Giai đoạn 2: “CNH hướng về xuất khẩu” 1970 Song NICs Châu Á tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, XK các mặt hàng tiêu dùng, sử dụng nhiều lao động và có ưu thế vì họ nhận [r]
Trang 1CÁC NƯỚC CÔNG NGHIỆP MỚI Ở CHÂU Á
1 Khái quát chung
1.1 Đài loan
* Vị trí: Nằm ở Đông Á, gồm đảo Đài Loan và một số đảo xung quanh, được bao bọc
bởi TBD và eo biển Đài loan S:35.989 km2; DS:22tr(2000)
* Địa hình: 2/3 Lãnh thổ Đài Loan là núi nằm ở phía đông, đồng bằng bằng phẳng và
hơi nhấp nhô ở phía tây
* Khí hậu: Đài loan chịu ảnh hưởng của gió mùa cận nhiệt, miền Nam có khí hậu
nhiệt đới, lượng mưa TB: 25.40mm/năm
* Tài nguyên: Có nhiều loại gỗ quý và hiếm, tuy nhiên khoáng sản nghèo nàn và có
trữ lượng thấp: Than; đá vôi;…., có dải ĐB ven biển nhỏ hẹp thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
* Lịch sử: Dưới triều đại nhà Minh, Đài Loan cùng Trung Quốc 1620 Hà Lan xâm
nhập và đặt thương điếm ở Đài Loan 1895, Năm 1949, chính quyền Tưởng Giới Thạch bị thất bại phải chạy ra Đài Loan thành lập chính quyền và phát triển như một quốc gia độc lập nhưng TQ luôn coi Đài Loan như một tỉnh thứ 22 của họ
1.2 Hồng Công
* Vị trí: Nằm ở đông nam của lục địa TQ, là TP, Hải cảng lớn Có vị trí ưu việt: Nằm
ở trung tâm khu vực Châu á - TBD lưng dựa vào lục địa Âu - á, là điểm nối giữ Đ và T bán cầu
* Địa hình: Chủ yếu là đồi núi dốc, vùng thấp ở miền bắc
* Khí hậu: KH gió mùa nhiệt đới.
* Tài Nguyên: Hầu như không có gì, đất đai không thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp
* Lịch sử: Hồng Công được lập ra từ 1842 hiệp ước với Nam Kinh, TQ đã chính thức
nhượng đảo Hồng Công cho Anh Năm 1941, NB chiếm Hồng Công và trả lại cho Anh vào 1945 Ngày 26/09/1948 TQ và Anh ký hiệp định về trao trả Hồng Công vào 1997 và đến 01/07/1997 Anh đã chính thức trao trả Hồng Công cho TQ
1.3 Hàn Quốc
* Vị trí: Nằm ở phía nam bán đảo Triều Tiên, trong khu vực Đông á với S:
99.000km2, DS: 46,8 triệu (2000)
* Địa hình: Chủ yếu là đồng bằng và đồi núi thấp, có hai dãy núi chính: Trường Bạch
Sơn chạy dài ở phía Đông, dãy Tiểu Bạch Sơn ở khu vực phía Tây ĐB và núi thấp ở phía nam
* Khí hậu: Chia làm hai mùa rõ rệt Mùa đông lạnh và khô do ảnh hưởng của cao áp
Xibia, mùa hè nóng có gió mùa gây mưa lớn
* Tài nguyên: Tài nguyên khoáng sản nghèo nàn không đáp ứng đủ nhu cầu cho
ngành công nghiệp đặc biệt là ngành CN nặng, hàng năm phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài
Trang 2* Lịch sử: Trải qua nhiều thời kỳ phức tạp Bị người Mông Cổ xâm chiếm từ thế kỷ
VIII đến thế kỷ XIV, người Mãn Châu ở thế kỷ XV, và người NB từ thế kỷ XVI đến XX Năm 1910 NB thôn tính toàn bán đảo Triều Tiên, mãi tới tháng 08/1948 Hàn Quốc mới được giải phóng sau 36 năm cai trị của đế quốc NB
1.4 Xingapo
* Nằm phía nam bán đảo Malắcca, trong khu vực ĐNA S: 693km2, DS: 3,6 triệu(2000)
* Địa hình: 2/3 diện tích đảo không cao quá 15m so với mực nước biển.
* Tài nguyên: TN khoáng sản hầu như không có gì ngoài một ít đá vật liệu xây dựng,
đất sử dụng cho nông nghiệp ít chiếm 9,5% diện tích cả nước
* Lịch sử: Đầu công nguyên các đảo này là các làng của người Mã Lai Năm 1929
đổi tên là Singapo và theo tiếng ấn Độ có nghĩa là “TP Sư Tử” Năm 1511 người Bồ Đào Nha chiếm eo biển Malắcca rồi chiếm luôn Singapo, đến TK XVI người Hà Lan thế chân người Bồ Đào Nha Năm 1824 Singapo lại trở thành thuộc địa của Anh Từ ngày 3/06/1959 Anh coi Singapo là “Quốc Gia tự trị” Ngỳa 16/04/1963 Singapo nhập vào liên bang Malaisia và ngày 22/12/1965 tuyên bố thành lập nước CH Singapo
2 Quá trình CNH
2.1 Khái niệm công nghiệp hoá
CNH là quá trình phổ biến trên toàn cầu, là xu hướng tất yếu của mọi quốc gia trong quá trình phát triển Song trong thực tiễn có rất nhiều quan điểm khác nhau về phạm trù này Tuy nhiên năm 1963, tổ chức phát triển CN của LHQ (UNIDO) đã đưa ra định nghĩa sau:
“ CNH là một quá trình phát triển kinh tế Trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân đựơc động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm cơ cấu kinh tế này có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để SX ra những TLSX và hàng tiêu dùng có khả năng đảm bảo đạt tới
về sự tiến bộ về KT – XH”
Đây là khái niệm phản ánh đầy đủ nhất, được nhiều người thừa nhận
2.2 Các giai đoạn phát triển công nghiệp của NICs Châu Á
Lựa chọn bước đi sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển Nhận thức về vấn đề này, NICs Châu Á đã khởi động nền kinh tế của mình bằng chiến lược CNH khôn khéo Mỗi nước và lãnh thổ có bước đi riêng, có những đặc thù riêng song nhìn chung quá trình CNH của NICs đều trải qua 3 giai đoạn chính sau:
a Giai đoạn 1 “CNH thay thế nhập khẩu”
Trong giai đoạn này các nước NICs Châu Á sản xuất các mặt hàng tiêu dùng và phát triển công nghiệp nặng cần nhiều vốn, sản xuất các sản phẩm trung gian, thiết bị máy móc
để thay thế nhập khẩu Tuy nhiên Hồng Công không trải qua bước này vì thị trường Hồng Công bé nhỏ và từ lâu đã là một khu chế xuất Còn Singapo thực hiện giai đoạn này khi còn trong LB Malaixia Đài Loan và Hàn Quốc thực hiện giai đoạn này tương đối triệt để
Trang 3Họ đã dùng các biện pháp khuyến khích SX trong nước và hạn chế nhập khẩu bằng cách
áp dụng chính sách tăng thuế đối với các hàng nhập khẩu
b Giai đoạn 2: “CNH hướng về xuất khẩu” (1970)
Song NICs Châu Á tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, XK các mặt hàng tiêu dùng, sử dụng nhiều lao động và có ưu thế vì họ nhận ra rằng vốn liếng của họ là nguồn lao động Họ nghiên cứu rất kỹ những “ chỗ trống” trong nhu cầu thị trường quốc tế
và quy định sử dụng lao động sản xuất ở mức độ nhỏ, cần ít vốn mà khối lượng tiêu thụ lại lớn VD: đồ nhựa, ống nhôm, tóc giả, giày dép, đồ chơi trẻ em, dệt, may mặc, đồ dùng gia đình…
c Giai đoạn 3: Những năm gần đây
NICs tập trung vào sản xuất các mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao như Tivi, Tủ lạnh, Ô tô, Địên tử…đồng thời đẩy mạnh tái xuất khẩu ( họ mua nông sản, hàng hoá, khoáng sản, tài nguyên…từ Châu Á sau đó qua sơ chế rồi XK sang Tây âu, Bắc Mỹ) chú trọng chuyển sang nền kinh tế tri thức
Nhìn chung, NICs Châu Á đã có bước đi đúng đắn đạt hiệu quả kinh tế cao và sớm trở thành những con rồng Châu Á
3 Những thành tựu đạt được
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế của NICs rất cao, TB: 8%/năm Tuy nhiên, tốc độ tăng không đều, tăng nhanh nhất vào những năm 80 và thấp dần từ những năm 90 trở lại đây Biểu hiện rõ nhất của sự thành công của quá trình CNH chính là thể hiện của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng cường các ngành CN và dịch vụ
- Với chiến lược “CNH hướng ra XK” cho nên giá trị XK của NICs đã không ngừng tăng lên.
Số mặt hàng CNXK tăng lên một cách đột ngột: Hồng Công tăng từ 8125; Hàn Quốc từ 22197; Xingapo từ 59173 Năm 1984, Đài Loan đứng đầu thế giới về XK giầy dép với 605 triệu đôi Hàn Quốc 203 triêụ đôi và cùng với Xingapo nằm trong danh sách
20 nước XK nhiều nhất trên thế giới
4 Một số bài học kinh nghiệm
Không thể đem mô hình CNH,HĐH của nước này áp dụng nguyên xi cho bất kỳ nước khác mặc dù trước đó có ĐKTN, hoàn cảnh lịch sử tương đồng, dù cho mô hình đó rất thành công trong thực tế Song việc nghiên cứu, học tập để tham khảo, đúc rút kinh nghiệm là điều cần thiết cho các nước đang phát triển đặc biệt là Việt Nam đang tiến hành CNH, HĐH đất nước Qua quá trình CNH ở NICs Châu Á có thể rút ra một số bài học sau:
- Bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người là bài học đắt giá từ NICs Chỉ có thể đẩy nhanh tiến trình CNH đất nước bởi những con người có năng lực về chuyên môn nghề nghiệp, có sức khoẻ tốt…
- Trong quá trình CNH đất nước không nên tuyệt đối hoá một mô hình mà cần phải xác định mỗi giai đoạn ứng với một mô hình nào đó sao cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước mình.
Trang 4- Phát triển các ngành CN nhẹ XK ở giai đoạn đầu nhằm tích luỹ vốn là tiền đề cho sự phát triển CN nặng, CN có hàm lượng KHKT cao ở các giai đoạn tiếp theo.
- Để thích ứng với sự phát triển như vũ bão cảu thời đại cần phải chuyển đổi mô hình kinh tế sang nền kinh tế tri thức khi có đủ điều kiện.
- Nhà nước và các doanh nghiệp nên tạo điều kiện, khuyến khích tiêu dùng hàng nội địa.
- Bài học về huy động nguồn vốn nước ngoài: Huy động nguồn vốn nước ngoài để tiến
hành CNH đất nước là việc làm rất cần thiết song sử dụng như thế nào và số lượng cũng không quá lớn để tránh tình trạng vỡ nợ như một thành viên của NICs hiện nay