1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề thuế đánh vào cung lao động

26 375 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề: Thuế đánh vào cung lao động
Tác giả Nhóm 6
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng
Thể loại Chuyên đề
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 521,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Hiệu ứng thay thế xảy ra khi việc đánh thuế làm giảm tiền lương khả dụng, điều nàylàm chi phí cơ hội của nhàn rỗi giảm, điều này có thể làm cho Vân không muốn làmviệc nhiều như cũ mà t

Trang 1

PHẦN 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG

Lao động trong kinh tế học, được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người

tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa Người có nhu cầu về hàng hóa này là ngườisản xuất Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động

Cung lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng

tham gia lao động, những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm

và những người ngoài tuổi lao động nhưng thực tế đang tham gia trên thị trường laođộng

Người sản xuất là người có nhu cầu về lao động và mang mục tiêu tối đa hóalợi nhuận sẽ tuyển nhiều lao động hơn nếu mức tiền công thực tế giảm Nói cáchkhác, lượng cầu về lao động sẽ giảm nếu mức giá lao động tăng Vì thế đường cầu

về lao động là một đường dốc xuống

Đường cầu lao động dốc xuống

K

inh tế học Keynes cho rằng trong ngắn hạn, người lao động ít điều kiện tìm đượcviệc làm và do đó ít điều kiện mặc cả tiền công Do đó, trong ngắn hạn, lượng laođộng cân bằng là lượng do nhà sản xuất quy định Người lao động phải chấp nhậnlượng đó bất kể mức tiền công ra sao Nói cách khác, trong ngắn hạn, lượng cung laođộng không phản ứng với mức tiền công thực tế, nên đường cung nằm dọc hoàntoàn Trong dài hạn, đường cung sẽ dốc lên

Trang 2

Đường cung lao động theo quan điểm của kinh tế học Keynes

- Quy mô dân số: Quy mô dân số càng lớn sẽ tạo ra nguồn nhân lực sẵn sàngcung cấp sức lao động cho xã hội càng lớn

- Mức tiền công thực tế: cung lao động cũng giống như cung của các loại hànghóa, dịch vụ khác, nó cũng tuân theo luật cung Khi tiền công thực tế tăng lên thì cunglao động cũng tăng lên nhưng khi tiền công đạt đến một mức cao nào đó thì người laođộng sẽ có xu hướng muốn nghỉ ngơi nhiều hơn thay vì lao động tiếp

- Tiến bộ khoa học công nghệ cao giúp cho phụ nữ giảm việc nhà và có nhiềuđiều kiện tham gia thị trường lao động nhiều hơn

- Ngoài ra, còn có nhiều yếu tố khác tác động đến cung lao động như sở thích,hoàn cảnh gia đình, các chương trình trợ cấp của chính phủ…

Thuế đánh vào cung lao động được hiểu là thuế thu nhập cá nhân từ tiền công tiền lươngcủa người lao động

1.3.1 Thiết lập mô hình

- Giả sử Vân đang lựa chọn sử dụng thời gian trong mỗi tuần để làm việc hoặc dành

cho nghỉ ngơi và giả sử khoảng thời gian không dành cho nhàn rỗi thì dành cả cholao động,

- Đường giới hạn ngân sách BC của Vân được miêu tả như trong hình1 cho thấy sự

kết hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thu nhập hay tiêu dùng được xác định bởi tiềnlương lao động

Trang 3

Hình 1: Đồ thị kết hợp giữa thời gian làm việc và nhàn rỗi

- Nếu tiền lương một giờ của Vân là W/giờ Đường giới hạn ngân sách ban đầu của

Vân là đường BC1, được diễn tả như sau:

C + wL = wT

- Trong đó, C là tiêu dùng được quyết định bởi thu nhập, wL là giá trị giờ nhàn rỗi,

wT là tổng thu nhập

- Tại A1 đường cong bàng quan giao với đường ngân sách, đây là điểm tối ưu của

việc lựa chọn: Vân sử dụng L1 giờ cho nhàn rỗi và C1 giờ lao động, kiếm được thunhập là OC1

Trang 4

Hình 2: Đánh thuế và sự đánh đổi giữa tiêu dùng và nhàn rỗi

- Bây giờ giả sử chính phủ đánh thuế thu nhập với thuế suất tỷ lệ t Thuế làm giảm tiền lương một giờ của Vân từ w giảm xuống còn (1 – t )w Khi đó đường giới hạn

ngân sách của Vân dịch chuyển từ BC1 sang BC2, điều này cho thấy với bất kỳ sốgiờ lao động nào, Vân sẽ mua được ít hàng hóa hơn trước

- Giả sử Vân chọn L2 giờ nhàn rỗi và C2 giờ lao động, tương ứng điểm A2 trên đồ thị.Như vậy việc đánh thuế đã làm giảm thời gian lao động của Vân là (L2 – L1) giờ

- Vậy có phải đánh thuế luôn làm giảm mức cung lao động hay không?

1.3.2 Hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập

Trang 5

(a) Hiệu ứng thay thế lớn (b) Hiệu ứng thu nhập lớn

- Đánh thuế vào cung lao động có thể gây ra hai hiệu ứng: hiệu ứng thay thế và hiệuứng thu nhập

- Hiệu ứng thay thế xảy ra khi việc đánh thuế làm giảm tiền lương khả dụng, điều nàylàm chi phí cơ hội của nhàn rỗi giảm, điều này có thể làm cho Vân không muốn làmviệc nhiều như cũ mà thay thế làm việc bằng nhàn rỗi, thời gian nhàn rỗi tăng từ L1

lên L2. (hình a)

- Hiệu ứng thu nhập xảy ra khi đánh thuế làm thu nhập khả dụng giảm sút, Vân sẽmuốn làm việc nhiều hơn để có thu nhập như cũ vì vậy Vân sẽ tăng thời gian laođộng và giảm thời gian nhàn rỗi từ L1 xuống L2 (hình b)

- Vậy khi bị đánh thuế, Vân có thể làm việc nhiều hơn, ít hơn hay giữ như cũ Vấn đềnày phụ thuộc vào sở thích của mỗi người Trên cơ sở lý thuyết thì không thể biếtđược hiệu ứng thu nhập hay hiệu ứng thay thế nổi trội hơn

Trang 6

- Việc đánh thuế lũy tiến cũng tương tự như đánh thuế tỷ lệ Giả sử chính phủ đánh

thuế lũy tiến thu nhập cá nhân với mức thuế t 1 cho 5 triệu đồng đầu tiên, t 2 cho 5

triệu đồng tiếp theo và t 3 đối với phần thu nhập trên 10 triệu đồng

- Ta có đồ thị biểu diễn đường ngân sách trước thuế và sau thuế của Vân như sau:

Hình 3: Đánh thuế lũy tiến và phản ứng cung lao động

- Đường giới hạn ngân sách trước thuế của Vân là BC1 Sau thuế, đường ngân sách làđường gấp khúc BKHM

- Tại điểm H, thu nhập sau thuế của Vân là (1 - t1) x 5 triệu đồng

- Tại điểm K thu nhập sau thuế của Vân là [(1 - t1) x 5 triệu đồng + (1 – t2) x 5 triệuđồng

- Với việc đánh thuế lũy tiến, mức cung lao động sau thuế của Vân cũng tùythuộc vào hiệu ứng thay thế hay hiệu ứng thu nhập lớn hơn, hoặc nếu hai hiệu ứngnày bằng nhau thì mức cung lao động sẽ như cũ

Trong xã hội, nhóm lao động có thu nhập cao, thấp và trung bình sẽ có cunglao động khác nhau khi thuế đánh vào thu nhập của họ

- Đối với nhóm lao động có thu nhập thấp và trung bình thì đường cung lao động

Trang 7

tuân theo luật cung bình thường: lương tăng thì cung lao động sẽ tăng Tức là ảnhhưởng của thu nhập tới cung lao động lớn hơn ảnh hưởng thay thế trong cung laođộng có thu nhập thấp và trung bình, vậy lương tăng cung lao động sẽ tăng Tronghoàn cảnh này, nếu đánh thuế thu nhập cá nhân sẽ làm cho lương sau thuế bị giảm

và ảnh hưởng của thuế thu nhập cá nhân sẽ làm giảm cung lao động trên thị trường.

- Đối với nhóm lao động có thu nhập cao, ảnh hưởng của thay thế (nghỉ ngơi) lớn

hơn ảnh hưởng của thu nhập, có nghĩa là tiền lương càng cao thì cung lao động cànggiảm do nhu cầu nghỉ ngơi lớn hơn so với tăng thu nhập Trong hoàn cảnh này, thuế

thu nhập cá nhân sẽ làm giảm tiền lương và lúc này cung lao động sẽ tăng

1.3.3 Giới hạn giờ làm việc và nguyên tắc trả thêm giờ

- Lý thuyết nghiên cứu hiệu ứng của thuế đến cung lao động gắn với giả thiết là các

cá nhân có thể tự do điều chỉnh số giờ lao động của mình khi có sự thay đổi chínhsách thuế

- Tuy nhiên trên thực tế, các cá nhân không thể dễ dàng điều chỉnh giờ lao động củamình vì còn phụ thuộc vào các yếu tố như: các công ty yêu cầu người lao động phảilàm việc một số giờ nào đó để đảm bảo cho việc sản xuất, hoặc một giới hạn khác làviệc quy định trả tiền làm ngoài giờ của Chính phủ cao hơn giờ làm việc bìnhthường có thể làm cho các doanh nghiệp hạn chế việc thuê công nhân làm thêm giờ

- Vì vậy các giới hạn này làm giảm thấp sự phản ứng giờ làm việc của người laođộng đối với tiền lương sau thuế

1.3.4 Độ co giãn của cung, cầu lao động và tổn thất xã hội khi đánh thuế thu nhập

- Giả sử đường cầu thị trường lao động là: QD = - 0,1P + 10

Và đường cung lao động là: QS = 0,1P + 7

Trong đó P là tiền lương một giờ (tính bằng đôla) và Q là số giờ lao động trongngày

Thị trường cân bằng ban đầu tại điểm A với Q = 8,5 giờ và P = 15 (đôla/giờ)

Trang 8

- Bây giờ nếu chính phủ đánh thuế thu nhập 3 đôla/giờ lên tất cả người lao động

- Khi đó người lao động sẽ yêu cầu công ty phải gia tăng thêm 3 đôla tiền lương bùvào tiền thuế để sẵn lòng làm việc Khi đó cung lao động từ S1 dịch chuyển sang S2, làmtiền lương cân bằng ở vị trí cao hơn là 16,5 đôla/giờ tại điểm B Do độ co giãn của cung vàcầu là như nhau bằng 0,1 nên thuế được chia sẻ như nhau cho người lao động và công tymỗi bên chịu 1,5 đôla Tuy nhiên tiền lương sau thuế của người lao động lúc này chỉ là13,5 đôla và công ty phải trả tiền lương cao hơn là 16,5 đôla, do người lao động làm việc íthơn trước chỉ còn 8,35 giờ/ngày nên tổn thất xã hội do thuế gây ra là phần diện tích tamgiác ABC

- Độ co giãn của cung, cầu lao động trên thị trường lao động cũng có ý nghĩa quyếtđịnh đối với việc ai là người chịu thuế thực sự Đối với một số ngành nghề khi đánh thuếthu nhập thì hầu hết thuế do người sử dụng lao động chịu đó là những ngành đòi hỏi trình

độ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học vv, đặc biệt là ở những vị trí cao trongcông ty như CEO thì hầu hết thuế sẽ do người sử dụng lao động chịu vì cung lao động lúcnày có sự co giãn nhiều hơn, vì là người có trình độ và kinh nghiệm họ có thể yêu cầu công

ty đảm bảo một mức thu nhập theo yêu cầu của họ nên vì thế công ty phải gánh chịu phầnthuế này cho người lao động

PHẦN 2

Trang 9

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

Lý thuyết thực nghiệm về đánh thuế vào cung lao động phân biệt 2 loại lao động:

1 Những người kiếm tiền sơ cấp: là người tạo thu nhập chính trong gia đình (thường

+ Độ co giãn của lao động thứ cấp là khá lớn từ +0,5 đến 1.0 (thuế có ảnh hưởng lớn

đối với lao động thứ cấp).

Ta có phương trình đo lường cung lao động như sau:

LSi = α + βATWAGEi + δNLINCOMEi + λXi + ε

Trong đó:

- LS: cung lao động

- ATWAGE: tiền lương sau thuế

- NLINCOME: thu nhập không lao động

- X: véctơ tính cách của người lao động (giáo dục, tình trạng gia đình…)

- Nếu β >0 thì cung lao động dốc hướng đi lên

Trang 10

- Với tiền lương cao hơn: cung lao động tăng lên, khi đó hiệu ứng thay thế sẽ lớn hơn

hiệu ứng thu nhập.Bây giờ đưa thu nhập không do lao động vào, hồi quy tác ảnh hưởng

thay thế và tác động thu nhập, ta có Hệ số β sẽ bao gồm hai hiệu ứng, trong khi hệ số δchỉ bao gồm hiệu ứng thu nhập Tuy nhiên các hệ số này có thể dẫn đến bị chệch, những cánhân có thu nhập cao có thể là những người quá thành công và có thể làm việc thời giandài

- Với việc chọn mẫu, chọn khoảng thời gian, dùng kỹ thuật thống kê hồi quy tuyếntính, các nhà kinh tế lượng đã xác định hai khuynh hướng chủ yếu khi nghiên cứu thựcnghiệm trên thị trường lao động:

1 Đối với nam xấp xỉ từ 20 đến 60 tuổi, tác động của những thay đổi này lênlương ròng là nhỏ Hầu hết độ co giãn dao động trong khoảng từ -0,2 đến 0

2 Mặc dù mức cung lao động của nữ đã được ước lượng có độ co giãn lớn hơn củanam nhưng quyết định về số giờ làm việc của phụ nữ có gia đình rất nhạy cảm vớinhững thay đổi của lương ròng, độ co giãn của số giờ làm việc so với lương ròng làkhoảng 0,2 đến 1

- Giả sử giảm thuế làm tăng tiền lương ròng của những phụ nữ có gia đình lên 10%.Nếu độ co giãn cung lao động là 1 thì số giờ làm việc của họ sẽ tăng 10% Tuy nhiên thôngthường khi cung lao động nhiều lên thì tiền lương trước thuế sẽ có khuynh hướng giảm.Điều này làm giảm bớt số tăng thêm của tiền lương sau thuế so với tính toán ban đầu, vìthế số giờ làm việc tăng thêm sẽ nhỏ hơn dự đoán ban đầu

- Sự thay đổi giá cả của các hàng hóa khác cũng làm ảnh hưởng tới cung lao độngtrên thị trường Ví dụ, nếu một phụ nữ có gia đình tăng số giờ làm việc thì nhu cầu chămsóc con cái cũng có thể tăng, điều này có thể làm tăng chi phí chăm sóc con cái Vì vậyđiều này sẽ không khuyến khích một số bà mẹ có con nhỏ làm việc, ít nhất là trong ngắnhạn

- Chúng ta cần làm rõ có bao nhiêu cá nhân làm việc trong điều kiện chế độ thuếthay đổi để dự đoán tổng số giờ làm việc của một nhóm công nhân sẽ thay đổi như thế nào,

vì khi thuế thay đổi, động cơ làm việc ở mỗi người thay đổi khác nhau

- Ví dụ, khi thay đổi từ thuế cố định sang thuế lũy tiến, những công nhân có thunhập thấp có thể chịu mức thuế suất biên thấp hơn trong khi những người có thu nhập cao

sẽ chịu mức thuế cao lên Điều này rất có thể làm cho mức cung lao động của hai nhómthay đổi theo hai hướng ngược nhau

Trang 11

2.2.3 Các khía cạnh khác của cung lao động:

- Việc đánh thuế có làm cho con người ít đầu tư để hoàn thiện các kỹ năng lao độngcủa mình hay không?

- Ví dụ, Vân đang dự định tham dự chương trình huấn luyện công việc Giả sửchương trình này sẽ làm tăng mức thu nhập suốt đời cho Vân với giá trị hiện tại là B Tuynhiên, nếu tham dự chương trình này Vân sẽ mất một khoảng thời gian hiện tại dành chonhững công việc có mức thu nhập là C Vân sẽ tham dự chương trình huấn luyện khi B – C

- Vậy thuế thu nhập làm giảm lợi nhuận và chi phí với cùng một tỷ lệ và do đókhông ảnh hưởng đến đầu tư vào nguồn nhân lực

- Bây giờ, giả sử do thuế thu nhập, Vân tăng mức cung lao động (hiệu ứng thu nhậpchiếm ưu thế) Trong trường hợp này, thuế làm gia tăng tích luỹ nguồn vốn nhân lực Vìthực tế mức cung lao động sau thuế là tỉ lệ tận dụng mức đầu tư nguồn vốn nhân lực Do

đó, nếu thuế tạo ra nhiều việc làm thì nó cũng làm cho đầu tư vào nguồn nhân lực trở nênhấp dẫn hơn, với những yếu tố khác không đổi Ngược lại, nếu hiệu ứng thay thế chiếm ưuthế làm giảm mức cung lao động thì tích luỹ nguồn vốn nhân lực không được khuyếnkhích

- Tóm lại, tác động của thuế thu nhập đối với tích luỹ nguồn vốn nhân lực là không

Trang 12

Khi thuế suất biên giảm thì sức hấp dẫn của những loại thu nhập không chịu thuế cũnggiảm và ngược lại Do đó, những thay đổi thuế sẽ gây ảnh hưởng đến thành phần của tiềnlương trọn gói.

Phân tích chuẩn về mức cung lao động và đánh thuế đã bỏ qua việc sử dụng tiền thu thuế

Ít nhất có phần thu thuế được dùng để mua hàng hoá công, từ đó gây tác động đến quyếtđịnh làm việc của người lao động

Nếu tiền thuế được dùng để cung cấp những phương tiện giải trí như công viên quốc giathì chúng ta kỳ vọng nhu cầu nghỉ ngơi tăng, các yếu tố khác không đổi Ngược lại, nếu chitiêu cho những phương tiện chăm sóc trẻ em có cha mẹ đi làm thì có thể làm tăng mứccung lao động

Trong thực tế, các nghiên cứu thực nghiệm không biết rõ là chi tiêu công ảnh hưởng đếnquyết định làm việc là khoảng bao nhiêu

PHẦN 3 MỨC CUNG LAO ĐỘNG VÀ THU THUẾ

Chúng ta đã thấy rằng khi chính sách thuế thay đổi nó sẽ ảnh hưởng đến mức cung laođộng.Tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu xem số thuế thu được sẽ thay đổi thế nào khi thuếsuất thay đổi

Trang 13

Luật Thuế thu nhập cá nhân ở VN có hiệu lực từ năm 2009 Hiện nay, các khoản thu từthuế thu nhập cá nhân đóng góp cho ngân sách 29.000-30.000 tỷ đồng mỗi năm Trong

đó, khoảng 70% số thuế được thu từ đối tượng làm công ăn lương; 12% thu từ các hoạtđộng chuyển nhượng bất động sản, tương đương 3.600 tỷ đồng Còn lại là từ các khoảnthu nhập khác

Với 1 thuế suất quá thấp sẽ làm cho nguồn thu ngân sách bị thất thoát Và ngược lại vớimức thuế suất cao sẽ gây áp lực cho người nộp thuế: Như ở VN không ít quan điểmđang cho rằng khoảng cách giữa các bậc thuế hơi dày nên tạo áp lực rất lớn cho ngườinộp thuế Chẳng hạn như mức 5-10 triệu đồng rồi 10-18 triệu đồng, do khung hẹp nênnhững người có thu nhập cao có mức điều tiết thuế tương đối cao Đây cũng là mộtđiểm được xem xét sửa đổi bổ sung trong Luật Thuế thu nhập cá nhân

Xét đường cung lao động SL được vẽ như trên Thể hiện tổng số giờ làm việc tối ưu đốivới mỗi mức lương sau thuế, những yếu tố khác không đổi

- Với tiền lương trước thuế W =100 ngàn đồng/h

Hình 4: Thuế suất, giờ lao động và

Trang 14

vì với mức thuế suất này đã làm thui chột động lực lao động.

Như vậy số giờ làm việc sẽ tăng theo mức lương ròng và chính phủ sẽ không luôn thuđược nhiều thuế hơn khi tăng thuế suất

Với mức thuế suất quá thấp thì số thuế thu cũng thấp, với mức thuế suất qúa cao vượt quá

tA thì số thu thuế bắt đầu giảm.Và vấn đề của chính phủ là phải xác định mức thuế suất tối

ưu Ta để đạt cực đại số thu thuế cho NSNN

Đường cong Laffer, đặt theo tên Arthur laffer,biểu diễn quan hệ giữa thu ngân sách từ thuếcủa nhà nước với thuế suất Nó là một trong những lý luận trung tâm của kinh tế học trọngcung

Ngày đăng: 19/12/2013, 16:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Đồ thị kết hợp giữa thời gian làm việc và nhàn rỗi - Chuyên đề thuế đánh vào cung lao động
Hình 1 Đồ thị kết hợp giữa thời gian làm việc và nhàn rỗi (Trang 3)
Hình 3: Đánh thuế lũy tiến và phản ứng cung lao động - Chuyên đề thuế đánh vào cung lao động
Hình 3 Đánh thuế lũy tiến và phản ứng cung lao động (Trang 6)
Hình 4: Thuế suất, giờ lao động và - Chuyên đề thuế đánh vào cung lao động
Hình 4 Thuế suất, giờ lao động và (Trang 13)
Hình 5: Thuế suất và thu thuế - Chuyên đề thuế đánh vào cung lao động
Hình 5 Thuế suất và thu thuế (Trang 15)
Hình 6:  Sự Gia Tăng EITC - Chuyên đề thuế đánh vào cung lao động
Hình 6 Sự Gia Tăng EITC (Trang 17)
Hình 7:  Chính sách hỗ trợ thuế thu nhập - Chuyên đề thuế đánh vào cung lao động
Hình 7 Chính sách hỗ trợ thuế thu nhập (Trang 17)
Hình 8: Hiệu ứng của EITC đối với cung lao động - Chuyên đề thuế đánh vào cung lao động
Hình 8 Hiệu ứng của EITC đối với cung lao động (Trang 18)
Hình 10: Đường cung lao động và ảnh hưởng của thuế thu nhập cá nhân - Chuyên đề thuế đánh vào cung lao động
Hình 10 Đường cung lao động và ảnh hưởng của thuế thu nhập cá nhân (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w