua một

băng mực làm hiện mực lên trang giấy cần in Máy in kim đã

trở thành lạc hậu do các nhược điểm: In rất chậm, độ phân giải

của bản in rất thấp (chỉ in được thể loại chữ, không thể in được

tranh ảnh) và khi làm việc chúng rất ồn Ngày nay máy in kim

chỉ còn xuất hiện tại các cửa hàng, siêu thị để in các hoá đơn

như một thiết bị nhỏ gọn cho các bản in chi phí thấp

- Máy in phun: Máy in phun hoạt động theo theo

nguyên lý phun mực vào giấy in (theo đúng tên

gọi của nó) Mực in được phun qua một lỗ nhỏ

theo từng giọt với một tốc độ lớn (khoảng 5000

lần/giây) tạo ra các điểm mực đủ nhỏ để thể hiện

bản in sắc nét Đa số các máy in phun thường là

các máy in màu (có kết hợp in được các bản đen

trắng) Để in ra màu sắc cần tối thiểu 3 loại mực

Các màu sắc được thể hiện bằng cách pha trộn

ba màu cơ bản với nhau So sánh trong các thể

loại máy in thì máy in phun thường có chi phí trên mỗi bản in lớn nhất Các máy in phun thường có giá thành thấp (hơn máy in laser) nhưng các hộp mực cho máy in phun lại có giá cao, số lượng bản in trên bộ hộp mực thấp

* Loa và tai nghe

Loa máy tính là thiết bị dùng để

phát ra âm thanh phục vụ nhu cầu làm việc

và giải trí của con người với máy tính cần

đến âm thanh Loa máy tính thường được

kết nối với máy tính thông qua ngõ xuất

audio, cổng usb của card âm thanh trên

Hình 1.24: Máy in kim

Hình 1.25: Máy in phun màu

Hình 1.26: Loa và amply máy tính

Trang 22

máy tính Loa máy tính gắn ngoài dùng cho phát âm thanh phục vụ giao tiếp và giải trí thường được tích hợp sẵn mạch công suất, do đó loa máy tính có thể sử dụng trực tiếp với các nguồn tín hiệu đầu vào mà không cần đến bộ khuếch đại công suất (amply)

Loa máy tính cũng có thể là một loa điện động kết nối với mainboard hoặc một loa gốm tích hợp sẵn trong mainboard với chức năng phát tiếng kêu trong quá trình khởi động máy tính (POST) để đưa ra thông báo về tình trạng phần cứng (tùy theo hãng sản xuất BIOS mà có các "mã bíp" riêng, người sử dụng có thể chuẩn đoán lỗi (nếu xuất hiện) thông qua mã bíp của chúng

Trong một số trường hợp tai nghe

(headphone) được sử dụng thay thế cho loa máy

tính (thích hợp trong công sở, phòng games hoặc

các tụ điểm truy cập Internet có nhiều máy trong

một không gian giới hạn) Về cấu tạo, nó cũng là

những chiếc loa có kích thước nhỏ gọn, công

suất thấp, thiết kế để người dùng có thể đeo vào

tai (và thường tích hợp thêm micro) Loại này

cắm thẳng vào card âm thanh mà không cần

mạch khuyếch đại (trừ dạng tai nghe không dây

có mạch phát và khuếch đại trực tiếp), chúng có

thể được gắn thêm biến trở để điều chỉnh âm lượng phù hợp với âm lượng muốn nghe

1.1.8 Một số cổng mở rộng thường dùng

* Các cổng giao tiếp nối tiếp

Cổng nối tiếp (Serial port) là

một cổng thông dụng trong các máy

tính trong các máy tính truyền thống

dùng kết nối các thiết bị ngoại vi với

máy tính như: bàn phím, chuột điều

khiển, modem, máy quét Cổng nối

tiếp còn có tên gọi khác như: Cổng

COM Cổng nối tiếp thường được tích

hợp sẵn trên các máy tính cá nhân từ

giữa năm 1990 trong các hệ thống máy

tính cá nhân sử dụng CPU thế hệ thứ tư (i486) Chúng thường được tích hợp sẵn trên các bo mạch chủ thông qua chip Super I/O (thay cho các chip UART trước đây) để thuận tiện hơn mà không cần sử dụng các bo mạch riêng cho chúng Tuy nhiên, do tốc

độ truyền dữ liệu chậm hơn so với các cổng mới ra đời nên các cổng nối tiếp đang dần

bị loại bỏ trong các chuẩn máy tính hiện nay, chúng được thay thế bằng các cổng có tốc

Hình 1.27: Tai nghe - headphone

Hình 1.28: Cổng kết nối nối tiếp trên máy tính PC

Ngày đăng: 24/07/2021, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN