Trên cơ sở nhìn nhận mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới, luận văn tiếp cận các truyện ngắn của Cao Duy Sơn nhằm giải mã những tín hiệu nghệ th
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÝ THỊ THU PHƯƠNG
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÝ THỊ THU PHƯƠNG
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TÔN THẢO MIÊN
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phó Giáo sư - Tiến sĩ Tôn Thảo Miên (Viện Văn học), người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi chân thành cảm ơn nhà văn Cao Duy Sơn đã cung cấp những tư liệu quý giá liên quan đến đề tài luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, chân thành cảm
ơn đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã tạo điều kiện, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2010
Lý Thị Thu Phương
Trang 4MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 8
Chương I: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn 8
1 Khái niệm thế giới nhân vật, nhân vật văn học 8
2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn 9
2.1 Những con người nhỏ bé, bình dị, có số phận bất hạnh 9
2.2 Những nhân vật lí tưởng 13
2.2.1 Khát vọng tình yêu và niềm tin vào cuộc sống 13
2.2.2 Những con người nhân hậu, chung thủy, nghĩa tình 17
2.2.3 Những con người dũng cảm, cao thượng, giàu lòng vị tha 20
2.3 Nhân vật tha hóa 23
3 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 26
3.1 Miêu tả ngoại hình, hành động của nhân vật 26
3.1.1 Miêu tả ngoại hình, hành động để khắc họa chân dung 27
3.1.2 Miêu tả ngoại hình, hành động để nhận dạng tâm tính,
đoán định tính cách 31
3.2 Miêu tả nội tâm 36
3.2.1 Đặt nhân vật vào những tình huống tâm lí xung đột
để nhân vật tự bộc lộ 37
3.2.2 Miêu tả nội tâm nhân vật nhiều chiều, nhiều cung bậc
và luôn biến chuyển 41
3.2.2.1 Miêu tả nội tâm nhân vật nhiều chiều 41
3.2.2.2 Miêu tả nội tâm nhân vật nhiều cung bậc và luôn biến chuyển 44
Trang 5Chương II: Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật 50
trong truyện ngắn Cao Duy Sơn 1 Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn 51
1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 51
1.2 Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn 51
1.2.1 Không gian địa lí 52
1.2.1.1.Không gian địa lý như một khách thể thẩm mĩ 52
1.2.1.2 Không gian địa lý là phông nền cho sự vận động
tâm lý và tính cách, là dấu hiệu phản ánh tâm tư, tình cảm của nhân vật 55
1.2.2 Không gian đời tư 59
2 Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn 64
2.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 64
2.2 Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn 65
2.2.1 Thời gian đan xen giữa quá khứ và hiện tại 65
2.2.2 Thời gian tâm lí 70
2.2.3 Thời gian phong tục, lễ hội 74
Chương III: Ngôn ngữ truyện ngắn Cao Duy Sơn 79
1 Ngôn ngữ giàu hình ảnh với thủ pháp so sánh - nét đặc trưng của truyện ngắn Cao Duy Sơn 79
2 Ngôn ngữ đậm sắc thái dân tộc 89
2.1 Vận dụng lối nói hồn nhiên, hay ví von của người miền núi 89
2.2 Sắc thái dân tộc thể hiện ở việc đưa tiếng địa phương, tiếng dân tộc vào tác phẩm 97
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo theo các nguyên
tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con
người, mặc dù nó phản ánh những thế giới ấy “Thế giới nghệ thuật là khái
niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật.”[32] Thế giới nghệ thuật có
không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng chỉ xuất hiện một cách có ước lệ trong sáng tác nghệ thuật
Nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn là cơ sở để hiểu hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm và cách cắt nghĩa của nhà văn về thế giới Thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tác nghệ thuật, có cội nguồn trong thế giới quan, văn hóa chung và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Tìm hiểu thế giới nghệ thuật chính là khám phá thế giới bên trong ẩn kín - cái thế giới chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật - của nhà văn
1.2 Trong đời sống văn học Việt Nam đương đại, Cao Duy Sơn được đánh giá là một trong những cây bút có khả năng khai thác độc đáo về đề tài miền núi Nhà văn Cao Duy Sơn sinh năm 1956 tại Cao Bằng, người dân tộc Tày,
là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, hiện công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Những trang viết đậm đà bản sắc văn hóa vùng cao của ông đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc và khẳng định được vị trí trong mảng văn xuôi viết về miền núi Năm 1993, tiểu thuyết
Người lang thang của Cao Duy Sơn được Hội đồng văn học dân tộc miền núi
Hội nhà văn Việt Nam trao giải A, đồng thời đoạt giải Nhì - Hội nghị Việt
Nhật Năm 1999, tập truyện ngắn Những chuyện ở lũng Cô Sầu được tặng
Trang 7thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Tiểu thuyết Đàn trời được Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam trao giải A năm 2007 Ngôi nhà
xưa bên suối là tập truyện đã đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm
2008 và Giải thưởng văn học ASEAN năm 2009
Sáng tác của Cao Duy Sơn là những “mảng sống đậm đặc, tươi ròng”
(Hữu Thỉnh) về miền núi Đặc biệt, hiện thực cuộc sống và con người miền núi hiện ra trong truyện ngắn của ông đa diện, nhiều chiều Những trang văn
mở ra một thế giới nghệ thuật mới lạ, đầy hấp dẫn, mang đến cho người đọc
sự hiểu biết về đất và người vùng cao, vun đắp niềm tin yêu tha thiết với những miền xa xôi của tổ quốc Tác phẩm của Cao Duy Sơn đã được in ấn, xuất bản và giới thiệu nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, đến thời điểm này, ngoài một số bài báo hoặc những ý kiến bàn luận, đánh giá nhỏ lẻ, có rất ít công trình nghiên cứu chuyên biệt về Cao Duy Sơn
và tác phẩm của ông Vì vậy, việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn Cao Duy Sơn là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn
và ý nghĩa khoa học
1.3 Trên cơ sở nhìn nhận mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới, luận văn tiếp cận các truyện ngắn của Cao Duy Sơn nhằm giải mã những tín hiệu nghệ thuật, tìm hiểu quan niệm và cách cắt nghĩa của nhà văn về thế giới Trong giới hạn luận văn thạc sĩ khoa học, người viết mong muốn được góp phần nhỏ bé vào lĩnh vực nghiên cứu, từ đó khẳng định vị trí của một nhà văn dân tộc Tày trong văn xuôi Việt Nam đương đại
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ Nó là kiểu tồn tại đặc thù vừa trong chất liệu, vừa trong cảm nhận của người thưởng thức, vừa là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức trong chỉnh thể thẩm mĩ
Trang 8của tác phẩm "Chỉnh thể tác phẩm được nhận thức qua khái niệm thế giới
nghệ thuật" [44] Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực, cá tính sáng tạo của
nhà văn, chất liệu nghệ thuật Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương mà còn rộng hơn tác phẩm nghệ thuật Nó có thể bao quát tất cả các tác phẩm của một nhà văn, một trào lưu nghệ thuật, một thời kì văn học Khái niệm thế giới nghệ thuật được nhìn nhận như một phạm trù mĩ học bao gồm tất cả các yếu
tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của hoạt động sáng tạo nghệ thuật
2.2 Trong nền văn học đương đại, nhà văn Cao Duy Sơn đã có những đóng góp to lớn cho văn xuôi viết về miền núi, khẳng định được tài năng và phong cách của mình khi khai thác đề tài này Sự bàn luận, đánh giá về sáng tác của Cao Duy Sơn, đến thời điểm này, ngoài một số bài báo hoặc những ý kiến nhỏ
lẻ dừng ở những nét khái quát nhất trong những công trình nghiên cứu về văn học các dân tộc thiểu số, có rất ít công trình nghiên cứu quy mô hoặc một
cuốn sách chuyên khảo riêng biệt
Hầu hết những bài viết về nhà văn Cao Duy Sơn đăng tải trên báo chí là những bài phỏng vấn về sự ra đời của tác phẩm, về những cảm nghĩ của nhà
văn khi sáng tác và khi được nhận giải thưởng Bài viết "Cả đời tôi chỉ đeo
đuổi đề tài về người miền núi" của Chu Thu Hằng ghi lại cuộc phỏng vấn nhà
văn Cao Duy Sơn về lợi thế của nhà văn và cái khó khi viết về đề tài miền núi
[12] "Với tác giả Ngôi nhà xưa bên suối", tác giả Mai Thi tìm hiểu lí do Cao Duy Sơn chọn tên truyện Ngôi nhà xưa bên suối đặt tên cho tập truyện và được nhà văn giải thích: "Ngôi nhà xưa bên suối chọn vì nói thay cho cả tập
truyện về sự tiếc nuối một cái gì tốt đẹp đã qua mất rồi."[47] Tác giả Hứa
Hiếu Lễ thể hiện niềm tự hào của người Cô Xàu về Cao Duy Sơn khi nghe tin
tập truyện Ngôi nhà xưa bên suối của nhà văn giành giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2008 [20] Trong bài "Viết văn phải có sự ám ảnh"[40] và
Trang 9"Viết văn là một cuộc viễn du về cội nguồn"[50], các tác giả đã ghi lại cảm
xúc của Cao Duy Sơn khi nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam và suy
nghĩ của nhà văn về đề tài sáng tác: "Cái để tạo nên trong tôi cảm xúc là
quãng đời ấu thơ, nơi mình sinh ra và lớn lên.( ) Viết văn nhất định phải có
sự ám ảnh " [40]; " với tôi viết văn giống như một cuộc viễn du về cội nguồn, cuộc viễn du về xứ sở mình sinh ra, lớn lên và trưởng thành"[50]
Có một số ít bài đi vào nội dung tác phẩm như: Cõi nhân gian như cổ tích (Nguyễn Chí Hoan), Ban mai có một giọt sương (Đỗ Đức) Viết về tiểu thuyết
Đàn trời, tác giả Nguyễn Chí Hoan nhận xét: "Chủ đề hai hàng của cuốn tiểu thuyết được khai triển song song trên hai tuyến thời gian quá khứ và hiện tại ( ) Bằng cách ấy, tiểu thuyết này kể cho chúng ta một câu chuyện cổ tích qua một phiên bản hiện đại " [16] Còn tác giả Đỗ Đức đã thể hiện những
cảm nhận ban đầu của mình về tập truyện Ngôi nhà xưa bên suối của Cao Duy Sơn, suy nghĩ về nhân vật và chủ đề của các tác phẩm: Ngôi nhà xưa bên
suối, Chợ tình, Song sinh, Hoa bay cuối trời [7]
Nghiên cứu văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, nhà phê bình Lâm
Tiến nhận xét về Cao Duy Sơn: “Ông miêu tả nhân vật dưới góc độ đời tư, có
số phận riêng và một sự tự ý thức Điều đó càng được thể hiện rõ trong những truyện ngắn sau này của ông ( ) Truyện của Cao Duy Sơn còn hấp dẫn người đọc ở cách viết giàu cảm xúc, giàu hình tượng với cách cảm nhận sự vật, hiện tượng tinh tế, chính xác, sắc sảo với những tình huống căng thẳng gay gắt, bất ngờ.” [53, tr.151]
Luận văn thạc sĩ Ngữ văn của Đặng Thùy An (Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội - 2007) với đề tài “Thi pháp nhân vật tiểu thuyết trong tiểu thuyết
Người lang thang và Đàn trời của Cao Duy Sơn” là công trình nghiên cứu
chuyên biệt đầu tiên về tác phẩm của Cao Duy Sơn Tuy nhiên luận văn này
Trang 10chỉ nghiên cứu hai tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết theo hướng tiếp cận thi pháp nhân vật
Luận văn thạc sĩ Ngữ văn của Đinh Thị Minh Hảo (Trường Đại học Sư
phạm Thái Nguyên - 2009) với đề tài “Truyện ngắn Cao Duy Sơn” là công
trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên về truyện ngắn Cao Duy Sơn Tác giả
đã đi sâu tìm hiểu ba tập truyện ngắn của Cao Duy Sơn (Những chuyện ở lũng
Cô Sầu; Những đám mây hình người; Ngôi nhà xưa bên suối), từ đó khái quát
những nét tương đồng và khác biệt của Cao Duy Sơn với các tác giả văn xuôi
miền núi đương đại Tác giả viết: “Là một nhà văn xuất hiện trong thời sau
đổi mới, Cao Duy Sơn vừa hòa nhập vừa vượt trội lên trên mặt bằng chung của văn xuôi miền núi đương đại.” [11, tr.24]
Nghiên cứu hiện thực và con người miền núi trong truyện ngắn Cao Duy
Sơn, tác giả Đinh Thị Minh Hảo khẳng định đó là “bức tranh xã hội miền núi
với những xung đột “ngầm” và in đậm bản sắc văn hóa Tày” và nhận xét về
hình tượng con người miền núi: “Họ đã vượt lên trên những bi kịch của số
phận tỏa sáng lòng nhân hậu, dũng cảm trong đói nghèo và bất hạnh.” [11,
tr.40] Khi tìm hiểu một số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn, tác giả luận văn tập trung vào cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật và đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Cao Duy Sơn
Như vậy, đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một công trình chuyên biệt
nào nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn Việc
tìm hiểu nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn vì thế được đặt ra như một yêu cầu tất yếu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ba tập truyện ngắn của Cao Duy Sơn:
Trang 11- Tập truyện ngắn Những chuyện ở lũng Cô Sầu - Tặng thưởng của Hội
nhà văn Việt Nam năm 1999
- Tập truyện ngắn Những đám mây hình người - Giải B của Hội Văn học
Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2003
- Tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối - Giải thưởng Hội nhà văn Việt
Nam năm 2008; Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2009
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không đi sâu nghiên cứu tất cả những vấn đề thi pháp mà chỉ tập trung vào một số phương diện cơ bản trong thế giới nghệ thuật của truyện
ngắn Cao Duy Sơn Đó là: thế giới nhân vật, không gian nghệ thuật và thời
gian nghệ thuật, ngôn ngữ truyện ngắn Cao Duy Sơn
4 Mục đích nghiên cứu
Mục đích khoa học của luận văn là góp phần làm rõ hơn những nét riêng của thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người và thế giới Từ đó khẳng định thành công và chỉ ra một số hạn chế của Cao Duy Sơn khi viết về đề tài miền núi, góp phần đánh giá vị trí của nhà văn trong nền văn học đương đại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp thống kê, khảo sát
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp hệ thống, tổng hợp
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
6 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống một số phương diện cơ bản của thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn Từ đó chúng tôi mong muốn góp phần khẳng định những đóng góp của nhà văn
Trang 127 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, nội dung luận văn triển khai thành ba chương:
Chương 1: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn
Chương 2: Không gian - thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn
Cao Duy Sơn
Chương 3: Ngôn ngữ truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trang 13NỘI DUNG
CHƯƠNG I THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN
1 Khái niệm thế giới nhân vật, nhân vật văn học
Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ, là một thực thể hoàn chỉnh, thống nhất của các yếu tố nội dung và hình thức, vừa có khả năng phản ánh hiện thực cuộc sống vừa biểu hiện thế giới tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của người viết, nó được sáng tạo theo quy luật thẩm mĩ và có ý nghĩa xã hội
Theo Bêlinxki: "Mọi sản phẩm nghệ thuật đều là một thế giới riêng mà khi đi
vào đó thì ta buộc phải sống theo các quy luật của nó, hít thở không khí của nó" Thế giới nghệ thuật không chỉ tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật mà còn
tồn tại trong trí tưởng tượng, sự hình dung của độc giả Nó thống nhất nhưng không đồng nhất với thế giới thực tại
Thế giới nhân vật là hạt nhân của thế giới nghệ thuật, cũng là phương tiện quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng trong các tác phẩm kịch và tự sự Nó quyết định các yếu tố khác như cốt truyện, sự lựa chọn chi tiết, phương tiện ngôn ngữ và cả kết cấu của truyện Vì thế khám phá thế giới nhân vật là chặng đường đầu tiên không thể thiếu của hành trình tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong sáng tác của một nhà văn
Nhân vật văn học là “thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người,
một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ.” [34, tr.1254] “ Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học ” [33, tr.202] Qua nhân vật văn học, nhà văn
thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của mình về con người
Trang 14hóa quan niệm nghệ thuật về con người dưới một hình thức biểu hiện tương ứng.” [45, tr.365]
Nhân vật văn học được miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn, qua ngôn từ và chi tiết Các phương diện loại hình của nhân vật văn học rất đa dạng Xét về vai trò nhân vật trong tác phẩm có nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm Xét về phương diện hệ tư tưởng, về quan hệ đối với lý tưởng xã hội của nhà văn, có thể nói tới nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân vật lý tưởng, nhân vật tư tưởng Vì vậy khi phân định loại hình nhân vật phải rất linh hoạt dựa trên cơ sở khả năng phản ánh hiện thực của chúng và ý đồ tư tưởng nghệ thuật của nhà văn
2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn
Mỗi nhà văn, trong quá trình sáng tạo đều hướng tới xây dựng những kiểu
loại nhân vật nhất định “Nhân vật là nơi tập trung hết thảy và giải quyết hết
thảy trong một sáng tác.” [15, tr.62] Trong tác phẩm văn học, nhân vật luôn
được miêu tả như một loại hình tính cách, một mô hình cá nhân Mô hình cá
nhân được miêu tả như một chỉnh thể còn được gọi là vai văn học Ngoài đảm nhiệm vai văn học trong tác phẩm, nhân vật còn là sự thể hiện những vai xã
hội nhất định, có tính chất tiêu biểu trong đời sống Trên sơ sở vai văn học,
các kiểu loại nhân vật được định hình trong mối tương quan với thân phận đích thực của họ trong đời thực và với quan niệm thẩm mĩ của nhà văn Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn Cao Duy Sơn mang những đặc điểm có sức khái quát và giá trị nghệ thuật sâu sắc
2.1 Những con người nhỏ bé, bình dị, có số phận bất hạnh
Trong thế giới nhân vật phong phú của truyện ngắn Cao Duy Sơn, nhân vật trung tâm chủ yếu là những người lao động ở miền núi, những con người nhỏ
bé, bình dị Ta có thể gặp những con người như thế ở bất cứ nơi đâu trong đời
sống hàng ngày Đó là lão Khơ chuyên đóng xe ngựa (Hoa bay cuối trời); lão
Trang 15Sấm ăn mày (Người ở muôn nơi); bà Ban quét chợ, lão Khuề ngày kiếm củi bán, đêm bắt tắc kè (Âm vang vong hồn); Kí - nhân viên bán thịt (Những đám
mây hình người); Thùng - lái xe ở lâm trường (Mùa én gọi bầy) Từng cá
thể, từng mảnh đời thầm lặng góp phần tạo nên thế giới nhân vật phong phú trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn Lựa chọn những con người nhỏ bé, bình
dị làm nhân vật trung tâm trong sáng tác của mình, nhà văn không tập trung tái hiện những vất vả bởi mưu sinh mà đi sâu khám phá tâm lí, khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của họ trong nhiều cảnh ngộ éo le, bất hạnh Điều đó chứng tỏ nhà văn Cao Duy Sơn không chỉ am hiểu sâu sắc về cuộc sống và con người ở miền núi mà còn có trái tim yêu thương, giàu cảm thông với những đau khổ của con người Quan trọng hơn, qua thế giới nhân vật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn, độc giả nhận ra quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người và hiện thực
Theo nhà văn Nguyễn Minh Châu: “ Văn học và đời sống là hai vòng tròn
đồng tâm mà tâm điểm là con người.” [4] Các nhà văn gửi gắm trong sáng
tác của mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người “Tình
yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan, say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình.” [4] Có tình yêu lớn ấy, nhà văn mới có
thể cảm thông sâu sắc với những con người bất hạnh
Khi khắc họa những con người nhỏ bé, bình dị, Cao Duy Sơn tập trung tái hiện những bất hạnh, éo le trong cuộc đời của họ Chính vì vậy, hình ảnh những con người nhỏ bé, vô danh, ít được để ý trong xã hội trở nên sáng rõ và
ám ảnh người đọc, khơi gợi bao suy nghĩ về cuộc sống và con người Nhà văn quan tâm đến đời tư con người với những mất mát, éo le, bất hạnh do nhiều nguyên nhân khác nhau Những mối tình lỡ dở, gia đình đổ vỡ, con người chia li, tan hợp với những món nợ tình nghĩa suốt đời là hình tượng xuyên
Trang 16suốt trong truyện ngắn Cao Duy Sơn Nhân vật trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn không khốn khó vì nghèo, vì tiền mà bất hạnh của cuộc đời họ là những đớn đau nhức nhối trong tâm tưởng Con người mang khát vọng thường bị dập vùi trong xa xót, dở dang
Cuộc đời dằng dặc buồn đau của ông Thim được nhà văn tái hiện trong tác
phẩm Người săn gấu Mười hai tuổi, chú bé Thim phải chứng kiến cảnh tượng đau đớn, khủng khiếp suốt đời không bao giờ quên: “Người cha đã đẩy lùi
con thú bằng sức mạnh kì diệu nhưng ông đã không thoát ra được trong những chiếc vuốt cong nhọn hoắt của nó, người và gấu đã cùng lao xuống đáy
vực hun hút” Năm tháng qua đi, tuổi xuân của Thim đã gửi gắm ở khắp các
chiến trường Rời quân ngũ, hơn ba mươi năm làm chân đưa thư lưu động, hầu như đã đến khắp vùng hẻo lánh trong tỉnh, chưa bao giờ trong ông nguôi vơi nỗi nhớ vùng quê xa, “nơi Thim đã có một thời trẻ trung chát đắng” với
“mối tình như nụ hoa đầu tiên mới nhú ” Thim đóng chặt cánh cửa lòng mình và chỉ để ngỏ một lối duy nhất cho tình yêu ban đầu ấy vĩnh viễn tồn tại
Nỗi bất hạnh của Hoán (Thằng Hoán) bắt đầu từ một tai nạn khủng khiếp
khi nó lên mười tuổi Mười tám tuổi nhìn vẫn như đứa trẻ lên mười “Thân hình không cao quá một mét tư Cái đầu to quá khổ như bị cái u trên lưng đè nặng, luôn trĩu về phía trước Hai bàn chân to bè những ngón tòe ra ” Gần bốn mươi tuổi Hoán mới có vợ nhưng người vợ ấy đã phản bội chồng Vợ bỏ nhà theo nhân tình, Hoán một mình chăm lo cho con trai mới lên bốn tuổi
“Đêm đêm ôm con ngủ, nhìn ngấn nước mắt vẫn đọng trên đôi má ngây thơ
của nó, trong lòng Hoán cồn lên một nỗi thương xót tê tái”
Hai cha con lão Vược (Cuộc báo thù cuối cùng) sống ở ngôi nhà sàn nằm
lẻ loi dưới chân núi Từ ngày người vợ hiền lành chết thảm vì gặp hổ trên đường đi đón chồng, Lão Vược đi săn thú không chỉ để mưu sinh mà còn để báo thù Lão muốn quên mà không sao quên nổi “cái quá khứ nghiệt ngã và
Trang 17tàn nhẫn” Nỗi đớn đau của lão Vược dồn tụ, chất chồng bao “năm tháng nhọc nhằn săn đuổi, và những ngày âm thầm nuôi con trong nỗi cô đơn triền miên.”
Câu chuyện về Ò Lình ở bản Luông (Nơi đây không một bóng người)
khiến người đọc ngỡ ngàng trong đau xót Dân bản gọi chú bé bị câm từ lúc mới lọt lòng là Ò Lình (thằng Khỉ) “vì nó giống y như một con khỉ” với thân thể phủ một lớp lông màu vàng Vừa mới ra đời, Ò Lình đã phải cùng mẹ trốn chạy sự tàn nhẫn của người cha chối bỏ con mình Hai mẹ con ở trong rừng sâu, “một cuộc sống ở nơi không một bóng người” Suốt mười bốn năm trời, chỉ có bà đỡ đi lại tiếp tế, chăm sóc hai mẹ con với tấm lòng một người mẹ nhân hậu Nhưng rồi bà đỡ bị dân quân bắn chết vì họ tưởng là quái vật từ rừng hủi đến hại dân làng Còn Ò Lình, sau khi xông vào đám cháy cứu bọn trẻ và bị con người xua đuổi, chú bé chạy về rừng với mẹ Tiếng gọi mẹ lần đầu tiên cất lên cũng là tiếng nói cuối cùng của Ò Lình “ nó đã mang theo cái tiếng nói đầu tiên ấy, cái tiếng nói của một con người thực sự theo vào giấc ngủ vĩnh viễn”
Đến với tác phẩm Hoa bay cuối trời, người đọc không khỏi xúc động trước
mối tình của Dình và Khơ, cảm thương người con gái xinh đẹp vùng Pác Gà Dình đã có người con trai ngỏ lời, “như con chim đã có đôi, con suối có bóng núi làm bạn” Khơ hẹn sẽ đón Dình về làm vợ trên chiếc xe ngựa do chính tay anh đóng, “được một con ngựa hồng bờm tết hoa rực rỡ kéo đi qua những cánh rừng” Nhưng sau một trận sốt li bì suốt năm ngày, đôi chân Dình không thể cử động được nữa Không muốn người yêu phải khổ, Dình đã nhờ anh trai nói dối để Khơ tin rằng cô là kẻ bội tình Chiếc xe ngựa do chính tay Khơ đóng, mấy mươi năm sau mới lăn bánh đưa Dình “đi về nơi cuối trời”
Đọc những trang văn tái hiện những trang đời bất hạnh đầy trắc trở, có cảm giác Cao Duy Sơn đang nói hộ ước mơ, giãi bày éo le uẩn khúc và niềm mong mỏi của những con người nhỏ bé, bình dị ở vùng cao Dưới ngòi bút
Trang 18của nhà văn, bức tranh hiện thực xã hội miền núi hiện lên với những xung đột
âm thầm vừa có tính thời sự của cuộc sống đương đại, vừa là những xung đột muôn thuở của số phận con người Đó là xung đột giữa con người với thiên nhiên; giữa khát vọng tình yêu, hạnh phúc với những rào cản của lễ giáo, hủ tục; giữa ước mơ và thực tại phũ phàng Nhà văn không quan sát, mô tả bề ngoài mà nắm bắt và tái hiện được sự vận động bên trong của đời sống ở vùng rừng núi xa xôi phía Bắc Mỗi cuộc đời, mỗi số phận là một mảnh nhỏ của hiện thực, không mở ra những chiều kích khoáng đạt mà dẫn dắt người đọc nương theo những niềm đau, lắng sâu bao xót xa, vật vã trong bi kịch Với những thăng trầm ở mọi thân phận, các nhân vật của Cao Duy Sơn thiên về loại nhân vật số phận hơn là nhân vật tính cách, tuy nhà văn vẫn có ý thức tạo cho mỗi nhân vật một nét cá tính và ngôn ngữ riêng
2.2 Những nhân vật lí tưởng
Truyện ngắn của Cao Duy Sơn có nhiều nhân vật được xây dựng theo nguyên tắc lí tưởng hóa về nhân cách Với những nhân vật này, nhà văn quan tâm đến vẻ đẹp tâm hồn hơn vẻ đẹp hình thức và quan niệm đó là yếu tố quan trọng làm nên tính lí tưởng Thế giới truyện của Cao Duy Sơn buồn nhưng không quá bi lụy, ám ảnh nhưng không quá nặng nề Chính vẻ đẹp tâm hồn con người đã làm vợi bớt mọi nỗi đau, cái nhìn bớt u ám Đặc điểm này góp phần mang lại giá trị nhân văn sâu sắc cho những sáng tác của Cao Duy Sơn Trong nghịch cảnh, những con người nhỏ bé, bình dị miền sơn cước vẫn tràn đầy khát vọng tình yêu và niềm tin vào cuộc sống, vẫn nhân hậu, chung thủy, nghĩa tình và dũng cảm, cao thượng, vị tha
2.2.1 Khát vọng tình yêu và niềm tin vào cuộc sống
“Tình yêu là hành vi cao cả nhất của tâm hồn và là kiệt tác của con người”
(Gac xông) Ở bất cứ nơi đâu, dù ở thời đại nào, con người đều khao khát yêu thương Trong các tác phẩm của mình, Cao Duy Sơn không chỉ khắc họa
Trang 19những con người vùng cao chân chất, mộc mạc mà còn muốn nói điều gì đó
về những điều thầm kín sâu thẳm trong tâm hồn họ, về những ước muốn, khao khát yêu thương Không phải là thứ lí tưởng cao xa mà là những khát vọng đời thường: ước vọng một tình yêu toàn vẹn, hạnh phúc lứa đôi, một cuộc sống tốt đẹp, yên bình Phải chăng nhà văn để nhân vật nói ra những lầm
lỡ, giãi bày những ước nguyện không thành để dịu vợi, nguôi ngoai cay đắng,
và để thắp lên niềm tin vào cuộc sống trong mỗi trái tim đau ?
L Tônxtôi cho rằng: “Suy cho cùng, bi kịch lớn nhất của con người là tình
yêu” Tình yêu mang hạnh phúc đến cho con người, tình yêu thanh lọc tâm
hồn, khiến người bình thường bỗng trở nên cao cả, kẻ ích kỉ trở thành cao thượng, vị tha Nhưng tình yêu cũng có thể mang đến cho con người nỗi khổ đau, day dứt suốt đời Dù vậy, con người vẫn không nguôi khát vọng, và niềm tin vào cuộc sống chưa bao giờ lụi tắt trong những trái tim người
Truyện ngắn Cao Duy Sơn có những số phận bi kịch mà nỗi đau thương, xót xa, nuối tiếc đeo đẳng cả một đời người, có nhiều chuyện tình éo le, trắc trở Có những chàng trai cô gái yêu nhau tha thiết, thề nguyền gắn bó trọn đời
nhưng lại phải chia xa (Chợ tình, Hoa bay cuối trời, Súc Hỷ ) Có tình yêu
chớm nở nhưng không thể kết trái bởi sự ngáng trở của tư tưởng xã hội, của
định kiến (Người săn gấu, Tượng trắng ) Và có những đôi lứa đã nên nghĩa
vợ chồng vẫn còn gặp trái ngang (Mùa én gọi bầy)
Đến với chuyện tình của Thim và Phón (Người săn gấu), người đọc cảm
thương cho mối tình của người con gái “con nhà quyền thế nhất vùng” với chàng trai mồ côi nghèo khổ có tài săn gấu Tình yêu ấy đã vấp phải rào cản của tư tưởng phân chia đẳng cấp trong xã hội phong kiến miền núi thời kì trước cách mạng tháng Tám năm 1945 Anh trai của Phón ra lệnh đánh đập Thim hết sức dã man, xát muối vào vết thương rồi bỏ lại trong rừng cho thú
dữ ăn thịt Thoát chết sau cái ngày đau thương ấy, chàng trai săn gấu vào bộ
Trang 20đội “Năm tháng qua đi, tuổi xuân của Thim đã gửi gắm ở khắp các chiến trường nhưng hình ảnh Phón vẫn không sao phai mờ trong tâm trí chàng trai săn gấu” Đất nước hòa bình, hành trình tìm lại “mối tình như cánh hoa đầu tiên mới nhú” của Thim kéo dài suốt mấy chục năm trời Linh cảm của Thim khi nghe câu chuyện về người xưa đã gieo hi vọng và niềm tin cho ông trong bao tháng năm tìm kiếm Khát khao đoàn tụ sau hơn nửa đời người xa cách như càng mãnh liệt, tha thiết theo thời gian
Chàng trai trong tác phẩm Tượng trắng vốn là một đứa trẻ bị bỏ rơi bên
đường được những người bị bệnh hủi đưa về nuôi dưỡng Chàng trở thành
“chiếc phao để họ bám” giữa biển đời xô dạt vì là người duy nhất còn lành lặn như một con người bình thường mà họ có quyền tiếp xúc Người cha của cô gái chàng yêu không vượt qua được định kiến, ông đưa con gái rời xa làng hủi Quên thời gian, chỉ còn nhớ hình ảnh người thương và mong ngày nàng trở lại, chàng trai tạc một khối đá trắng thành “bức tượng thiếu nữ hiển hiện như một con chim trắng với đôi mắt mơ màng thoáng ngơ ngác buồn” Khi người con gái năm xưa trở lại với mái tóc trên đầu đã bạc, “chỉ còn một bộ xương người đã khô trắng, nằm rải rác trên thảm cỏ xanh mượt” dưới bức tượng đá Kiếp người hữu hạn, nhưng chàng trai đã tạc vào thời gian khát vọng vĩnh hằng và niềm tin bất diệt vào tình yêu
Bằng những câu chuyện giản dị và cảm động, nhà văn Cao Duy Sơn đã đưa người đọc đến với những mối tình sâu nặng và lãng mạn của các chàng trai cô gái thủy chung, có nghĩa có tình Dù gặp bao thăng trầm trong cuộc sống, nhân vật của Cao Duy Sơn vẫn không nguôi khát vọng tình yêu, vẫn trọn vẹn niềm tin sắt son vào ngày mai tốt đẹp Súc Hỷ từng có một thời trai trẻ lỡ đường duyên phận, phải chôn chặt mối tình trong lòng để mấy chục
năm sau nối lại, cùng Mú Dinh bâng khuâng trong hạnh phúc muộn mằn (Súc
Hỷ) Sinh yêu Ếm nhiều lắm, “tưởng sẽ chết nếu không lấy được nhau”
Trang 21Nhưng Ếm bị gia đình ép gả cho người khác Theo thời gian, nỗi buồn dần nguôi ngoai “nhưng thương nhớ vẫn hằn sâu trong ngực” Khi về già lão Sinh
và mú Ếm mới có thể gặp nhau Như bao nhiêu cặp tình lỡ dở, “Một năm một phiên chợ tình tìm đến nhau để ngồi thầm thì bao chuyện xưa và cả chuyện
nay.” (Chợ tình)
“ Niềm vui trong ngày cưới không phù dâu phù rể sóng bước hai bên chiếc
xe ngựa” của nhân vật Dình (Hoa bay cuối trời) khiến những trái tim đã yêu
hay chưa từng biết đến sự ngọt ngào và cay đắng của tình yêu cũng cảm thấy nghẹn ngào Khơ và Dình đã hò hẹn: “Nếu không lấy được nhau cả hai sẽ cùng chết” Sau trận sốt, đôi chân của Dình không thể cử động được nữa Không muốn người yêu phải khổ vì mình, Dình nén lòng nhờ anh trai nói dối
để Khơ tin mình thay lòng đổi dạ Suốt đời ngậm ngùi cô đơn vẫn không thôi khao khát, trước khi từ giã cõi đời, Dình mới thỏa ước nguyện từ thuở xuân xanh
Cuộc đời đầy trái ngang, trắc trở của các nhân vật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn có lúc khiến người đọc có cảm giác đó là những mảnh vụn đời tư mãi mãi dở dang Song con người không bao giờ cam chịu bó tay Vì tha thiết
với hạnh phúc có lúc đã tuột khỏi tầm tay nên người chồng trong “Mùa én gọi
bầy” vừa cố chấp, vừa cao thượng, bao dung đối với người vợ đã một lần lầm
lỡ Những kiếp đàn ông ở Âm vang vong hồn đến chết vẫn bị ràng buộc trong
khát muốn và ghen tuông Với cái nhìn tinh tế và sâu sắc, nhà văn Cao Duy Sơn đã nhận ra phía sau những tâm trạng còn nhiều day dứt, xót xa kia là niềm tha thiết với tình yêu, hạnh phúc, niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống Cho
dù kết thúc truyện thường buồn hoặc dở dang nhưng người đọc không cảm thấy bi quan, mệt mỏi Bởi sau tất cả những mất mát, đắng cay, con người vẫn không thôi nghĩ tới những điều tốt đẹp, và dòng chảy yêu thương, hi vọng vẫn lan tỏa, dâng tràn
Trang 222.2.2 Những con người nhân hậu, chung thủy, nghĩa tình
Một trong những cảm hứng chủ đạo của văn học Việt Nam từ xưa đến nay
là cảm hứng ngợi ca cái đẹp, cái thiện Hướng tới giá trị nhân văn truyền thống, nhà văn Cao Duy Sơn đã xây dựng những con người nhân hậu, chung thủy, nghĩa tình trở thành hình tượng nổi bật trong sáng tác của mình Những nhân vật đó có cuộc sống bình thường như bao người khác, thậm chí cuộc đời
họ gặp nhiều khó khăn, trắc trở Phải chăng nhà văn muốn đặt nhân vật của mình vào thử thách của số phận để những phẩm chất tốt đẹp như “vàng mười” càng tỏa sáng trong “lửa” gian nan ?
Thầy Hạc (Ngôi nhà xưa bên suối) tình nguyện xa Hà Nội lên Mục Mã xa
xôi dạy học từ thời còn trẻ Trong cuộc đời người thầy giáo ấy, chuyện đời, chuyện nghề khi vui khi buồn Có lúc thầy nghĩ “Số kiếp thầy toàn gặp điều rắc rối” Thầy bị kỉ luật, phải luân chuyển trường vì “chuyện một trò đẹp như nàng tiên trên trời đem lòng yêu thầy” Đến trường mới một thời gian lại gặp Bền - cô học trò ấy lúc này đã trở thành đồng nghiệp của thầy Nghi ngờ thầy Hạc là cha đứa bé trong bụng cô học trò cũ, nhà trường buộc thầy nghỉ lên lớp “Đồng nghiệp, học trò nhìn thầy như nhìn một tội phạm, một tội phạm hủ hóa đang chờ ngày cấp có thẩm quyền ra phán quyết” Để quên đi phần nào phiền muộn, thầy làm một khu vườn thực nghiệm Cho đến lúc vườn thực nghiệm được các trường khác trong tỉnh đến tham quan, ban giám hiệu mặc nhiên coi đó là thành quả của tập thể Đồng nghiệp của thầy hoan hỉ đón khách tham quan, nhận quà và những lời ca tụng Không ai nhắc đến thầy Vì danh dự và thành tích của tập thể, người ta mặc nhiên cho phép mình chà đạp danh dự của cá nhân và tàn nhẫn với đồng nghiệp của mình Nhưng với thầy Hạc, điều quan trọng là khu vườn ấy có ích cho mọi người “Thỉnh thoảng từ căn phòng nhìn ra, thấy những đoàn khách hay học sinh các lớp bước vào khu vườn, thầy mỉm cười.”
Trang 23Khi thầy đã có một gia đình hạnh phúc, Bền - cô học trò năm xưa đã vô tình gây bao rắc rối cho thầy lại đến nhờ vợ chồng thầy nuôi giúp cô con gái mới hơn một tuổi Người vợ hiền của thầy chỉ kịp đặt tên con mình là Thư, con của Bền là Lữ rồi ra đi mãi mãi vì khối u ác tính Gà trống nuôi con, thầy Hạc một mình chống đỡ sóng gió cuộc đời, hết lòng thương yêu hai cô con gái mà chỉ trong ý nghĩ, thầy cũng chưa bao giờ phân biệt con đẻ, con nuôi Mười mấy năm sau, Bền trở lại xin đón con nhưng Lữ hờn tủi, oán trách không chịu về với mẹ Thầy Hạc đã khuyên Lữ tha thứ cho người mẹ đã chịu nhiều khổ đau cho dù trong lòng thầy đau xót không muốn phải chia xa Tấm lòng người cha - người thầy có trái tim nhân hậu làm người đọc xúc động và cảm phục, khơi gợi khát khao vươn tới lẽ sống cao đẹp của con người
Nếu cái tâm của người thầy giáo làm người đọc xúc động và cảm phục thì
tình yêu thương của lão Sấm ăn mày (Người ở muôn nơi) với những đứa trẻ
đói khát làm người đọc sững sờ cảm động Cha bỏ đi với người phụ nữ khác,
mẹ đi tìm cha mãi không về, tám đứa trẻ đói khát chỉ biết cầu Chúa cứu giúp Một tuần liền, mỗi sớm thức dậy, lũ trẻ thấy “một cái giỏ tre đựng đầy những nắm cơm lơ lửng ngay hiên nhà” Lũ trẻ tin rằng Chúa ở muôn nơi đã thấu lời cầu nguyện Cho đến khi lão Sấm chết, chúng mới biết ông lão ăn mày ấy đã nhường cơm cho mấy anh em mình Lòng nhân ái của lão Sấm thức tỉnh trong mỗi con người nghĩ suy về những điều giản dị mà vô cùng kì diệu trong cuộc
sống: Chúa ở muôn nơi và tình yêu thương ở trong mỗi con người
Trong các sáng tác của Cao Duy Sơn, có “nhân vật lí tưởng mà lòng nhân
ái như có sẵn trong tâm hồn, làm việc tốt tự nhiên như hít thở khí trời” [11,
tr.57] Bên cạnh các nhân vật như thầy Hạc (Ngôi nhà xưa bên suối), lão Sấm (Người ở muôn nơi), Ò Lình (Nơi đây không một bóng người) còn có những
nhân vật không tên xuất hiện với tư cách cá nhân hay tập thể Nhà văn không dùng những danh từ riêng để phân biệt họ với nhân vật khác, nhưng người
Trang 24đọc không thể nào quên Đó là những người bị bệnh hủi, chàng trai (Tượng
trắng), bà đỡ (Nơi đây không một bóng người) Chứng kiến sự tàn nhẫn của
người cha khi thấy con trai mới sinh có một lớp lông màu vàng phủ trên thân thể, bà đỡ âm thầm cứu giúp người mẹ và đứa trẻ đáng thương khi họ bỏ trốn vào rừng sâu Mười bốn năm trời, “bà đỡ đã bí mật đi lại tiếp tế, chăm sóc hai
mẹ con với tấm lòng một người mẹ nhân hậu” Trong khi hai mẹ con Ò Lình bất hạnh bị sự ấu trĩ và tàn nhẫn của đồng loại xua đuổi khỏi thế giới loài người, chỉ có bà đỡ coi họ là người và dành cho họ tình người ấm áp
Không giống những truyện ngắn khác, tác phẩm Tượng trắng chỉ có địa
danh mà không có tên người Nhà văn để người đọc nhận diện nhân vật chủ yếu trong quan hệ và qua tính cách Những người bệnh hủi “bị con người xua đuổi trôi dạt lang thang” đã nhặt được “một đứa trẻ bị bỏ rơi bên mé đường lầm lụi” và nuôi nó lớn “bằng tất cả tình thương của những số phận đau khổ” Đứa trẻ ấy lớn lên và là người duy nhất còn lành lặn không mang bệnh hủi Chàng trai chỉ biết trả ơn “những con người bất hạnh nhưng có tấm lòng lành hơn khí trời” bằng cách tạc vào từng mỏm đá hình dạng mặt mũi của người đã chết Chàng trai ấy đã từ chối tiếng gọi của tình yêu, ở lại với thế giới khổ đau của những linh hồn vật vã nơi làng hủi Tình yêu của con người tình nghĩa thủy chung ấy đã làm cho tượng đá bất tử với thời gian
Trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn có nhiều mối tình đẹp nhưng dang
dở Phải đến khi tuổi đã xế chiều, những người yêu nhau mới được bên nhau
Hoa bay cuối trời, Chợ tình, Súc Hỷ là những câu chuyện đẹp về tình yêu
vượt qua thời gian của những chàng trai cô gái miền sơn cước chung thủy,
nghĩa tình Lão Hỷ và mú Dinh (Súc Hỷ) thời trẻ lỡ đường duyên phận, khi về
già mới có thể đến với nhau nối lại tình xưa Chợ tình Âu Lâm mỗi năm chỉ họp một lần vào ngày hai mươi lăm tháng giêng Cũng như bao nhiêu cặp tình
lỡ dở, lão Sinh và mú Ếm chờ một năm để gặp một lần Lúc còn trẻ không lấy
Trang 25được nhau, khi về già “chỉ cần được ngồi bên nhau chẳng nói gì cũng thấy ấm lòng” Lúc còn trẻ không nên đôi lứa, khi về già hẹn chậm bước đợi nhau đến cõi vĩnh hằng:
“Về a Ếm ơi! Anh biết em bỏ anh khác đi một mình rồi Anh đâu dám trách Ếm.(…) Bây giờ thế này thôi, chợ từ nay không có chúng mình nữa, không có
em không còn chợ ( ), hãy chậm chân cho nhau kịp bước với Ếm ơi.”
Đâu phải là lời khấn cho người đã khuất, đó là lời thương lời nhớ, lời hẹn ước của những trái tim yêu chưa lỡ nhịp bao giờ Thời gian hay cái chết cũng không thể chia lìa những con người nghĩa tình đến thế Người đọc xúc động nhận ra trong cuộc sống còn nhiều vất vả đắng cay nơi đại ngàn xa xôi có những tấm lòng chan chứa yêu thương, trọn vẹn nghĩa tình Càng đi sâu tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn, người đọc càng nhận ra những điều nhà văn kí thác thật sâu xa, bị cuốn hút và xúc động trước một thế giới người đậm chất nhân văn
2.2.3 Những con người dũng cảm, cao thượng, giàu lòng vị tha
Truyện ngắn của Cao Duy Sơn cho thấy những xung đột của hiện thực xã
hội miền núi như xung đột lịch sử - dân tộc, xung đột thế sự đời tư với các dạng thức biểu hiện vô cùng phong phú: cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái
ác, giữa con người với thiên nhiên, giữa khát vọng tình yêu, hạnh phúc với những trái ngang trắc trở… Nhân vật của Cao Duy Sơn thường phải đối diện với những thử thách nghiệt ngã Đó có thể là nguy hiểm hữu hình khi nhân vật đối mặt với một con ác thú, nhưng cũng có thể là thử thách vô hình đòi hỏi con người phải vượt qua, chiến thắng sự hận thù và ích kỉ của chính bản thân mình Trong hoàn cảnh đó, bản chất, tính cách, những phẩm chất tốt đẹp như lòng dũng cảm, sự cao thượng, vị tha được bộc lộ rõ ràng và chân thực Với người miền núi, mối quan hệ giữa con người với môi trường sống không phải lúc nào cũng là sự gắn bó, hòa hợp mà còn có những xung đột gay
Trang 26gắt Đó là mâu thuẫn khó giải quyết giữa nhu cầu sinh tồn của con người với nhu cầu sinh tồn của tự nhiên Hiểm họa của đại ngàn cùng những hận thù khủng khiếp giữa người và ác thú đã được đề cập đến trong các tác phẩm
“Người săn gấu” và “Cuộc báo thù cuối cùng” Cảnh người thợ săn đối mặt
với con gấu hung dữ khiến người đọc lo lắng nghĩ tới ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết Ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc là sự cảm phục đối với những con người có sức khỏe và lòng dũng cảm phi thường: “Thim chằm chằm nhìn con vật đang lao về hướng mình Đôi mắt bình tĩnh đến lạnh lùng, từ trong hai đốm lửa đỏ bật lên ý nghĩ dữ dội và quả quyết (…) Con gấu chồm dậy rất nhanh, từ ngực nó một dòng máu đỏ sẫm trào ra ướt đẫm mảng lông ngực Cây giáo không còn tác dụng nữa Vừa né người tránh hai cái tát, nhanh như chớp Thim luồn sát ngực chộp nhanh hai tay của
nó đẩy ngay ra, đầu húc ngược dưới hàm, bằng tất cả sức lực cùng với miếng
võ hiểm bất kì thợ săn nào cũng phải biết, con thú bị đẩy lùi từng bước sát vách núi dựng đứng, Thim dồn sức vào chân phải đạp mạnh vào bụng nó đồng thời hai tay đẩy bật con thú ra khỏi người Một khối đen sì nặng nề vùn
vụt lao xuống chân núi sâu hút…” (Người săn gấu)
Còn đây là cảnh lão Vược (Cuộc báo thù cuối cùng) quần nhau với chúa
sơn lâm:
“Ngay lập tức con thú phóng đến như một mũi tên Cùng đồng thời với cái bóng vằn vện vừa bật lên khỏi mặt đất, Vược nhún chân bay người sang trái cắt một góc vuông, hướng vào đầu con hổ Trong màn trời nhập nhoạng, ánh kim loại lóe lên như một tia chớp, cắt gió xả ngang đầu con thú, một tiếng rú bỗng vang lên rùng rợn, nghe như có ngàn cây đổ Vược nhào người vùng dậy, vung dao xả tiếp nhát thứ hai ”
Nhà văn miêu tả cụ thể theo trình tự thời gian, không bình luận Câu chữ của tác giả truyền đến người đọc cảm giác của người trong cuộc, dồn nén
Trang 27căng thẳng nhưng tin tưởng vô cùng vào sức mạnh và lòng dũng cảm của con người đang đối mặt với thách thức, hiểm nguy
Thời gian có thể làm cỗi tàn nhiều thứ, riêng sự cao thượng và lòng vị tha mãi là những giá trị tinh thần cao đẹp của đời sống con người Sinh ra và lớn lên ở miền sơn cước, phóng khoáng như gió núi mây ngàn, nhân vật của Cao Duy Sơn yêu ghét phân minh, giàu lòng vị tha và vô cùng cao thượng Họ sẵn sàng cưu mang, giúp đỡ, sẻ chia mà không hề tính toán Họ nhận về mình xót
xa, để người không cay đắng, ngậm ngùi Với những sai lầm, họ độ lượng thứ
tha Tấm lòng của những người như bà đỡ, Ò Lình (Nơi đây không một bóng
người), Hoán (Thằng Hoán), Dình (Hoa bay cuối trời), lão Sấm (Người ở muôn nơi) giúp mọi người vững tin trong cuộc sống Cho dù cuộc đời còn
nhiều nước mắt khổ đau và lầm lỗi, vẫn có sự cao thượng, bao dung mở lối đón ta về
Mối tình của chàng trai tên Khơ ở Háng Vài và người thiếu nữ đất Pác Gà
(Hoa bay cuối trời) chớm nở trong dịp lễ hội ngày xuân khi “những bông mận
nở muộn như tuyết trắng bên những cành đào rực rỡ dưới chân núi khẽ đưa trong gió” Họ đã trao lời thương và ước hẹn đón nhau về trên chiếc xe ngựa thật đẹp do chính tay chàng đóng Nhưng cuộc đời éo le để mối tình đẹp chẳng thể đơm hoa kết trái Dình bị ốm rồi bị liệt đôi chân Người con gái ấy
đã ngậm ngùi chôn chặt mối tình, nhờ anh trai nói dối để Khơ tin mình đã làm dâu nhà khác Bởi không muốn người yêu phải khổ vì mình mang tật, Dình đã nén chặt lòng trong nỗi cô đơn dằng dặc một đời người Ở trên đời, liệu có phải ai cũng biết yêu như người thiếu nữ đất Pác Gà? Những giây phút sắp lìa xa cuộc sống, Dình mới nghĩ cho mình Một đời chờ đợi, giấc mơ xưa mới trở thành sự thật Lần đầu tiên lão Khơ đón người yêu chung thủy trên cỗ xe ngựa tự tay mình đóng như năm xưa đã hẹn, cũng là lần cuối cùng họ được bên nhau
Trang 28Trong cuộc sống, sự cao thượng, vị tha không chỉ là thái độ cần có khi người khác mắc sai lầm mà còn là biểu hiện của tình yêu đích thực, của nhân
cách cao cả Đó là sự cao thượng của Hoán (Thằng Hoán) đối với người vợ đã
bỏ chồng bỏ con đi theo người đàn ông khác; là tấm lòng của bà đỡ, của chú
bé người - khỉ (Nơi đây không một bóng người); lão Sấm (Người ở muôn nơi)
đối với mọi người Dù cuộc sống của mình còn nhiều vất vả, đắng cay, những con người ấy đều sẵn sàng hi sinh lợi ích, thậm chí cả cuộc sống của mình vì người khác mà không đắn đo, tính toán Những nhân vật cao thượng, vị tha trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn vừa mang lại chất thơ và giá trị nhân văn cho tác phẩm, vừa thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người:
Vẻ đẹp tâm hồn của con người chính là chất thơ trong cuộc sống
2.3 Nhân vật tha hóa
Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn hiện lên chân thực với những con người rất đời thường, có tốt có xấu, có hay có dở, có nỗi khổ
và niềm vui Không cảm nhận và phản ánh đời sống một cách đơn giản, Cao Duy Sơn thường quan sát, miêu tả nhân vật trong sự vận động tính cách của
nó Đa số các nhân vật của Cao Duy Sơn không có sự biến đổi tính cách theo chiều hướng xấu Vẻ đẹp tâm hồn, những phẩm chất tốt đẹp vốn có của nhân vật không hề thay đổi theo thời gian mà ngày càng tỏa sáng Hình tượng nhân vật tha hóa trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn xuất hiện không nhiều Nhà văn chủ yếu phản ánh sự suy thoái phẩm chất đạo đức của nhân vật Sự tha hóa được khai thác ở khía cạnh con người cá nhân hơn là con người làm nhiệm vụ chính trị với vai trò xã hội nhất định
Lão Vược trong tác phẩm Cuộc báo thù cuối cùng sống bằng nghề săn thú,
“với lại thú ham săn bắn đã ngấm vào máu của lão rồi” Từ ngày người vợ chết thảm vì hổ dữ, lão Vược trở thành nỗi kinh hoàng của muôn loài muông thú “Từ khao khát trả thù hóa thành niềm say mê như cuồng nhập vào lão từ
Trang 29lúc nào, lão không còn nhớ” Trong đau thương, lão Vược đã để mình trở thành nô lệ của lòng thù hận, gieo rắc đau thương cho muông thú
Các nhân vật Làn Dì (Thằng Hoán), Sìu (Song sinh), Kình (Hấp hối) được
miêu tả như là nô lệ của ham muốn, dục vọng thấp hèn Nhân vật Làn Dì
(Thằng Hoán) vốn “sinh trưởng trong một gia đình khá giả, tử tế Cô đã từng
đi học trường sư phạm của tỉnh, nhưng đã bị đuổi ra khỏi trường vì mắc tội quan hệ trai gái Sau lại tiếp tục đi làm tại một cửa hàng lương thực của huyện, được giao chân thủ kho, được một năm thì lại bị đi cải tạo vì tội tham
ô hai tấn gạo” Gia đình thất vọng, hổ thẹn, làng xóm khinh bỉ, mỉa mai, Làn
Dì bỏ nhà ra đi hi vọng “chôn vùi quá khứ tội lỗi" Đến bản Tà Phàn, Làn Dì nhận lời làm vợ Hoán - “con người dị tật xấu xí” Những tưởng sau những cay đắng nhục nhã từng phải chịu đựng, Làn Dì sửa đổi tâm tính và an phận Nhưng người phụ nữ ấy lại dan díu với tay thợ cả đến dựng nhà cho mình Con trai được ba tuổi thì Làn Dì bỏ đi theo nhân tình Nghĩa vợ chồng, tình mẫu tử - đối với người vợ, người mẹ ấy - có lẽ đều vô nghĩa
Câu chuyện về hai anh em sinh đôi Du và Sìu (Song sinh) làm người đọc
giật mình trước sự mê muội đầy bản năng của con người Như bao chàng trai khác, Sìu mơ ước làm giàu và khao khát một gia đình Thấy anh trai lấy được người vợ đẹp, Sìu ghen tị, khát thèm Lợi dụng sự giống nhau của hai anh em song sinh, Sìu mặc quần áo của Du, giả dạng anh trai để chiếm đoạt thân xác chị dâu Sự tha hóa của Sìu được đẩy đến tận cùng để nhân vật trở thành hiện thân cho đỉnh điểm của vô luân Đây không phải là hành động nhất thời bột phát, hoàn toàn mang tính bản năng của nhân vật mà nó là kết quả của niềm khát khao hòa trộn với sự đố kị và mê muội tầm thường Bởi sau hành động loạn luân đó, Sìu thản nhiên nói với chị dâu: “ tôi muốn được thế vào chỗ của thằng Du, kiếp này muốn lấy Lu về làm vợ”
Trang 30Những năm đầu mới giải phóng, ông Kình (Hấp hối) là một cán bộ cấp
tỉnh, “ba mươi tuổi quá mải mê với công việc chẳng khi nào được rảnh tay nghĩ về một người con gái” Hạnh phúc gia đình là niềm khao khát chính đáng của mỗi con người, nhưng người mà Kình muốn lấy làm vợ là một phụ
nữ đã có chồng Cùng một toán thanh niên trong làng, Kình đón đường bắt cóc và chiếm đoạt thân thể người phụ nữ ấy Hành động tội lỗi trong bóng tối
đã làm tan nát một gia đình Người vợ hóa điên sau khi sinh ra giọt máu của
kẻ đã làm nhục chị Tám năm sau, Kình mới gặp lại và biết người phụ nữ đó
là vợ của Chức - “đã từng là người dìu dắt những bước đi đầu tiên của ông trên con đường cách mạng” Sợ bị trả thù, Kình tìm cách buộc tội Chức làm tay sai cho giặc, mượn tay kẻ khác đày đọa Chức trong tù hơn mười năm trời Nghe tin người vợ bất hạnh của mình chết vì tai nạn ô tô, đau khổ và oan ức, Chức đã treo cổ tự vẫn ở trong tù
Nhà văn mô tả sự tha hóa như một quá trình, nhân vật trượt dài, lún sâu trong tội lỗi Là một cán bộ từng hoạt động bí mật, giờ giữ một chức vụ khá quan trọng của tỉnh, vậy mà Kình lại chiếm đoạt hạnh phúc của người khác Gây tội lỗi rồi không dám đối diện và chịu trách nhiệm, lại dùng thủ đoạn hèn
hạ hại người đã vì mình mà phải chịu bao đau khổ, xót xa Với nhân vật Kình, Cao Duy Sơn đã khắc họa hình tượng con người tha hóa đầy sức ám ảnh
Như vậy, các nhân vật Làn Dì (Thằng Hoán), lão Vược (Cuộc báo thù cuối
cùng), Sìu (Song sinh) và Kình (Hấp hối) là nhân vật mang tính chất loại
hình Được cấu thành bởi hàng loạt chi tiết mang tính chất cùng loại và tái diễn trong nhiều tình huống khác nhau, tính cách nhân vật được đẩy đến tận cùng để bộc lộ bản chất Từ đó nhà văn muốn lí giải nguyên nhân khiến con người tự đánh mất mình, cảnh tỉnh con người về sự tha hóa
Có thể nói, các nhân vật tha hóa trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn rất chân thực và có ý nghĩa nhận thức rất sâu sắc Nhân vật tự ý thức sự thay đổi
Trang 31theo chiều hướng xấu của con người mình và vật lộn với chính bản thân mình vừa ngang tàng vừa đau đớn Lão Vược đầy thù hận vừa khao khát trả thù vừa đau lòng thấy con gái bị tổn thương Khi giết được con hổ đã hại chết vợ
mình lão vẫn không hề thanh thản (Cuộc báo thù cuối cùng) Sìu thoát chết,
bên chân trái bị cắt cụt và mãi mãi phải sống dưới cái tên của anh mình “Đến giờ Sìu thấy lòng mình chẳng còn chút oán hận ai Tự mình làm mình chịu”
(Song sinh) Làn Dì bội bạc phải rơi nước mắt gào thét đau đớn vì không được con trai tha thứ (Thằng Hoán) Còn ông Kình dù chưa bị trừng trị nhưng suốt đời phải day dứt về tội lỗi của mình (Hấp hối) Nghĩa là nhà văn đang
gieo mầm hi vọng về một sự đổi thay tốt đẹp Bởi nếu còn thấy đau đớn, ân hận về những gì mình gây ra, nghĩa là con người vẫn còn ý thức về những điều tốt đẹp và hướng tới những điều tốt đẹp
3 Nghệ thuật miêu tả nhân vật
Nhân vật là yếu tố cơ bản góp phần quyết định sự sống còn của một tác
phẩm văn chương Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Cái khó nhất vẫn
là làm sao cho người trong truyện hiện ra lồ lộ giữa trang sách như hình người trên một bức phù điêu” Cao Duy Sơn đã có những thành công nhất
định trong bước đường tìm tòi và thể nghiệm những khám phá, sáng tạo ở nghệ thuật miêu tả nhân vật, đặc biệt là miêu tả ngoại hình, hành động và nội tâm nhân vật
3.1 Miêu tả ngoại hình, hành động của nhân vật
Nhân vật tồn tại trong tác phẩm văn học như một thực thể sinh động và
chủ động như con người trong đời thực Vì vậy các nhân vật văn học là đại
diện của các tính cách xã hội, có ngoại hình và thế giới nội tâm riêng “Ngoại
hình là một khái niệm nhằm chỉ hình dáng, diện mạo, trang phục, cử chỉ, tác phong , tóm lại, là toàn bộ những biểu hiện tạo nên dáng vẻ bên ngoài của
Trang 32nhân vật” [29, tr.168] Còn hành động của nhân vật “không chỉ là yếu tố cần thiết để bộc lộ tính cách mà còn là yếu tố không thể thiếu thúc đẩy sự diễn biến của cốt truyện trong tác phẩm Đó chính là những việc làm cụ thể của nhân vật trong quan hệ ứng xử với các nhân vật khác và trong những tình huống khác nhau của cuộc sống.” [29, tr.169]
Khi xây dựng nhân vật trong tác phẩm của mình, Cao Duy Sơn thường chú trọng miêu tả ngoại hình, hành động của nhân vật để khắc họa chân dung và
để nhận dạng tâm tính, đoán định tính cách Nhờ đó, nhân vật trong truyện không mờ nhạt mà gây ấn tượng cho người đọc ngay từ những chi tiết miêu tả ban đầu
3.1.1 Miêu tả ngoại hình, hành động để khắc họa chân dung
Trong nghệ thuật nói chung và trong văn học nói riêng, cảm hứng ngợi ca
cái đẹp là một dòng chảy nồng nàn không bao giờ vơi cạn Nghệ thuật không thể thiếu cái đẹp, cái lí tưởng, hoàn hảo Truyện ngắn của Cao Duy Sơn có nhiều nhân vật để lại ấn tượng khá đậm cho độc giả về vẻ đẹp ngoại hình hoàn hảo mang đặc trưng của con người miền núi Chất miền núi của nhân vật nổi đậm ngay từ những chi tiết miêu tả ngoại hình Đây là vẻ đẹp và sức khỏe của chàng trai mồ côi có tài săn gấu: “Thim mang cây giáo trên vai, cúc áo
mở tung để lộ ra bộ ngực vuông vức căng tròn, lưng đeo tấm da bọc xương
con gấu ” (Người săn gấu) Trong tác phẩm Hoa bay cuối trời, vẻ đẹp của
những chàng trai miền sơn cước hiện lên qua vài chi tiết miêu tả ngắn gọn giàu sức gợi: “Có một cánh tay rất to, rõ những múi cơ gồng lên cuồn cuộn, gạt những bắp chân giày xéo trên mặt đất đổ rạp như gạt những bẳng nước rỗng” Cảnh những chàng trai trẻ tranh đầu pháo trong lễ hội pháo hoa Pác Gà được miêu tả bằng một đoạn văn ngắn, nhiều động từ xuất hiện đã tái hiện liên tiếp những hành động nhanh mạnh, dứt khoát, quyết liệt của hai chàng
trai trẻ đang quyết giành phần thắng:
Trang 33“ Khơ nhào đến chộp lấy chiếc vòng Không thấy mặt người, vẫn bắp tay cuồn cuộn đó vươn tới chặn Khơ lại Khơ cảm giác bàn tay mình bị kẹp chặt trong cục gỗ ép mía Những ngón tay cộm chai cuốn một vòng làm cánh tay Khơ muốn gãy Khơ đành buông chiếc vòng Nhanh như một chớp mắt bàn tay gân guốc đó vồ lấy Gã bật người đứng dậy, rẽ đám đông cố thoát ra ngoài Khơ lao đến ôm gã quật xuống ( ), chiếc vòng đỏ lăn xuống đất, Khơ chộp vội nhún chân nhảy bật qua vòng người đang mỗi lúc một thắt chặt.” Khi khắc họa chân dung những chàng trai nơi đại ngàn xa thẳm, Cao Duy Sơn thường kết hợp miêu tả ngoại hình và hành động của nhân vật, từ đó tô đậm vẻ đẹp hình thể và sức mạnh của họ Đó là những thanh niên miền núi khỏe mạnh với bộ ngực vạm vỡ, bắp thịt nở nang, đường gân cuồn cuộn Họ giỏi nghề săn bắt, cần cù lao động, mạnh mẽ, dũng cảm đối mặt với thử thách, hiểm nguy Vẻ đẹp ấy, sức mạnh ấy như được kết tinh từ sức sống của chốn sơn lâm hoang sơ, hùng vĩ
Đối với các nhân vật nữ, nhà văn Cao Duy Sơn cũng sử dụng chi tiết miêu
tả ngoại hình và hành động để khắc họa Chân dung những cô gái xinh đẹp tựa đóa hoa rừng ngạt ngào hương sắc trong nắng mai được tạo nên bởi những nét vẽ thiên về miêu tả diện mạo Những câu văn mềm mại, lung linh và mát dịu như sương núi khi miêu tả vẻ đẹp thuần khiết đầy nữ tính của thiếu nữ miền sơn cước: “Mặt nàng đẹp như bông đào trong nắng Nụ cười bẽn lẽn, mắt chớp như cánh vẫy của loài bướm hoa Trong bộ quần áo Nùng xanh cổ vịt, viền nách bằng vải láng cống màu đen, toàn thân nàng khẽ run trong
hoàng hôn se lạnh.” (Hoa bay cuối trời); “Nàng xinh xắn, uyển chuyển như con suối thu chân núi.” (Hòn bi đá màu trắng)
Vẻ đẹp của Ếm (Chợ tình) không thể chỉ gọi bằng một từ “nhan sắc” Cái
đẹp và sức xuân tràn trề làm những nụ cười tỏa sáng niềm vui: “Ếm đẹp như hoa, ( ) mỗi khi cười trời như sáng bừng lên, hoa xuân lay lắc vui như
Trang 34nhường lại nhan sắc” Còn cô gái trong truyện Dưới chân núi Nục Vèn đẹp
như một nàng tiên ở chốn rừng xanh: “Cô gái có đôi mắt đẹp như con chim lửa, cổ trắng như ruột cây chuối rừng, môi đỏ như cánh hoa gạo.”
Miêu tả như vậy thực chất là gợi tả Khắc họa chân dung nhân vật qua chi tiết ngoại hình, nhà văn ít miêu tả trực tiếp, thường dùng phép so sánh và lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người Miêu tả ngoại hình trong thế đối sánh với thiên nhiên là đặc điểm mang tính kế thừa thi pháp văn học truyền thống rất rõ rệt
Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn không chỉ có những con người có vẻ đẹp ngoại hình hoàn hảo mà còn có những nhân vật hiện diện như
một sự bất thường Đó là Hoán (Thằng Hoán) với cái hình thể dị dạng của
người tàn tật Mười tám tuổi nhìn vẫn như đứa trẻ lên mười “Cái đầu to quá khổ như bị cái u trên lưng đè nặng, luôn trĩu về phía trước Hai bàn chân to bè những ngón tòe ra vững chãi đỡ cái thân hình thấp lùn không cao quá một mét
tư Ngắm nhìn cái bóng dị dạng dưới nắng của mình xong, Hoán thường quay mình lại phía sau như muốn tránh nhìn cái bóng đó Hai mắt Hoán mở to trên khuôn mặt nặng nề bỗng từ từ ngẩng lên như muốn ném vào quá khứ mọi oán giận, bất hạnh và cay đắng.”
Ngoại hình nhân vật được miêu tả từ điểm nhìn của nhân vật, thực chất là
sự hoán đổi lăng kính từ tác giả sang nhân vật Cách miêu tả như vậy khiến cho chân dung nhân vật rõ nét và có chiều sâu Tâm trạng nhân vật được phơi
mở với những ẩn ức, tủi hờn chất chứa trong đôi mắt Với sự kết hợp giữa chi tiết miêu tả ngoại hình và hành động rất tự nhiên, khéo léo, Cao Duy Sơn đã khắc họa thành công chân dung một con người bất hạnh cả về hình thể và tâm trạng, nỗi niềm
Chú bé trong tác phẩm Nơi đây không một bóng người vừa mới chào đời
đã phải cùng mẹ chạy trốn sự nhẫn tâm của người cha chối bỏ con mình “vì
Trang 35nó giống y như một con khỉ” Khi khắc họa chân dung nhân vật, Cao Duy Sơn không dồn nén các chi tiết miêu tả ngoại hình mà lựa chọn miêu tả ở những thời điểm nhất định Nhà văn miêu tả Ô Lình khi mới sinh ra từ điểm nhìn của người cha: chú bé mang “hình hài một con khỉ Cái thân thể trần truồng đỏ hỏn đó, phủ một lớp lông màu vàng, ướt nhớp nháp” Cách miêu tả nhấn mạnh đặc điểm khác thường của đứa trẻ, đặt trong trường liên tưởng để so sánh và đánh giá đúng với cảm giác của người cha Mười bốn năm sau, “Ò Lình đã sắp thành một chàng trai Cặp chân dài của nó đã bắt đầu nổi bắp, hai
bờ vai vuông vức nằm dưới cái cổ cao và thẳng, như được một bàn tay tuyệt
mĩ tạo nên đỡ lấy khuôn mặt nhẵn nhụi và trắng trẻo, luôn đọng những nét tươi vui và hồn nhiên Cái nét hồn nhiên tươi vui đó đã lấn át toàn bộ lớp lông màu vàng, mịn màng trên cơ thể hòng biến Ò Lình thành một kẻ lạ mắt khó nhìn” Vẫn không bỏ qua điểm khác thường của chú bé người - khỉ nhưng nhà văn tập trung miêu tả nét hồn nhiên, tươi vui của nhân vật Sống cùng mẹ trong rừng sâu, tách biệt với thế giới con người, Ò Lình hồn nhiên như cây cỏ, trong trẻo như nước suối rừng Tâm hồn trẻ hòa với thiên nhiên thanh sạch không bị vẩn đục bởi định kiến xã hội như người lớn Trong một ngoại hình
“lạ”, nhà văn phát hiện và tô đậm cái quen thuộc của tâm hồn người ở tuổi
thiếu niên Chiều sâu của bức chân dung là ở đó
Sự tiếp cận thi pháp hiện đại đã mang lại tính linh hoạt cho nghệ thuật miêu tả ngoại hình và hành động của nhân vật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn Tùy từng nhân vật mà miêu tả đầy đủ, trọn vẹn, hoặc miêu tả dần theo mạch truyện Ngoại hình và hành động của nhân vật được miêu tả từ nhiều điểm nhìn khác nhau Đặc biệt Cao Duy Sơn thường kết hợp miêu tả ngoại hình và hành động để khắc họa chân dung nhân vật nên hình ảnh con người trở nên sống động Tuy nhiên, khi miêu tả vẻ đẹp hình thể có tính lí
Trang 36tưởng, nhà văn chủ yếu dùng bút pháp ước lệ, tượng trưng nên chân dung nhân vật thiếu tính cá thể hoặc có nhưng chưa sắc nét
3.1.2 Miêu tả ngoại hình, hành động để nhận dạng tâm tính, đoán định tính cách
Trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn, mỗi nhân vật là một số phận, một tính cách riêng Có người tình nghĩa, vị tha, nhân hậu, có người ích kỉ, tàn nhẫn, xấu xa Phẩm chất, tính cách nhân vật thường được nhà văn “ngầm giới thiệu” qua những chi tiết miêu tả ngoại hình và hành động khi nhân vật xuất hiện Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và hành động của nhân vật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn thể hiện sự thống nhất cao về quan niệm con người trong
tư duy nghệ thuật của ông Đó là chú trọng miêu tả ngoại hình và hành động trong mối tương quan với tâm hồn, tính cách Đây là cách giới thiệu nhân vật mang tính truyền thống trong văn học
Khi giới thiệu nhân vật, bên cạnh những chi tiết miêu tả ngoại hình và hành động để khắc họa chân dung, nhà văn Cao Duy Sơn còn sử dụng những
chi tiết có ý nghĩa như dấu hiệu của tâm tính Ò Lình (Nơi đây không một
bóng người) từ nhỏ phải cùng mẹ chạy trốn vào rừng sâu, sống cách biệt với
mọi người Chú bé ấy có “khuôn mặt nhẵn nhụi và trắng trẻo luôn đọng những nét tươi vui và hồn nhiên” với “cặp mắt như hai đốm sao” và “ánh mắt rực sáng” Không thuần túy là chi tiết miêu tả ngoại hình, hình ảnh “đôi mắt”
đã hé mở tâm hồn trong trẻo như nước suối rừng của Ò Lình, khơi gợi những xúc cảm đẹp đẽ trong người đọc Cho đến khi Ò Lình lao vào đám cháy cứu những em bé ra khỏi nhà trẻ đang ngùn ngụt lửa, ta nhận ra sự lôgic trong vận động của mạch truyện
Người đàn ông tàn tật trong truyện Thằng Hoán có thân hình dị dạng khiến
cô gái nào lần đầu tiên nhìn thấy hình dạng của anh đều tỏ ra khiếp đảm Cao Duy Sơn không miêu tả cùng một lúc tất cả những đặc điểm bề ngoài của
Trang 37nhân vật Hoán Nhà văn chọn một số đặc điểm, kết hợp miêu tả cùng với hành động của nhân vật, từ đó giúp người đọc nhận ra phẩm chất, tính cách của nhân vật Lũ trẻ con “thích đến chơi với Hoán vì không khi nào Hoán từ chối chúng một việc gì Khi thì đẽo xảng, đẽo khăng, khi thì lắp một đôi “mạ điếng”, thứ gì qua đôi bàn tay thô kệch của Hoán cũng đẹp lên một cách kì lạ Bọn trẻ còn thích hơn khi Hoán túm lấy cái mũi tẹt của mình giả làm tiếng chó, đủ các loại, chó con, chó lớn, tiếng chó và mèo đuổi cắn nhau" Chỉ qua vài nét khắc họa nhân vật khi làm đồ chơi và đùa vui cùng lũ trẻ, người đọc nhận ra bản tính hiền lành và lòng nhân hậu được ẩn sau bề ngoài xấu xí kia Chính lòng yêu trẻ của Hoán đã xóa nhòa khoảng cách dễ có giữa lũ trẻ với anh - một người dị dạng Sau này khi người vợ của Hoán bỏ chồng bỏ con đi theo nhân tình, Hoán vẫn sẵn sàng tha thứ cho người phụ nữ ấy Những trang văn miêu tả cảnh Hoán chăm lo cho con khiến người đọc cũng rưng rưng xúc động trước tình phụ tử sâu nặng, thiêng liêng
Trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn có nhiều nhân vật mang tính lí tưởng
Đó là những con người đẹp cả ngoại hình và phẩm chất tâm hồn như Dình,
Khơ (Hoa bay cuối trời), những nhân vật có vẻ ngoài xấu xí hoặc khác thường nhưng lại có vẻ đẹp tâm hồn sáng trong, nhân hậu như Hoán (Thằng
Hoán), Ò Lình (Nơi đây không một bóng người) Có nhân vật đẹp về ngoại
hình nhưng lại bội bạc, tàn nhẫn (Làn Dì trong truyện Thằng Hoán) Cách
khắc họa nhân vật của Cao Duy Sơn khá linh hoạt nhằm tô đậm tính cách nhân vật và chủ đề tác phẩm Không phải đối với nhân vật nào nhà văn cũng chú trọng miêu tả ngoại hình và hành động So với cách miêu tả nhân vật phản diện, Cao Duy Sơn ít miêu tả ngoại hình của các nhân vật tích cực hơn Đối với các nhân vật phản diện, tâm địa xấu xa, bản tính độc ác, tàn nhẫn đáng mỉa mai, lên án, những chi tiết miêu tả ngoại hình và hành động của nhân vật thường giúp người đọc nhận dạng tâm tính, đoán định tính cách Nói
Trang 38cách khác, chi tiết của nhà văn thường có tính “dự báo” Trong truyện ngắn
Song sinh, nhà văn đã giới thiệu về hai anh em sinh đôi:
“Đứng cạnh nhau khó phân biệt Du đâu, Sìu đâu Cùng nước da trắng, tóc hơi quăn tự nhiên và cái mũi gồ Du thong thả, thích ăn diện, mộng đây đó, mắt thường mơ màng, hám gái từ khi mười lăm, mười sáu tuổi Sìu mạnh mẽ, nhanh nhẹn, thân hình rắn rỏi, mắt hay liếc trộm người.”
Hai anh em chỉ khác nhau một chi tiết Mắt Du “thường mơ màng” còn Sìu
“mắt hay liếc trộm người” Ánh mắt ấy, cách nhìn ấy của Sìu khiến người ta e ngại nghĩ đến người có tính cách gian xảo, không đàng hoàng Nó dự báo con người này dám làm và sẽ làm những điều tội lỗi Cùng với chi tiết miêu tả ngoại hình của Sìu, nhà văn còn miêu tả một số hành động của nhân vật này trong những tình huống khác nhau, từ đó tính cách nhân vật bộc lộ tự nhiên và lôgic Sìu theo người trong bản vào rừng cưa gỗ nghiến làm thớt bán Du sắp cưới vợ, người già cho nhắn Sìu về chuẩn bị đón chị dâu, việc không đừng được lại sắp đến hạn giao hàng, Sìu thấy khó nghĩ “Gã nổi cáu vung búa chém vào gốc cây dẻ già, chửi cái thằng cưới vợ không phải lúc.” Với Sìu, việc lớn, việc vui của người anh chẳng khác gì chuyện xấu cản trở hắn kiếm tiền Đến khi nhìn thấy vợ Du, “mặt gã đơ ra, mắt như dán vào dáng đi uyển chuyển của chị dâu Không ngờ Du lấy được đứa xinh thế Nâng bát rượu đầy, Sìu ngửa cổ cạn một hơi trơ đáy” Để ghìm lòng đố kị đang dâng hay để dịu nỗi khát thèm ?
Ngày Du nhờ Sìu cùng đi đón vợ, vừa nhìn thấy chị dâu, “gã rên lên và khao khát một người như Lu Không chờ Du ra hiệu, như con hổ vồ mồi Sìu bật ngón chân nhảy phắt qua một bụi cây ngang ngực Trong chớp mắt, gã ôm gọn Lu đè xuống” Không một chút ngại ngần hay ý tứ, hành động của Sìu khiến người đọc phấp phỏng lo sợ một bi kịch được báo trước Sau này, Sìu
đã giả dạng anh trai để chiếm đoạt thân xác chị dâu Như vậy, trước khi
Trang 39tính cách nhân vật được đẩy đến tận cùng để trở thành hiện thân của vô luân, nhà văn đã cung cấp cho người đọc những dấu hiệu để đoán định tính cách nhân vật
Con người sục sôi dục vọng, là nô lệ của bản năng thấp hèn như Sìu còn
xuất hiện ở tác phẩm Dưới chân núi Nục Vèn Đó là Khàng - con trai độc nhất
của lí trưởng Nhà văn đã nhiều lần miêu tả “đôi mắt con rắn” của Khàng Trong số những người đến làm thuê cho nhà mình, “Khàng để ý đến một cô gái có đôi mắt đẹp như con chim lửa, cổ trắng như ruột cây chuối rừng, môi
đỏ như cánh hoa gạo ( ) Cái mắt con rắn của nó thèm thuồng từ ngày ấy” Khi thấy cô gái làm việc ở ruộng thuốc phiện, “Khàng đứng như con gấu, mắt vằn đỏ như mắt con hổ đói hau háu nhìn cắm vào cái gáy nõn chuối rừng” Lúc tìm kiếm ai thì “đôi mắt con rắn nhìn quanh” Mắt Khàng nhìn cha vẫn là
“đôi mắt con rắn” “nổi lên những tia vằn đỏ man rợ” Qua cách miêu tả bằng thủ pháp so sánh “vật hóa” của nhà văn, hình ảnh đôi mắt nhân vật Khàng thật đáng sợ Nhìn vào đôi mắt ấy có thể đọc được những ý nghĩ đen tối và sự tàn độc của nhân vật Đối với dân làng, chỉ cần một con trâu nào chạm cái móng vào bờ ruộng nhà mình là Khàng cầm dao “phạt mạnh vào cổ con trâu như phạt vào thân chuối” Hành động ấy cho thấy bản tính của kẻ sẵn sàng làm điều ác mà không ghê tay Cách mạng đã trả đám ruộng nhà nó cho những người nghèo, “nó cầm dao chém vào những người định xuống cày ở đám ruộng”, tìm cách chống phá, cản trở những điều tốt đẹp trong cuộc sống mới, thậm chí xúi giục con trai làm điều ác
Sự tàn ác gian xảo của Sài Vẳn (Người săn gấu) cũng không thể che giấu
bởi “đôi mắt một mí” với cái nhìn “trừng trừng” “ánh lên dữ tợn” đã hé lộ bản chất của hắn Là “con trai của Coằng”, Sài Vẳn không chịu nổi khi những lời thán phục, khen ngợi tài săn gấu của người vùng Pác Miều lại dành cho Thim
- một chàng trai mồ côi Thấy em gái mình có cảm tình với Thim, Sài Vẳn
Trang 40càng căm tức Gặp Thim, “nó nhìn Thim trừng trừng rồi đột ngột hạ giọng vui vẻ” hỏi mượn Thim cây giáo Thim “chưa kịp nghĩ Sài Vẳn định mượn để làm gì thì nó đã giật nhanh cây giáo trong tay Thim” Sự rắp tâm hại người hiển hiện trong cái nhìn và hành động của Sài Vẳn cho dù nó đã cố che giấu bằng giọng nói tỏ ra vui vẻ Cho đến khi mũi giáo của Thim gãy gọn trong ngực con gấu “lộ ra một đường cắt rất nhỏ ngay sát chuôi mũi giáo”, người đọc bỗng rùng mình trước sự thâm hiểm của kẻ giết người
Kết quả khảo sát hệ thống nhân vật trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn cho thấy nhà văn thường lựa chọn, tập trung miêu tả đặc điểm hoặc hành động nào đó của nhân vật sao cho phù hợp và bộc lộ được bản chất, tính cách của nhân vật Một trong những chi tiết “biết nói” xuất hiện trong khá nhiều tác phẩm của Cao Duy Sơn là “đôi mắt” Hầu hết các nhân vật nam có bản tính xấu xa, tâm địa độc ác đều được nhà văn miêu tả đôi mắt, ánh nhìn Qua hình ảnh “đôi mắt” có thể cảm nhận thế giới nội tâm, đoán định tính cách của nhân vật Cảm nhận ấy càng trở nên rõ nét khi nhà văn kết hợp miêu tả hành động của nhân vật Đó là hành động của Sìu: “nhảy phắt” ra “ôm gọn Lu đè
xuống” (Song sinh); Khàng cầm dao “phạt mạnh vào cổ con trâu như phạt vào thân chuối” (Dưới chân núi Nục Vèn); Sài Vẳn “giật nhanh cây giáo trong tay Thim” (Người săn gấu) Những hành động nhanh, gọn, quyết liệt,
bất ngờ như là hiện thực hóa những ý đồ đen tối, sự tàn ác, vô luân trong tâm địa con người
Đối với những nhân vật nữ mang tính lí tưởng, Cao Duy Sơn miêu tả ngoại hình và hành động của họ chủ yếu để khắc họa chân dung Còn những người phụ nữ tàn nhẫn, phản trắc, không có phẩm hạnh thường được nhà văn khắc họa bằng những chi tiết miêu tả nhằm nhận dạng tâm tính, đoán định tính
cách Trước khi cho người đọc biết lai lịch của Làn Dì (Thằng Hoán), Cao
Duy Sơn đã miêu tả người phụ nữ ấy: