KKT ra đời được kỳ vọng với những vai trò: 1thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; 2 tiếp nhận kĩ thuật công nghệ hiện đại cũng như học tập được phương pháp quản lý tiên tiến từ các dự
Trang 2CÔNG VIỆC THỰC HIỆN CỦA CÁC THÀNH VIÊN NHÓM 06 LỚP QHPT1B
STT Họ và tên
sinh viên Nội dung công việc thực hiện Ghi chú
2 Linh - Tình hình phát triển các
KKT ở Việt Nam hiện nay
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG CHÍNH 5
I Cơ sở lý luận 6
1 Quan niệm 6
2 Điều kiện hình thành 6
3 Vai trò 7
II Tình hình phát triển các KKT tại Việt Nam 8
1 Chính sách phát triển các KKT ở Việt Nam 8
2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các KKT ở Việt Nam 11
III Đánh giá sự phát triển của KKT Chu Lai 15
1 Giới thiệu khái quát về KKT mở Chu Lai 15
2 Kết quả hoạt động 16
3 Định hướng và giải pháp phát triển 18
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Khu kinh tế là một hình thức tổ chức lãnh thổ theo không gian được xuất hiện vào cuối thập niên 70 của thế kỷ XX từ Trung Quốc Thực chất KKT là sự biến dạng của KCN Song về mặt tổ chức, các khu chắc năng bên trong khu kinh
tế đa dạng hơn KCN, có nhiều chính sách của nhà nước ưu tiên hơn,quy mô lãnh thổ rộng lớn hơn KKT ra đời được kỳ vọng với những vai trò: (1)thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; (2) tiếp nhận kĩ thuật công nghệ hiện đại cũng như học tập được phương pháp quản lý tiên tiến từ các dự án thu hút vốn đầu tư FDI; (3) khai thác hiệu quả các nguồn lực và lợi thế so sánh của đất nước, vùng lãnh thổ, biến những tiềm năng thành hiện thực, tạo ra giá trị gia tăng lớn cho nền kinh tế, góp phần khai thác tiềm năng về lao động từ đó đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động sao cho phù hợp với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (4) tạo công ăn việc làm và nâng cao trình độ cho người lao động; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,tăng năng lực xuất khẩu; (5) góp phần đổi mới
cơ chế quản lý, cải thiện môi trường đầu tư,mở rộng quan hệ kinh tế khi các doanh nghiệp trong nước liên kết với các doanh nghiệp FDI để sản xuất (liên kết phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ,…)
Do vai trò ngày càng nổi bật của KKT nên đối với mỗi quốc gia đang phát triển mà trong đó có Việt Nam thì xu hướng thành lợp các KKT và đầu tư phát triển trọng tâm có ý nghĩa hết sức to lớn
Hiện nay chính phủ Việt Nam đã quy hoạch 18 KKT và được phân bố ở 4/6 vùng kinh tế của nước ta (trừ Tây Nguyên và Trung du miền núi Bắc Bộ) Ở mỗi vùng kinh tế hiện đã nổi lên vai trò đầu tàu,động lực phát triển kinh tế - xã hội của một số KKT Những hiểu biết cơ bản về KKT cũng như các phân tích đánh giá mối quan hệ giữa KKT với vấn đề phát triển kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết bởi đó là cơ sở để đề ra những định hướng và giải pháp phát triển các KKT của vùng nói riêng và việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng nói chung
Trang 5KKTM Chu Lai là KKT đầu tiên được chính phủ thành lợp,trong quá trình phát triển đã gặp không ít khó khăn thách thức, nhưng với sự kiên trì mục tiêu đã chọn, thẳng thắn nhìn nhận những thiếu sót khuyết điểm, phát huy sáng tạo để tìm cách làm mới và phù hợp với đặc điểm riêng của Chu Lai trong điều kiện hội nhập, đến nay, KKTM Chu Lai được coi như một ví dụ thực tiễn sinh động cho việc nghiên cứu về KKT ven biển ở Việt Nam
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi quyết định chọn chủ đề “Tìm hiểu về khu kinh tế ven biển (KKT) với ví dụ sinh động là KKTM Chu Lai”
Bố cục của bài nghiên cứu này được trình bày làm 3 phần:
1 Cơ sở lý thuyết về Khu kinh tế
2 Tình hình phát triển các Khu kinh tế tại Việt Nam
3 Nghiên cứu Khu kinh tế Chu Lai
Trang 6NỘI DUNG CHÍNH
I Cơ sở lý luận
1 Quan niệm
Khu kinh tế(KKT) là khu vực có ranh giới địa lý xác định thuộc lãnh thổ
và chủ quyền quốc gia,có không gian kinh tế riêng biệt,môi trường đầu tư ,kinh doanh thuận lợi,bình đẳng,bao gồm các khu chức năng,các công trình hạ tầng-kĩ thuật xã hội,các công trình dịch vụ và tiện ích công cộng với các chính sách ưu đãi,ổn định lâu dài;cơ chế quản lý thông thoáng trong khung phấp lý hiện hành
và ngày càng hoàn thiện
2 Điều kiện hình thành
Phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển khu kinh tế đã được phê duyệt;
Có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng biển nước sâu hoặc gần sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch của quốc gia và quốc tế; dễ kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và nước ngoài; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu
tư và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật
Có quy mô diện tích từ 10.000 ha trở lên và đáp ứng yêu cầu phát triển tổng hợp của khu kinh tế
Có khả năng thu hút dự án, công trình đầu tư với quy mô lớn, quan trọng
và có tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực;
Có khả năng phát huy tiềm năng tại chỗ và tạo ảnh hưởng phát triển lan tỏa đến các khu vực xung quanh;
Không tác động tiêu cực đến các khu bảo tồn thiên nhiên; không gây ảnh hưởng xấu và làm tổn hại đến các di sản văn hóa vật thể, danh lam thắng cảnh, các quần thể kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học; phù hợp với bố trí quốc phòng và đảm bảo quốc phòng, an ninh;có điều kiện đảm bảo yêu cầu về môi trường, môi sinh và phát triển bền vững
Trang 73 Vai trò
Thứ nhất, KKT thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước.Vốn là một trong
những tham số đầu vào quan trọng để thực hiện Công nghiệp hóa,Hiện đại hóa ở một nước nền kinh tế còn khó khăn và thiếu vốn như Việt Nam Để thu hút vốn đầu tư hiệu quả,các KKT phải chiếm được lợi thế tạo được môi trường đầu tư hấp dẫn,có tính cạnh tranh cao
Thứ hai, KKT được xác định là nơi tiếp nhận kĩ thuật công nghệ hiện đại
cũng như học tập được phương pháp quản lý tiên tiến từ các dự án thu hút vốn đầu tư FDI nhờ có lợi thế về hạ tầng cơ sở và CSVCKT được đầu tư bài bản
Thứ ba, KKT có vai trò khai thác hiệu quả các nguồn lực và lợi thế so sánh
của đất nước,vùng lãnh thổ cụ thể là các lợi thế về tài nguyên đất,nước,khoáng sản,…biến những tiềm năng thành hiện thực, tạo ra giá trị gia tăng lớn cho nền kinh tế.Bên cạnh đó KKT còn góp phần khai thác tiềm năng về lao động từ đó đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động sao cho phù hợp với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thứ tư, KKT hoạt động giúp tạo công ăn việc làm và nâng cao trình độ cho
người lao động.Các KKT phát triển sẽ thu hút nguồn lao động có kĩ năng cao,đã qua đào tạo, đồng thời trong quá trình lao động, trình độ, tay nghề của công nhân được nâng cao,làm viêc có kỷ luật, tác phong công nghiệp được rèn luyện
và củng cố
Thứ năm, các KKT hoạt động tập trung khai thác các nguồn lực để tập chung
phát triển các nhóm ngành CN-XD và dịch vụ, từ đó góp phần chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, phát triển kinh tế nhiều thành phần Nền sản xuất phát triển,hàng hóa tạo ra đa dạng kích thích khả năng cạnh tranh cả thị trường trong
và ngoài nước với sự đóng góp rất lớn từ các doanh nghiệp FDI
Vai trò cuối cùng được nói tới là KKT góp phần đổi mới cơ chế quản lý,cải thiện môi trường đầu tư,mở rộng quan hệ kinh tế khi các doanh nghiệp
Trang 8trong nước liên kết với các doanh nghiệp FDI để sản xuất.(liên kết phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ,…)
II Tình hình phát triển các KKT tại Việt Nam
1 Chính sách phát triển các KKT ở Việt Nam
Khu kinh tế mở đầu tiên ở Việt Nam được ra đời từ quyết định số 108/2003/QĐ-TTg ngày 5/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ Kể từ đó,các khu kinh tế ven biển,liên tục ra đời Cho đến nay, Chính phủ đã quy hoạch tổng cộng
18 KKT ven biên với tổng diện tích mặt đất và mặt nước là 730.553 ha, trong đó
ba khu bao gồm KKT Đông Nam Quảng Trị, KKT ven biển Thái Bình, KKT Ninh Cơ (tỉnh Nam Định) vừa mới được bổ sung vào quy hoạch.Bên cạnh đó, 4 KKT khác cũng đang “xếp hàng” để được chờ đưa vào quy hoạch, bao gồm KKT Móng Cái - Hải Hà (Quảng Ninh), Kim Sơn (Ninh Bình), Trần Đề (Sóc Trăng), và Gành Hào (Bạc Liêu)
Như nhiều khu kinh tế trên thế giới,mục tiêu quan trọng nhất của việc xây dựng các KKT ở Việt Nam là để thử nghiệm các mô hình, thể chế, và chính sách mới nhằm tạo ra các động lực phát triển có tính đột phá, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, và đẩy mạnh xuất khẩu cho toàn nền kinh tế
Trong khoảng 3 năm trở lại đây, trong tiến trình vận động chung của nền kinh tế cũng như của tư duy quản lý kinh tế, quan điểm phát triển KKT được bổ
sung thêm một số nội hàm mới, trong đó quan trọng nhất là về chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, liên kết vùng, phát triển bền vững, và phát huy kinh tế biển Cụ thể
là việc phát triển các KKT ven biển phải gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ của địa phương mà còn là của vùng và cả nước.Bên cạnh đó, sự phát triển của các khu kinh tế ven biển đều phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển vùng và chú trọng tới yêu cầu bảo vệ môi trường Mặc dù đã tiến thêm được một số bước quan trọng về nhận thức phát triển KKT, song cho đến nay vẫn còn một số trường hợp việc phát triển KKT còn đi ngược lại các quan điểm chỉ đạo của Chính phủ, đặc biệt là về liên kết vùng, bảo vệ môi trường, và bền
Trang 9vững về tài chính
Bên cạnh đó,việc phát triển các “cụm tương hỗ công nghiệp” (industrial cluster) - một xu hướng chủ đạo trong phát triển công nghiệp của thế giới nhưng vẫn chưa được đưa vào các văn bản chính thức ở Việt Nam
Khi áp dụng các tiêu trí xét làm điều kiện để các địa phương thành lợp KKT đã xuất hiện những hạn chế nhất định Một số điều kiện tỏ ra không hợp
lý, không gắn với hiện thực, và do vậy tự mâu thuẫn lẫn nhau Trừ 3 KKT ở Khánh Hòa, Hải Phòng, và Quảng Ninh thì tất cả 15 KKT còn lại đều nằm ở các địa phương chưa tự chủ được về ngân sách và có mức thu nhập thấp hơn mức trung bình của cả nước.Do đó việc yêu cầu KKT phải có diện tích từ 10.000 ha trở lên nếu căn cứ vào nguồn lực của địa phương thì chắc chắn không thể đáp ứng được yêu cầu về cơ sở hạ tầng kỹ thuật để đón các dự án đầu tư với quy mô lớn, dẫn đầu về công nghệ, có tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của cả khu vực như được quy định trong điều kiện thành lập KKT
Chính do điều kiện các KKT phải có cảng biển nước sâu hoặc gần sân bay
vô hình trung đã kích hoạt cuộc chạy đua quyết liệt giữa các tỉnh trong việc chạy xin cho được dự án cảng nước sâu và sân bay của mình vào trong quy hoạch, bất chấp hiệu quả kinh tế ở tất cả các cấp độ địa phương, vùng, và quốc gia.Cùng với kỷ luật lỏng lẻo của trung ương đã dẫn tới sự phá vỡ quy hoạch, mà điển hình là quy hoạch tại ngay các KKT Chỉ trong vòng hai năm, từ Quyết định 1353/QĐ-TTg vào tháng 9/2011 cho đến tháng 11/2011, số lượng KKT đã tăng
từ 15 lên 18.Bên cạnh đó còn có 4 KKT đang chờ xin chủ trương để được bổ sung vào quy hoạch Mâu thuẫn gay gắt giữa nguồn lực hạn chế và mong muốn phát triển KKT quy mô rất lớn của quá nhiều địa phương chắc chắn sẽ làm cho
đa số các KKT không thể phát triển được
Theo quy định của chính phủ một KKT sẽ chỉ được mở rộng khi toàn bộ
hệ thống kết cấu hạ tầng khu kinh tế đã được đầu tư hoàn chỉnh theo quy hoạch
và ít nhất 70% diện tính đất của các khu chức năng trong khu kinh tế đã có chủ đầu tư Thế nhưng trên thực tế, mặc dù không có cơ sở nào chứng tỏ rằng KKT
Trang 10Dung Quất sẽ thỏa mãn cả hai điều kiện này trong một tương lai không xa nhưng vẫn được mở rộng hơn 4 lần, từ 10.300 ha theo quy hoạch ban đầu lên tới 45.332 ha theo Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 20/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Dung Quất đến năm 2025
Để thực hiện được mục tiêu phát triển KKT trong khi nguồn lực hữu hạn,
cả trung ương và địa phương chỉ còn cách tài trợ trực tiếp cho việc xây dựng cơ
sở hạ tầng KKT, đồng thời đưa ra những ưu đãi đặc biệt, thậm chí trợ cấp bằng nhiều hình thức cho các nhà đầu tư vào KKT cụ thể là:
Nhà đầu tư có dự án đầu tư vào khu kinh tế, kể cả dự án đầu tư mở rộng, được hưởng chính sách ưu đãi áp dụng đối với địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các chính sách
ưu đãi khác theo quy định của Nghị định này
Các dự án đầu tư sau đây được hưởng ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp:
a) Dự án đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư và thực hiện tại khu kinh tế hoặc tại khu công nghiệp được thành lập tại địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
b) Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu phi thuế quan trong khu kinh tế;
c) Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao tại khu công nghiệp, khu kinh tế
d) Dự án đầu tư có quy mô lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển ngành, lĩnh vực hoặc phát triển kinh tế - xã hội của khu vực tại khu công nghiệp, khu kinh tế sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận
Giảm 50% thuế thu nhập đối với người có thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập, kể cả người Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại khu
Trang 11kinh tế
Chi phí đầu tư xây dựng, vận hành hoặc thuê nhà chung cư và các công trình kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ cho công nhân làm việc tại khu công nghiệp, khu kinh tế là chi phí hợp lý được khấu trừ để tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp có dự án đầu tư trong khu công nghiệp, khu kinh
tế
Các ưu đãi hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư hạ tầng cơ sở cũng đầu tư sản xuất và kinh doanh dịch vụ là điều cần thiết và là thông lệ phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, nếu không có những yếu tố căn bản như:chất lượng của nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng cứng và cơ sở hạ tầng mềm thì bản thân các ưu đãi đầu
tư không có tác dụng Do vậy, sự cạnh tranh giữa các tỉnh này thực sự đã trở thành “lợi bất cập hại ” trong khi mục tiêu ban đầu là thu hút FDI vẫn còn chưa đạt được
2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các KKT ở Việt Nam
2.1 Số lượng và quy mô các KKT
Đến tháng 11/2011,Việt Nam đã có 18 KKT ven biển với tổng diện tích mặt đất và mặt nước lên tới trên 730.000 ha(Bảng 1) Trong số này,9 KKT bao gồm Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội, Nghi Sơn, Vũng Áng, Chân Mây - Lăng Cô, Vân Phong, Vân Đồn, Nam Phú Yên đã cơ bản hoàn thành quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết các phân khu chức năng, và đang xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội 9 KKT còn lại vẫn còn đang trong giai đoạn xây dựng quy hoạch, chuẩn bị bộ máy và nhân sự, xây dựng dự án, huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng, và tiến hành đền bù giải phóng mặt bằng
Trang 12Bảng 2.1: Danh sách các KKT Việt Nam tính đến 11/2011
thành lập
Thời điểm thành lập
Diện tích (ha)
4 Chân Mây – Lăng Cô Thừa Thiên Huế 05/01/2006 27.108
5 Phú Quốc – Nam An Thới Kiên Giang 14/2/2006 56.100
16 Đông Nam Quảng Trị Quảng Trị 27/2/2010 23.460
17 Ven biển Thái Bình Thái Bình 9/2/2011 30.583
730.243
( Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư )
Trang 132.2 Kết quả thu hút đầu tư
Bảng 2.2 : Tóm tắt kết quả thu hút đầu tư vào các khu kinh tế cho đến 2010
Trong nước ≈ 20.000 tỷ đồng ≈ 330.000 tỷ đồng
2.3 Đánh giá tính khả thi của việc phát triển đồng loạt các KKT
Trong phần này,nhóm tác giả sẽ xem xét tính khả thi của vấn đề phát triển các khu kinh tế một cách đại trà ở Việt Nam trên ba phương diện: tài chính, nhân lực và thể chế
Thứ nhất về mặt tài chính, vì hầu hết các khu kinh tế ven biển được thành
lập ở những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nên chỉ riêng yêu cầu phát triển và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu đã tốn chi phí vô cùng lớn Điều này mâu thuẫn trực tiếp và gay gắt với nguồn vốn rất hạn chế từ địa phương (vì đa số các địa Phương có KKT đều chưa tự chủ được ngân sách) cũng như hỗ trợ ngân sách từ trung ương
Thứ hai Về mặt nguồn nhân lực, việc có đủ nguồn nhân lực cho tất cả các
khu kinh tế, mỗi khu có diện tích từ 10.000 ha trở lên là điều không khả thi Cùng với mức lương và mức sống chênh lệch rất cao giữa các địa phương có