Đối tượng nghiên cứu Với đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, người viết luôn chú ý khai thác những hình thức nghệ thuật trần thuật trong mảng truyện ngắn của c
Trang 1tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trang 2Để hoàn thành luận văn này, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội, các thầy cô công tác tại Viện Văn học Việt Nam, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến
PGS TS Hà Văn Đức - người đã hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để em
hoàn thành tốt luận văn này
Em xin gửi tới qúy thầy cô trong Hội đồng bảo vệ lời cảm ơn chân thành!
Do còn hạn chế về trình độ nên luận văn chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý từ phía thầy cô, đồng nghiệp
và các bạn
Hà Nội, tháng 06 năm 2011
Tác giả luận văn
Ngô Thị Yên
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Kết cấu luận văn 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 NGƯỜI TRẦN THUẬT VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 8
1.1 Lý thuyết về nghệ thuật trần thuật 8
1.2 Người trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 9
1.2.1 Người trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 9
1.2.1.1 Khái quát về người trần thuật 9
1.2.1.2 Người trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 11
1.2.1.2.1 Người trần thuật hàm ẩn 13
1.2.1.2.2 Người trần thuật tường minh 16
1.2.2 Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 18
1.2.2.1 Khái quát về điểm nhìn trần thuật 18
1.2.2.2 Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 21
1.2.2.2.1 Điểm nhìn trần thuật bên ngoài 21
1.2.2.2.2 Điểm nhìn trần thuật bên trong 26
1.2.2.2.3 Điểm nhìn trần thuật phức hợp 31
CHƯƠNG 2 NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC KẾT CẤU VÀ CỐT TRUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 37
2.1 Nghệ thuật tổ chức kết cấu trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 37
2.1.1 Khái niệm về kết cấu và kết cấu trần thuật 37
2.1.1.1 Kết cấu 37
2.1.1.2 Kết cấu trần thuật 38
2.1.2 Hình thức kết cấu trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 39
Trang 42.1.2.1 Kết cấu đơn tuyến 39
2.1.2.2 Kết cấu theo mạch phát triển tâm lí 43
2.1.2.3 Kết cấu đảo lộn trật tự trần thuật 48
2.2 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 53
2.2.1 Khái niệm về cốt truyện 53
2.2.2 Cốt truyện trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 55
2.2.2.1 Cốt truyện đơn giản 55
2.2.2.2 Cốt truyện với kết thúc bất ngờ, kết thúc để ngỏ 57
2.2.2.3 Cốt truyện đan xen nhiều mạch truyện 61
CHƯƠNG 3 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 66
3.1 Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 66
3.1.1 Khái quát về ngôn ngữ trần thuật 66
3.1.2.Lời văn trần thuật và lời văn miêu tả trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
67 3.1.2.1 Lời văn trần thuật 67
3.1.2.1.1 Lời trần thuật gián tiếp của người kể chuyện 68
3.1.2.1.2 Lời trần thuật nửa trực tiếp 70
3.1.2.2 Lời văn miêu tả 75
3.1.2.2.1 Lời văn miêu tả thiên nhiên 76
3.1.2.2.2 Lời văn miêu tả về cuộc sống con người miền núi 83
3.2 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 89
3.2.1 Khái quát về giọng điệu trần thuật 89
3.2.2 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 91
3.2.2.1 Giọng điệu trữ tình, mộc mạc, chân chất 91
3.2.2.2 Giọng điệu cảm thương, xót xa 97
3.2.2.3 Giọng điệu triết lý, giản dị mà sâu lắng 100
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 5
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1 Nói đến văn học Việt Nam, chúng ta nói đến cả quá trình phát sinh và phát triển Đặc biệt là từ sau năm 1975 với công cuộc đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam, một cuộc đổi mới được thể hiện trên nhiều bình diện Song về
cơ bản vẫn là giai đoạn văn học tiếp cận cuộc sống từ bình diện thế sự - đời
tư Chính xu hướng đó đã kích thích sức sáng tạo không ngừng của các văn nghệ sĩ
Bước sang thế kỉ XXI, từ sự đổi mới về nhiều mặt và sự mở rộng biên độ cho cho người sáng tác khiến cho văn học đương đại của Việt Nam được vận động, phát triển liên tục Để đáp ứng mọi nhu cầu sáng tác của người cầm bút, nhiều nhà văn tên tuổi đã đi đầu trong phong trào đổi mới đó Tiêu biểu như: Nguyễn Minh Châu Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp
Chính lẽ đó, trong những năm gần đây, văn học Việt Nam xuất hiện nhiều gương mặt những nhà văn trẻ có triển vọng Họ đi sâu vào nhiều góc cạnh của đời sống, từ thế sự cho đến đời tư của con người Đặc biệt, các nhà văn trẻ quan tâm nhiều đến số phận, hoàn cảnh sống éo le và đến cả những cái rất riêng, những điều nhạy cảm nhất trong cuộc sống đa dạng của con người Một trong số đó phải kể đến nhà văn trẻ Đỗ Bích Thúy, chị đã góp phần làm cho
bộ mặt của văn học Việt Nam thêm một diện mạo mới
2 Nhà văn Đỗ Bích Thúy sinh ngày 13/04/1975 tại Hà Giang Chị sinh ra
và lớn lên trên mảnh đất địa đầu của Tổ quốc - một địa danh gắn liền với khung cảnh núi rừng Tây Bắc đã đi vào trang thơ, trang văn của rất nhiều nhà thơ, nhà văn Chị là thế hệ những nhà văn trưởng thành sau năm 1975, khi đất nước đã không còn tiếng súng Một đất nước sống trong hòa bình, tự do nhưng con người phải đối mặt với nhiều điều phức tạp của cuộc sống
Có thể nói, cuộc đời Đỗ Bích Thúy không phải là một đường thẳng, xuyên suốt mà nó đầy sự biến động Con đường tìm đến văn chương của chị là cả một quãng đường, tuy không dài nhưng nhiều bước chuyển mình
Trang 6Tuổi trẻ của Đỗ Bích Thúy cũng giống như bao cô gái mới lớn khác, chị
có rất nhiều dự định và ước mơ trong sáng, cụ thể như mơ ước trở thành cô giáo Song ý định ấy không trở thành hiện thực, bởi không biết vì nguyên do
gì mà Đỗ Bích Thúy lại học Cao đẳng Tài chính - Kế toán và trở thành một
nữ kế toán cho báo Hà Giang Nhưng với niềm đam mê văn chương nghệ thuật, từ một nữ kế toán chị chuyển sang lĩnh vực viết lách, làm báo Thời gian làm việc cho báo Hà Giang không nhiều nhưng với bốn năm lăn lộn với nghề báo, phải trèo đèo lội suối, đi vào những thung sâu, bản xa lấy tư liệu đã giúp Đỗ Bích Thúy hiểu sâu sắc hơn về cuộc sống con người Sau đó, chị về
Hà Nội học tiếp lên đại học Trong những tháng ngày là sinh viên, chị miệt mài chăm chỉ học tập để mong có thêm nhiều kiến thức về phục vụ cho công việc làm báo sau này của mình Sống trong môi trường sinh viên thiếu thốn
đủ thứ và lại là người con sống xa nhà, xa quê, Đỗ Bích Thúy luôn đau đáu nhớ về quê hương - nơi có bố mẹ, anh chị em và bạn bè Hơn lúc nào hết, ngòi bút lại thôi thúc chị viết, chị viết trong một không gian chật hẹp của kí túc xá Nơi đó có những chiếc giường tầng cùng với chiếc bàn gấp nhỏ bé, có thể di chuyển mọi lúc mọi nơi Cũng trong thời gian học tập này, chị đã gửi những bài viết của mình đến Tạp chí văn nghệ quân đội để dự thi Kết quả là chị đã dành giải nhất
Quan niệm viết văn của Đỗ Bích Thúy hết sức đơn giản, chị vẫn thường nói viết chính là nhu cầu nội tâm Đặc biệt viết văn đối với chị như là sự trả
ơn, nên trong cuộc đời viết văn của mình, chị đã định hình một cách viết không quá ồn áo, hoa mĩ, không gây ra những cú sốc mạnh như những bạn viết cùng trang lứa Đầu sách của chị nằm khiêm tốn trong hiệu sách và cũng chỉ những ai thực sự say mê văn chương đích thực mới tìm đến, quan tâm đến chị và sách của chị Điều đó cũng đủ để Đỗ Bích Thúy lặng lẽ, điềm đạm và cần mẫn viết
Những tập truyện của Đỗ Bích Thúy phần lớn chỉ viết với một đề tài duy nhất, đó là đề tài miền núi, lại chỉ với một địa danh quen thuộc - Đó là mảnh
Trang 7đất Hà Giang - quê hương yêu dấu của chị Miền núi - đúng như tên gọi của nó: hoang sơ, lạ lẫm và bí hiểm nhưng chị đã khai thác chiều sâu phức tạp trong cuộc sống cũng như nhân cách và phẩm chất của con người vùng núi phía Bắc một cách chân thành và thắm đượm tình quê
Đến nay, Đỗ Bích Thúy đã là một cây bút được khẳng định và là nữ phó tổng biên tập đầu tiên trong lịch sử hơn 50 năm của Tạp chí văn nghệ quân đội Với công việc này, chị không chỉ gánh trọng trách của người quản lý mà còn phải nỗ lực hơn nữa trong việc sáng tác của bản thân mình
3 Truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy đã có một số người lấy làm đề tài nghiên cứu nhưng chưa ai đi sâu vào việc áp dụng lí thuyết về nghệ thuật trần thuật để tìm hiểu về phong cách sáng tạo trong truyện ngắn của chị.Vì lí do
trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy”
2 Lịch sử vấn đề
Đỗ Bích Thuý đến với văn chương từ rất sớm, chị từng sáng tác và gửi bài
cho báo Tiền Phong từ năm 19 tuổi với tác phẩm đầu tay của mình là Chuỗi hạt cườm màu xám và đã để lại ấn tượng không nhỏ trong lòng bạn đọc
Nhưng bước ngoặt để tên tuổi chị có chỗ đứng trong làng văn học hiện đại là phải kể đến cuộc thi truyện ngắn kéo dài 2 năm 1989 - 1999 do Tạp chí văn nghệ quân đội tổ chức Kết quả là chị đã dành giải nhất với chùm tác phẩm:
Ngải đắng ở trên núi, Đêm cá nổi và Sau những mùa trăng Đặc biệt là truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của chị đã được đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành kịch bản phim Chuyện của Pao Bộ phim này đã
đoạt giải Cánh diều vàng năm 2005 của hội điện ảnh Việt Nam Từ đây, tên tuổi của chị được báo giới biết đến và lưu tâm nhiều hơn
Trên báo văn nghệ trẻ, số ra ngày 11/3/2001, Điệp Anh có bài Gặp hai nữ thủ khoa truyện ngắn trẻ đã nhận xét: “ Thế mạnh của Đỗ Bích Thuý là đời
sống của người dân Tây Bắc, với những không gian vừa quen vừa lạ, những phong tục tập quán đặc thù khiến người đọc luôn cảm thấy tò mò và bị cuốn
Trang 8hút ( ) Trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thuý, không gian Tây Bắc hiện lên đậm nét, để lại dư vị khó quên trong lòng độc giả” [02;03]
Nhà văn Chu Lai - một cây bút kì cựu trong làng văn có bài Cái duyên và sức gợi của hai giọng văn trẻ được đăng trên Tạp chí văn nghệ quân đội
tháng 7 năm 2001 Ông đã cảm nhận về văn của Đỗ Bích Thuý như sau: “Đọc Thuý người ta có cảm giác như được ăn một món lạ, được sống trong một mảnh đất lạ mà ở đó tràn ngập những cái rất riêng đậm đặc chất dân gian của hương vị núi rừng, của con suối chảy ra từ khe đá lạnh, của mây trời đặc sánh “như một bầy trăn trắng đang quấn quyện vào nhau”, của mùi ngải đắng, mần tang, của những nét ăn, nét ở, phong tục tập quán còn giữ nguyên
vẻ hoang sơ, thuần phác, của ánh trăng “giữa mùa cứ rọi vào nhà cả đêm, trăng đi một vòng cửa trước ra cửa sau”, của những trái tim con gái vật vã, cháy bùng theo tiếng khèn gọi tình dưới thung xa, của bếp lửa nhà sàn và tiếng mõ trâu gõ vào khuya khoắt, của những kiếp sống nhọc nhằn và con bìm bịp say thuốc, say rượu ngủ khì khì bên chân chủ” [31;104]
Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư là bài viết của Phạm Thùy Dương được đăng trên Tạp chí văn nghệ
quân đội (661) tháng 1 năm 2007 Phạm Thùy Dương có nhận xét : “Nổi lên trong trang viết của Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy là cái nhìn nhân ái về con người ( ) Đằng sau cuộc sống, khí chất của con người mỗi vùng đất là tình cảm cảm thương sâu sắc của nhà văn tới những con người bất hạnh”
[13;102]
Trung Trung Đỉnh với bài Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy in trên báo
Văn nghệ số 5, ra ngày 3/2/2007 cũng cảm nhận khá sâu về văn phong Đỗ
Bích Thúy: “Đỗ Bích Thúy có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống của con người miền cao một cách tài tình Không truyện nào là không
kể về cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn ở và cả quang cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù tác giả
Trang 9không hề cố ý đưa vào chi tiết lạ Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bởi những chi tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có” [17;58]
Với báo mạng, cũng có nhiều bài viết đề cập tới sáng tác của Đỗ Bích
Thúy Tác giả Hà Anh với bài viết Đỗ Bích Thúy: nếu làm độc giả thất vọng tôi thà chịu cũ được đăng tải trên trang http://evan.vnexpretss.net ra ngày 05/12/2005 Tiếp đến là bài viết của tác giả Dương Bìn h Nguyên với bài Nhà văn Đỗ Bích Thúy: viết vì nhu cầu nội tâm được đăng tải trên trang
http://evan.vnexpretss.net ra ngày 21/1/2006 và bài viết Nhà văn Đỗ Bích Thúy - sự mềm mại quyết liệt được đăng trên trang http://www.cand.com.vn
Ngoài ra có nhiều bài viết về chị trên trang khác như: http://vietbao.vn;
phongdiep.net có bài viết Đỗ Bích Thúy - tôi đã không nghĩ rằng người phụ
nữ có thể hi sinh nhiều đến thế, ra ngày 23/1/2009 Tiếp đến, là tác giả Bình Nguyên Trang với bài viết Con của núi được đăng trên trang:
http://www.hoilhpn.org.vn ngày 16/03/2009 Trên trang http://my.opera.com
là bài viết Đỗ Bích Thúy và Ngải đắng ở trên núi và trang
http://tapchinhavan.vn ra ngày 23/11/2009 có bài Đường đến với văn chương của một người viết trẻ của tác giả Lê Hương Thủy
Bên cạnh sở trường viết truyện ngắn, nhà văn trẻ Đỗ Bích Thúy còn thử sức mình trong cả lĩnh vực sáng tác kịch, tiểu thuyết và đoản văn Có lẽ ở phương diện nào chị cũng tạo được sự chú ý của mọi người, đặc biết là giới văn nghệ sĩ
Với tiểu thuyết đầu tay Bóng của cây sồi có bài nhận xét của Nguyễn
Hữu Quý ở báo Văn nghệ quân đội (623) tháng 6 năm 2005 như sau: “Tính xã hội, tính nhân văn, lòng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được gửi gắm vào từng trang viết Nó đã được nói qua nhân vật, qua giọng kể không mới lạ nhưng đằm lắng và nhiều cảm xúc của Đỗ Bích Thúy Hiện tại, quá khứ, chuyện mới, chuyện cũ đan xen, cài quấn nhau như dòng chảy của cuộc sống muôn đời nay tiếp nối, tiếp nối không dứt Lối dẫn chuyện tự nhiên và không
Trang 10gò bó, cách miêu tả thiên nhiên và đời sống của miền đất cực bắc đất nước khá sinh động là ưu điểm nổi trội của cuốn tiểu thuyết này”[45;113]
Ngoài những bài báo đánh giá, nhận xét, khám phá, tìm hiểu một số khía cạnh nhỏ về truyện ngắn của Đỗ Bích Thuý còn có một số công trình nghiên cứu bước đầu so sánh đối chiếu với một số nhà văn trẻ khác như: Luận văn
thạc sĩ của Dương Thị Kim Thoa với đề tài Tiếp cận sáng tác của Đỗ Bích Thuý và Nguyễn Ngọc Tư từ phương diện giá trị văn học - văn hoá (2008) Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Minh Trường với đề tài Truyện ngắn về đề tài
về dân tộc miền núi phía bắc qua tác phẩm của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thuý, Nguyễn Huy Thiệp (2009) Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Hồng
về đề tài Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kì 1986 - 2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy (2009)
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy,
người viết luôn chú ý khai thác những hình thức nghệ thuật trần thuật trong mảng truyện ngắn của chị để chỉ ra những nét riêng, đặc trưng trong lối sáng tạo của nhà văn trẻ này
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Người viết tập trung nghiên cứu khai thác sâu nghệ thuật trần thuật trong năm tập truyện ngắn của nhà văn Đỗ Bích Thúy:
1 Sau những mùa trăng, NXB Văn nghệ quân đội năm 2001
2 Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, NXB Hội nhà văn, năm 2003
3 Kí ức đôi guốc đỏ, NXB Phụ nữ, năm 2004
4 Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, NXB Công an nhân dân, năm 2006
5 Người đàn bà miền núi, NXB Phụ nữ, năm 2008
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 11Xuất phát từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu, người viết sẽ chọn lý thuyết có liên quan đến nghệ thuật trần thuật để áp dụng vào việc triển khai vấn đề này Bên cạnh đó, người viết còn phải sử dụng đến các phương pháp khác để bổ trợ cho việc nghiên cứu của mình Đó là các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn của chúng tôi gồm có ba chương:
Chương 1 Người trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Chương 2 Nghệ thuật tổ chức kết cấu và cốt truyện trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Chương 3 Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Trang 12
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NGƯỜI TRẦN THUẬT VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 1.1 Lí thuyết nghệ thuật trần thuật
Nói đến phương diện trần thuật thì đây lại là một phần không thể thiếu trong phương thức tự sự Bởi trong tác phẩm tự sự, nghệ thuật trần thuật có vai trò quan trọng góp phần khẳng định tài năng, phong cách nhà văn Có nhiều hình thức trần thuật, mỗi một thể loại cụ thể sẽ có cách trần thuật khác
nhau Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Trần thuật là phương diện cơ bản
của phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật” [21;307]
Giáo trình Lí luận văn học cũng đưa ra khái niệm về trần thuật như sau:
“Trần thuật là biện pháp nghệ thuật cơ bản nhất để tạo thành văn bản văn học
Về bản chất, trần thuật là hành vi ngôn ngữ nhằm kể, thuật, miêu tả, cung cấp thông tin về sự kiện, nhân vật, theo một thứ tự nhất định trong không gian, thời gian và về ý nghĩa Trần thuật có nhiệm vụ cho người đọc biết ai, xuất hiện ở đâu, khi nào, làm việc gì, trong tình huống nào ” [53;100]
Trần thuật không chỉ là lời thuật, lời kể Nó bao hàm cả việc “miêu tả đối
tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ
tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả” [21;307] Trần thuật không chỉ có trong truyện mà còn có cả trong thơ trữ tình nhưng trần thuật thể hiện sự đa dạng và phong phú nhất phải là tác phẩm tự sự Như vậy, trần thuật luôn có hai yếu tố quy định, đó là người kể và chuỗi ngôn từ Yếu tố người kể chuyện, ta sẽ có ngôi trần thuật, lời trần thuật, điểm nhìn trần thuật Yếu tố chuỗi ngôn từ ta lại
có nhiều yếu tố khác như: dựng cảnh, dự báo; phân tích bình luận, giọng điệu
Từ điển thuật ngữ văn học khẳng định: “Trần thuật là phương diện cấu
trúc của tác phẩm tự sự thể hiện mối quan hệ chủ thể - khách thể trong loại
Trang 13hình nghệ thuật này Nó đánh dấu sự đổi thay điểm chú ý của ý thức văn học
từ hệ thống sự kiện “thắt nút”, “mở nút”, sang chủ thể thẩm mĩ của tác phẩm
tự sự” [21;308]
Từ khái niệm trần thuật là một phương thức nghệ thuật đặc trưng của tác phẩm tự sự, truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy đã sử dụng nghệ thuật trần thuật vào việc khai thác những mảnh đời tư của con người trong quá trình hình thành và phát triển Để đạt được điều đó, bút pháp trần thuật của tác giả phải được định hình trong một không gian và thời gian nhất định Có như vậy, thể loại truyện ngắn mới phát huy hết mặt mạnh của nó
1.2 Người trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
1.2.1 Người trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
1.2.1.1 Khái quát về người trần thuật
Trong nghệ thuật trần thuật, người ta thường nhắc đến các khái niệm: người trần thuật, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ trần
thuật
Người trần thuật (còn gọi là người kể chuyện, người thuật chuyện) Đây
là khái niệm trung tâm của trần thuật học, của thi pháp học hiện đại Khái niệm này dùng để chỉ người thay thế cho chủ thể sáng tạo tường thuật lại câu chuyện trong tác phẩm Song cho đến nay, khái niệm này còn gây nhiều tranh cãi Các nhà nghiên cứu Pháp như G Genette thì hiểu người trần thuật có chức năng của tác giả mà ông giải thích là vai trò trội của người kể chuyện
Đó là, người trần thuật vừa có chức năng kể chuyện đồng thời phải vừa chỉ huy cách kể, vừa truyền đạt thông tin, vừa thuyết phục người đọc Còn các nhà nghiên cứu Anh, Mĩ thì lại thiên về hiểu người trần thuật như là một vai trò thụ động do tác giả điều khiển Tác giả cần nó vì cần một giọng điệu, cần một điểm nhìn, cách nhìn
Trang 14Từ điển thuật ngữ văn học có nêu: “Người trần thuật là hình thái của
hình tượng tác giả trong văn học nghệ thuật, là người mang tiếng nói, quan điểm tác giả trong tác phẩm văn xuôi” [21;191]
Giáo trình lí luận văn học đưa ra ý kiến: “Người kể chuyện (người trần
thuật) là yếu tố thuộc thế giới miêu tả Đó là một người do nhà văn tạo ra để thay thế mình thực hiện hành vi trần thuật Người kể chuyện trong văn bản
ẩn mình trong dòng chữ Người kể chuyện ấy có thể được kể bằng ngôi thứ
ba, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai Và chỉ có thể kể được khi nào họ cảm thấy như người trong cuộc, người chứng kiến hay người biết trước sự việc xảy ra bằng tất cả giác quan, sự hiểu biết của mình Do đó về căn bản, mọi người kể chuyện đều kể theo ngôi thứ nhất Cái gọi là kể theo ngôi thứ ba thực chất là hình thức kể khi người kể chưa được ý thức hoặc là đã được ý thức nhưng cố
ý giấu mình” [53;102] Còn ngôi kể thứ hai là “cái tôi trữ tình”, là “chủ thể kép” thường dùng khi “hỗ trợ” để nhân vật của mình được bộc lộ “chân dung nội tâm” nhưng ngôi kể thứ hai này thường ít được sử dụng
Theo Thi pháp học hiện đại thì “người trần thuật cũng đồng thời là người
kể chuyện và người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện” [52;116]
Dù các nhà nghiên cứu có những cách hiểu khác nhau về người trần thuật thế nào đi chăng nữa thì vai trò của người trần thuật là rất quan trọng Bởi trần thuật bao giờ cũng được tiến hành từ phía một người nào đó Ở phương diện nào, dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đều có sự đồng hành của người trần thuật Người trần thuật không những tổ chức về mặt ngôn ngữ mà còn đóng vai trò quan trọng về mặt kết cấu và chi phối đến ngôn ngữ của nhân vật Có khi tác giả chính là người trần thuật, cũng có khi tác giả là người trần thuật được giao cho hóa thân vào một nhân vật nào đó Người trần thuật miêu tả, bình luận, khêu gợi và làm sáng tỏ mọi mối quan hệ của nhân vật từ hoàn cảnh, sự kiện cho đến các nhân vật khác trong tác phẩm Đó là những nhân tố tích cực trong việc tổ chức, dẫn dắt, định hướng và khơi gợi khả năng đối thoại tranh luận
Trang 15của người đọc, là điểm tựa để tác giả có thể bộc lộ quan điểm cá nhân về cuộc sống cũng như mặt nghệ thuật của mình Người trần thuật còn được nhận diện trong tác phẩm của mình là nhờ vào sự định hình của ngôi kể Vì vậy, việc nghiên cứu khám phá ra hình tượng người trần thuật cũng chính là phương diện khám phá ra nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Từ những khái niệm, những đặc tính trọng yếu đó về người trần thuật nên mỗi nhà văn khi bắt tay vào sáng tác tác phẩm tự sự luôn có ý thức lựa chọn cho mình một người kể chuyện thích hợp
1.2.1.2 Người trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Khi khảo sát năm tập truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, chúng tôi nhận thấy những câu chuyện kể của chị thường có sự đan xen, nhập nhòa giữa chủ thể sáng tạo là tác giả với người trần thuật Đó là cội nguồn của sự nhận thức, phán đoán, kiến giải chủ quan mà nhà văn hiện hình nó trên văn bản của mình Người trần thuật trong truyện ngắn của chị luôn truyền tải được đầy đủ
và sắc nét những yêu thương, tâm tình, những khát khao cháy bỏng của con người vùng cao Đồng thời là tâm sự của chính nhà văn, người con của quê hương khi xa quê nhớ quê hương đến cháy bỏng da diết Để thực thi vai trò của người kể chuyện điều đầu tiên nhà văn phải là người thiếp lập được hình thức trần thuật hợp lí, phù hợp với ý đồ và mục đích sáng tạo của bản thân Qua 36 truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy rải rác trong năm tập, đặc biệt là dựa vào sự tồn tại của người kể chuyện được báo hiệu thông qua văn bản, chúng tôi nhận thấy hình tượng người trần thuật mà Đỗ Bích Thúy thiết lập biểu hiện chủ yếu trên hai phương diện: người trần thuật hàm ẩn (giấu mặt), người trần thuật tường minh (lộ diện) hay người trần thuật đáng tin cậy và không đáng tin cậy Từ đó, chúng tôi nhận thấy người đóng vai trò trần thuật trong những tập truyện ngắn của chị chủ yếu thuộc ngôi thứ nhất và ngôi thứ
ba Tất nhiên xen kẽ trong cách kể thuộc ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, truyện
Đỗ Bích Thúy cũng có sử dụng ngôi thứ hai nhưng không nhiều Ngôi thứ hai
mà chị dùng chỉ nhằm mục đích gián cách với cách xưng hô: anh, chị, bà
Trang 16tưởng là ngôi thứ ba số ít nhưng thực chất nó là cái tôi khác, cái tôi được kể
ra, chứ không phải là tự kể như ngôi thứ nhất Để tiện cho việc theo dõi và tìm hiểu tất cả những mô thức trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, chúng tôi lập bảng thống kê, phân loại như sau:
STT Tên truyện ngắn
Trần thuật từ ngôi thứ ba
Trần thuật từ ngôi thứ nhất
01 Tiếng đàn môi sau bờ rào đá x
đời
x
Trang 1721 Ngoài cửa trời chưa sáng x
Theo thống kê phân loại ở trên, chúng ta thấy truyện ngắn của Đỗ Bích Thuý trần thuật từ ngôi thứ ba (người trần thuật hàm ẩn) là 20/36 truyện ngắn (chiếm 55%), trần thuật từ ngôi thứ nhất (người trần thuật tường minh) là 16/36 truyện ngắn (chiếm 45%)
1.2.1.2.1 Người trần thuật hàm ẩn
Đây là hình thức trần thuật truyền thống đã phổ biến trong văn học cổ và văn học trung đại Người trần thuật hàm ẩn thường được xác lập trên cơ sở hình thức trần thuật khách quan (hình thức ẩn khuất của người kể), với mục đích làm tăng tính chân thực cho câu chuyện nên được tác giả thiết lập ở ngôi thứ ba số ít, không lộ diện, không nhân vật hóa Với ngôi thứ ba luôn cho
Trang 18phép người kể có thể biết tất cả con người cũng như sự vật, sự việc Đồng thời giữ vai trò thống soái trong việc miêu tả, kể chuyện, dẫn chuyện, kể cả những
bí mật trong tâm hồn của những người khác Có thể coi người trần thuật từ ngôi thứ ba là ngôi kể tự do nhất, có khả năng bao quát và có trường nhìn rộng rãi nhất Từ đó tạo cơ hội thuận lợi cho người thuật chuyện đi sâu vào ngõ ngách của chuyện kể cũng như lĩnh vực đời sống, nội tâm của các nhân vật Người trần thuật ở ngôi kể này có khả năng chứng kiến câu chuyện và có khả năng thuật lại toàn bộ câu chuyện theo cách riêng của mình Đây thực chất là ý đồ trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn
Trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, tác giả sử dụng ngôi trần thuật này khá nhiều 20/36 truyện ngắn (chiếm 55%) Trước tiên, chúng ta cần khẳng định ngay, người trần thuật ẩn mình trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy có hai dạng Đó là người trần thuật hàm ẩn không xác định và người trần thuật xác định
Người trần thuật hàm ẩn không xác định là người kể chuyện không có tên gọi cụ thể, không rõ giới tính, lứa tuổi nghề nghiệp, thậm chí đến một lời giới thiệu về nhân vật này cũng không có Chứng tỏ, người trần thuật kiểu này hoàn toàn khách quan đứng ngoài quan sát, miêu tả và kể lại những cử chỉ, hành động, lời nói của nhân vật một cách gián tiếp Hay người trần thuật ở đây có sự biến hóa khôn lường, tạm quên đi giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp để vừa là người dẫn chuyện, vừa là người ẩn tàng cùng một lúc đóng rất nhiều
vai trong truyện Đó là những truyện ngắn: Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (với
ba nhân vật: ông Chúng, May, mẹ già), Cái ngưỡng cửa cao (với hai nhân vật: Sương và Sính) , Con dê bốn mắt (với ba nhân vật: Dúng, Dí, Chay) Tất
cả câu chuyện trên, người đọc nhận thấy có sự hòa nhập của nhiều chủ thể tham gia trần thuật Gần như xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, Đỗ Bích Thúy đã
để cho người trần thuật nhập vào các nhân vật của mình và xóa đi khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật Nhưng khi đọc kĩ tác phẩm của chị, chúng ta vẫn cảm nhận được đằng sau các nhân vật, các sự kiện được kể luôn
Trang 19có bóng dáng của một người nào đó đang âm thầm theo dõi, quan sát Mặc dù không thật sự nhìn thấy, nghe thấy người kể chuyện nhưng câu chuyện vẫn được định hình Đây có thể coi là điểm mới khiến cho truyện của Đỗ Bích Thúy, nhìn bề ngoài là tương đối khách quan, có giữ khoảng cách với nhân vật, thậm chí tách mình ra khỏi sự đồng cảm nhất định với nhân vật Có nghĩa
là Đỗ Bích Thúy chỉ mượn hình thức kể chuyện cũ, truyền thống nhưng cách khai thác tiếp cận lại vô cùng mới
Người trần thuật hàm ẩn được xác định trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy chính là một chủ thể biết rõ giới tính, lứa tuổi, thậm chí đóng luôn vai
trò của nhân vật Cụ thể như: người phụ nữ đau khổ tên Kía trong truyện Gió không ngừng thổi, như chàng trai Dân trong truyện Mặt trời lên, quả còn rơi xuống, như nỗi oan nghiệt của cô Chía trong truyện Cột đá treo người khiến
người đọc lúc này quên đi sự xuất hiện của người trần thuật mà xem đó là nhân vật thấu suốt cảnh ngộ của mình Điều đó nhờ vào những câu văn trần thuật khá nhịp nhàng, những lời thuật giàu tính biểu cảm và hàng loạt những hình ảnh so sánh ước lệ
Từ những dẫn giải nêu trên, chứng tỏ người trần thuật hàm ẩn xác định hay không xác định trong quá trình trần thuật thì người trần thuật luôn cố gắng nắm bắt thực trạng vấn đề một cách sâu sắc và khách quan Cuối cùng, người trần thuật sẽ trình bày, đánh giá về hiện thực đời sống và phong tục sinh hoạt đặc sắc của con người miền núi
Với cách kể chuyện như trên, người trần thuật hoàn toàn tỉnh táo để lôi cuốn hấp dẫn người đọc tiếp cận hết những mối quan hệ của con người với con người vùng cao Một vùng văn hóa còn rất nhiều hủ tục lạc hậu khiến cho mọi người luôn phải suy nghĩ, trăn trở Từ đó, nhà văn trẻ Đỗ Bích Thúy có điều kiện để đưa ra những chính kiến, quan điểm của bản thân về những giá trị riêng của mỗi người, mỗi cộng đồng dân tộc Đây cũng là cách chủ thể giấu mình ẩn tàng sau bước đi và suy nghĩ của nhân vật mà kín đáo bộc lộ quan điểm chủ quan cá nhân một cách sâu sắc, không lộ liễu Điển hình như
Trang 20người trần thuật hàm ẩn mượn lời nói của nhân vật để nhận xét và đưa ra những câu hỏi day dứt người đọc về sự cam chịu đau đớn của những người phụ nữ vùng cao Đó là nỗi niềm đau đáu của người mẹ sau bao nhiêu năm làm dâu mà không thể sinh được con cho nhà chồng nên họ chỉ coi mình là
cục đá kê chân cột nhà chồng trong truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá Hay hành động của Vi trong truyện Giống như cái cối nước, mỗi đêm cô lại ra cối
nước buông cần cho nó giã không xuống cối một cách vô vọng, vô vọng như trong chính tình duyên của mình Tất cả những cảnh đời ngang trái và đau khổ của những người trong cuộc đã được người trần thuật hàm ẩn giấu mặt diễn tả Cái hay là ở chỗ, tuy người trần thuật giấu mặt ở một góc khuất nào
đó mà người đọc không bao giờ nhận biết được (và có lẽ không cần quan tâm cũng chẳng sao) Nhưng đó chỉ là hình thức bề ngoài mà người trần thuật đánh lừa cảm giác của độc giả Sâu thẳm bên trong, người trần thuật hàm ẩn vẫn lặng lẽ quan sát, vẫn gián tiếp bày tỏ sự đồng tình ủng hộ và cảm thông
Có nghĩa là, người trần thuật không lộ diện nhưng vẫn có thể cắt nghĩa được nguyên nhân mang đến nỗi khổ, sự bế tắc trong sự lựa chọn khát vọng cứ chực bùng phát rồi lại lịm tắt của những chàng trai, cô gái vùng cao
Qua lời kể của người trần thuật từ những câu chuyện thế sự đó, người đọc
có thể rút ra bài học về xử thế thấm thía cho từng cảnh đời và thậm chí cả những cảnh đời có thực ngay chính trong lòng độc giả Điều đó càng có sức khái quát lên những triết lý vĩnh hằng về nhân sinh, xã hội, vũ trụ nói chung
mà thế giới loài người luôn mong mỏi
1.2.1.2.2 Người trần thuật tường minh
Người trần thuật tường minh là kiểu người kể chuyện xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm Đọc tác phẩm, người đọc có thể phân định được đặc điểm tính cách, phong thái trần thuật, quan điểm lập trường, trạng thái tâm lí, phương hướng lí giải của một nhân tố, một đối tượng trần thuật cụ thể Kiểu trần thuật này mới xuất hiện trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ Lúc này, chủ
Trang 21thể được “nhân vật hóa” làm người kể chuyện của chính mình với ý thức hướng nội, tự vấn hoặc chiêm nghiệm
Người trần thuật tường minh chủ yếu ở ngôi thứ nhất với cách xưng hô
“tôi” Người trần thuật tường minh ở đây thực chất là tác giả Có nghĩa là nhà văn lúc này vừa là nhân vật vừa là người trần thuật Họ viết tất cả những gì trong cuộc đời họ đã trải qua, đã chứng kiến và nếm trải, chiêm nghiệm Tác giả lúc này đã nhường lời và cho phép người trần thuật thay mặt mình kể lại câu chuyện theo ý đồ kiến tạo độc lập Có thể khẳng định, người trần thuật tường minh có nhiệm vụ là thay mặt tác giả kể lại câu chuyện nên người trần thuật không còn phải giữ một khoảng cách xa lạ với nhân vật Đây là lối trần thuật chủ quan khi người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng tôi “là một nhân vật” trong truyện, chứng kiến các sự kiện và đứng ra kể Từ đó kéo theo nội dung
kể là tất cả những gì thuộc trình độ và sự hiểu biết của một người kết hợp với quan điểm đánh giá rất chủ quan của nhân vật ấy
Tóm lại, truyện ngắn là thể loại thích hợp để sử dụng ngôi thứ nhất Vì truyện ngắn ít nhân vật, thường có một cốt truyện Còn về mặt nguyên tắc thì chỉ với nhân vật “tôi”, người trần thuật hoàn toàn có khả năng nắm bắt mọi vấn đề Đặc điểm trần thuật này rất thuận lợi và phù hợp với những nhân vật
có đời sống nội tâm phong phú, có khả năng tự phân tích, mổ xẻ những diễn biến tinh tế nhất, trung thực nhất trong sâu thẳm con tim mình Bằng phương thức trần thuật này, nhà văn xem ra dễ dàng tiếp cận, đối thoại với người đọc
và người đọc phần nào cảm nhận được cá tính cũng như văn phong của nhà văn
Trong năm tập truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy gồm có 16/36 truyện ngắn dưới dạng hình thức người trần thuật tường minh với ngôi kể thứ nhất xưng
“tôi” (chiếm 45%) Hầu hết những truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy theo phương thức này là “khúc xạ qua ý thức của một nhân vật” (trần thuật từ ngôi thứ nhất) nhưng lại làm hai nhiệm vụ vừa là người kể chuyện làm chứng vừa
là nhân vật tham gia trực tiếp vào cốt truyện Từ đó người thuật chuyện tường
Trang 22minh không chỉ đảm nhiệm chức năng trần thuật nói chung mà còn có khả năng tự bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc, chiêm nghiệm của cá nhân Đây có thể được coi là nhân tố làm nên tính nhân văn cho truyện ngắn Đỗ Bích Thúy Thường kiểu người trần thuật này trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy là thuật lại câu chuyện của chính mình trong quá khứ hay trong sự trở về của nhân vật “tôi” Người kể chuyện ở đây được coi là chiếc cầu nối duy nhất nối liền quá khứ - hiện tại, làm sống lại câu chuyện của nhân vật “tôi” một thời với giọng kể hồi cố và nhiều băn khoăn, trăn trở Trong mỗi câu chuyện của
Đỗ Bích Thúy ở dạng thức này, người trần thuật tường minh hiện diện với một cách thức riêng và tạo được những hiệu ứng thẩm mĩ không giống nhau
Đó có thể là nhân vật “tôi” đúng nghĩa gần gũi với tác giả với những cảm giác chênh chao của một người con học tập ở nơi xa, nay trở về quê nhà trong
truyện Đêm cá nổi, Ngải đắng ở trên núi Đó có thể là nhân vật “tôi” đóng
vai trò là nhân vật nam khác với giới tình của nhà văn như chàng trai trong
truyện Sau những mùa trăng, nhân vật “tôi” là thầy giáo về Tả Khâu dạy học trong Hẻm núi Đó có thể là nhân vật “tôi” là một người phụ nữ có tuổi đời
và hoàn cảnh khác xa với nhà văn trong Những buổi chiều ngang qua cuộc đời Nhưng qua sự khéo léo diễn tả của người trần thuật thì tác giả cùng với
nhân vật “tôi” có điểm chung Đó là sự đồng điệu về tình cảm, tư tưởng và quan điểm để tạo nên một dòng ý thức tâm lí đang hòa cùng một nhịp Chứng
tỏ, người trần thuật lúc này không đơn thuần chỉ là người dẫn dắt mà còn là nhân vật truyền tải những suy tư và quan niệm sống
1.2.2 Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
1.2.2.1 Khái quát về điểm nhìn trần thuật
Chúng ta biết, mỗi văn bản tự sự đều có một người đóng vai trò là người
kể chuyện, để kể lại sự kiện xảy ra ở đâu, vào lúc nào và nhân vật tham gia vào câu chuyện cụ thể ra sao Người kể chuyện đó kể về cái gì và kể lại ra sao, ảnh hưởng đến truyện được kể có thành công hay không Điều đó liên quan đến vị trí và xuất phát điểm mà từ đó sự kiện được quan sát, được cảm
Trang 23nhận và được kể lại là rất quan trọng Đó là cách hiểu đơn giản nhất về điểm nhìn
Điểm nhìn trong văn bản bao giờ cũng là tâm điểm được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và bàn luận Điểm nhìn là vấn đề then chốt của kết cấu văn bản trần thuật, là “vấn đề quan hệ giữa người sáng tạo và cái được sáng tạo” (Iu Lốtman) Vào đầu thế kỉ XIX, nhà văn Anna Barbauld là người
đề xuất đầu tiên, đó là “khi nhận thấy mọi sự đều thay đổi, nếu người ta kể theo ngôi thứ nhất” Đến cuối thế kỉ XIX, vấn đề này được Henry James và F Schlegel trình bày cụ thể hơn Họ đã xác nhận được điểm nhìn chính là việc
“mô tả cách thức tồn tại của tác phẩm như một hành vi mang tính bản thể hoặc một cấu trúc hoàn chỉnh, tự trị đối với cá nhân nhà văn” và “Điểm nhìn
là sự lựa chọn cự li trần thuật nào đó loại trừ sự can thiệp của tác giả vào sự kiện được miêu tả và cho phép văn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc sống hơn Sang đầu thế kỉ XX, K Friedeman (1910) rồi Percy Lubbock (1921) và E M Foster (1927) lại tiếp tục đề cập tới điểm nhìn trong tiểu thuyết Từ những năm bốn mươi trở đi, vấn đề được nghiên cứu sâu với M Scholer, Tz Tôđôrốp, G Genette Từ những năm hai mươi trở đi, điểm nhìn trở thành một trong những tiêu điểm của nghiên cứu văn học Các tác giả như:
B Tômasépxki, M Bakhtin, V Vinôgrađốp trong quá trình nghiên cứu cũng bàn về điểm nhìn văn bản nói chung
Về vấn đề điểm nhìn trần thuật, giới nghiên cứu văn học ở trong và ngoài nước đã đề cập tới khá nhiều Nhưng cho tới nay, xung quanh thuật ngữ này vẫn còn nhiều tranh cãi Riêng về tên gọi cũng có nhiều cách hiểu khác nhau
Có người cho rằng, khái niệm điểm nhìn ở đây quá rộng, quá chung chung nên đề xuất với khái niệm hẹp hơn là “nhãn quan” (vision), có người đề xuất khái niệm “điểm quan sát” (pots of observation), có người đề nghị dùng tiêu
cự trần thuật (focus of narrative) Cuối cùng các nhà nghiên cứu nhận thấy, khái niệm “điểm nhìn” là dễ hiểu hơn và nội dung của nó phong phú hơn cả
Trang 24Cho nên, trong cuốn luận văn này, chúng tôi vẫn sử dụng thuật ngữ “điểm nhìn” (point of view) quen thuộc để trình bày
Nhà nghiên cứu Pospelop trong Dẫn luận nghiên cứu văn học coi điểm
nhìn là vấn đề quan trọng trong tác phẩm tự sự khi “điểm nhìn của người trần thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả” [34;90] Các nhà lí luận văn học cũng khẳng định: “Người nghệ sĩ không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện về đời sống được, nếu không xác định cho mình một điểm nhìn đối với các sự vật, hiện tượng: nhìn từ góc độ nào, xa hay gần, cao hay thấp, từ bên trong ra hay từ bên ngoài vào Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật” [35;310] Còn nhà nghiên cứu Nguyễn Thái Hòa
trong Những vấn đề thi pháp của truyện cũng đã chú trọng đến vấn đề điểm
nhìn, đó là “điểm nhìn không phải chỉ là lập trường chính trị xã hội mà tọa độ thời gian được lựa chọn cho hoạt động kể chuyện, phát triển nội dung, sắp xếp
bố cục, hư cấu thành truyện” [22;122]
Xuất phát từ nhiều quan điểm, cách hiểu trên suy cho cùng mọi người đều mong muốn tìm ra một cách hiểu tối ưu nhất để giúp những người thực hiện những công trình nghiên cứu của những tác phẩm tự sự có liên quan trực tiếp đến vấn đề này sẽ không phải băn khoăn lựa chọn cách gọi Cuối cùng nhà
nghiên cứu Trần Đình Sử trong Dẫn luận thi pháp học đã đưa ra một định
nghĩa có thể coi là toàn diện về điểm nhìn trần thuật: “Nó không chỉ là điểm nhìn thuần túy quang học mà còn mang nội dung quan điểm, lập trường, tư tưởng, tâm lí của con người” [53;182] Có nghĩa là trần thuật được đặt ở vị trí nào thì đối với tác phẩm nghệ thuật cũng không thể thiếu vắng điểm nhìn ở vị trí ấy
Như vậy về cơ bản các ý kiến nói trên của các nhà nghiên cứu đều chỉ ra đặc điểm, tính chất chức năng chung của điểm nhìn trong việc nó biểu hiện vị trí, quan điểm và cả thái độ của chủ thể trần thuật đối với việc trần thuật Nói một cách cụ thể hơn thì điểm nhìn chính là phương thức miêu tả, trình bày, là cách nhìn, cách cảm thụ của người trần thuật về câu chuyện được kể Khái
Trang 25niệm này sẽ được nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu hơn khi nó ứng với ngôi trần thuật (hay ngôi kể) của người trần thuật (hay người kể chuyện)
Có rất nhiều điểm nhìn trần thuật: Điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong, điểm nhìn không gian, điểm nhìn di động, điểm nhìn thời gian, điểm nhìn tâm lí, điểm nhìn của nhân vật được kể Theo M Bakhtin, điểm nhìn còn mang nội dung tư tưởng, ý thức hệ nên có “điểm nhìn tư tưởng và ý thức hệ”
để tuyên bố một chiều mà không cần phải giải thích Thông thường, điểm nhìn trần thuật gắn bó mật thiết với ngôi kể, do ngôi kể quy định Căn cứ vào ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba của người trần thuật, các nhà nghiên cứu đã chia điểm nhìn trần thuật thành hai loại: Điểm nhìn trần thuật bên ngoài, điểm nhìn trần thuật bên trong Tuy nhiên, trong thực tế sáng tác của các nhà văn thì không thể áp đặt sự quan sát với điểm nhìn một chiều như thế được, đặc biệt các nhà sáng tác hậu hiện đại Cho nên, thay vì điểm nhìn cố định một chiều
từ đầu đến cuối tác phẩm thì các nhà văn đã linh hoạt tiến tới sử dụng nhiều điểm nhìn Điều đó tạo nên tính chất đa thanh, phức điệu cho tác phẩm Với loại điểm nhìn này, nhà văn nhất thiết phải vận dụng đến nhiều ngôi kể
Trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, chúng tôi nhận thấy phần lớn truyện ngắn của chị viết theo ngôi kể thứ nhất và ngôi kể thứ ba như đã thống
kê ở trên nên chúng tôi chỉ chuyên sâu đi vào khảo sát kĩ ba điểm nhìn trần thuật : điểm nhìn trần thuật bên ngoài, điểm nhìn trần thuật bên trong và điểm nhìn trần thuật phức hợp Nhưng trong ba loại điểm nhìn trên thì điểm nhìn trần thuật bên trong và điểm nhìn trần thuật phức hợp được chị sử dụng nhiều hơn cả Điều đó cho thấy truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy đã đạt đến trình độ cao trong nghệ thuật trần thuật
1.2.2.2 Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
1.2.2.2.1 Điểm nhìn trần thuật bên ngoài
Điểm nhìn trần thuật bên ngoài (hay còn gọi là điểm nhìn trần thuật theo ngôi thứ ba - tác giả) Đây là điểm nhìn phổ biến trong văn học truyền thống với cái nhìn thuần túy khách quan, không thuộc về ai Với điểm nhìn này,
Trang 26người kể chuyện thường giấu mặt (ẩn mình) để bao quát hết thảy câu chuyện rồi kể lại theo ý kiến riêng của mình Nhưng người kể chuyện ở đây tuyệt đối không được phát biểu gì về sự kiện và nhân vật, không được đi vào nội tâm nhân vật và cũng không tham gia vào hoạt động tâm lí của nhân vật Có nghĩa, người kể chuyện chỉ đứng im mà quan sát và sau đó làm nhiệm vụ ghi lại những lời nói và hành động của nhân vật giống như một nhà quay phim quay lại thước phim đó Tuy nhiên, điểm nhìn này cũng gặp hạn chế, đó là người kể chuyện chỉ có thể khái quát những gì diễn ra bên ngoài như hành động, lời nói, diện mạo của nhân vật Câu chuyện được triển khai và tự phát triển chủ yếu nhờ vào các cuộc thoại giữa nhân vật Đặc biệt là người trần thuật ở đây luôn giữ một khoảng cách xa với câu chuyện được kể và nói ít hơn tất cả nhân vật trong tác phẩm
Khi khảo sát năm tập truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, chúng tôi nhận thấy thành công chủ yếu của nhà văn Đỗ Bích Thúy là ở cách linh hoạt sử dụng điểm nhìn trần thuật bên trong và điểm nhìn trần thuật phức hợp Nhưng trong
số 36 truyện của chị, chúng tôi vẫn thống kê được 04/36 truyện chị sử dụng
điểm nhìn bên ngoài với ngôi kể thứ ba Đó là những truyện ngắn: Bến đợi, Đưa em về với mẹ, Và tình yêu đi qua, Trôi trên phù sa Trong 04 truyện
ngắn được tác giả dùng ngôi thứ ba điểm nhìn bên ngoài, người đọc dễ nhận
ra ngay một người kể chuyện tỏ ra rất bình thản kể lại câu chuyện mà mình chứng kiến Ở đây, người kể chuyện dường như ẩn hẳn đi đằng sau câu chuyện, không lên tiếng và cũng không tỏ thái độ, thậm chí người đọc còn quên mất sự có mặt của một người đương kể chuyện Chỉ khi kết thúc câu chuyện thì họa chăng có những truyện Đỗ Bích Thúy để cho người kể chuyện lên tiếng và đưa ra quan điểm của mình
Truyện ngắn Bến đợi, Đỗ Bích Thúy luôn giữ điểm nhìn khách quan từ
đầu đến cuối câu chuyện Đó là người kể chuyện trung gian giấu mình kể lại
sự trở về của Nhẫn Nhưng sự trở về của Nhẫn chỉ là cái cớ để người trần thuật ghi lại tất cả cuộc đời của Nhẫn từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành và
Trang 27ra đi Một loạt những câu kể hồn nhiên chứng tỏ người kể chuyện đã quan sát
từ cái nhìn bên ngoài để miêu tả lại cô bé Nhẫn Một cô bé cá tính ngày nào từng là “Thủ lĩnh của bọn trẻ con tóc vàng hoe như râu ngô, mấy cái răng cửa bị sún, mỗi khi cười lại hở lợi ra Nhẫn “chỉ huy” bọn trẻ đâu ra đấy, đứa nào cũng vâng lệnh răm rắp” [62;8] Người kể chuyện tiếp tục trở thành người dẫn chuyện ghi lại những cuộc đối thoại trực tiếp giữa cô bé Nhẫn với thằng
Tí - bạn của cô bé Người dẫn chuyện ở đây tỏ ra rất trung thành khi thuật lại nguyên văn câu nói của Nhẫn để một lần nữa chứng minh sự lém lảu, tinh nghịch của cô:
“Cắm cần câu xong, Nhẫn bảo:
- Tắm sông đi Mày có muốn bơi không?
- Bơi hả? Muốn chứ Nhưng Tí có biết bơi đâu Với lại, Tí sợ lắm
- Sợ quái gì Cứ ngoắng loạn xị như con Mực nhà tao lúc đuổi vịt ấy
- Tí sợ lắm Nhẫn ơi, Tí sợ thôi, Nhẫn cho Tí lên Ối! ” [62;09]
Với việc Nhẫn gan lì dạy thằng Tí bơi, kết quả là “Thằng Tí chìm nghỉm Đợi cho nó “giã gạo” một hồi Nhẫn mới tóm tóc lôi vào” [62;11]
Nhẫn nghịch ngợm tới mức “bôi đầy nhọ nồi quanh miệng điếu làm bác
Độ bị “vẽ” một vòng tròn xoe, nhom nhem cả chòm râu vàng vì khói thuốc” [62;05] Cho đến khi trưởng thành vẫn với cá tính ấy “Nhẫn lên mạn ngược, dắt lưng toàn bộ số tiền bán được từ đàn gà hơn hai chục con, cô xin vào công nhân ở một nông trường chè Không kịp hòa nhập với cơ chế mới - nông trường làm ăn thua lỗ Nhẫn xin mở đại lý Mua tận gốc bán tận ngọn ”[62;04] Chỉ bằng một vài đoạn văn nhỏ chứng tỏ Đỗ Bích Thúy đã
Trang 28tạo cho mình một điểm nhìn bên ngoài độc đáo Nhân vật lần lượt được phô bày tính cách bằng chính hành động và việc làm của mình Từ đầu đến cuối câu chuyện này, Đỗ Bích Thúy vẫn giữ điểm nhìn khách quan, người kể chuyện ấy vẫn hồn nhiên, chân thực kể về Nhẫn một cách say sưa khiến cho mỗi lời kể dường như còn có cả sự thán phục và khen ngợi
Bên cạnh, ngôi thứ ba điểm nhìn bên ngoài, người kể chuyện của Đỗ Bích Thúy còn tỏ ra khách quan lạnh lùng đối với sự thật được kể - một sự thật trần
trụi xót xa Chẳng hạn truyện Trôi trên phù sa, tác giả dùng lối kể tưởng như
lạnh lùng vô cảm để kể về một bà già nhưng khi đọc xong độc giả lại thấy có điều gì xót thương và cả sự phẫn nộ thông cảm của nhà văn Đó là việc bà lão
đổ bệnh không phải do lao động vất vả mà xuất phát từ cái chết của một cậu
bé chui vào vườn nhà bà hái trộm vải Đến đây, người đọc cứ tưởng nhà văn
sử dụng điểm nhìn bên trong để bộc lộ tâm lí đau đớn dằn vặt của bà lão nhưng không, người kể chuyện lúc này chuyển hướng đóng vai trò một người làm chứng lẩn khuất đâu đó để kể lại một cách công bằng khách quan về những khúc ngoặt trong cuộc đời bà Đó là cuộc đời của một người đàn bà không chồng sau nhiều năm bôn ba giờ trở về làng và an phận với mảnh đất hoang ở cuối làng một cách vất vả nặng nhọc Ấy thế mà bà vẫn chống chọi
“bữa đói bữa no” Rồi trong cơn mê bà vẫn ý thức được cuộc đời mình không bao giờ ốm Vả nếu có ốm thì cũng là lúc “thu hái xong, mọi thứ khô nỏ, cất gọn đâu vào đấy, thì “nó” mới quật bà xuống” Người thuật có lúc dừng lại, dùng cả cách bình phẩm về bà: “Đằng này Chữ ốm, chữ bệnh từ trước tới giờ rơi vào ai thì vào chứ bà thì nó phải chừa ra Và bà không biết sợ Vì da thịt bà muỗi không dám đốt, rắn không dám cắn” [63;28] Đoạn văn trên, người kể chuyện tỏ ra lạnh lùng bình thản để kể về một bà lão vẫn còn khỏe mạnh tinh tường nhưng chứng kiến cảnh đứa trẻ chết một cách quá bất ngờ và tang thương thì vô hình chung bà lại bị sức mạnh của lòng người làm khuỵu ngã Chỉ bằng một đoạn văn nhỏ, chúng ta tưởng góc quan sát của nhà văn với điểm nhìn bên ngoài là rất hạn chế cho người kể chuyện nhưng Đỗ Bích Thúy
Trang 29đã khéo léo đưa đẩy biến hạn chế này trở thành điểm mạnh tạo hiệu quả cho truyện ngắn của mình
Ngoài những truyện ngắn có điểm nhìn bên ngoài từ ngôi thứ ba như trên, chúng tôi nhận thấy Đỗ Bích Thúy còn dùng điểm nhìn bên ngoài từ ngôi thứ
nhất Tiêu biểu như truyện Kí ức đôi guốc đỏ Đây là câu chuyện kể về hai
người bạn thân học cùng lớp với nhau từ nhỏ ở các trường tiểu học, trường dân tộc nội trú huyện và sau này là cùng học với nhau ở một trường đại học Nhân vật “tôi” vừa là người trong cuộc vừa là người làm chứng kể lại cuộc đời và gia cảnh của Tính - thằng bạn thân của nhân vật “tôi” Nhân vật “tôi” với vai trò là người dẫn chuyện rất khách quan miêu tả gia cảnh của Tính:
“Nhà Tính nghèo, nghèo tới mức có lúc bánh trước xe đạp cà tàng của nó phải lồng tới hai chiếc lốp thay cho cái săm đã không thể vá được nữa” [64;32] Tiếp đến người dẫn chuyện làm nhiệm vụ ghi lại những lời nhận xét của cha Tính về sự thông minh đột xuất của thằng Tính: “Thằng này như một thứ gien đột biến, nhà này từ cụ tổ trở đi xưa nay chỉ biết cắm mặt vào đất chứ biết đến sách vở là gì” và lời nhận xét tự hào của Tính về cha - một người lái xe kéo pháo lên Điện Biên Phủ: “Bố tớ vừa là người thợ vừa là từ điển sống của tớ đấy” [64;32]
Với điểm nhìn trần thuật bên ngoài dựa vào ngôi kể tương đối khách quan, chúng tôi nhận thấy Đỗ Bích Thúy đã tạo cho mình một góc quan sát thuận lợi để tỉnh táo ghi lại những cảnh đời, những hiện tượng vốn rất phong phú của môi trường xã hội xung quanh với biết bao mối quan hệ bộn bề của gia đình, bạn bè và cộng đồng Qua những câu chuyện rất đỗi bình thường
mà nhà văn đã chớp được và thông qua cách xây dựng điểm nhìn bên ngoài của mình khiến cho những câu chuyện thế sự ấy trở thành những bài học xử thế, những triết lí nhân sinh Với ý thức trách nhiệm cùng với lương tâm của người cầm bút, Đỗ Bích Thúy đã lặng lẽ quan sát, lúc thì náu mình ở khoảng cách xa, lúc giả như điềm nhiên bình thản đến lạnh lùng, lúc lại nhập nhòa
Trang 30hóa thân vào nhân vật để chứng kiến nỗi đau, niềm hạnh phúc, sự tự hào của nhân vật
1.2.2.2.2 Điểm nhìn trần thuật bên trong
Điểm nhìn trần thuật bên trong là loại điểm nhìn được sử dụng đầu tiên trong các sáng tác văn học thuộc “dòng ý thức” Theo lí thuyết tự sự học, người kể chuyện mang điểm nhìn bên trong khi anh ta/chị ta là nhân vật có mặt trực tiếp ngay trong câu chuyện Điểm nhìn trần thuật bên trong luôn được biểu hiện bằng hình thức tự quan sát, tự thú nhận của nhân vật, hoặc bằng hình thức người trần thuật dựa vào cảm giác, tâm hồn nhạy cảm của nhân vật để biểu hiện thế giới nội tâm bên trong của nhân vật Với dạng thức này thì người kể chuyện sẽ đảm nhiệm vai trò kể chuyện từ đầu đến cuối và
có vai trò to lớn trong việc quyết định cấu trúc tác phẩm cũng như toàn quyền miêu tả nhân vật khác từ điểm nhìn của bản thân Có nghĩa là, người kể chuyện đứng trong tầm sự kiện được kể, có tham gia phần nào vào hoạt động khi sự kiện xảy ra Người kể chuyện ở đây cũng chỉ biết và chỉ kể được những thông tin tương đương với nhân vật trực tiếp tham gia trong tác phẩm Chính Genette đã nêu đẳng thức để mô tả kiểu điểm nhìn bên trong: điểm nhìn của người kể chuyện bằng điểm nhìn của nhân vật (có nghĩa là điểm nhìn bên trong của người kể chuyện trùng khít với điểm nhìn của nhân vật) Người kể chuyện đang dùng điểm nhìn của nhân vật để quan sát và kể lại sự kiện Về bản chất, điểm nhìn của nhân vật chính là điểm nhìn mà người kể chuyện lấy đôi mắt của nhân vật thay cho đôi mắt riêng của mình Chúng ta khảo sát một
số truyện ngắn tiêu biểu của Đỗ Bích Thúy để làm rõ điểm nhìn này
Trước tiên, chúng ta nhận thấy phần lớn truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy với ngôi kể thứ nhất xưng “tôi” đều mang dáng dấp tự truyện Cho nên có một
số truyện ngắn của chị không phải truyện chỉ để kể mà còn là để giãi bày tâm
sự Việc Đỗ Bích Thúy lựa chọn người kể chuyện xưng “tôi” tạo ra hiệu quả nhất định cho sự sáng tạo nghệ thuật trần thuật của mình Đặc biệt là với kiểu truyện vừa kể sự việc vừa diễn tả tâm trạng của chính nhà văn Với điểm nhìn
Trang 31trần thuật bên trong ở ngôi thứ nhất, người kể chuyện vừa là người chứng kiến vừa là nhân vật trực tiếp tham gia vào câu chuyện Từ đây, mối quan hệ giữa người kể chuyện và nhân vật được khẳng định một cách rõ ràng hơn Đó
là mối quan hệ qua lại luôn hướng về nhau, bổ sung cho nhau Vì vậy, nhân vật xưng “tôi” chỉ cần đứng ở một điểm nhìn duy nhất - điểm nhìn bên trong, người kể chuyện đồng thời là nhân vật cứ nhập thẳng vào tâm trạng của nhân vật để mà kể, mà giãi bày, mà bộc lộ những tâm sự của mình Việc nhà văn lựa chọn kiểu điểm nhìn này chính là để người kể chuyện có thể “độc thoại nội tâm” một cách tự do linh hoạt Từ đó, người đọc dễ dàng nhận ra quan niệm của nhà văn trước vấn đề của cuộc sống, nhân sinh Qua nhân vật “tôi”
là người kể chuyện, nhà văn có thể bình luận, đánh giá mà vẫn không gây cho độc giả những cảm giác khiên cưỡng, áp đặt Sau đó tự mình phân tích, mổ xẻ
và bình giá tâm trạng của mình ra trước người đọc Tiêu biểu như truyện
ngắn: Ngải đắng ở trên núi, Đêm cá nổi, Sau những mùa trăng, Cạnh bếp
có cái muôi gỗ, Sông còn chảy mãi
Truyện ngắn Đêm cá nổi là tâm sự của nhân vật “tôi” với bao cảm xúc
xáo trộn đang ùa vào tâm hồn: “Tôi sinh ra ở núi rừng Tôi ăn học ở thành phố Núi rừng là tuổi thơ tôi Thành phố là tuổi thanh xuân của tôi Núi rừng ở sau lưng tôi Thành phố đang ở trước mặt Tôi đang đi từ phía trước mặt về phía sau lưng Đi về dòng sông Lô, dòng sông quê tôi” [65;123] Ở đây, chúng
ta bắt gặp cái tôi thực của nhà văn Đỗ Bích Thúy khi trở về Nhà văn đã tìm cho mình một điểm nhìn bên trong ở một vị trí bằng nhân vật thậm chí trùng khít với nhân vật để bộc lộ tâm trạng phân thân trải lòng của một người con với những tháng ngày ăn học ở nơi xa Những kỉ niệm giờ như ùa về theo mỗi bước chân của nhân vật “tôi” bước những bước đi thân thuộc trên mảnh đất quê hương
Ở truyện ngắn Ngải đắng ở trên núi, với điểm nhìn bên trong ở ngôi thứ
nhất, người kể chuyện đồng thời là nhân vật đang say sưa kể hết chuyện này đến chuyện khác về gia đình của mình bằng nỗi niềm nhớ thương da diết và
Trang 32bằng cả sự day dứt dường như sám hối của mình Đó là cảm nhận của nhân vật “tôi” về sự dằn dỗi của người mẹ, về tâm trạng của người em trai khi làm cán bộ xã nhưng lại phải đối mặt với cái cũ kĩ, cổ hủ ăn sâu trong lòng mẹ Chưa hết, xen vào câu chuyện còn tâm trạng xao xuyến của nhân vật “tôi”:
“Lúc này, tôi mới nhận ra một mùi hương quen thuộc xộc lên Chính cái thứ hương cay cay, ngòn ngọt, nhằng nhặng đắng đã theo riết tôi, đã níu tôi với quãng đời thơ ấu bình yên” [65;213] Đó là thứ rau ngải đắng mà nhân vật
“tôi” dù đi xa tận chân trời góc bể thì trong lòng vẫn thổn thức, đau đáu một nỗi niềm rưng rưng khôn tả Có phải chăng thứ rau đó tuy tầm thường nhưng lại luôn nhắc nhở con người xa quê nhớ về cội nguồn
Truyện ngắn Sau những mùa trăng, lại là một trạng thái khác của nhân
vật “tôi” trở về quê nhà Bằng cái tôi tự thuật, người kể chuyện không chỉ cung cấp “chuyện kể” mà còn tự bộc lộ về bản thân với những mảnh kí ức chắp nối ngổn ngang của mình Từ điểm nhìn bên trong, câu chuyện cũng chính là hồi ức của nhân vật “tôi” với nỗi niềm khắc khoải, trăn trở rất khó bộc bạch khi phải chứng kiến cảnh chị dâu góa bụa nén chịu cảm xúc yêu đương của mình: “Từng đêm, từng đêm, tôi nằm cứng đơ như khúc gỗ, nghiến mỏi hàm răng nhìn chị hai lần, ba lần đứng lên mang dây lanh ra buộc cửa, buộc thêm, buộc thêm, thêm mãi” [65;344] Phải chăng, nhân vật “tôi” trong truyện đã có cảm tình với chị nhưng rất khó có thể diễn tả thành lời Cho nên, truyện như một dòng chảy miên man để nhân vật “tôi” vừa như có
sự thương cảm của người em chồng đối với chị dâu vừa như xao động chút tình cảm của trai gái khi yêu nhau Điều đó càng làm cho nhân vật “tôi” lại một lần nữa ra đi cảm thấy chênh chao
Thông qua một số truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy với điểm nhìn trần thuật bên trong thuộc ngôi thứ nhất, chúng ta nhận thấy được sự phân thân trải lòng của nhân vật trữ tình Đây là nỗi niềm của nhân vật hay cũng chính là của người kể chuyện, kể về cuộc đời, kể về những day dứt trong lòng, kể về sự ăn năn Có thể nói, truyện ngắn với ngôi kể thứ nhất thì ưu thế của nó là tạo nên
Trang 33tính đáng “tin cậy” cho câu chuyện Nhân vật “tôi” thỏa sức bộc bạch, suy ngẫm trong dòng độc thoại Tất cả đều nhấn mạnh một điều dù nhân vật “tôi”
có đi xa, lúc này không còn là người con của quê nhà nhưng trong lòng nhân vật “tôi” luôn đau đáu nghĩ về quê hương, nghĩ về con người, nghĩ về những cái gì quen thuộc với cả tấm lòng yêu, nhớ da diết Đến đây, chúng ta thấy cái tôi của người kể chuyện, của nhân vật cũng chính là cái tôi đồng cảm thực chất của chính nhà văn Thông qua hình tượng người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, chị đã bày tỏ cái tôi của mình một cách chân thành, cởi mở Cách xây dựng điểm nhìn trần thuật từ bên trong này cho thấy Đỗ Bích Thúy là người
có chiều sâu nội tâm Chị luôn cảm nhận về quê hương mình bằng nỗi niềm, bằng những cảm xúc lắng đọng Chính người kể chuyện trong những truyện ngắn này vừa là nhân vật vừa là người dẫn chuyện đồng thời là tác giả khiến cho truyện ngắn Đỗ Bích Thúy tràn ngập các lớp tâm trạng đan xen, linh hoạt Tâm trạng lúc thì của nhân vật, có lúc của chính tác giả, có khi tách ra lúc lại hòa làm một Và chỉ có điểm nhìn trần thuật từ bên trong ngôi thứ nhất mới giúp nhà văn bộc bạch thẳng thắn và chân thật đến như vậy
Cùng với các truyện ngắn có điểm nhìn trần thuật bên trong từ ngôi thứ nhất thì truyện ngắn Đỗ Bích Thúy còn sử dụng điểm nhìn trần thuật bên trong từ ngôi kể thứ ba Trong truyện, từ đầu đến cuối nhà văn tạo dựng cho
nó một “hoàn cảnh”, một “môi trường” để cho nhân vật tự bộc lộ những dòng cảm xúc và cả những suy tư triền miên của mình Suy cho cùng, với điểm nhìn trần thuật bên trong thuộc ngôi thứ ba thực chất vẫn là hình thức mang tính chất tự truyện Thay vì trần thuật ngôi thứ nhất nhà văn biến tấu ở ngôi
thứ ba để đánh lừa cảm giác của độc giả Tiêu biểu như những truyện: Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Mặt trời lên, quả còn rơi xuống, Gió không ngừng thổi
Trong truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, điểm nhìn bên trong nổi
bật nhất chính là May - con gái ông Chúng vào thời điểm cô đã lớn khôn, nhận biết đâu là đúng - sai, phải - trái nhưng khi đặt vào hoàn cảnh của mình
Trang 34thì cô khó có thể nhận diện được Đứng trước cảnh huống gia đình, May có đến hai người mẹ, một người sinh và một người nuôi dưỡng Mẹ Hoa sinh ra May và thằng Trài nhưng lại bỏ chúng mà ra đi, còn mẹ Mao không sinh được con nhưng lại chăm sóc nuôi dưỡng chúng từ lúc mới lọt lòng cho đến khi trưởng thành Sau bao nhiêu năm tháng, tưởng như cuộc sống của gia đình Mao yên ổn thì mẹ Hoa lại trở về khiến cho tâm trạng của May rối bời, không biết xử trí ra sao? May nói với bố “Mẹ Hoa chỉ như con thú hoang ở đâu lạc vào nhà mình thôi” [65;26] Nhưng thẳm sâu trong tình cảm của May - cô lại không nghĩ như thế Vì “May biết, lúc nào phía sau mình, bên cạnh mình cũng có ánh mắt của mẹ Hoa nhìn mình” [65;27] Thậm chí “May đã giật mình, đã tự dưng đau buốt trong ngực” [65;27] Tất cả cho thấy tâm trạng của May rất khó có thể diễn tả Lúc thì May giận mẹ Hoa, lúc thì May lại cảm thấy mẹ Hoa đáng thương
Hay việc May bắt gặp mẹ già ngồi cùng “người ấy” - bạn của mẹ già ngày xưa yêu nhau say đắm nhưng không đến được với nhau Nhưng khi trở về trước sự than thở của mẹ “con gái à, làm dâu mà không làm mẹ thì chỉ là cục
đá kê chân cột nhà chồng thôi” [65;30] Lời nói đó của mẹ già khiến May “ứa nước mắt” và nhận ra “hai mươi năm nay mẹ già vẫn nghĩ mình chỉ là cục đá,
mẹ già không nhận chị em May hay sao? Mẹ già định trả chị em May cho mẹ Hoa như người ta mượn ngựa rồi trả ngựa hay sao? Trả xong rồi thì mẹ già làm gì nữa? Chẳng lẽ bằng ấy tuổi rồi định sang nhà khác tiếp tục làm cột đá
kê cột?” [65;31]
Bằng những dòng tâm sự, những suy nghĩ miên man của nhân vật May, chúng ta cảm nhận và thông cảm với nỗi lòng của cô khi trong cuộc đời cô có đến hai bà mẹ May không thể “nhất bên trọng nhất bên khinh” được Cái nhìn và sự cảm thông thổn thức bên trong của May phần nào biểu hiện nỗi lòng và sự thương cảm cho cảnh đời éo le của hai bà mẹ
Truyện Gió không ngừng thổi, nhà văn dùng điểm nhìn bên trong của
nhân vật Kía để miêu tả dòng ý thức, tâm trạng của Kía - một người mẹ không
Trang 35sinh nổi cho nhà chồng đứa con nối dõi Điều đó đã làm Kía ân hận lắm rồi Chưa hết đời Kía còn một nỗi đau đớn đến nhục nhã ê chề hơn khi bị thằng Vàng Chỉn Tờ làm nhục ở nương ngô thành ra có con Đây là nỗi đau Kía phải âm thầm giấu kín “một mình mình biết một mình mình hay”
Cả hai điểm nhìn trên có mặt ưu điểm và cũng có mặt nhược điểm Bởi mỗi kiểu điểm nhìn thì lại thiên lệch về một lĩnh vực Điểm nhìn trần thuật bên ngoài thì mặt mạnh của nó là ở cái nhìn khách quan còn điểm nhìn trần thuật bên trong lại mạnh ở cái nhìn chủ quan Cho nên, truyện của Đỗ Bích Thúy chủ yếu được xây dựng trên sự tổng hòa của hai điểm nhìn ấy mà chúng tôi gọi là điểm nhìn trần thuật phức hợp
Đọc tác phẩm của Đỗ Bích Thúy, độc giả không thể phủ nhận tính chất đa thanh phức điệu có trong tác phẩm của chị Có thể nói nét riêng độc đáo trong nghệ thuật trần thuật của Đỗ Bích Thúy không chỉ ở mặt xây dựng nhân vật
mà còn căn cứ vào việc xây dựng hình tượng người kể chuyện của nhà văn Chính lẽ đó, Đỗ Bích Thúy đã có ý thức hướng sự giao tiếp sáng tạo của mình
về phía độc giả, đứng ngang hàng cùng với độc giả và đề cao khả năng đối thoại, độc thoại nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều phân đoạn trong tác phẩm Vì thế, hình tượng người kể chuyện trong các sáng tác của Đỗ Bích Thúy luôn có
sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật từ ngôi thứ nhất, sang ngôi thứ ba với cả điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài một cách linh hoạt Cho nên,
Trang 36việc sử dụng cùng một lúc nhiều điểm nhìn được đan xen, đồng hiện biến hóa một cách khôn lường đã tạo ra hiệu ứng đặc biệt cho nghệ thuật kể chuyện của Đỗ Bích Thúy
Khi đi vào khảo sát năm tập truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, chúng tôi nhận ra một đặc điểm chung trong việc sử dụng điểm nhìn trần thuật phức hợp Đó là việc ban đầu kể chuyện sau đó đan xen giữa việc kể và bộc lộ tâm trạng khiến cho những câu chuyện được kể của Đỗ Bích Thúy tỏ ra tự nhiên hợp cảnh hợp tình hơn
Truyện ngắn Cột đá treo người được quán xuyến chủ yếu trong tác phẩm
là ngôi kể thứ ba với điểm nhìn trần thuật bên ngoài Truyện kể về một cô Chía với nguyên nhân bố mẹ nợ tiền của nhà lý trưởng không lấy gì trả được nên Chía trở thành đứa đi ở để xóa nợ cho gia đình Từ khi về nhà lý trưởng, Chía chỉ biết có làm và làm, mặt nhọ nhem nhọ thỉu quanh quẩn bên lò nấu rượu, dưới chuồng ngựa Từ điểm nhìn quan sát bên ngoài của người kể chuyện về cuộc đời của nhân vật Chía với ngôi kể thứ ba, nhà văn đã linh hoạt dịch chuyển điểm nhìn khiến cho điểm nhìn có sự thay đổi: “Chía cắn chặt môi, ê cả răng, đưa tay bịt tai (Điểm nhìn bên ngoài của người kể) “Người mày toàn mùi nước đái ngựa” thằng Lềnh đã nói thế, Chía còn ra chỗ đông người cho người ta bịt mũi à? (điểm nhìn bên ngoài trong nhận xét của Lềnh) Bọn nhà giầu, con trai con gái thì cũng giống như thằng Lềnh hết Chía lại nhớ đến Váng Xử Váng rồi, còn Chía đấy, lý trưởng nghĩ Chía đã làm vợ chồng với Váng rồi, không thèm gọi Chía nữa, cũng không cho Chía tiếp tục nấu rượu mà đuổi xuống chuồng ngựa (điểm nhìn bên trong của Chía khi nghĩ về tình cảnh của mình) Từ đấy, Chía thành đứa chăn ngựa gái đầu tiên cho lý trưởng, người lúc nào cũng mùi hôi nước đái, mùi phân ngựa Chía như cái vỏ chuối người ta ăn rồi vứt đi (điểm nhìn của người kể chuyện như một lời nhân xét để độc giả thông cảm, đau cùng với nỗi đau với nhân vật)” [65;101]
Trang 37Truyện ngắn Mặt trời lên, quả còn rơi xuống, nhân vật chính được kể ở
đây là Dân - một anh chàng có vợ nhưng có biệt tài thổi sáo hay, ném còn giỏi
và lại là một cán bộ tham gia công tác đoàn xã rất năng nổ của Tả Choóng Câu chuyện được dẫn dắt từ điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện để miêu tả về Dân với những đặc điểm hội tụ của một chàng trai hoạt bát, xốc vác với mọi công việc được giao Xen kẽ, người kể chuyện dùng điểm nhìn trần thuật bên trong ngôi thứ ba số ít để nêu lí do, nguyên nhân khiến tâm trạng của Dân xao xuyến Đó là việc Dân đi dự hội nghị và gặp lại người bạn gái ngày xưa tên Thinh cũng là cán bộ đoàn ở Thèn Phàng Cũng có lúc, người kể chuyện vừa là người dẫn dắt dùng điểm nhìn trần thuật bên ngoài và điểm nhìn trần thuật bên trong của nhân vật để xen kẽ miêu tả tâm trạng rối bời của Dân: “Cô gái cứ ỡm ờ Dân lưỡng lự Cái đầu thì muốn về , vậy mà Dân đi mãi chưa về (điểm nhìn của người kể) Đầu nghĩ vậy nhưng đôi chân chưa chịu đi ngay Người đâu mà lúm đồng tiền cứ sâu hun hút thế kia (điểm nhìn của Dân) Nhưng cuối cùng, nói vài câu không đầu không cuối nữa thì Dân cũng về được nhà (điểm nhìn của người kể) Tới nhà thấy vợ đang xay ngô Dân lúng túng mãi mới kéo được vợ ra, lao vào xay hùng hục Dân muốn xay nát cái lúm đồng tiền ở ngoài hội đi (điểm nhìn của Dân)” [04;199]
Có lúc, người kể chuyện nhập nhòa vào cả Dân và người mẹ để kể khiến cho câu chuyện được tiếp nối Từ đó, người kể chuyện không chỉ nói được tâm trạng của Dân mà vô hình chung ẩn đi để nói hộ tâm trạng của người mẹ khi cảm nhận được con trai mình có sự thay đổi nên phải khuyên giải: “Với mẹ, chưa lúc nào Dân khôn bằng người ta (điểm nhìn của người kể) Có lúc Dân nghĩ cứ để mẹ nói, nói thì nghe, nghe xong rồi không làm theo, mẹ ở một chỗ làm sao biết được Dân đi đâu, làm gì Nói mãi cũng mỏi miệng thôi (điểm nhìn bên trong để miêu tả tâm trạng của Dân vì cái nhìn xao xuyến của
“người ấy” mà đôi lúc Dân đã có những suy nghĩ cãi lại mẹ) Nhưng chẳng có
gì giấu được mẹ (điểm nhìn của người kể chua vào giống như một lời bình, nhận xét về sự đời cũng như việc không ai có thể hiểu con mình bằng chính
Trang 38người mẹ) Nhìn Dân từ đầu đến chân là mẹ biết trong bụng Dân sáng hay tối (điểm nhìn của mẹ với kinh nghiệm của người từng trải) Dân thấy nói cho mẹ nghe được điều gì còn khó hơn vác cày lên nương (điểm nhìn của Dân) Cứ thế, Dân như con cá mắc vào lưới cạn, càng giãy càng khó ra, càng dãy càng mệt (điểm nhìn của người kể quan sát được sự vướng mắc trong vòng luẩn quẩn của nhân vật với một tâm trạng rối như tơ vò)” [65;205]
Hay truyện Mần tang trong thung lũng, với điểm nhìn bên ngoài miêu tả
sự trở về bản Tả Gia của Liêu và để rồi Liêu lại phải chứng kiến biết bao câu chuyện vui buồn của bản Đặc biệt là nỗi buồn truyền kiếp với một huyền thoại do người trong họ lấy nhau nên trời phạt Nhưng Liêu không tin vào những huyền thoại chết người đó của bản Trong một lần Liêu đưa Nhi và Nhưng xuống chợ huyện để bán ngô, bán những thứ như túi thêu, vỏ địu, vải màu do bàn tay khéo léo của những cô gái Tả Gia làm ra nhưng không một ai đứng lại xem hàng hỏi giá Chỉ có một đám con trai bản khác biết được câu chuyện huyền thoại ấy không thông cảm lại còn trêu chọc một cách ác ý khiến cho Nhưng và Nhi với đôi mắt ầng ậc nước: “Mặt trời nghiêng thì chợ tan Hai quẩy tấu giờ nặng hơn cả lúc đi, lại mang chất lên lưng ngựa Con ngựa bị
bỏ quên không được ăn uống thúc mãi không chịu đi nhanh Không ai nói với
ai câu nào (người kể chuyện đã quan sát một cách khách quan dõi theo được những bước chân trở về nặng nề của ba chị em) Vừa đi khuất chợ đột nhiên Nhi giữ con ngựa lại, bảo Liêu khiêng quẩy tấu ngô (điểm nhìn của Nhi) Liêu còn chưa kịp hiểu chuyện gì thì Nhi đã lôi xềnh xệch cả hai quẩy tấu ra phía
bờ vực rồi bất ngờ lật nghiêng, dốc tuột tất cả xuống vực (điểm nhìn của Liêu) Nhưng đứng yên, mắt mở to chằm chằm nhìn em, trông như mắt người không có hồn (điểm nhìn của Nhưng) Đến lúc Nhi thất thểu kéo lê hai quẩy tấu rỗng không trở lại chỗ con ngựa thì Nhưng lao tới giật lấy cả hai quẩy tấu vung tay ném nốt xuống vực (điểm nhìn của người kể chuyện một lần nữa chứng kiến cảnh chị em Nhưng và Nhi đau đớn, tức giận cuộc đời đến đỉnh điểm phải dùng hành động của mình để thỏa mãn sự dằn dỗi ấy) Mọi việc
Trang 39xảy ra nhanh quá, Liêu đứng như bị chôn chân một chỗ (điểm nhìn của Liêu khi phải chứng kiến sự việc đến một cách bất ngờ không kịp phản ứng, không kịp trấn an tinh thần của họ) Hai chị em Nhi ôm chặt lấy Liêu, khóc òa lên Dưới kia, sâu hun hút, tiếng nước đập vào mỏm đá nghe rào rào Nước cuốn tất cả đi, không giữ lại thứ gì (điểm nhìn của người kể một lần nữa chứng minh mình là người kể chuyện dẫn dắt câu chuyện cho độc giả tiện theo dõi, vừa là người trong cuộc để thông cảm với nỗi đau của họ hơn)” [65;189] Với kiểu lựa chọn điểm nhìn như vậy, ta còn bắt gặt ở các tác phẩm khác
như: Giống như cái cối nước, Cạnh bếp có cái muôi gỗ, Lặng yên dưới vực sâu
Đến đây, ta có thể khẳng định nhà văn Đỗ Bích Thúy sử dụng linh hoạt nhiều điểm nhìn, nhiều cách kể, lối kể và cả sự đánh giá khác nhau về nhân vật Nhưng có một điểm chung dù cảm nhận đánh giá như thế nào thì nhân vật của Đỗ Bích Thúy hiện lên chủ yếu là những nhân vật đáng thương, chịu chung một số phận - số phận của đồng bào các dân tộc thiểu số chưa thoát khỏi những quan niệm ấu trĩ, lệch lạc Điều đó được thể hiện qua giọng điệu cảm thương xót xa của nhà văn
Bên cạnh điểm nhìn trần thuật phức hợp, người kể chuyện vẫn ở vị trí bên ngoài soi cái nhìn thâm nhập của mình trong tác phẩm, chúng tôi còn nhận thấy đây là sự dụng công rất khéo của Đỗ Bích Thúy Vì với điểm nhìn phức hợp, người kể chuyện không những đồng cảm cùng nhân vật mà nhà văn còn bộc bạch, thể hiện được quan niệm của mình về nghệ thuật, về việc sống và
viết Ví dụ như trong truyện Mặt trời lên, quả còn rơi xuống, lời thổ lộ, bộc
bạch của nhân vật Dân sau lần gặp Thinh ở hội nghị trở về Để rồi nhà văn mượn lời người mẹ nói lên quan niệm sống của gia đình mình hay chính là quan niệm sống chân thật của người dân miền núi “Chua cũng là rượu, xấu cũng là vợ mình Vợ có què chân, què tay thì cũng phải thương lấy” [65;202]
Hay thông qua nhân vật Sương trong truyện Cái ngưỡng cửa cao Một cô gái
miền xuôi lên vùng cao dạy học Trải qua những tháng ngày gian khổ nơi đây,
Trang 40cô rút ra được bài học hay đó chính là quan niệm của tác giả khi nghĩ về quy luật cuộc đời “trên cõi đời rộng lớn này, mỗi người đã có một quỹ đạo, không
ai đi lẫn của ai Đi xa hay gần, vòng rộng hay hẹp, đều đã được ấn định trước ( ) Con người, dù tốt hay chưa tốt, dù đẹp hay không đẹp, dù còn trẻ hay đã qua tuổi trẻ, sớm hay muộn thế nào cũng có lúc dừng lại, hoặc đưa người khác đi chung đường với mình, hoặc tự mình đi vào đường đời của người ta
Đi mãi, đi đến lúc chết” [65;58], hoặc “Có những thứ người ta muốn nhớ mà không nhớ được, lại có những thứ muốn quên đi mà không thể quên được” [65;63]
Thông qua việc khảo sát và đi sâu vào nghiên cứu năm tập truyện của Đỗ Bích Thúy, chúng tôi nhân thấy cách xây dựng, tổ chức người trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong truyện của chị đã bắt đầu có sự cách tân, đổi mới rõ rệt Là người con của quê hương, Đỗ Bích Thúy không chỉ là người viết, chị còn là người trong cuộc, giống như người trong cuộc mà ở từng trường hợp
cụ thể để xây dựng lên ý tưởng thật sâu sắc cho tác phẩm của mình Tất nhiên trong cách phân chia của chúng tôi về người trần thuật tường minh, người trần thuật hàm ẩn và điểm nhìn trần thuật bên ngoài, điểm nhìn trần thuật bên trong, điểm nhìn trần thuật phức hợp chỉ ở mức độ tương đối Bởi mỗi tác phẩm nó giống như một vườn hoa muôn màu Với khuôn khổ hạn chế của cuốn luận văn, chúng tôi cũng chỉ khám phá nhận diện những bông hoa tinh
tú và đặc sắc nhất trong cả vườn hoa nghệ thuật của nhà văn Đỗ Bích Thúy