Trang 3 bản án 18A/2016/DSST ngày 15/6/2015 về việc “Tranh cấp đặt cọc” “Xét yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Hà Văn Linh thì thấy rằng: Mục đích vợ chồng ông Linh mua đất là để xây d
Trang 1Vấn đề 1: Thông tin trong giao kết hợp đồng
Nghiên cứu:
- Điều 387 và Điều 126 BLDS 2015 (Điều 131 BLDS 2005) và các quy định liên quan khác (nếu có);
- Bản án số 18A/2016/DSST ngày 15/6/2016 của Toà án nhân dân TP Tuy Hoà tỉnh Phú Yên.
Tóm tắt bản án
Nguyên đơn vợ chồng ông Linh bà Lộc có thoả thuận về việc mua bán đất với bị đơn
là vợ chồng ông Thành bà Dinh Nguyên đơn đã viết giấy nhận cọc với bị đơn và hẹn vào ngày 15/102015 bên mua và bán sẽ hoàn tất nghĩa vụ của nhau, tuy nhiên sau đó nguyên đơn phát hiện lô đất mà bị đơn bán cho nguyên đơn thuộc diện giải toả của nhà nước nên không giống những gì bị đơn đã cung cấp trước đó Vì vậy nguyên đơn khởi kiện bị đơn trả 50.000.000đ tiền cọc Bị đơn cho rằng việc mua bán đất xuất phát trên tinh thần tự nguyện của nguyên đơn và bị đơn không biết đất đó bị thu hồi nên không đồng ý trả cọc Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về phần lỗi các bên đều có lỗi nên các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
Vấn đề 1: Thông tin trong giao kết hợp đồng
Tóm tắt bản án 18A/2016/DSST ngày 15/6/2015 về việc “Tranh cấp đặt cọc”
Vợ chồng ông Linh, bà Lộc có giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Thành, bà Dinh Vợ chồng ông Linh có đặt cọc 50.000.000đ cho vợ chồng ông Thành Tuy nhiên sau khi đặ cọc thì ông Linh mới biết đây là lô đất cấp theo Nghị định 64 và đã có thông báo thu hồi Ông Thành cho rằng việc mua bán là do các bên phải tìm hiểu do đó không trả tiền cọc Xét thấy, lô đất không những là đất vườn theo Nghị định 64 mà còn không thuộc quyền sở hữu của ông Thành nên hợp đồng đặt cọc
vô hiệu Yêu cầu ông Thành trả lại tiền đặt cọc cho vợ chồng ông Linh, bà Lộc
Câu 1: Theo Tòa án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua về lô đất chuyển nhượng không?
Theo Tòa án, bên bán phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua về lô đất chuyển nhượng Nếu cung cấp sai thông tin thì hợp đồng sẽ vô hiệu
Trang 3 bản án 18A/2016/DSST ngày 15/6/2015 về việc “Tranh cấp đặt cọc”
“Xét yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Hà Văn Linh thì thấy rằng: Mục đích vợ chồng ông Linh mua đất là để xây dựng nhà ở mà phải là đất thổ cư theo quy định của pháp luật; Tuy nhiên diện tích đất mà vợ chồng ông Thành bán cho vợ chồng ông Linh
là đất vườn theo Nghị định 64 của Chính phủ và đã có thông báo thu hồi đất nhưng khi giao kết hợp đồng đặt cọc vợ chồng ông Thành không cung cấp rõ thông tin về lô
Trang 2đất; Mặt khác quyền sử dụng đất mà vợ chồng ông Thành chuyển nhượng cho vợ chồng ông Linh không thuộc quyền sở hữu của mình mà của ông Trần Dậu nhưng vợ chồng ông Thành chuyển nhượng cho vợ chồng ông Linh Vì vậy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không hợp pháp cho nên hợp đồng đặt cọc giữa vợ Hà Văn Linh
và vợ chồng ông Đỗ Kim Thành đương nhiên vô hiệu”
Câu 2: Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải cung cấp thông tin về lô đất chuyển nhượng không? Vì sao?
Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải cung cấp thông tin về lô đất chuyển nhượng
Căn cứ theo Điều 443 BLDS 2015 quy định: “Bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ này thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện trong một thời hạn hợp lý; nếu bên bán vẫn không thực hiện làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”
Vì nó cho biết được toàn bộ thông tin của lô đất như: chất lượng, giá cả, thực trạng, chủ sở hữu của lô đất,… Từ đó dẫn đến việc có chấp nhận giao kết hợp đồng hay không
Cùng với đó là việc nếu có thông tin nào đó ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết thì phải báo để tránh dẫn đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng và xảy ra thiệt hại Căn cứ khoản 1 Điều 387: “1 Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.”
Câu 3: Việc Tòa án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn là chưa thuyết phục Giao dịch được xem là nhầm lẫn theo Điều 126 BLDS 2015: “1 Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.” Nhầm lẫn xảy ra khi một hoặc cả 2 bên đều không thống nhất ý chí trong việc xác lập hợp đồng Trong trường hợp vụ án này, ông Thành đã khẳng định đây là ở chứ không phải đất vườn, có giấy tờ đầy đủ (trong khi đây là khu đất nằm trong Nghị định 64 và
đã có thông báo thu hồi) Cho thấy giấy tờ trên có thể là giả hoặc không phù hợp với quy định pháp luật Sau khi điều tra thì chủ sở hữu thật sự là ông Trần Dậu nhưng ông Thành lại chuyển nhượng một cách bất hợp pháp Xét những điều kiện nêu trên thì đây không phải là sự nhầm lẫn
Cùng với đó, Điều 443 BLDS 2015 quy định: “Bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ này thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải
Trang 3thực hiện trong một thời hạn hợp lý; nếu bên bán vẫn không thực hiện làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.” Bên bán ở đây là ông Thành đã cố tình cung cấp thông tin sai lệch để bên mua là ông Linh chấp nhận giao kết hợp đồng mà không
hề thông báo như quy định tại khoản 1 Điều 387 BLDS 2015: “Trường hợp một bên
có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.”
Vậy, giao dịch trên vô hiệu do sự lừa dối theo Điều 127 BLDS 2015: “Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân
sự nên đã xác lập giao dịch đó.”
Câu 4: Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có cho phép xử lý theo hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn không? Vì sao?
Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 không cho phép xử lý theo hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn
Căn cứ theo khoản 1 Điều 387 BLDS 2015: “Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.”
Ông Thành cung cấp giấy tờ không rõ ràng, nhận mình là chủ sở hữu mảnh đất đang đứng tên người khác Không thông báo về lô đất đang thu hồi dẫn đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng Đây là hành vi với khả năng cao là lừa dối chứ không phải do nhầm lẫn
Trang 4Vấn đề 2: Hợp đồng vô hiệu một phần và hậu quả hợp đồng vô hiệu
Nghiên cứu:
- Điều 130, Điều 131, Điều 133 BLDS 2015 (Điều 135, Điều 137, 138 BLDS 2005)
và các quy định liên quan khác (nếu có);
- Quyết định số 22/2020/DS-GĐT ngày 23/04/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Quyết định số 319/2011/DS-GĐT ngày 28/03/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Tóm tắt Quyết định số 22/2020/DS-GĐT Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Nguyên đơn: Vũ Ngọc Khánh
Vũ Ngọc Tuấn
Vũ Thị Tường Vy
Bị đơn: Trần Thiết Học
Đào Thị Mỹ
Nguyễn Thị Dung
Ngày 04/12/2002, bà Dung có Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất 252,6m2 đất thổ tại
Tổ 2 nay là số 631, quốc lộ 13, khu phố Ninh Thành, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (đơn ghi nguồn gốc sử dụng là đất cấp sổ trắng cho ông Long năm 1989, ông Long mất để lại cho vợ) Ngày 31/12/2003, Ủy ban nhân dân huyện Lộc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 252,6m2 đất thổ cho bà Dung Thời điểm này, hộ bà Dung có bà Dung chủ hộ và các con là Khánh, Tuấn, Vy Như vậy có căn cứ xác định diện tích 252,6m2 đất thổ là tài sản chung của bà Dung và các anh chị Khánh, Tuấn, Vy Trong hợp đồng ủy quyền được Ủy ban nhân dân huyện Lộc Ninh chứng thực ngày 27/7/2011 thể hiện các anh chị Khánh, Tuấn, Vy cùng ủy quyền cho
bà Dung được làm thủ tục ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Tuy nhiên các anh chị Khánh, Tuấn, Vy không thừa nhận ký vào hợp đồng nêu trên Nên yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng Tại Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án cấp giám đốc thẩm bác yêu cầu của anh chị Khánh, Tuấn, Vy khi chưa đủ khẳng định các anh, chị Khánh, Tuấn, Vy cùng ủy quyền cho bà Dung được chuyển nhượng quyền sử
Trang 5dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên là không đúng Quyết định chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 96/2019/KN-DS ngày 29/11/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, hủy Quyết định giám đốc thẩm nêu trên, hủy Bản
án dân sự phúc thẩm số 80/2016/DSPT ngày 13/9/2016, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2016/DSST ngày 29/4/2016
2.1 Khi nào hợp đồng vô hiệu một phần, vô hiệu toàn phần ? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Hợp đồng dân sự bị vô hiệu toàn phần: Là hợp đồng có toàn bộ nội dung vô hiệu, hoặc tuy chỉ có một phần nội dung vô hiệu nhưng phần đó lại ảnh hưởng đến hiệu lực của toàn bộ Hợp đồng Khi có những căn cứ cho là toàn bộ điều khoản của Hợp đồng vô hiệu, thì Hợp đồng vô hiệu toàn bộ Căn cứ làm cho Hợp đồng vô hiệu có thể xuất phát từ sự vi phạm nội dung Hợp đồng, nhưng cũng có thể là những căn cứ khác như: mục đích, năng lực giao kết Hợp đồng, Hợp đồng giả tạo,… Tại đây BLDS đã phân ra các trường hợp hợp đồng bị vô hiệu toàn phần như sau: Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội tại Điều 123; giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện được quy định tại Điều 125; giao dịch dân
sự vô hiệu do giả tạo; giao dịch dân sự do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép được quy định tại Điều 127; giao dịch dân sự do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình quy định ở Điều 128 Tại các trường hợp này toàn bộ nội dung của hợp đồng bị vô hiệu
Hợp đồng vô hiệu từng phần (vô hiệu một phần): Là những Hợp đồng được xác lập
mà có một phần nội dung của nó không có giá trị pháp lý nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần khác của Hợp đồng đó Đối với một Hợp đồng vô hiệu từng phần, ngoài phần vô hiệu không được áp dụng, các phần còn lại vẫn có giá trị thi hành, nên các bên vẫn phải tiếp tục thi hành trong phạm vi phầm Hợp đồng vẫn còn hiệu lực BLDS quy định Hợp đồng vô hiệu trong các trường hợp sau: Giao dịch dân
sự vô hiệu do bị nhầm lẫn quy định tại Điều 126; giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức quy định tại Điều 129
Trang 62.2 Đoạn nào cho thấy trong quyết định số 22 đã có việc chuyển nhượng tài sản chung của gia đình mà không có sự đồng ý của tất cả các thành viên trong hộ gia đình ?
- Trong quyết định số 22 đoạn cho thấy đã có việc chuyển nhượng tài sản chung của gia đình mà không có sự đồng ý của tất cả các thành viên trong hộ gia đình là:
“ Hợp đồng ủy quyền được Ủy ban nhân dân thị trấn Lộc Ninh chứng thực ngày 27/7/2011 thể hiện các anh, chị Khánh, Tuấn, Vy cùng ủy quyền cho bà Dung được làm thủ tục ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất không có hiệu lực.”
2.3 Đoạn nào trong quyết định số 22 cho thấy Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồn chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần ?
- Trong quyết định số 22 đoạn cho thấy Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồn chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần là :
“Trong trường hợp này, do các thành viên trong gia đình không có thỏa thuận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, nên xác định quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của tất cả các thành viên theo phần và áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần để giải quyết Theo đó, phần quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản của bà Dung đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Học nếu đúng quy định của pháp luật thì có hiệu lực Còn phần quyền sử dung, quyền sở hữu của các anh, chị Khánh, Tuấn, Vy là vô hiệu theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Dân sự năm 2005.”
2.4 Suy nghĩ của anh chị về việc Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần.
Theo tôi việc Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần là không thực sự thuyết phục Bởi lẽ trong Hợp đồng ủy quyền cho bà Dung làm thủ tục ký kết Hợp đồng chuyển nhượng đất được chứng thực ngày 27/7/2011 đã có chữ ký của các thành viên trong hộ gia đình, tuy nhiên những thành viên này đều không thừa nhận đó là chữ ký của họ và trong đây bà Dung cũng nói là không biết Giả sử bà Dung là người giả mạo những chữ ký này Cùng với đó, việc
Trang 7giám định chữ ký của các thành viên này cũng không đủ cơ sở để kết luận có phải là chữ ký của các thành viên hay không, đồng thời Ủy ban nhân dân thị trấn Lộc Ninh cũng thừa nhận tại thời điểm chứng thực chữ ký đã không có mặt họ Điều này cho thấy Hội đồng thẩm phán đã chưa xét xử rõ có phải là chữ ký do bà Dung giả mạo hay không mà đã ra quyết định là vô hiệu một phần của hợp đồng Nếu ở đây bà Dung giả mạo chữ ký thì đã mắc phải Điều 123 quy định về giao dịch dân sự do vi phạm điều cấm của luật, trái với đạo đức xã hội Do vậy trường hợp này Hợp đồng sẽ bị vô hiệu toàn phần chứ không phải chỉ vô hiệu một phần như theo hướng Hội đồng thầm phán xét xử
2.5 Thay đổi về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS 2015.
- BLDS 2015 đã tách vấn đề “hoa lợi, lợi tức” là đối tượng của hợp đồng vô hiệu ra khỏi quy định về khôi phục lại tình trạng ban đầu và có quy định mới là việc trả “hoa lợi, lợi tức” cần phải có yếu tố “ngay tình” của người nhận tài sản Cụ thể: Tại khoản
2 Điều 137 BLDS 2005: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình
trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”
- Tại điều luật này, đã phát sinh cái nhược điểm như vầy: điều luật này thì theo hướng vấn đề hoa lợi, lợi tức là vấn đề của “khôi phục lại tình trạng ban đầu” Tuy nhiên, ở thời điểm trước khi giao dịch được xác lập, hoa lợi, lợi tức chưa tồn tại nên nếu buộc bên nhận tài sản (như bên mua, bên được tặng cho) làm phát sinh hoa lợi, lợi tức trả cho bên giao tài sản (như bên mua bán, bên tặng cho) hoa lợi, lợi tức thu được thì sẽ dẫn đến bên giao tài sản được nhận những thứ không có ở tình trạng ban đầu Nói cách khác, nếu buộc bên nhận tài sản làm phát sinh hoa lợi, lợi tức trả cho bên kia hoa lợi, lợi tức chúng ta không những khôi phục tình trạng ban đầu mà còn làm cho bên giao tài sản vào hoàn cảnh hơn tình trạng ban đầu
- Từ đó dẫn đến BLDS 2015 đã khắc phục được hạn chế, sai sót đó khi tách đã tách vấn đề “hoa lợi, lợi tức” là đối tượng của hợp đồng vô hiệu ra khỏi quy định về khôi phục lại tình trạng ban đầu ra thành một khoản riêng Ở đây, BLDS 2005 quy định về
số phận của hoa lợi, lợi tức khi giao dịch dân sự vô hiệu không thống nhất với Điều
601 BLDS 2005 (được duy trì trong BLDS 2015) Tại Điều 601 thì tiêu chí để xác định số phận của hoa lợi, lợi tức khi giao dịch dân sự vô hiệu là sự ngay tình của người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật và trên thực tế Tòa án cũng giải
Trang 8quyết trên cơ sở Điều 601 BLDS 2015 đã giải quyết được bất cập trên thông qua quy định tại Khoản 3 Điều 131: “Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó” Tạo ra sự thống nhất với tiêu chí để xác định số phận của hoa lợi, lợi tức của người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật đó chính là dựa vào có hay không có yếu tố “ngay tình” Điều này có nghĩa là việc trả hay không trả hoa lợi, lợi tức phụ thuộc vào sự ngay tình hay không ngay tình của người nhận tài sản như các quy định về hoàn trả tài sản do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
2.6 Trong quyết định số 319, lỗi của các bên được Tòa giám đốc thẩm xác định như thế nào ?
2.7 Quyết định số 319, Tòa dân sự cho biết ông Vinh sẽ được bồi thường như thế nào ?
- Tòa án dân sự sơ thẩm cho biết ông Vinh sẽ được bồi thường số tiền từ anh Lộc và
chị Lan là 161.775.000đ Tại tòa phúc thẩm đã hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông Vinh và vợ chồng Lộc, Lan Theo đó ông Vinh cũng sẽ được số tiền hoàn trả từ anh Lộc và chị Lan đồng thời sẽ nhận thêm một khoản bồi thương thiệt hại tổng cộng hai khoản tiền là 126.712.500đ
2.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa dân sự.
2.9 Với các thông tin trong Quyết định số 319, ông Vinh sẽ được bồi thường khoản tiền cụ thể là bao nhiêu ? Vì sao ?
Trang 9Vấn đề 3: Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thời hạn
Nghiên cứu:
- Điều 293và Điều 335 BLDS 2015 (Điều 361 BLDS 2005);
- Quyết định số 05/2020/KDTM-GĐT ngày 26/02/2020 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao
Câu 3.1 Thư bảo đảm của Ngân hàng có thời hạn như thế?
Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 07/20151 Bảo lãnh ngân hàng ngân hàng là bên bảo lãnh cho một bên khác gọi là bên được bảo lãnh, việc bảo lãnh là việc bên được bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh sẽ phải thực hiện thay nghĩa vụ tài chính của bên được bảo lãnh Thời hạn của thư bảo đảm Ngân hàng là sự thỏa thuận giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh nhưng tối thiểu phải bằng thười hạn hiệu lực của cam kết bảo lãnh quy định tại khoản 2 Điều 19 Thông tư 07/20152
Câu 3.2 Nghĩa vụ của Cty Cửu Long đối với Cty KNV có phát sinh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng không?
Có.
Nghĩa vụ của Cty Cửu Long đối với Cty KNV phát sinh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng vì Cty KNV đã chuyển vào tài khoản Cty Cửu Long tại Ngân hàng Việt Á 3.060.000.000 đồng ngày 15/4/2016 nên thời gian mà Cty Cửu Long thực hiện nghĩa vụ vào ngày 5/5/2016 nhưng đến hạn chậm nhất là ngày 9/5/2016 vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ Ngân hàng Việt Á là bên đảm bảo cho Cty Cửu Long thực hiện đúng nghĩa vụ Thư tu chỉnh nghĩa vụ bảo lãnh ngày 04/5/2016 thì thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng là 17 giờ 00 ngày 09/5/2016 Cty Cửu Long có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trước 17 giờ 00 ngày 09/5/2016.
Câu 3.3 Theo Tòa án nhân dân tối cao, khi người có quyền (Cty KNV) khởi kiện Ngân hàng trả nợ thay khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng
1Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được
bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh.
2Thời hạn hiệu lực của thỏa thuận cấp bảo lãnh do các bên thỏa thuận nhưng tối thiểu phải bằng thời hạn có hiệu lực của cam kết bảo lãnh
Trang 10có còn trách nhiệm của người bảo lãnh không? Đoạn nào của Quyết định
có câu trả lời?
Khi người có quyền (Cty KNV) khởi kiện Ngân hàng thì Ngân hàng vẫn còn trách nhiệm của người bảo lãnh.
Đoạn trong Quyết định cho thấy điều này.
“ … Tòa án cấp phúc thẩm buộc Ngân hàng Việt Á phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty TNHH K.N.V số tiền tạm ứng còn thiếu 1.510.000.000 đồng là có căn cứ…”
“… Công ty K.N.V nộp bản gốc Thư bảo lãnh bản gốc cho Ngân hàng Như vậy, lý do từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của Ngân hàng Việt Á là không thể chấp nhận được.”
Câu 3.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao.
Theo tôi hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao là hợp lý:
• “…đối với nghĩ vụ phát sinh trong thời hạn bảo lãnh nhưng chưa được thực hiện thì bảo lãnh ngân hàng vẫn còn giá trị”3
3 Đỗ Văn Đại, Luật Nghĩa vụ và Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam bản án cà bình luận bản án, tr 852