PHÂN TÍCH MÔ HÌNH CNH,HĐH Ở CÁC NƯỚC CÔNG NGHIỆP MỚI (NICs). RÚT RA BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM Nhóm thực hiện: Nhóm 5 Các thành viên: Đỗ Văn Đạo (Nhóm trưởng) Đỗ Thanh Giang Vũ Thị Bích Hạnh Nguyễn Thị Thanh Hương ĐẶT VẤN ĐỀ Công nghiệp hóa là giai đoạn phát triển tất yếu của mọi quốc gia từ một nền kinh tế nông nghiệp, kém phát triển vươn lên trở thành một nước kinh tế tiên tiến, hiện đại. Để trở thành một quốc gia có nền kinh tế phát triển, trong lịch sử phát triển sản xuất, nhiều quốc gia đã mất hàng chục năm, có những quốc gia phải mất hàng trăm năm tiến hành công nghiệp hóa mới bứt lên trở thành một nước kinh tế phát triển, có trình độ công nghệ cao.
Trang 1PHÂN TÍCH MÔ HÌNH CNH,HĐH Ở CÁC NƯỚC CÔNG NGHIỆP MỚI
(NICs) RÚT RA BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Trang 2Công nghiệp hóa là giai đoạn phát triển tất yếu của mọi quốc gia từ một nền kinh tế nông nghiệp, kém phát triển vươn lên trở thành một nước kinh tế tiên tiến, hiện đại.
Để trở thành một quốc gia có nền kinh tế phát triển, trong lịch sử phát triển sản xuất, nhiều quốc gia đã mất hàng chục năm, có những quốc gia phải mất hàng trăm năm tiến hành công nghiệp hóa mới bứt lên trở thành một nước kinh tế phát triển, có trình độ công nghệ cao
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 3Ngày nay, bối cảnh tình hình chính trị - kinh tế thế giới và khu vực có nhiều biến đổi, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển như vũ bão, giao lưu quốc tế và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng mở rộng và gia tăng, các nước đang phát triển
có điều kiện hết sức thuận lợi để có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hóa hơn các nước đi trước rất nhiều Thực tế cho thấy quốc gia nào lựa chọn được cho mình một chiến lược công nghiệp hóa đúng đắn, lợi dụng được lợi thế mà thời đại tạo ra, quốc gia đó sẽ có cơ hội vưon lên trở thành những “con rồng”, những nước công nghiệp mới Ngược lại quốc gia đó sẽ bị chìm đắm trong lạc hậu, tụt xa về kinh tế
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Với ý nghĩa đó, nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “Phân tích mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của các nước công nghiệp mới (NICs) Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm bài thu hoạch cho chuyên đề CNH,HĐH
Do thời gian có hạn, nên nhóm chúng tôi chỉ
đi phân tích về mô hình CNH,HĐH các nước công nghiệp mới ở Châu Á, đó là: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore
Trang 5NỘI DUNG
Đặt vấn đề, mục lục, tài liệu tham khảo
Chương I: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CNH,HĐH
CHƯƠNG II: MÔ HÌNH CNH,HĐH Ở CÁC NƯỚC NICs
CHƯƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO
VIỆTNAM TỪ MÔ HÌNH CNH Ở
CÁC NƯỚC NICs
Trang 6Chương I
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CNH, HĐH
I- QUAN NIỆM VỀ CNH, HĐH TRÊN THẾ GIỚI
1- Quan niệm về CNH
- Theo quan niệm về CNH của các quốc gia Tây Âu và Bắc Mỹ:
Công nghiệp hóa là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động; trang
bị các nhà máy, các loại công nghiệp.
Công nghiệp hóa là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động
sử dụng máy móc
CNH là quá trình biến một nước nông nghiệp thành một nước CN
Với cách quan niệm này, trong quá trình dài thực hiện CNH, các nước này chủ yếu tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp, sự chuyển biến của các hoạt động kinh tế - xã hội khác chỉ là hệ quả của quá trình
Trang 71- Quan niệm về CNH (tiếp)
Theo quan điểm của Liên Xô (cũ): Công nghiệp hóa là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với các ngành trung tâm là chế tạo máy
Với quan niệm này, nó phản ánh đúng đắn về quá trình thực
hiện CNH ở nước Nga, phù hợp với trình độ phát triển và bối cảnh chống thù trong giặc ngoài của nước Nga ở thời điểm đó Kết quả
là nước Nga sau một thời gian tập trung thực hiện CNH đã trở thành cường quốc về kinh tế và khoa học kỹ thuật, trở thành thành trì cho CNXH trong suốt thập niên 60 – 80 của thế kỷ XX Nhưng sẽ là không phù hợp đối với những nước khác nếu áp dụng dập khuôn, máy móc mô hình này, mà điển hình như ở nước ta trong thời kỳ đầu thực hiện CNH
Trang 81- Quan niệm về CNH (tiếp)
- Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO):
CNH là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân động â viên để phát triển kinh tế, trong quá trình này toàn bộ để phát triển chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội.
Với quan niệm này cho thấy quá trình CNH bao gồm toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt tới không chỉ phát triển kinh tế mà còn cả
sự tiến bộ về mặt xã hội nữa.
Trang 9Chương I (tiếp)
2- Tính chất của quá trình CNH được các nhà nghiên cứu bao hàm trên các mặt sau đây:
Thứ nhất, công nghiệp hóa là quá trình trang bị và trang
bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là những ngành chiếm vị trí trọng yếu Thực hiện công nghiệp hóa trong điều kiện cách mạng khoa học – công nghệ ngày nay, quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ cho các ngành phải gắn liền với quá trình hiện đại hóa Quá trình này đồng thời là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cải biến các ngành kinh tế, các hoạt động theo phong cách của nền công nghiệp lớn hiện đại Đây cũng đồng thời là quá trình làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh,
ổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư, thu hẹp dần sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nước trên thế giới
Trang 102- Tính chất của quá trình CNH (tiếp)
Thứ hai, quá trình công nghiệp hóa
không chỉ liên quan phát triển công nghiệp, mà là quá trình bao trùm lên tất
cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế Nó cũng gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và cơ cấu ngành kinh tế.
Trang 112- Tính chất của quá trình CNH (tiếp)
Thứ ba, quá trình công nghiệp hóa trong bất
kỳ giai đoạn nào cũng đều vừa là quá trình kinh
tế – kỹ thuật, vừa là qua trình kinh tế – xã hội Hai quá trình này có quan hệ mật thiết với nhau, ràng buộc nhau Qua trình kinh tế – kỹ thuật tạo điều kiện vật chất kỹ thuật cho việc thực hiện các nội dung của quá trình kinh tế –
xã hội Ngược lại, quá trình kinh tế – xã hội góp phần tạo nên động lực cho việc thực hiện kinh
tế – kỹ thuật
Trang 122- Tính chất của quá trình CNH (tiếp)
Thứ tư, quá trình công nghiệp hóa cũng
đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ kinh
tế quốc tế Đây chính là quá trình tham gia phân công lao động hợp tác quốc tế, là xu thế phát triển tất yếu khách quan của đời sống kinh tế mở khu vực hóa và toàn cầu hóa, qua đó tận dụng thời cơ để phát huy nội lực trong nước và nguồn lực bên ngoài cho quá trình CNH
Trang 132- Tính chất của quá trình CNH (tiếp)
Thứ năm , công nghiệp hóa không phải là một mục đích tự thân, mà là một phương thức có tính chất phổ biến
để thực hiện mục tiêu của mỗi nước Đây chính là một trong những biểu hiện của quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Trang 14Khái niệm đầy đủ về CNH
“ Công nghiệp hóa là một quá trình tất yếu nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế – xã hội của đất nước trên
cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực
và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với trình độ khoa học – cộng nghệ ngày càng hiện đại ”
Trang 15Chương I (tiếp)
3- Quan điểm về hiện đại hóa.
Cũng như công nghiệp hóa , khái niệm về hiện đại hóa (HĐH) cũng
có nhiều cách hiểu khác nhau
Theo cách hiểu chung nhất, thì “Hiện đại hóa là quá trình tiếp cận phát triển và hoàn thiện không ngừng về kỹ thuật của sản xuất
theo hướng tiên bộ”
Theo quan niệm triết học xã hội:
+ Theo Tenis “HĐH là bước chuyển từ cộng đồng sang xã hội”
+ Theo Durkheim “Hiện đại hóa là bước chuyển từ trạng thái cơ giới sang trạng thái hữu cơ của xã hội”
+ Theo Vebe “Hiện đại hóa là bước chuyển từ tính hợp lý về giá trị sang tính hợp lý về mục đích”
+ Theo Levi “Thực chất của hiện đại hóa là hợp lý hóa”
Trang 163- Quan điểm về hiện đại hóa (tiếp)
- Theo các nhà khoa học Nga, thì: “Quá trình phát triển của xã
hội cũng là quá trình hiện đại hóa đất nước, là quá trình cải biến kinh tế
- xã hội nhằm nội dung nhanh chóng đuổi kịp các nước phát triển cũng chính là nội dung kinh tế - kỹ thuật của quá trình hiện đại hóa đó Cách mạng cộng nghiệp cũng chính là nội dung kinh tế - kỹ thuật của quá trình hiện đại hóa”.
- Theo các nhà lý luận phương Tây, thì “Trên phương diện
công nghệ - kỹ thuật hiện đại hóa là quá trình thực hiện hậu công nghiệp hóa, tiến hành cách mạng khoa học – kỹ thuật, biến tri thức thành lực lượng sản xuất trực tiếp, quyết địng định hướng phát triển của công nghệ, công nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế nói chung, là
quá trình trí tuệ hóa lao động của con người”.
Trang 17Chương II
MÔ HÌNH CNH,HĐH Ở CÁC
NƯỚC NICs ĐÔNG Á
CÁC NƯỚC CÔNG NGHIỆP MỚI (NICs)
(NICs = Newly Industrializing Countries)
Từ ngữ các nước công nghiệp mới bắt đầu được sử dụng ở thập niên 1970 khi “Bốn con hổ Châu Á” là Hồng Kông (khi đó còn
là thuộc địa của Anh Quốc), Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan nổi lên với sự tăng trưởng ngoạn mục từ thập niên 1960
Nước công nghiệp mới (Newly Industrialized Country - NIC)
là từ ngữ kinh tế-xã hội sử dụng bởi các nhà kinh tế, lý luận chính trị để chỉ một quốc gia mới công nghiệp hóa trên thế giới
Trang 182- Các nước CN mới (NICs) có đặc điểm
II- QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH CNH,HĐH
1- Chiến lược kinh tế tổng quát
2- Chiến lược Công Nghiệp Hóa
3- Vai trò của nhà nước trong quá trình
CNH,HĐH
Trang 19HÀN QUỐC
HÀN QUỐC
ĐÀI LOAN ĐÀI LOAN
HỒNG CÔNG XINGAPOR
I- TỔNG QUAN VỀ CÁC NƯỚC NICS
Trang 20I- TỔNG QUAN VỀ CÁC NƯỚC NICs1- Bối cảnh quốc tế chung cho quá trình CNH,HĐH của các nước NICs.
Các nước NICs tiến hành CNH,HĐH vào thập niên 60 của thế kỷ XX, kết thúc vào thập niên 90 với những bối cảnh quốc tế:
Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật trên thế giới bước vào giai đoạn cuối và chuẩn bị bắt đầu cuộc cách mạng khoa học – công nghệ
Lợi thế của các nước đi sau về kinh nghiệm rút ra từ các nước CNH
đi trước, thừa hưởng những thành tựu của cuộc cách mạng KThuật, nên đi tắt đón đầu, rút ngắn được thời gian CNH.
Phân công lao động quốc tế, tư do hóa thương mại và quốc tế hóa nền kinh tế là một xu thế khách quan
Trang 211- Bối cảnh quốc tế chung…
Đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ
để mở rộng “Biên giới kinh tế” và tìm kiếm cơ hội đầu tư có lợi nhuận cao của các nước tư bản diễn ra mạnh mẽ.
Thời cơ và thách thức cùng xuất hiện
Các nước NICs tiến hành CNH,HĐH trong bối cảnh Mỹ đang thực hiện cuộc chiến tranh ở Việt Nam
Trang 22I TỔNG QUAN VỀ CÁC NƯỚC NICs
2- Các nước CN mới (NICs) có đặc điểm là:
Kinh tế chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp , đặc biệt là lĩnh vực chế tạo
GND tăng nhanh chóng do có tốc độ phát triển cao, GDP/ng >10.000 USD.
Công nghiệp hóa nhanh, nhất là các ngành tham gia xuất khẩu: công nghiệp chiếm 30% - 45%.
Thu hút nhiều vốn đầu tư của tư bản nước ngoài
Quyền dân sự và tự do xã hội được cải thiện
Trang 23
Hấp thu luồng đầu tư tư bản dồi dào từ nước ngoài
Lãnh đạo chính trị mang lại ảnh hưởng lớn đến sự thúc đẩy kinh tế
Trang 242- Đặc điểm… (tiếp)
Ngày nay, các quốc gia này đã hoàn thành quá trình CNH,HĐH và
"NIC" được dùng chỉ các nước tiếp bước con đường thành công của họ
Bốn con hổ châu Á giờ đây đã đạt trình độ tương đương các nước phát triển với tiến trình cởi mở chính trị, GDP trên đầu người cao, và
chính sách kinh tế mạnh mẽ, hướng về xuất khẩu Các quốc gia và vùng lãnh thổ này có chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức hơn 90% chỉ số trung bình của Liên minh châu Âu, riêng Hàn Quốc là thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)
Đôi khi "Bốn con hổ châu Á" được gọi là các nước công nghiệp mớithế hệ thứ nhất để phân biệt với các nước công nghiệp hóa đi sau
Trang 25CHƯƠNG II
II- QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH CNH,HĐH
1- Chiến lược kinh tế tổng quát
Vào những năm 50 và 60, phần lớn các nước đang phát triển xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội, thì Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore chấp nhận chiến lược tăng trưởng kinh tế Thực chất của chiến lược này là khai thác tối ưu lợi thế
so sánh để tăng trưởng kinh tế Chiến lược này nó không bao gồm mục tiêu toàn diện như chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, mà chỉ chú ý đến các ngành cụ thể, các lĩnh vực cụ thể có lợi thế so sánh, có khả năng đọt phá tạo ra sự tăng trưởng kinh
tế với tốc độ nhanh
Trang 261- Chiến lược kinh tế tổng quát
Trong thời gian đầu, chiến lược tăng trưởng kinh tế chấp nhận “bỏ quên” một số ngành, một số lĩnh vực, một số vùng kinh tế mà nếu đầu tư thì chỉ giải quyết được vấn
đề cân đối, đồng đều chứ không đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế.
Trong lĩnh vực xã hội, chiến lược tăng trưởng kinh tế chấp nhận sự phân hóa giàu nghèo, sự chênh lệch về đời sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng kinh tế Tuy nhiên với sự tăng trưởng kinh tế thì các yêu cầu về
xã hội từng bước sẽ được giải quyết, nhưng nó luôn là vấn đề đi sau chứ không phải là mũi nhọn của chiến lựơc
Trang 271- Chiến lược kinh tế tổng quát
Về mặt chính trị, chiến lược này cho phép chấp nhận ở chừng mực nhất định, sự phụ thuộc nước ngoài nhằm tranh thủ những khả năng từ bên ngoài để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng Khởi đầu của chiến lược là phụ thuộc mọt chiều nhưng dần dần
sẽ xác lập sự phụ thuộc lẫn nhau nhờ có những kết quả tăng trưởng kinh tế mang lại.
Chiến lược tăng trưởng kinh tế đã đưa Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore nhanh chóng “cất cánh” nhưng nó cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp về chính trị, xã hội cho tới nay còn phải tiếp tục giải quyết
Trang 281- Chiến lược kinh tế tổng quát
Cơ sở thực tiễn của chiến lược tăng trưởng kinh tế là vào thời kỳ đầu khởi động, vốn đầu tư của chính phủ và tư nhân chưa lớn, chỉ cho phép đầu tư ở độ thấp, thì việc lựa chọn một số ngành, một số lĩnh vực, một số vùng để đầu tư để tránh được tình trạng vốn bị
co kéo, dàn trải, đầu tư manh mún Mặt khác khi tập trung đầu tư trên quan điểm lợi thế so sánh sẽ mạng lại hiệu quả đầu tư cao, khả năng tái đầu tư lớn
Trang 29II- QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH CNH,HĐH
nghệp nặng thay thế nhập khẩu
thuật cao để xuất khẩu
Trang 30
2 Chiến lược Công Nghiệp Hóa
dùng thay thế nhập khẩu.
Các nhà kinh tế cho rằng khởi đầu quá trình CNH bằng bước thay thế nhập khẩu là cần thiết Trong các nước và lãnh thổ CNH mới Đông Á, thì Hồng Kông không phải qua bước này vì thị trường nhỏ bé và từ lâu đây là khu chế xuất, còn Singapore chỉ thực hiện bước này trong thời kỳ nằm trong Liên bang Malaixia và một vài năm sau đó.
Trang 31Bước một (tiếp)
Đài Loan và Hàn Quốc thực hiện CNH thay thế nhập khẩu tương đối triệt để Trong giai đoạn này Đài Loan và Hàn Quốc đã thực hiện các biện pháp khuyến khích sản xuất trong nước và hạn chế nhập khẩu bằng việc cấm nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất được, áp dụng chính sách thuế cao đối với các mặt hàng nhập khẩu, thiết lập hệ thống hối đoái nhiều tỷ giá với ưu đãi cho sản xuất trong nước
Trang 32Bước một (tiếp)
Tuy nhiên chiến lược thay thế nhập khẩu của Đài Loan và Hàn Quốc không kéo quá dài Đài Loan kết thúc vào cuối thập kỷ 50 và đầu thập kỷ 60, còn Hàn Quốc cũng chấm dứt vào cuối kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1962-1966
Nguyên nhân chủ yếu là sức mua thị trường nội địa quá thấp vì thu nhập của dân cư còn hạn chế; một số nhà sản xuất ít quan tâm đến cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành Mặt khác khi
áp dụng CNH thay thế nhập khẩu thì cán cân ngoại thương không được cải thiện, mức thâm hụt vẫn tăng lên, vì để thay thế nhập khẩu hàng tiêu dùng, hàng năm vẫn phải nhập khối lượng lớn vật tư, nguyên liệu, thiết bị máy móc.