1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những cách tân về nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kì 1986 đến nay (nguyễn thị thu huệ, nguyễn ngọc tư, đỗ bích thúy)

188 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THANH HỒNG NHỮNG CÁCH TÂN VỀ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT NỮ THỜI KÌ 1986 ĐẾN NAY NGUYỄN T

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THANH HỒNG

NHỮNG CÁCH TÂN VỀ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT NỮ

THỜI KÌ 1986 ĐẾN NAY (NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ, ĐỖ BÍCH THUÝ)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THANH HỒNG

NHỮNG CÁCH TÂN VỀ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT NỮ

THỜI KÌ 1986 ĐẾN NAY (NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ, ĐỖ BÍCH THUÝ)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 62 22 34 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Đức

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

- Luận án Tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu của ai khác

- Luận án đã được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, cầu thị

- Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác đã được tiếp thu một cách trung thực, cẩn trọng trong luận án

Tác giả luận án

Nguyễn Thanh Hồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Hà Văn Đức - người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn cơ sở đào tạo, các thầy cô giáo, cơ quan, bạn bè

và gia đình đã luôn động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này

NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Thanh Hồng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận án 5

6 Cấu trúc của luận án 6

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tình hình nghiên cứu lí thuyết về truyện ngắn và xu hướng cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam thời kì 1986 đến nay 7

1.1.1 Lí thuyết về truyện ngắn 7

1.1.2 Xu hướng cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay 9 1.2 Tình hình nghiên cứu những cách tân trong truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1986 13

1.3 Tình hình nghiên cứu về cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của các cây bút nữ: Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy 17

1.3.1 Nguyễn Thị Thu Huệ 17

1.3.2 Nguyễn Ngọc Tư 21

1.3.3 Đỗ Bích Thúy 27

Chương 2 TỪ SỰ ĐỔI MỚI QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI… ĐẾN NHỮNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT 30

2.1 Từ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người… 30

2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người 30

2.1.2 Hình tượng con người trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy 33

2.2 … đến những cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật 42

2.2.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và hành động 43

2.2.2 Nghệ thuật miêu tả nội tâm 47

2.2.3 Một số thủ pháp nghệ thuật khác 70

Trang 6

Chương 3 NHỮNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG TÌNH

HUỐNG VÀ KẾT CẤU TRUYỆN 75

3.1 Những cách tân trong nghệ thuật xây dựng tình huống truyện 75

3.1.1 Những cách tân trong nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay 76

3.1.2 Những cách tân nghệ thuật thể hiện qua việc xây dựng các kiểu tình huống 78 3.2 Những đổi mới trong kết cấu truyện ngắn 87

3.2.1 Các kiểu kết cấu tiêu biểu 90

3.2.2 Các thành tố bổ trợ kết cấu 102

Chương 4 NHỮNG CÁCH TÂN TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU 112

4.1 Ngôn ngữ 112

4.1.1 Những cách tân nghệ thuật trong ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 116

4.1.2 Những cách tân nghệ thuật trong ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 121

4.1.3 Những cách tân nghệ thuật trong ngôn ngữ truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 127

4.2 Giọng điệu 133

4.2.1 Giọng ngậm ngùi, xót xa, thương cảm 134

4.2.2 Giọng hài hước, châm biếm, mỉa mai 137

4.2.3 Giọng trữ tình, suy tư, chiêm nghiệm 141

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Sau năm 1986, văn học Việt Nam đã có những khởi sắc đặc biệt Không

chỉ mở rộng đề tài theo hướng tiếp cận gần gũi hơn với hiện thực đời sống sinh hoạt, đời sống văn hóa, quan điểm của các nhà văn về một số vấn đề của lịch sử Việt Nam cũng mang những sắc thái thẩm mỹ mới Cảm hứng sử thi của giai đoạn trước được thay thế bằng cảm hứng đời tư, thế sự Xu hướng ngợi ca được thay thế bằng cái nhìn phê phán hiện thực Thói quen nhìn cuộc sống ở khía cạnh lạc quan, tươi đẹp được thay bằng sự khai thác trực diện những tồn đọng của xã hội, những khát vọng của đời sống cá nhân con người Văn học giai đoạn này vì thế đa giọng điệu, đa sắc màu và gây nhiều tranh cãi hơn

Với đặc thù là một thể loại nhỏ gọn và cơ động, truyện ngắn bắt nhịp rất nhanh với những vấn đề của đời sống Truyện ngắn nhanh nhạy len lỏi vào mọi ngõ ngách của xã hội, phản chiếu mọi tâm điểm nóng bỏng của hiện thực Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét: “Đây có thể coi là một thời kỳ có nhiều truyện ngắn hay trong văn học Việt Nam, tiếp theo “vụ được mùa truyện ngắn” những năm 1960 và một vụ mùa khác, trong chiến tranh” Tuy nhiên, truyện ngắn lần này có những nét khác biệt rõ rệt “Những năm 1960 từng để lại nhiều truyện ngắn đẹp như thơ, trong veo, trữ tình Truyện ngắn thời chiến tranh thì vạm vỡ, chắc chắn Đặc điểm nổi bật lần này là cầm cái truyện ngắn trong tay có thể cảm thấy cái dung lượng của nó nặng trĩu Có những truyện ngắn chỉ mươi, mười lăm trang thôi mà sức nặng có vẻ còn hơn cả một cuốn tiểu thuyết trường thiên” [139]

Vì vậy, khi tiến hành thực hiện đề tài: Những cách tân về nghệ thuật trong

truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 đến nay (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy), chúng tôi muốn bước đầu nhận diện một số cách

tân của các tác giả nữ nói riêng, thể loại truyện ngắn nói chung, qua đó có những nhìn nhận chung về tiến trình đổi mới của văn học nước nhà

1.2 Bước vào thời kỳ đổi mới sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm

1986, các cây bút nữ ngày càng thể hiện rõ thế mạnh của mình trong lĩnh vực văn chương Bên cạnh các cây bút sáng tác từ trước 1975, các gương mặt nữ như Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thùy Mai,

Trang 8

Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy đã xuất hiện….Nhiều tác phẩm của họ vừa ra đời đã gây được sự chú ý của dư luận, tạo được dấu ấn trong đời sống

văn học như Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ), Bức thư gửi mẹ Âu Cơ (Y Ban), Kịch câm, Hoa muộn (Phan Thị Vàng Anh), Cánh đồng bất tận (Nguyễn

Ngọc Tư)…Nhiều tác giả đạt giải cao trong các cuộc thi truyện ngắn trên các báo

như báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ Quân đội,… cùng với đó là hàng loạt những

tuyển tập bước đầu định hình những phong cách khiến độc giả không thể không ghi nhận và hi vọng về tương lai văn học của những cây bút này Ở góc độ của người phụ nữ sáng tác văn học, từ quan niệm về nghề, quan niệm về thiên chức của người cầm bút, các nhà văn nữ thời kỳ này đã đem đến cho văn chương những cảm hứng

và giọng điệu mới Trong các sáng tác của các nhà văn nữ, ta luôn tìm thấy những

âm hưởng của thời đại chúng ta đang sống Họ tỏ ra áp sát hiện thực đời sống một cách trực diện và thẳng thắn khi nhìn nhận mặt trái của hiện thực Có thể nhận thấy

sự sắc sảo và sâu sắc khi khái quát và tiếp nhận đề tài thế sự đời tư với nỗi đau nhân tình thế thái bằng lối viết “dịu dàng, bén ngọt, riết róng và đồng cảm chia sẻ với những thân phận, những người sống quanh mình”[183, tr.127] Tìm hiểu những cách tân nghệ thuật của một số cây bút nữ, chúng tôi muốn khẳng định giá trị của dòng văn học “tính nữ” (chữ dùng của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng) trong sự phát triển của văn học Việt Nam đương đại

1.3 Trong nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ,

Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy là những cây bút có phong cách riêng rất độc đáo Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn nữ với chất giọng trầm tiêu biểu cho sự đổi mới của văn xuôi miền Bắc, Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ của mảnh đất phương Nam

xa xôi và Đỗ Bích Thúy là nhà văn có nhiều tác phẩm được đánh giá cao khi viết về

đề tài miền núi Mỗi nhà văn đã đóng góp cho văn học Việt Nam một tiếng nói

riêng Chính vì thế, lựa chọn đề tài: Những cách tân về nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 đến nay (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy), chúng tôi muốn bước đầu khám phá những thể nghiệm

nghệ thuật của một số tác giả nữ để từ đó bước đầu định hình được chỗ đứng của văn học Việt Nam trên tiến trình vận động để hội nhập với văn chương và rộng lớn hơn là văn hóa tiến bộ của thế giới

Trang 9

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài luận án là Tìm hiểu những cách tân về nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 đến nay (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc

Tư, Đỗ Bích Thúy), cho nên, đối tượng nghiên cứu trước hết là những cách tân nghệ

thuật của các tác giả đó (thể hiện ở các điểm tiêu biểu như: quan niệm nghệ thuật về con người và nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật xây dựng tình huống và kết cấu truyện, giọng điệu và ngôn ngữ truyện) cùng các sáng tác truyện ngắn tiêu biểu của họ Luận án chỉ khu biệt phạm vi nghiên cứu trong các truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, còn các thể loại khác như tiểu thuyết, tản văn… được nhắc đến như các tư liệu tham khảo Các tập truyện ngắn trong giới hạn của đề tài gồm các tập truyện ngắn đánh dấu sự xuất hiện của các nhà

văn nữ trên văn đàn như Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ - 1994), Ngọn đèn không tắt (Nguyễn Ngọc Tư – 2000), Sau những mùa trăng (Đỗ Bích Thúy – 2000) cùng các tập truyện tiêu biểu khác như Nào, ta cùng lãng quên, Thành phố đi vắng,

… (Nguyễn Thị Thu Huệ), Giao thừa, Ngày mai của những ngày mai, Nước chảy mây trôi, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư,… (Nguyễn Ngọc Tư), Tiếng đàn môi sau

bờ rào đá, Người đàn bà miền núi (Đỗ Bích Thúy),…

- Những cách tân nghệ thuật trên phương diện kết cấu và tình huống truyện

- Sự đổi mới về nghệ thuật trần thuật (ngôn ngữ và giọng điệu)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản như sau: Khảo sát, nghiên cứu, tổng kết và đưa ra nhận định về những cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kì 1986 đến nay (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc

Tư, Đỗ Bích Thúy) trên các phương diện: tình huống và kết cấu; sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người và sự cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật; những cách tân về mặt ngôn ngữ và giọng điệu/

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã phối hợp vận dụng các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp loại hình

Luận án tìm hiểu những cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kì 1986 đến nay để tìm ra những nét khu biệt trong sáng tác của những tác giả đó

4.2 Phương pháp hệ thống

Những cách tân nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc

Tư, Đỗ Bích Thuý trên các phương diện: quan niệm nghệ thuật, tình huống, kết cấu, nhân vật, trần thuật… cần được nhìn nhận một cách hệ thống Mỗi phương diện là một tiểu hệ thống riêng nằm trong hệ thống lớn là toàn bộ sáng tác của các tác giả

nữ trên Đồng thời, phải đặt sáng tác của các tác giả nữ ấy trong hệ thống chung của văn học Việt Nam để thấy vị trí và đóng góp riêng của các tác giả trong tiến trình đổi mới, hiện đại hoá văn học nước nhà

4.3 Phương pháp nghiên cứu văn học sử

Chúng tôi đặt các tác giả nữ vào bối cảnh lịch sử để nghiên cứu Những giá trị truyện ngắn của các tác giả nữ được đánh giá trong mối tương quan với thành tựu văn học đương thời, nét mới, nét độc đáo của tác phẩm được nhìn nhận trong thời điểm nó ra đời

4.4 Phương pháp so sánh

Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu để thấy được sự đổi mới nghệ thuật qua từng chặng đường truyện ngắn của các tác giả Đồng thời, chúng tôi tiến hành so sánh tác phẩm của các tác giả nữ đó với nhau và với các nhà văn khác

Trang 11

trong cùng thời kỳ để ghi nhận đóng góp của họ cho sự phát triển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới

4.5 Phương pháp phân tích tổng hợp

Phân tích tổng hợp là phương pháp quan trọng Thông qua đó, ta thấy được sự cảm nhận riêng của từng nhà văn về con người và cuộc sống Bên cạnh đó, mọi biểu hiện sinh động trong sáng tác cần được soi chiếu bằng nhiều góc nhìn dưới con mắt phân tích Từ đó chúng tôi tổng hợp khái quát các kết quả phân tích để đi đến kết luận minh chứng cho những luận điểm mà luận văn đưa ra

4.6 Phương pháp phân loại, thống kê

Đối với từng khía cạnh, cấp độ trong việc tìm hiểu những cách tân về nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, khi cần thiết, chúng tôi thực hiện việc khảo sát, phân loại và thống kê bằng những

số liệu cụ thể

4.7 Phương pháp tiếp cận lí thuyết thi pháp thể loại

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận lí thuyết thi pháp học của Việt Nam và thế giới, dùng thi pháp học để đánh giá văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng

5 Đóng góp của luận án

Luận án bước đầu hệ thống, phân tích và đưa ra nhận định, đánh giá về sự đổi mới, cách tân về nghệ thuật truyện ngắn trong sáng tác của một số cây bút nữ tiêu biểu thời kì đổi mới như: Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy

Từ bình diện tìm hiểu những cách tân nghệ thuật, luận án muốn tìm hiểu sâu hơn nữa về những cách tân của thể loại truyện ngắn Việt Nam nói riêng, cũng như văn học Việt Nam nói chung, thời kì sau 1986

Luận án trước hết nhằm chỉ ra những điểm chung về cách tân nghệ thuật truyện ngắn của ba tác giả này trong xu thế cách tân truyện ngắn sau 1986 Sau đó

là chỉ ra những nét riêng về cách tân nghệ thuật truyện ngắn của mỗi tác giả ấy Luận án cũng góp phần khẳng định những thành tựu, đóng góp của ba cây bút

nữ nói riêng và sáng tác của các nhà văn trong tiến trình đổi mới và hội nhập của văn học Việt Nam đương đại

Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa cung cấp phương pháp luận và kiến văn cần thiết cho việc tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy

Trang 12

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần thư mục tham khảo, nội dung chính của luận án gồm bốn chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Từ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người … đến những cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật

Chương 3: Những cách tân trong việc xây dựng tình huống và kết cấu truyện Chương 4: Những cách tân trên phương diện ngôn ngữ và giọng điệu

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu lí thuyết về truyện ngắn và xu hướng cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam thời kì 1986 đến nay

1.1.1 Lí thuyết về truyện ngắn

Truyện ngắn, một thể loại văn tự sự, thường là các câu chuyện kể bằng văn xuôi, có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu chuyện dài như tiểu thuyết Thông thường, truyện ngắn có độ dài từ vài dòng đến vài chục trang và chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất định Trong khi đó, tiểu thuyết chứa được nhiều vấn đề, phủ sóng được nhiều phương diện rộng lớn của đời sống Do đó, truyện ngắn thường hết sức hạn chế về nhân vật; thời gian và không gian trong truyện ngắn cũng không trải dài như trong tiểu thuyết Truyện ngắn có thể kể về cả cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện, hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật Đôi khi, truyện ngắn chỉ là những khoảnh khắc của cuộc sống, chẳng hạn,

Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu diễn ra trong vài tiếng Nhưng cái chính của

truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người Chính vì vậy, trong truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp

Trong Từ điển văn học do nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1984,

truyện ngắn được quan niệm là một loại “truyện”: “Truyện “thuộc loại tự sự - có hai thành phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật Thủ pháp nghệ thuật chính là kể Truyện thừa nhận vai trò rộng rãi của hư cấu và tưởng tượng” [124,tr.134] Trong

cuốn Từ điển văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, các

soạn giả đã nhấn mạnh đến một số đặc điểm mấu chốt của thể loại truyện ngắn là

“ngắn”, “được viết ra để tiếp thu một cách liền mạch, đọc một hơi không nghỉ”,

“thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sông tâm hồn con người Vì thế trong truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp [61, tr.181]

Paul Bouurget, nhà văn và là nhà phê bình người Pháp có nhận định về thể loại truyện ngắn, qua đó cũng giải thích phần nào về dung lượng khác nhau của truyện ngắn và tiểu thuyết: “Phong cách của truyện ngắn và tiểu thuyết rất khác

Trang 14

nhau Phong cách của truyện ngắn là thuộc về tình tiết Cái tình tiết mà truyện ngắn

dự định diễn tả, truyện ngắn đã tách nó ra, làm cô lập nó lại Các tình tiết mà cả dãy

đã làm nên đối tượng của tiểu thuyết, tiểu thuyết đã làm ngưng kết chúng, nối chúng lại với nhau Tiểu thuyết tiến hành thông qua cách triển khai, còn truyện ngắn thông qua sự tập trung… Truyện ngắn là độc tấu Tiểu thuyết là giao hưởng” (Wikipedia – truyện ngắn) Nguyễn Kiên quan niệm: “Tôi cho rằng truyện ngắn là một trường hợp, trường hợp đó là một quan hệ (tình huống) những khoảnh khắc trong quan hệ giữa con người và đời sống [184, tr.32] Nguyễn Công Hoan cho rằng: “Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết” [184,tr.27] Nguyên Ngọc thì cho rằng: “Truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết nói chung, vì thế không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu gò bó Truyện ngắn có nhiều vẻ, có truyện viết về cả một đời người, lại

có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua” [184, tr.27]

Từ góc độ ngôn ngữ học, công trình Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học của Nguyễn Lai khi bàn về phong cách thể loại qua đặc trưng ngôn ngữ đã lấy

các thể loại văn học, trong đó có truyện ngắn làm đối tượng khảo sát Tác giả đi sâu vào ranh giới giữa các thể loại, tìm hiểu cơ chế sáng tạo khác nhau giữa chúng gắn với chức năng và chất liệu của ngôn từ, từ đó bàn về sắc thái riêng của từng phong cách thể loại trong mối quan hệ với ngôn ngữ

Trong cuốn sách Những vấn đề của thi pháp truyện, tác giả Nguyễn Thái Hòa đã

đi sâu phân tích khái niệm “truyện” Ở đây, tác giả không đặt ra vấn đề phân loại truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết mà đặt các khái niệm này theo tên gọi chung là “truyện”

Hai cuốn sách Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí do Tạ Duy Anh chủ biên và

Sổ tay truyện ngắn do Vương Trí Nhàn sưu tầm, biên soạn đều đi tìm hiểu những

đặc điểm, đặc trưng của truyện ngắn, kĩ thuật viết truyện ngắn, để từ đó giúp độc giả có cách nhìn, cách tiếp cận khá phong phú, sinh động về truyện ngắn

Hai công trình Truyện ngắn – những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại của Bùi Việt Thắng và Truyện ngắn: lý luận tác gia và tác phẩm của Lê Huy Bắc đã bổ

sung những nghiên cứu lí luận về thể loại này Các tác giả đã đúc kết các vấn đề lí luận gắn với thực tế phát triển của lịch sử Việt Nam và khảo sát các tác phẩm truyện ngắn ở nước ngoài

Trang 15

Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ năm 2007 đã công bố công trình Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử - Thi pháp – Chân dung do ông làm chủ biên đã đưa ra một cái

nhìn toàn cảnh về thể loại truyện ngắn Việt Nam thời trung đại đến nay qua các giai đoạn phát triển, các đặc điểm thi pháp và các tác giả, tác phẩm tiêu biểu

Tựu trung lại, các công trình nghiên cứu từ trước tới nay đều gặp nhau ở một

số vấn đề sau:

Thứ nhất, cố gắng tìm hiểu để đưa ra một định nghĩa về khái niệm “truyện ngắn” Thứ hai, đưa ra những nhận xét, cách đánh giá về vai trò của truyện ngắn trong cấu trúc thể loại của nền văn học: phân biệt với thể loại tiểu thuyết, và truyện ngắn có mối liên hệ như thế nào với các thể loại khác

Thứ ba, xác định những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn

Thứ tư, phân chia truyện ngắn thành những tiểu loại cơ bản

1.1.2 Xu hướng cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay

Cách tân được coi là một vấn đề then chốt của sự phát triển Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, muốn phát triển, đi lên thì không thể không có sự cách tân Nội hàm khái niệm cách tân trong thể loại truyện ngắn nói riêng cũng mang những đặc trưng riêng Ta có thể gọi bằng những khái niệm thay thế khác như “tiền phong”,

“đổi mới”, “thử nghiệm” Đó đều là thay cái đang có bằng cái khác tiến bộ, thích hợp hơn Tuy nhiên, trong văn học, nếu "đổi mới" được thể hiện trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật thì yếu tố "cách tân" chủ yếu được thể hiện ở

mặt nghệ thuật Theo nhà nghiên cứu Robert L McLaughlin, ông sử dụng khái niệm

“cách tân” trong truyện ngắn để “chỉ loại truyện cố gắng mở rộng quan niệm của chúng ta về một số vấn đề như: truyện có thể viết như thế nào, cốt truyện có tổ chức

ra sao (hoặc có cần có cốt truyện hay không), xây dựng nhân vật như thế nào (hoặc

có cần có nhân vật hay không), ngôn ngữ có những khả năng gì, đâu là ý nghĩa của truyện [165]

Trong giai đoạn từ 1986 đến nay, sự cách tân trong thể loại truyện ngắn có thể được khái quát ở một số nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, bên cạnh yếu tố truyền thống, truyện ngắn Việt Nam đã xuất hiện nhiều yếu tố của chủ nghĩa “hậu hiện đại” “Hậu hiện đại” phản ánh khuynh hướng

và điều kiện sống của xã hội ngày nay Những đặc tính tiêu biểu có thể kể là: hỗn

Trang 16

độn, rối mù, chao đảo, đứt rời, phân mảnh, do dự, xúc động, mâu thuẫn, ít coi trọng quyền lực, coi thường sự trong sáng, không để ý đến nguyên bản, phân hóa, nhại lại, lắp ghép để sáng tạo, sao chép để tái chế, chế nhạo để soi rọi làm sáng lịch sử và hình dung hóa hiện thực Bằng cách sử dụng nhiều thể loại, nhiều kiểu tự sự và phong cách khác nhau, sử dụng trò chơi kết hợp, nhà văn tạo ra một cấu trúc lai ghép và văn bản đa thanh Khuynh hướng hiện thực với bút pháp mới, từ kết cấu trần thuật đến hình tượng, từ nhân vật đến giọng điệu Với những phối hợp “đa phức”, đa tầng và có nhiều đứt gãy về điểm nhìn, về người kể chuyện, các tác giả đã mang đến những “thế giới hiện thực” bị xáo trộn, bị phân mảng, trở nên biệt lập và không thể kết nối thành một cái nhìn toàn vẹn, duy nhất Ở đây đã nảy sinh một cuộc “đối thoại ngầm” giữa tác giả với nhân vật và bạn đọc thông qua sự “tương tác” giữa các điểm nhìn, các ngôi và hệ quả tất yếu của nó sẽ là đa dạng hóa các giọng điệu trần thuật, phá vỡ sự độc tôn của một “giọng chủ âm” trên văn bản tự sự Tất cả đều hướng đến một phương pháp đọc mới đòi hỏi sự sáng tạo của người đọc

Đó là cách đọc không thụ động, đòi hỏi người đọc chủ động suy nghĩ, sáng tạo cùng tác giả Với những cách tân ở nhiều mức độ khác nhau, truyện ngắn Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể trong nỗ lực hòa nhịp cùng dòng chảy văn học đương đại thế giới Những cách tân mạnh mẽ đó đã phá vỡ ranh giới của hàng loạt quan niệm mang tính định giá về: chủ nghĩa hiện thực, về vai trò của chủ đề tư tưởng trong tác phẩm, về tầm vóc và quy mô của các tự sự

Thứ hai, xuất hiện xu thế tiểu thuyết hóa truyện ngắn Sau 1975, đặc biệt là sau 1986, tính chất “một chủ thể”, tính chất “nhát cắt” bó hẹp của thể loại truyện ngắn đã bị phá vỡ Cuộc sống bộn bề với nhiều mảng hiện thực phức tạp đan xen lẫn nhau Nhà văn cũng không còn yên tâm với cái nhìn và sự cắt nghĩa giản đơn, một chiều Truyện ngắn đã có sự nới rộng biên độ trên nhiều phương diện Trong đó

có sự gia tăng dung lượng và mở rộng khả năng bao quát hiện thực, xoáy sâu vào những bi kịch nhân sinh, là cái nhìn đa chiều về số phận con người Đó chính là xu thế tiểu thuyết hóa truyện ngắn Ta có thể nhận thấy điều đó qua nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Mạc Can, Võ Thị Hảo, Y Ban, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Tư… Lối kết cấu truyện ngắn theo kiểu truyền thống dường như đang bị phá vỡ khi xuất hiện ngày càng nhiều các truyện ngắn lồng ghép nhiều chủ

đề, nhiều ý tưởng, nhiều khi các chủ đề đan xen với nhau, với nhiều khoảng mờ

Trang 17

không dễ nhận ra như Kiếm sắc, Giọt máu, … của Nguyễn Huy Thiệp, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh, Hồn trinh nữ của Võ Thị Hảo, Bóng đè, Vu quy của Đỗ Hoàng Diệu… Cùng với sự lồng ghép của

chủ đề là sự mở ra nhiều tuyến của cốt truyện, của hệ thống nhân vật, sự phức tạp của hệ thống tình tiết, sự đan xen nhiều giọng điệu trần thuật Có thể dễ dàng nhận thấy, các thể loại văn xuôi hiện đại, trong đó có tiểu thuyết và truyện ngắn đang mở rộng đường biên thể loại, đang thâm nhập lẫn nhau, thu hút các yếu tố tích cực của nhau, mục đích cuối cùng là phát huy tối đa khả năng khám phá thế giới hiện thực, khám phá thế giới tâm hồn đầy phức tạp, bí ẩn của con người

Tuy nhiên, xét một cách tổng thể, trong xu hướng chung của một “làn sóng mới” ít nhiều còn mang tính chất “tìm đường”, một số truyện ngắn còn mang tính chất “thử nghiệm”, chưa thực sự đạt đến độ hài hòa, nhuần nhuyễn giữa ý tưởng, ý nghĩa của tác phẩm với hình thức nghệ thuật mới lạ Thêm nữa, mặc dù các tác giả truyện ngắn thuộc “dòng cách tân” trên đều nỗ lực thay đổi truyền thống tự sự, vươn đến tính đa âm, tính phức điệu trong truyện ngắn, song, điều mà phần lớn các tác phẩm văn xuôi Việt Nam, trong đó có truyện ngắn còn thiếu chính là một nền tảng triết học sâu sắc làm chỗ dựa cho những cảm quan, suy tư mới mẻ về thế giới

và con người Bởi một tác phẩm nghệ thuật hấp dẫn thì dù ở phương trời nào cũng

sẽ có những mẫu số chung: phải có một chiều sâu tư tưởng nhân văn, cảm quan mới

mẻ về thế giới và được chứa trong một hình thức phù hợp, hấp dẫn

Nhìn chung, truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới với xu hướng cách tân thể loại đã có những bước đột phá rõ rệt cả về nội dung ý nghĩa cũng như hình thức thể hiện Trong quá trình cách tân ấy, cũng có những thử nghiệm dù là “mới” nhưng chưa đúng, chưa hay, nhưng đây có thể nói là thời kì ghi nhận sự nỗ lực, đi lên, tìm tòi không biết mệt mỏi của đội ngũ sáng tác hùng hậu

Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra được sự cách tân, đổi mới trong truyện ngắn Việt Nam thời kì sau 1975, đặc biệt là sau 1986 Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng

trong sách Văn học Việt Nam thế kỉ XX khi bàn về truyện ngắn đã nhận định: “So

với tiểu thuyết, truyện ngắn 1975-2000 đã thực sự khởi sắc, các nhà văn đã có những tìm tòi nghệ thuật làm cho thể loại “nhỏ” có sức chứa, hay nói cách khác là

có khả năng khái quát hóa nghệ thuật đời sống theo chiều sâu” [46, tr.341] Bích Thu cũng đánh giá cao hiệu quả nghệ thuật của truyện ngắn ngày này: “Chưa bao

Trang 18

giờ truyện ngắn lại phát triển phong phú về số lượng lẫn hiệu quả nghệ thuật như hôm nay”[196]

Đi sâu vào các khuynh hướng chính trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những cách tiếp cận khác nhau Căn cứ vào cảm hứng, Nguyễn Thị Bình nhận thấy văn xuôi, trong đó có truyện ngắn giai đoạn này nổi bật ba khuynh hướng: “khuynh hướng nhận thức lại hiện thực”, “khuynh hướng đạo đức thế sự”, “khuynh hướng triết luận” Nguyễn Văn Long nói đến bốn khuynh hướng, đó là: “khuynh hướng sử thi”, “khuynh hướng nhận thức lại”, “khuynh hướng thế sự, đời tư” và “khuynh hướng triết luận” Đáng chú ý trong các công trình nghiên cứu tổng quan về truyện ngắn Việt Nam đương đại là luận án tiến sĩ

Truyện ngắn Việt Nam sau 1986 – nhìn từ góc độ thể loại của tác giả Lê Thị Hương

Thủy, Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam năm

2013 Tác giả đi sâu khảo sát và phân tích các vấn đề: Truyện ngắn – quan niệm và

sự đổi mới tư duy thể loại; Các dạng thức xây dựng nhân vật và tổ chức kết cấu văn bản truyện ngắn; Ngôn ngữ và điểm nhìn trần thuật Theo tác giả luận án, truyện ngắn Việt Nam đương đại đã có sự thay đổi theo hướng ngày càng uyển chuyển của

tư duy thể loại Đây cũng có thể coi là một nhận xét có tính khái quát về sự cách tân nghệ thuật trên nhiều mặt của truyện ngắn ngày nay: “Truyện ngắn Việt Nam thời

kì đổi mới đã có những biến đổi sâu sắc trên phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức văn bản truyện ngắn”, “truyện ngắn Việt Nam đương đại cũng đã có những thay đổi đáng kể từ góc độ ngôn ngữ và phương thức tổ chức trần thuật”

[206, tr.147] Nguyễn Thị Năm Hoàng, tác giả Luận án tiến sĩ Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 – nhìn từ góc độ thể loại, bảo vệ tại trường Đại học Khoa học xã hội

và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, cũng đi sâu khảo sát và phân tích

sự đổi mới về thể loại truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở các khía cạnh: tình huống

và kết cấu truyện ngắn, nhân vật, ngôn ngữ Tự trung lại, các nhà nghiên cứu đã chỉ

ra sự vận động, đổi mới, biến chuyển một cách khái quát của thể loại truyện ngắn thời kì sau 1975, đặc biệt là sau 1986 Trong Luận án này, chúng tôi muốn nhìn nhận sự vận động, cách tân của truyện ngắn Việt Nam thời kì sau 1986 qua những trường hợp cụ thể như Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy

Trang 19

1.2 Tình hình nghiên cứu những cách tân trong truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1986

Trong lịch sử văn học Việt Nam trước 1986, đặc biệt là trước 1975, các cây bút nữ có xuất hiện nhưng không nhiều Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời kỳ mới Từ đây bắt đầu xuất hiện các cây bút nữ: Thanh Hương, Lê Minh,

Vũ Thị Thường, Ngọc Hải, Xuân Quý, Dương Thu Hương,…Đội ngũ các nhà văn

nữ tiếp tục phát triển qua thời kỳ kháng chiến chống Mỹ: Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Thị Như Trang, Dạ Ngân…Tuy nhiên, dường như tiếng nói của họ chưa thực sự lớn mạnh Những năm sau chiến tranh, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, văn học Việt Nam khởi sắc với sự xuất hiện của hàng loạt cây bút nữ Ngày càng nhiều những gương mặt nữ xuất hiện và chiếm ưu thế đã tạo nên sự mới mẻ, hấp dẫn cho văn đàn Các giải thưởng truyện ngắn liên tiếp được trao cho các cây

bút nữ là bằng chứng rõ nét nhất về điều đó Y Ban với Bức thư gửi mẹ Âu Cơ và

Chuyện một người đàn bà giành giải nhất cuộc thi năm 1990 Kết thúc cuộc thi năm

1992-1994 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Nguyễn Thị Thu Huệ đã giành giải nhất

với Hậu thiên đường và Mùa đông ấm áp Liên tiếp trong những năm 1996, 1999,

2000, 2002 các tác giả nữ đã nhận được danh hiệu cao quý nhất: Trần Thanh Hà,

Đỗ Bích Thúy, Thùy Linh…

Có thể nói, thập niên 90 của thế kỉ trước được xem là ngày hội của các cây bút

nữ Sự xuất hiện của họ đã đem đến cho văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng

“một sinh khí mới rất cần thiết để thể hiện bề sâu, bề sau của cuộc sống con người hôm nay”.[134] Sự xuất hiện ồ ạt của các cây bút nữ đã trở thành một hiện tượng, được nhà nghiên cứu Phương Lựu đánh giá là “một hiện tượng tốt đẹp, đánh dấu một phương diện phát triển của văn học thế kỷ này trên đất nước ta, và đã thu hút được sự chú ý của các nhà phê bình”, khiến ông nhận thấy: “Đã đến lúc, trên bình diện lí thuyết, phải đặt vấn đề tìm hiểu những đặc điểm của nữ văn sĩ, với tất cả mặt mạnh yếu của nó, để góp phần nhỏ thúc đẩy việc bồi dưỡng và phát triển lực lượng sáng tác của nửa phần dân tộc và nhân loại này [114] Lý Hoài Thu cũng cho rằng

“Sự xuất hiện đồng loạt các cây bút nữ ngỡ có lúc họ làm chủ văn đàn cũng tỏ ra rất

“vừa tay” với thể loại này” [ 201, tr.181]

Sau 1986, trong nền văn học đương đại Việt Nam đã xuất hiện cụm từ “nữ

khuynh” (Chữ dùng của các tác giả trong bài Chúng tôi phỏng vấn bốn cây bút nữ-

Trang 20

Tạp chí Văn nghệ quân đội 3/1993) trong văn học Có thể nói, sự xuất hiện ồ ạt của các cây bút nữ cũng như số lượng khổng lồ các tác phẩm của họ trình làng và hơn hết

là chất lượng các sản phẩm mà họ tạo ra có thể khẳng định, đây là thời đại mà văn chương của phái nữ đang chiếm ưu thế Thậm chí, một số nhà nghiên cứu đã sử dụng những cụm từ “gương mặt nữ”, “âm hưởng nữ quyền” để phác họa diện mạo văn học Việt Nam đương đại Đến bây giờ, có nhà nghiên cứu văn học đã phải thốt lên rằng:

“Đã hình thành một tỷ lệ giữa phái yếu và phái mạnh là 2/3- một tỉ lệ đáng gờm bởi nhìn vào đó sẽ thấy truyện ngắn trẻ hôm nay (và văn chương nói chung) mang gương mặt nữ” [183] có lẽ cũng là một nhận định đáng để chúng ta suy xét Vì thế, có người còn nhận xét rằng: “Văn học đang mang gương mặt nữ - ngày càng trắc ẩn và khoan dung, ngày càng tinh tế và đằm thắm” [3,tr.85] Các cây bút nữ thực sự khẳng định được tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của mình Với sự tinh tế nhạy cảm vốn có,

“dường như phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới Họ luôn gần gũi với cái lỉnh kỉnh, dở dang của đời sống.”[142] Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào đã chỉ ra đặc điểm riêng, những đóng góp riêng của các nhà văn nữ vào nền văn học đương đại của nước nhà: “Phụ nữ thường mạnh ở chỗ họ đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào trang sách, hoặc nói như Tây, họ tự ăn mình” [44] Vì thế mà: “Các cây bút nữ hôm nay mở cuộc tìm tòi trên một cái diện rất rộng và họ đạt đến hiệu quả ngay” (Ngô Thế

Oanh) Phạm Thị Thanh Phượng trong Luận án tiến sĩ Truyện ngắn các nhà văn nữ đương đại – Tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại cũng đề cao vài trò đặc biệt

của sáng tác các nhà văn nữ Luận án đã đi sâu tìm hiểu đặc trưng thể loại truyện ngắn qua một hệ thống sáng tác của các nhà văn nữ trên các phương diện: Diện mạo truyện ngắn nữ đương đại trong sự vận động của truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới; Truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật; Đặc trưng thể loại truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại Qua đó, ta thấy được diện mạo chung nhất của hệ thống sáng tác các nhà văn nữ trong tiến trình văn học thời kì sau

1986

Trên Tạp chí Văn học số 6 năm 1996 đăng tải tường thuật buổi tọa đàm Phụ

nữ và sáng tác văn chương, trong đó tập trung nhiều ý kiến của các nhà phê bình như Văn Tâm, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Phạm Xuân Nguyên, Đặng Anh Đào; các nhà văn như Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo Hầu hết các ý kiến đều đặt niềm tin vào các cây bút nữ Vương Trí Nhàn mở đầu cuộc nói chuyện bằng nhận xét về

“đặc thù” của người phụ nữ sáng tác văn chương: “Hình như do sự nhạy cảm riêng

Trang 21

của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới” Phạm Xuân Nguyên khẳng định: “Các nhà văn nữ hiện nay khá đa dạng, mỗi người có một gam riêng chứ không thuần bản năng như có người nghĩ” Văn Tâm tin ở sáng tác của họ có sự đóng góp “cái mảng khá bí ẩn là tâm hồn họ” Bên cạnh đó, cũng có ý kiến chỉ ra mặt còn hạn chế của văn chương nữ ở chỗ họ thường “không viết được cái gì khác mình”, “lặp lại mình, đơn điệu trong các kiểu của mình.[200]

Trong số các bài viết về các tác giả nữ, nổi bật là loạt bài viết của hai tác giả

Bích Thu và Bùi Việt Thắng Bích Thu qua các bài viết Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau năm 1975 qua hệ thống mô típ chủ đề, Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975, Văn xuôi của phái đẹp đã đánh giá cao sáng tác của những

nhà văn nữ trẻ Tác giả cho rằng đội ngũ sáng tác là “một lớp trẻ dồi dào bút lực”[198], và bằng tầm nhìn bao quát của một nhà phê bình, Bích Thu nhận định

“Sự xuất hiện rầm rộ của các cây bút trẻ đã làm thay đổi bộ mặt và dáng vẻ của văn xuôi hôm nay.” [199] Không chỉ quan sát sự xuất hiện của đội ngũ sáng tác nữ như một hiện tượng, Bích Thu còn có những ý kiến đánh giá về giá trị văn xuôi phái đẹp rất tinh tế: “Văn chương của phái đẹp hiện nay sắc và sâu khi khai thác đề tài thế sự đời tư với nội dung nhân tình thế thái bằng lối viết dịu dàng mà bén ngọt, riết róng

mà đồng cảm, sẻ chia với những thân phận, những con người sống quanh mình”[200] Ý kiến này thể hiện người viết tỏ ra hiểu rõ văn chương của phái đẹp

cả ở bề rộng của đề tài được phản ánh, cả ở chiều sâu của nghệ thuật được thể hiện Nếu Bích Thu viết về các tác giả nữ để thấy đóng góp của họ đối với văn học thời kì đổi mới trên phương diện tổng thể thì Bùi Việt Thắng lại dõi theo họ khách quan và cụ thể như một người trọng tài trong mỗi sân chơi Là người chứng kiến

những cuộc thi của Tạp chí Văn nghệ Quân đội trong thập kỉ 90, Bùi Việt Thắng

nhận xét về sự xuất hiện và dấu ấn của các cây bút nữ : “Họ là những gương mặt

làm sáng giá “thể loại nhỏ”[188] Trong hai bài viết Khi người ta trẻ 1 [193] và Khi người ta trẻ 2 [194], ông cũng ghi nhận sức sáng tác dồi dào, khỏe khoắn, “cách lí

giải những vấn đề muôn thuở phù hợp với nhân sinh quan của con người hiện đại” của đội ngũ sáng tác nữ Bùi Việt Thắng cũng là người tuyển chọn, viết lời giới

thiệu cho nhiều tập truyện có sự hội tụ của các cây bút nữ như Truyện ngắn bốn cây bút nữ (NXB Văn học, 2002), Mùa thu vàng rực rỡ (NXB Quân đội nhân dân, 2006), Có một thời yêu (NXB Quân đội nhân dân, 2007) Theo ông, thực tiễn văn

học, đặc biệt trong lĩnh vực truyện ngắn, những cây bút nữ đã góp phần quan trọng, làm cho văn đàn sôi nóng lên, hấp dẫn hơn nhờ vào sự đa hương sắc của tác phẩm

Trang 22

gắn liền với tên tuổi nhiều thế hệ từ Lê Minh Khuê, Trần Thùy Mai đến Nguyễn Ngọc Tư: “Dù họ viết khác nhau nhưng điểm chung dễ nhận thấy là các cây bút nữ thường vắt kiệt mình trên trang giấy, mỗi tác phẩm như một trận chiến đấu ngôn từ nhằm làm phát lộ cái đẹp” Về lĩnh vực này, ông như một người “trang điểm khéo”

để sự xuất hiện của các cây bút nữ được nhiều hơn sự mến mộ của bạn đọc

Ngoài ra còn có một số tác giả viết về các cây bút nữ như Phạm Xuân Nguyên:

“Một nét đặc biệt của mùa truyện ngắn hôm nay là sự xuất hiện đông đảo, tự tin của đội ngũ viết trẻ và nhất là các cây bút nữ (…) Trên các trang viết của họ, nỗi buồn, nỗi đau nhân thế luôn được nhìn nhận ở khía cạnh tinh tế rất phụ nữ” [142] Vũ Tuấn

Anh trong bài viết Đổi mới văn học vì sự phát triển cũng ghi nhận các cây bút nữ có

được “những dấu ấn cá nhân trong tư duy nghệ thuật và cách thể hiện”[7]

Cuối năm 2012, Viện Văn học tổ chức tọa đàm Văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại Gần 30 tham luận của tọa đàm đã đề cập và phân tích một số vấn đề lí thuyết và thực tiễn sáng tác của các cây bút nữ trong văn học đương đại, trong đó có bộ phận quan trọng là truyện ngắn Bên cạnh việc khẳng định đóng góp của các nhà văn nữ vào đời sống văn học, phân tích một số đề tài, chủ đề, những đặc sắc nghệ thuật trong sáng tác của họ, một số tham luận đã đề cập đến vấn đề “nữ quyền”, đề xuất áp dụng “lý thuyết nữ quyền” trong nghiên cứu bộ phận sáng tác này

Sáng tác của các cây bút nữ thường đi sâu vào bi kịch, những nỗi đau với sự trải nghiệm sâu sắc Các chị đã đem đến cho văn chương một diện mạo mới “đằm thắm, tinh tế và khoan dung hơn” Hiện thực cuộc sống với sự tha hóa đạo đức, những xói mòn về nhân cách được thể hiện khá rõ nét Nội tâm nhân vật được được

đào sâu khai thác với cái nhìn đa chiều, sâu sắc: Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ), Bức thư gửi mẹ Âu Cơ (Y Ban)…

Không chỉ có những khám phá mới về nội dung mà các cây bút nữ còn có những cố gắng trong tìm tòi nghệ thuật nhằm xây dựng cho mình một phong cách riêng: Y Ban với chất giọng nữ trầm trong văn chương, Võ Thị Hảo có lối viết pha màu sắc huyền thoại, Nguyễn Ngọc Tư với lối viết văn đậm màu sắc Nam Bộ, Đỗ Bích Thúy với những tác phẩm văn chương đậm tính chất vùng miền…Tất cả đã tạo nên diện mạo của truyện ngắn đương đại với những tác phẩm rất tiêu biểu của

nữ giới

Trang 23

1.3 Tình hình nghiên cứu về cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của các cây bút nữ: Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tƣ, Đỗ Bích Thúy

Trong nền văn học Việt Nam thời kỳ từ 1986 đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy là những cây bút có tên tuổi Số lượng các bài viết, những công trình nghiên cứu về các tác giả này rất nhiều Những công trình đó đã đánh giá được tài năng cũng như những đóng góp của họ trong nền văn học dân tộc

1.3.1 Nguyễn Thị Thu Huệ

Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ngày 12/8/1966 Quê quán: Xã Thạch Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Trú quán: Hà Nội Tốt nghiệp đại học tổng hợp Hà Nội, khoa Ngữ văn Chị là một trong số những tác giả nữ gặt hái được rất nhiều thành công khi tuổi đời còn khá trẻ:

- Giải thưởng truyện ngắn Hội văn học nghệ thuật Hà Nội 1986

- Giải nhì cuộc thi truyện ngắn Tác phẩm tuổi xanh Báo Tiền Phong 1993

- Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội 1994

- Tặng thưởng Hội nhà văn 1994

- Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2012

Tác phẩm: Đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ đã ra mắt bạn đọc nhiều tập truyện

ngắn được độc giả và giới phê bình đánh giá cao như: Cát đợi, Hậu thiên đường, Phù thủy, Nào ta cùng lãng quên, Thành phố đi vắng

Vừa mới xuất hiện, Nguyễn Thị Thu Huệ đã gây một tiếng vang lớn khi giành

giải nhất cuộc thi truyện ngắn lần thứ 5 (1992-1994) do Tạp chí Văn nghệ Quân đội

tổ chức với hai truyện ngắn Hậu thiên đường và Mùa đông ấm áp Không dừng lại ở

các giải thưởng, chị tiếp tục khẳng định mình bằng một loạt các sáng tác có giá trị khác Đại hội nhà văn Hà Nội nhiệm kì XII (2017-2020) diễn ra vào ngày 8-9/8/2017, nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ đã trúng cử vào Ban chấp hành và được bầu làm Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội

Nhận định về phong cách nghệ thuật, lối viết cá tính, đặc sắc không thể trộn lẫn của Nguyễn Thị Thu Huệ, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhận định xác đáng

Nhà nghên cứu Nguyễn Văn Lưu phê bình về tập truyện Cát đợi nêu ấn tượng:

“Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ có một chất gì đó vỡ ra ào ạt, khuấy đảo sôi sục cảm xúc trong người đọc.”[111] Cùng cảm nhận ấy, Đoàn Hương (1996) cũng cho rằng: “Huệ có lối viết văn như bị lên đồng, trong truyện ngắn của mình không phải

là cô kể cho chúng ta nghe mà là cô lôi chúng ta đi theo nhân vật Đó là phong cách

Trang 24

độc đáo của Nguyễn Thị Thu Huệ.[91] Lý Hoài Thu chỉ qua một số truyện dự thi

của Nguyễn Thị Thu Huệ đã rất nhạy cảm và đầy tiên đoán nhận ra trong văn của

nữ tác giả này: “những cuộc săn đuổi, tìm kiếm ý nghĩa đích thực của tình yêu dường như được đưa lên và đẩy đến tận cùng của ý đồ.” Phát hiện này thực chất có thể coi là đã chỉ ra nội dung chủ đạo trong các sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ, đồng thời cũng chỉ ra điểm mạnh nhưng đồng thời cũng là điểm yếu của Nguyễn

Thị Thu Huệ, đó là “đẩy đến tận cùng của ý đồ”.[202]

Đánh giá về đóng góp nổi bật của Nguyễn Thị Thu Huệ khi nhà văn nữ này

đạt giải nhất của cuộc thi truyện ngắn lần thứ 5 do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức, Hồ Phương trong bài viết Ngẫu hứng du ngoạn nhận giải thưởng Văn nghệ Quân đội đã bày tỏ sự thán phục: “Trong các tác giả trẻ, Thu Huệ là một cây bút sắc

sảo Đọc Huệ tôi ngạc nhiên lắm Sao còn ít tuổi mà Huệ lọc lõi thế Nó như một con mụ phù thủy lão luyện Nó đi guốc trong bụng mình, ruột gan mình có gì, hình

như nó cũng biết hết [155] Kim Dung trong Đọc Hồi ức binh nhì và Bến trần gian

có nhận định về những cách tân, sự đổi mới trong lối viết văn của Nguyễn Thị Thu Huệ: “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ luôn có hai mặt vừa bụi bặm trong tả chân, vừa trữ tình đằm thắm, văn chị cũng vừa táo bạo, vừa thanh khiết Một cái gì

đó không thuần nhất, không đơn giản, thậm chí có khi còn đối chọi nhau trong văn Nguyễn Thị Thu Huệ” [35]

Bùi Việt Thắng – tác giả của nhiều chuyên luận, bài nghiên cứu về truyện ngắn cũng đã có những nhận xét rất chí lí về truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ Ông đánh giá cao ở tác giả này ở khả năng “hấp dẫn rộng rãi” nhiều đối tượng người đọc Đó cũng là một trong những cách khiến cho truyện ngắn của Thu Huệ phù hợp với thị hiếu của đám đông Với những cách tân, thể nghiệm và nỗ lực khám phá không ngừng nghỉ, Thu Huệ đã thể hiện được sự cách tân rõ rệt trong nghệ

thuật tổ chức truyện ngắn của mình Hai bài viết tiêu biểu là Năm truyện ngắn dự thi của một cây bút nữ (1994), và Phác thảo về Thu Huệ qua Tứ tử trình làng (2002): “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ hấp dẫn rộng rãi người đọc vì giàu chất

đời…nhiều truyện ngắn hay của Nguyễn Thị Thu Huệ là nhờ người viết biết bứt lên được trên những cái gì đó cao hơn con người, đó là đời sống tâm hồn vốn không rõ ràng, rành mạch, vốn bí ẩn khó lí giải bằng lí trí Và: “Thu Huệ quan tâm đến gia đình trong xã hội hiện đại đang tồn tại và tan rã như thế nào, bởi những nguyên

nhân nào”, tình huống “tuy hẹp nhưng đặc sắc”, ngôn ngữ “có độ căng của nhịp

Trang 25

điệu” Ông còn chỉ ra câu văn của Nguyễn Thị Thu Huệ thường ngắn, cấu trúc đơn

giản, giọng điệu linh hoạt “lúc bạo liệt lúc thật thà, lúc thâm trầm, lúc triết lí, có lúc

đỏng đảnh lại có lúc dịu dàng đến bất ngờ” Nghiên cứu thế giới nghệ thuật truyện

ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, đặc biệt là khám phá những cách tân, đổi mới trong các tác phẩm của chị, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã phát hiện trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ “một sự vật vã khắc khoải canh cánh trong mỗi nhân vật, đặc biệt là nhân vật nữ[180] Điều này phù hợp với quan niệm của Nguyễn Thị Thu Huệ rằng chị luôn quan tâm đến số phận của người phụ nữ vì không chỉ họ làm nên cuộc sống, bảo vệ và phát triển cuộc sống mà vì chị hiểu họ, dù có thể chưa đầy đủ Chị muốn chia sẻ với họ niềm vui, nỗi buồn Đồng thời, ông cũng nhận thấy hạn chế trong văn Thu Huệ: “Cây bút này hơi tham, chưa dám gạt bỏ, còn muốn nói nhiều, nói hết trong truyện”

Về thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Lý Hoài Thu cũng đưa ra những nhận xét tinh tế: “…cái nhìn phẫn nộ và phản ứng quyết liệt, Thu Huệ dành cho thế giới đàn ông: từ những người loe xoe lôi những bông hoa trên bàn họp để tặng phụ nữ, đến anh chàng nhồm nhoàm ăn uống một cách thô tục sau khi cùng người tình lên thiên đường về, từ cái người đàn ông ra ngõ gặp người tình sợ vợ con biết nên cầm luôn cái xô như đi đổ rác, đến lão tuổi đã xế bóng, thích

ăn xôi sáng cho chắc bụng, vẫn thèm khát cô gái 16 tuổi trẻ trung và bòn rút của cô

từng đồng xu một…”.[202] Đây là những nhận xét rất sắc sảo về nhân vật người

đàn ông trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ Gương mặt đàn ông được Nguyễn Thị Thu Huệ nhìn nhận không chỉ đầy sự xấu xa, mà họ còn là tội đồ đối với người

phụ nữ Nguyễn Việt Hòa (2003) nhận xét về tập truyện Nào ta cùng lãng quên:

“Chất lãng mạn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ tương đối đặc biệt, nó toát

ra từ tâm hồn người đang đứng giữa ranh giới thiếu phụ - thiếu nữ”.[76]

Không chỉ có sự cách tân, mới lạ ở điểm nhìn nghệ thuật, Nguyễn Thị Thu Huệ còn có những cách tân trong nghệ thuật tổ chức cốt truyện Phạm Hoa trong bài

giới thiệu tập Cát đợi đã chỉ rõ hai kiểu xây dựng cốt truyện của Nguyễn Thị Thu

Huệ: “Một là truyện truyền thống (có chuyện), hai là truyện không có chuyện (cốt

truyện theo dòng tâm trạng)” Nguyễn Thị Thu Huệ là người rất nghiêm túc trong

lao động sáng tạo nghệ thuật Chị đã từng tâm sự rằng, truyện của chị giống như một thùng nước sôi, nó sôi lên ùng ục đến khi hết sôi là hết Vì thế, trong sáng tác,

Trang 26

chị đã cố gắng sử dụng những phương tiện nghệ thuật để diễn tả cho hết, cho sâu những tâm tư trong lòng mình

Trong Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ,

tác giả Lưu Thị Mai Hoa đã nhận thấy sự uyển chuyển trong giọng điệu của Thu Huệ như: giọng táo tợn, từng trải; giọng trữ tình, sâu lắng; giọng thâm trầm, triết lí Kèm với đó là hệ thống ngôn ngữ trần thuật cô đọng, giàu hình ảnh; ngôn ngữ nhân vật trong đối thoại chân thực và giàu sắc thái; ngôn ngữ độc thoại song hành, giãi bày, tự vấn [71] Những nhận xét này đã khái quát được đặc điểm về giọng điệu và cách sử dụng ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ

Ngoài ra, các tác giả khác cũng có những bài nghiên cứu sâu sắc đến hiện tượng

văn học này như: Những truyện ngắn hay (Lý Hoài Thu - Tạp chí Văn nghệ Quân đội 12/1993), Một nửa nhân loại qua truyện ngắn dự thi của một cây bút nữ (Dương Quỳnh Trang - Tạp chí Văn nghệ Quân đội, 6/1994), Đọc Hồi ức binh nhì và Bến trần gian (Kim Dung - Tạp chí Văn nghệ Quân đội, 11/1994), Những ngôi sao nước

mắt (Đoàn Thị Đặng Hương – Báo Văn nghệ trẻ, 25/3/1996), Thi pháp truyện ngắn

Nguyễn Thị Thu Huệ (Hồ Sỹ Vịnh - Báo Văn nghệ, 8/2002)… Tựu trung, các ý kiến

phê bình đều cho thấy, truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ được người đọc đón nhận khá nồng nhiệt Giới nghiên cứu đánh giá cao chị ở khả năng viết về những vấn đề đời thường, đó là vấn đề hạnh phúc, tình yêu, hôn nhân, gia đình trong xã hội hiện đại Bằng cái giọng “tưng tửng”, lọc lõi, văn chị khắc đậm nhiều trạng thái sống của con người: khát khao tình yêu, sự cô đơn trống rỗng, những hi vọng tột cùng và thất vọng xót xa, những cay đắng và ngọt bùi tận cùng…

Bẵng đi nhiều năm, Nguyễn Thị Thu Huệ xuất hiện trở lại với tập truyện

Thành phố đi vắng, gồm 16 truyện ngắn, xuất bản năm 2012 Tập truyện này được

nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2012 Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu tập truyện : “… nhiều truyện được viết theo lối giả tưởng, bàng bạc thật giả, dữ dội hơn và cũng gửi gắm nhiều hơn Những câu chuyện tình cảm hay bi kịch hiện đại

có thể khiến bạn đọc thích hoặc không thích, nhưng đều gây ấn tượng đặc biệt”

Mộc Nguyên trong bài viết ở báo Tia Sáng ngày 18/1/2013 cũng nhận ra một lối

viết mới, cách tiếp cận mới ở Thành phố đi vắng là “vấn đề của đô thị đương đại” Dương Thị Thùy Chi (Báo Tin Tức 12/7/2013) nhận định về một Nguyễn Thị Thu

Trang 27

Huệ: “…lạnh lùng câu chữ, xa xót tâm can Bẵng đi khoảng sáu năm, chị quay lại

với văn chương bằng một dung mạo truyện ngắn khác Lý tính và lạnh lùng hơn”,

“luôn bị ám ảnh bởi những dòng chảy trong xoay chuyển những thế hệ người Việt

theo hướng xấu đi.” Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, Thành phố đi vắng: “cũ,

đơn sơ, nhạt nhẽo, lãnh cảm, nhiều lỗi…”

Nhìn chung, qua các bài viết, Nguyễn Thị Thu Huệ được đánh giá là một cây bút có tài năng trong việc khám phá và nắm bắt hiện thực một cách nhạy bén, có giọng văn linh hoạt, uyển chuyển Những nhận xét này đã bao quát được nhiều khía cạnh trong vấn đề cách tân nghệ thuật trong sáng tác của Thu Huệ ở các mặt: nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật tổ chức cốt truyện, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu… Đồng thời, nhiều nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những mặt hạn chế, thiếu sót, những thể nghiệm mới mẻ, còn nhiều bỡ ngỡ của cây viết này

1.3.2 Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau trong một gia đình nghèo Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu nghiệp viết văn khá sớm tại làng quê và gặt hái nhiều thành công trong nghề viết của mình Chị đã lập gia đình với một thợ kim hoàn Hiện, chị cùng chồng con cư ngụ tại thành phố Cà Mau, làm phóng viên cho Tạp chí Văn nghệ bán đảo Cà Mau và Hội Văn học nghệ thuật Cà Mau

Trong đời thường, Nguyễn Ngọc Tư thích cuộc sống đơn giản, nhưng lại có một cuộc sống nội tâm khá phong phú và bí ẩn Trong văn chương, Nguyễn Ngọc

Tư thường ví truyện của mình như trái sầu riêng, nhiều người thích nhưng cũng có nhiều người lại dị ứng

Tác phẩm chính đã xuất bản:

- Ngọn đèn không tắt (Tập truyện NXB Trẻ 2000)

- Ông ngoại (Tập truyện thiếu nhi NXB Trẻ 2001)

- Giao thừa (Tập truyện trẻ 2003)

- Biển người mênh mông (Tập Truyện NXB Kim Đồng 2003)

- Nước chảy mây trôi (Tập truyện và kí NXB Văn nghệ TPHCM)

- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Tập truyện và ký NXB Văn hóa Sài

Gòn.2005)

- Cánh đồng bất tận (NXB Trẻ 2005)

Trang 28

Giải thưởng:

- Giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học lần thứ 20, tác phẩm Ngọn đèn

không tắt năm 2000

- Giải B hội nhà văn Việt Nam, tập truyện Ngọn đèn không tắt,năm 2000

- Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ, Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam Một trong mười gương mặt trẻ tiêu biểu năm 2003 do T.W đoàn thanh niên trao tặng

Cho đến nay, mặc dù đã xuất hiện trên văn đàn khá lâu, Nguyễn Ngọc Tư vẫn được coi là hiện tượng Hàng loạt những công trình nghiên cứu, những bài báo, bài viết, những lời nhận xét khen có, chê có đã khiến Nguyễn Ngọc Tư trở thành nhà văn nữ đựợc tìm kiếm nhiều nhất trên mạng Internet và trên các phương tiện thông tin đại chúng Lí do cô được tìm kiếm nhiều bởi người đọc nhận thấy ở tác phẩm của cô có những phát hiện mới lạ và rất độc đáo: “Nhiều bài báo, nhiều tiếng khen trong Nam ngoài Bắc phát hiện về Nguyễn Ngọc Tư, một hiệu ứng đọc ít thấy từ

lâu.”[188]

Khi tìm hiểu về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, đa số các ý kiến đều khẳng định: Truyện Nguyễn Ngọc Tư thể hiện cái nhìn nhân ái về con người Tác giả đã đào sâu tới cái hồn của đất và người Nam Bộ Đó là một hướng cách tân nghệ thuật không hoàn toàn mới nhưng rất độc đáo, sáng tạo và mang đậm tính nhân văn về con người và vùng đất tươi đẹp của Tổ quốc ta, vùng Tây Nam Bộ

Nhận xét về nghệ thuật truyện ngắn cũng như đánh giá về vai trò, vị trí của Nguyễn Ngọc Tư trong nền văn xuôi đương đại thời kì đổi mới, nhiều nhà nghiên cứu đã không tiếc lời khi dành cho chị những lời tán dương, khen ngợi Nhà văn Huỳnh Kim nhận xét: “Văn chương sâu sắc mà dung dị, tinh tế mà tràn đầy tính nết của người dân Nam Bộ trong khi tác giả mới hai mươi bốn tuổi Với tôi, truyện Nguyễn Ngọc Tư là những câu chuyện nhà quê Ở trong đó, ai đọc, dù không hợp

gu cũng như tìm được bóng dáng nhà quê của riêng mình”.[99] Cùng chung suy

nghĩ đó, nhà văn Chu Lai phát biểu: “Nguyễn Ngọc Tư là cây bút tiêu biểu của miền Tây Nam Bộ, một tài năng văn học hiếm có hiện nay của văn học Việt Nam.”[103] Phạm Xuân Nguyên cho rằng: “Nguyễn Ngọc Tư đã chứng tỏ bút lực trong việc “đào sâu vào hiện thực đời sống và khơi sâu vào thân phận con người….chứng tỏ Nguyễn Ngọc Tư có tài năng văn chương và có lòng thương

Trang 29

người Đúng vậy, thương người bằng những nỗi đau của con người, bằng cái nhìn thẳng vào những vùng sáng tối chồng chéo trên những khuôn mặt người và trong những cõi lòng người”.[144] Nhà văn Nguyễn Quang Sáng khi viết lời tựa cho tập

truyện ngắn Ngọn đèn không tắt nhận xét: “Ngọn đèn không tắt đã tạo nên một

không khí tự nhiên về màu sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc – mũi Cà Mau, của những con người tứ xứ, về mũi đất của rừng, của sông nước, của biển cả mà ông cha ta đã dày công khai phá… Qua ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư, những con người lam lũ, giản dị, bộc trực ấy chứa đựng bên trong cả một tâm hồn vừa nhân hậu, vừa tinh tế qua cách đối nhân xử thế [163, tr.3]

Trong cách xây dựng nhân vật, Nguyễn Ngọc Tư cũng thể hiện phong cách

nghệ thuật riêng Huỳnh Công Tín trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư – Nhà văn trẻ

Nam Bộ đánh giá: “Nhân vật trong tác phẩm của chị là những con người Nam Bộ

với những cái tên hết sức bình dị, chân chất kiểu Nam Bộ….Họ mang những tâm

tư, nguyện vọng hết sức đời thường Đó là những người sinh sống bằng những ngành nghề cũng gắn liền với quê hương sông nước Nam Bộ Đặc biệt, vùng đất và con người Nam Bộ trong sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó

là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” [177] Hoàng Thiên Nga trong Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua cánh đồng bất tận nhận xét về cuộc sống, tính

cách nhân vật: “Các nhân vật trong truyện đều đầy tính thiện, thế nhưng cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo, dốt nát, lam lũ và điều kiện sống tù túng, ngột ngạt xô đẩy người này trở thành nạn nhân của người kia… Số phận nhân vật bị đẩy tới tận cùng

bi thảm”[135]

Về tác phẩm Cánh đồng bất tận, Hữu Thỉnh trong trao đổi cùng Trung Trung

Đỉnh và Chu Lai đã nhìn nhận thấy sự hấp dẫn, điểm lôi cuốn của tác phẩm chính là

ở khả năng bứt phá lớn cũng như những cách tân nghệ thuật của tác giả trong nghệ thuật xây dựng nhân vật.: “Nguyễn Ngọc Tư đã có sự bứt phá rất ngoạn mục, tự

vượt lên chính mình và tạo nên bất ngờ thú vị cho giới nhà văn… Cánh đồng bất

tận viết về những con người Nam Bộ với tính cách đặc thù: chân thực, chất phác,

hồn nhiên và bản năng… Hai nhân vật đứa trẻ trong tác phẩm như là những nạn nhân lớn lên tự nhiên như đàn vịt, thiếu thốn sự quan tâm và những cử chỉ yêu mến

của người thân Điều đó đã lay động trái tim hàng nghìn độc giả” [197]

Trang 30

Trần Hữu Dũng là một độc giả rất mến mộ Nguyễn Ngọc Tư Ông là người đã

tự nguyện lập một trang web về chị Trên trang web đó, bạn đọc có thể tìm thấy tất

cả các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư và các bài nghiên cứu về chị Ông gọi Nguyễn Ngọc Tư là “đặc sản miền Nam” bởi từ phương ngữ, giọng điệu đến việc lựa chọn chi tiết, cốt truyện đều đậm chất Nam Bộ Theo ông: “Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư hay khóc và nhiều khi cô khuyến khích nhân vật của mình khóc… nhưng để ý, cái khóc của Nguyễn Ngọc Tư là vì yêu thương, không vì oán giận Không phải cái khóc nghẹn ngào, day dứt Đây là cái khóc ào ào như cơn mưa miền Nam, và người đọc biết (hay mong mỏi) chỉ khoảnh khắc thì mưa sẽ tạnh, nắng sẽ lên và nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư sẽ quẹt nước mắt xông vai trở lại cuộc sống

bận rộn của mình” [37] Trên diễn đàn tháng 2/2005, trong bài Nguyễn Ngọc Tư - Đặc sản miền Nam, ông đánh giá một cách tổng hợp về nghệ thuật viết truyện ngắn

của Nguyễn Ngọc Tư từ những điều giản dị của ngôn ngữ, giai điệu đến nhân vật, cấu trúc câu Đặc biệt, Trần Hữu Dũng đã chỉ ra điểm khác biệt của Nguyễn Ngọc

Tư với các nhà văn khác: “Cái mới trong văn Nguyễn Ngọc Tư chính là cái cũ, cái

lạ ở cô là tài khui mở những sinh hoạt thân thuộc trước mắt Nguyễn Ngọc Tư không “vén màn” cho người đọc thấy cái hay chưa từng có, cô không dẫn ta khám phá những ngóc ngách của nội tâm mà ta chưa từng biết Cô đưa ra một tấm gương rất trong, thật sáng Và qua đó, lạ thay, như một tiếng đàn cộng hưởng, ta khám phá cái phong phú của chính đời ta [37] Như vậy, theo quan điểm của Trần Hữu Dũng, ông cho rằng cái “mới” (nói khác đi là sự cách tân) của Nguyễn Ngọc Tư không quá xa lạ, cầu kì gì mà nằm ở chính những cái “cũ”, những lề lối sinh hoạt thân thuộc ngay trước mắt Đây là một trong những ý kiến rất xác đáng về sáng tác của

nữ nhà văn trẻ này

Càng ngày, Nguyễn Ngọc Tư càng giành được tình cảm yêu mến của độc giả bởi một giọng văn Nam Bộ chân chất và một phong cách nghệ thuật độc đáo So sánh sự cách tân mới mẻ của Nguyễn Ngọc Tư với các nhà văn đi trước, nhà văn Nguyên Ngọc thẳng thắn nhận định: “Mấy năm nay, chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh

tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế, đặc biệt Nam Bộ một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các nhà văn Nam Bộ đi trước”[139]

Trang 31

Nói đến sự cách tân về nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư không thể không nhắc đến văn phong giản dị cũng như cách sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, linh hoạt trong sáng tác của chị Nguyễn Trọng Bình trên trang web viet-studies.net đã nhận xét

về văn phong Nguyễn Ngọc Tư: “Tất cả những điều trên góp phần tạo nên giọng văn bình dị, chân chất, mộc mạc; một lối diễn đạt và hành văn trong sáng, không cầu kì

nhưng duyên dáng, đậm đà và thật đáng yêu” Báo Tuổi trẻ, số ra ngày 30/1/2005 với bài viết Im lặng thế đấy, tác giả Đỗ Hồng Ngọc đã nhận xét: “Người đọc bất ngờ trước

những kiếp người, phận người hôm nay, tại đây như trong truyện kể, và bất ngờ trước một văn bút khác lạ của người viết truyện Nguyễn Ngọc Tư đã bắt đầu chạm vào những vỉa tầng cuộc sống của những vùng đất cô sống và viết văn Dữ dội và nhân

tình, văn Tư bắt đầu là như thế”.[140]

Trong bài Hỏi chuyện nhà văn Dạ Ngân: Nguyễn Ngọc Tư, điềm đạm mà thấu đáo, nhà văn Dạ Ngân đã không tiếc lời khen ngợi khả năng vận dụng ngôn ngữ của

Nguyễn Ngọc Tư: “Cái cách tu từ của Tư là tuyệt vời Tôi thấy phương ngữ mà Ngọc Tư đưa vào truyện bao giờ cũng có sự cân nhắc cho sự đóng góp vào vốn liếng chung của ngôn ngữ quốc gia Những người bẩm sinh có tài năng lớn thì họ mới làm được cái đó chứ! Nó tự nhiên như không thôi! Thả cái chữ ra thì đúng là cái chữ đó thôi không phải cái chữ nào khác” Như vậy, theo đánh giá của nhà văn

Dạ Ngân, Nguyễn Ngọc Tư không chỉ biết trân trọng, vận dụng những giá trị văn hóa đặc trưng đã có của vùng miền, của dân tộc, chị còn chủ động sáng tạo và đóng góp một cách có ý thức những giá trị văn hóa mới, những cách dùng ngôn ngữ mới, làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc

Cũng vẫn Dạ Ngân trong bài May mà có Nguyễn Ngọc Tư đánh giá cao nghệ

thuật xây dựng nhân vật của chị, đặc biệt là về ngôn ngữ và giọng văn: “Truyện của Nguyễn Ngọc Tư là “chuyện về những cảnh ngộ, những thân phận, những mảnh đời thật Nó cho thấy tác giả có thể dài hơi về kiểu nhân vật này Tất cả được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ Nam Bộ lấp lánh và một giọng văn dung dị, đặc biệt ấm áp [137]

Tác giả Nguyễn Thị Lệ trong bài viết Mong Nguyễn Ngọc Tư vững vàng đã

thấy nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả trẻ này: “ Đọc Cánh

đồng bất tận, tôi cảm thấy trong văn chương của Nguyễn Ngọc Tư có một sự

chuyển biến rõ rệt Tôi vốn là người yêu thích những truyện ngắn của chị về miệt

vườn, về những người nông dân Nam Bộ Đến khi đọc Cánh đồng bất tận, tôi cảm

Trang 32

thấy những nhân vật của chị đã trưởng thành hơn khi được khắc họa bằng bút pháp

độc đáo và tràn đầy hiện thực như thế” Tác giả luôn mong Nguyễn Ngọc Tư vững

vàng để có thể viết tiếp những tác phẩm hay cho người nông dân và cho văn học Việt Nam

Trong bài Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận, Hoàng Thiên Nga

khen ngợi: “Bút pháp giản dị, gọn ghẽ đầy âm sắc Nam Bộ, cách chọn lọc ngôn ngữ

và cử chỉ sống động như đẽo như tạc… Không cũ mòn, không nhàm chán, mạch văn liên kết bởi nhiều chi tiết, hình ảnh thú vị, cốt truyện hình thành theo dòng suy tưởng của nhân vật xưng tôi nhẫn nhịn, lặng lẽ mà xuyên mỗi lúc một sâu, phơi mở tận đáy tâm hồn, tính cách, số phận con người.”[135]

Ở góc độ ngôn ngữ, tác giả Văn Công Hùng phần nào cũng chung cảm nhận với nhà văn Dạ Ngân khi viết: “Các câu thoại cũng thế Đầy bất ngờ và lí thú, đậm đặc bản sắc Nam Bộ Đậm đặc tới mức dẫu chưa một lần tới Nam Bộ cũng thấy rõ

nó hiện ra mồn một khi đọc văn Nguyễn Ngọc Tư Chất Nam Bộ ấy ẩn chứa trong tâm hồn những con người sống ở nơi tận cùng của Tổ quốc, phóng khoáng và nhân hậu, thẳng thắn, trung thực hết mình trong đời sống…Số phận cột họ vào mảnh đất này và sống chết với nó một cách dung dị, cương trực”[85]

Nguyễn Thị Kiều Oanh trong Luận văn Thạc sĩ Thế giới nghệ thuật truyện Nguyễn Ngọc Tư chỉ ra sự khác biệt, mới mẻ của nhà văn trong cái nhìn nghệ thuật

về con người Kèm theo đó là chất giọng Nam Bộ đặc trưng, hay chất giọng tâm tình, tưng tửng, hóm hỉnh nhưng thấm thía đã làm nên cái hay, sức lôi cuốn mạnh

mẽ không gì cưỡng lại được trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Tóm lại, đã có rất nhiều công trình, nhiều bài báo viết hoặc đề cập đến vấn đề cách tân nghệ thuật trong sáng tác truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Các ý kiến tựu trung lại đều đề cập đến những vấn đề nổi bật trong văn chương Nguyễn Ngọc Tư như cách xây dựng nhân vật, nghệ thuật tổ chức cốt truyện, đặc biệt là dấu ấn Nam

Bộ đậm nét với những con người của vùng sông nước Tây Nam Bộ bộc trực, thẳng thắn, thật thà và chí nghĩa, chí tình Cùng với đó là hệ thống phương ngữ Nam Bộ đậm nét trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư với lối hành văn giản dị, trong sáng, tự nhiên như đi từ chính đời sống thực vào trang văn đã làm nên nét duyên, phong cách nghệ thuật đặc sắc, trở thành một món “đặc sản” quý hiếm lôi cuốn cái gu và thị hiếu thẩm mĩ của người đọc thời đại mới

Trang 33

-1999 Nhiều truyện ngắn của chị đã được chuyển thể thành phim Những tác phẩm

của chị thường có đề tài về cuộc sống người dân miền núi: tập truyện ngắn Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, truyện ngắn Cô gái xinh đẹp, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, tiểu thuyết Bóng của cây sồi đã được đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành kịch bản phim Chuyện của Pao Bộ phim này đã đạt giải Cánh diều vàng 2005

cho phim truyện nhựa xuất sắc nhất

Giống như Nguyễn Ngọc Tư, ngay từ đầu, Đỗ Bích Thúy đã buộc người ta phải nhớ tới chị qua một văn phong riêng đậm chất miền núi Tác giả Phạm Ngọc

Hà đã cảm nhận: “Đọc các truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, người đọc sẽ bắt gặp một giọng văn ngọt ngào và trong trẻo Giọng văn mang dấu ấn của vùng núi phía Bắc nhưng được tổ chức đầy sáng tạo Một mặt, nó vẫn đảm bảo đặc trưng của người miền núi, một mặt nó được nâng cao, phát triển Những hình ảnh, những từ ngữ giàu chất thơ khiến cho những câu chuyện lắng sâu vào lòng người đọc [57] Cảm nhận đó còn thuyết phục hơn khi Trung Trung Đỉnh, một nhà văn có nhiều tác phẩm về đề tài miền núi đã viết: “Đỗ Bích Thúy có khả năng viết truyện

về cảnh sinh hoạt truyền thống của người miền cao một cách tài tình Không truyện nào là không kể về cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn ở và cả quang cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù tác giả không hề cố ý đưa vào chi tiết lạ Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh

phục bởi những chi tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có.[47] Như vậy, Trung

Trung Đỉnh đánh giá cao Đỗ Bích Thúy, khi viết về văn hóa vùng cao đã tạo được dấu ấn riêng không thể trộn lẫn, làm nên cái “mới”, cái “lạ” trong những tác phẩm văn xuôi viết về đề tài miền núi nói riêng cũng như trong sự vận động mạnh mẽ của văn xuôi Việt Nam đương đại thời kì đổi mới

Cái lạ mà Trung Trung Đỉnh cảm nhận thấy cũng rất gần gũi với cảm giác về

cái lạ mà nhà văn Chu Lai khi đọc văn Đỗ Bích Thúy Trong bài Cái duyên và sức gợi của hai giọng văn trẻ, nhà văn Chu Lai viết: “Đọc Thúy, người ta có cảm giác

như được ăn một món ăn lạ, được sống trong một mảnh đất lạ mà ở đó tràn ngập

Trang 34

những cái rất riêng đậm đặc chất dân gian của hương vị núi rừng …” [102] Ông đồng thời cũng chỉ ra những nhược điểm trong tập truyện, những thử nghiệm sang

mảng đề tài khác còn nhiều vụng về, gượng gạo (Sông còn chảy mãi, Phía sau kí ức)

Như vậy, những tìm tòi trong cách thể hiện của Đỗ Bích Thúy đã được nhà văn Chu Lai ghi nhận bước đầu

Viết lời giới thiệu cho tập truyện Những buổi chiều ngang qua cuộc đời,

Nguyễn Hòa khẳng định trong vài năm trở lại đây, số các cây bút trẻ viết về đề tài dân tộc miền núi không nhiều và Đỗ Bích Thúy là một người thành công trong số ít

đó Trở về với các đề tài quen thuộc, các truyện ngắn trong Những buổi chiều ngang

qua cuộc đời lại hoàn toàn mới mẻ, mang những thông điệp nhân sinh mới so với

Sau những mùa trăng

Nhà phê bình Lê Thành Nghị khẳng định sức gợi của ngòi bút Đỗ Bích Thúy

trong tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá Theo nhà phê bình, Đỗ Bích

Thúy đã làm sống lại thời gian, không gian, con người của vùng rừng núi phía Bắc:

“Những khát vọng về hạnh phúc, những tâm sự cháy bỏng về lẽ sống, ý thức về những ngày hiện tại ở một vùng đất độc đáo, đầy kỉ niệm, đã tạo ra trong ngòi bút

Đỗ Bích Thúy niềm xúc động chân thành, chảy dào dạt trên trang viết [138] Khi đọc Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Nguyễn Phương Liên nhận thấy: “Tất cả những

truyện ngắn chị đều viết về cuộc sống và con người nơi mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình Nét độc đáo, vẻ đẹp đời sống tâm hồn, chiều sâu tâm linh người dân tộc thiểu số được chị thể hiện giản dị mà sâu sắc”.[116]

Phạm Thị Lan trong Luận văn Thạc sĩ Trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại qua sáng tác của một số cây bút trẻ (Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Ngọc Tư,

Đỗ Bích Thúy), bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đánh giá cao cách “lập

ngôn” mới lạ trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy: “Không dễ dàng để lột tả cái “thèm người” của một cô giáo vùng cao chỉ qua tiếng thở dồn dập của một bầu ngực căng đầy; không đơn giản để có một chi tiết đau đớn tột độ của người vợ khi thấy mùi ngò gai còn vương lại mồm của người chồng vừa chết; không còn gì sống động hơn, khốc liệt hơn khi minh chứng tội ác man rợ của bọn nhà giàu miền núi qua lớp ghét bám trên cột đá treo người…” Trong văn chương, Đỗ Bích Thúy cũng không quá ồn ào, những câu văn của chị như những dòng chảy ký ức, mãnh liệt và bản năng

Trang 35

*Tiểu kết: Chúng tôi nhận thấy có nhiều ý kiến phê bình, nghiên cứu về

những đổi mới, những cách tân nghệ thuật trong tác phẩm truyện ngắn của các tác

giả Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy Những công trình

nghiên cứu về các tác giả trên có nhiều quan điểm khác nhau, đề cập tới một số khía cạnh của đổi mới, cách tân nghệ thuật Tuy nhiên, người viết chưa thấy công trình nào quan tâm nghiên cứu từng bước tìm tòi sáng tạo nghệ thuật truyện ngắn của các tác giả trên một cách đầy đủ và có hệ thống tính đến thời điểm hiện tại Trên cơ sở những ý kiến đã có, luận án hi vọng sẽ là công trình nghiên cứu, tìm hiểu, tổng hợp những cách tân nghệ thuật của các tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư,

Đỗ Bích Thúy một cách đầy đủ, cụ thể và chi tiết hơn Trọng tâm của luận án là phân tích, lí giải những thành tựu nghệ thuật, những điểm đặc sắc về nghệ thuật trong truyện ngắn của các tác giả nữ Qua đó, chúng tôi tìm hiểu, lí giải cơ sở xã hội của những cách tân ấy, chứng minh bằng lí luận và thực tiễn sáng tác của các nhà văn trên các phương diện: tình huống truyện và kết cấu, từ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người đến nghệ thuật xây dựng nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ

Trang 36

Chương 2

TỪ SỰ ĐỔI MỚI QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI … ĐẾN NHỮNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT 2.1 Từ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người…

2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người

“Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm, mà tâm điểm là con người” Nhận xét trên của nhà văn Nguyễn Minh Châu nói lên được sứ mệnh cao cả của văn chương là phản ánh một cách sinh động và trung thực về con người Ngược lại, người ta không thể mô tả về con người nếu như không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp nhất định, vì thế đã tạo thành chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng người trong văn học Quan niệm nghệ thuật về con người, do đó “là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật

và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật trong đó.” [170, tr.42]

Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù cơ bản và là phạm trù quan trọng nhất trong sáng tác nghiên cứu văn học Lê Ngọc Trà từng có những nhận xét và yêu cầu rất xác đáng: “Trước hết, vấn đề con người cần phải trở thành một trong những vấn đề trung tâm của văn học Tác phẩm có thể không có nhân vật người, nhưng nó phải là câu chuyện về cõi nhân sinh Nhà văn có thể viết về nhà máy, hợp tác xã, công trường, nhưng mối quan tâm chính của anh ta ở đây không phải là năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, cơ chế quản lí mà là quan hệ con người, là hạnh phúc, tình yêu, nỗi đắng cay hay sự hèn hạ của con người, là những giá trị nhân văn của cuộc sống Không nên tiếp tục mãi tình trạng quá tải của văn học do nó phải chuyên chở quá nhiều nội dung khác gây ra Trong một ý nghĩa giản

dị, văn học là buồn vui đời người, là sự chiêm nghiệm về những gì được mất, là hồi

ức về quá khứ, sự không thỏa mãn với hiện tại, là trầm tư về lẽ tồn vong của con người trong mối quan hệ với xã hội, tự nhiên và vũ trụ Đó là những chủ đề cơ bản

và lâu dài của văn học Văn học là sự thật Mà sự thật chủ yếu của văn học là sự thật

về con người.” [212, tr.62]

Quan niệm nghệ thuật về con người là vấn đề cơ bản, then chốt của tác phẩm, chịu sự chi phối bởi cá tính sáng tạo của nhà văn Khi tư duy nghệ thuật của nhà văn vận động, biến đổi cho phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kì, từng trào lưu văn học thì quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn cũng thay đổi, kéo theo sự

Trang 37

thay đổi diện mạo của cả nền văn học Chính vì thế, quan niệm về con người tạo thành nhân tố vận động của nghệ thuật, đổi mới nghệ thuật Và đây cũng là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn của tác phẩm văn học nói riêng

và thành tựu của người nghệ sĩ nói chung

Việc xác định quan niệm nghệ thuật về con người hướng người ta khám phá cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống với đối tượng Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học có những vai trò sau:

Thứ nhất, quan niệm nghệ thuật về con người chính là dấu hiệu chủ yếu để nhận ra sự vận động, đổi mới của một nền nghệ thuật Nhiều nghệ sĩ cùng có chung quan điểm là: Một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời với một con người mới, với cách hiểu mới về con người, hoặc bằng việc suy nghĩ lại các khám phá nghệ thuật của những người đi trước Như vậy, việc đổi mới cách giải thích và cảm nhận con người có tác dụng làm cho nền văn học thay đổi căn bản Thực tế văn học cho thấy, những tác giả văn học nổi tiếng thế giới như Sechxpia, Raxin hầu như cũng chẳng sáng tạo ra cốt truyện hay nhân vật nào mới Cốt truyện và nhân vật của họ đều vay mượn trong truyền thuyết, lịch sử hoặc huyền thoại, nhưng cách giải thích

và cảm nhận của họ là mới, tạo thành tiếng nói nghệ thuật mới

Thứ hai, quan niệm nghệ thuật về con người cũng là tiêu chí tối ưu để nhận diện, so sánh các tác giả, tác phẩm và những hiện tượng văn học lớn

Thứ ba, quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của văn học Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó, càng khám phá nhiều quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của

họ, càng đánh giá đúng về thành tựu của họ

Văn học giai đoạn cách mạng và kháng chiến kéo dài suốt 30 năm 1975) đã tạo nên một mẫu người phổ biển trong cuộc sống và trong văn chương phù hợp với yêu cầu lịch sử của chiến thắng Không phải các nhà cầm bút không nhận diện được tính toàn diện trong bản chất của con người, tính đa dạng và phức tạp của quan hệ con người Nhưng để tồn tại và để chiến thắng, một số mặt trong bản chất

(1945-và quan hệ ấy đã nổi trội hẳn lên, chủ yếu là con người hiện thực, con người hành động, con người xã hội, con người giai cấp, con người cộng đồng và con người phi

Trang 38

thường Muốn vượt qua được những khoảnh khắc khắc nghiệt của chiến tranh, con

người cần sống một cách thực tế, không quá suy tư và đa cảm, giản ước mọi ham muốn, không được nghĩ nhiều tới lợi ích, nguyện vọng riêng và cần nhất là huy động mọi phẩm chất cao đẹp tiềm ẩn trong bản thân mình

Tuy nhiên, từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, tình hình toàn cục đã hoàn toàn đổi khác, cuộc sống đã mở ra những triển vọng cao hơn cùng những đòi hỏi lớn hơn Để đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ mới của công chúng, văn chương cần trở về với đặc trưng chung vốn có của mình Quan niệm nghệ thuật về con người từ đó cũng có những sự thay đổi nhất định Con người trong văn học thời chiến được nhận thức, khám phá chủ yếu ở góc độ chính trị, tư tưởng, trong quan hệ ta – địch Niềm vui, nỗi buồn và suy nghĩ của con người hòa chung trong niềm vui, nỗi lo của dân tộc, giai cấp Ngòi bút của nhà văn thường tập trung ca ngợi chiến công của cá nhân, tập thể trong chiến đấu và sản xuất, qua đó khẳng định tầm vóc lịch sử của con người, quốc gia, dân tộc Hình tượng nhân vật trung tâm trong giai đoạn này là người chiến sĩ, những người xả thân vì lí tưởng, gắn bó hết mình với sự nghiệp cách mạng, với quê hương đất nước, vì nước quên thân, vì dân phục vụ Khi chiến tranh kết thúc, bao khó khăn, thách thức được đặt ra trong đời sống con người Sự phức tạp, bộn bề của cuộc sống thời hậu chiến diễn ra theo nhiều chiều, nhiều hướng Bước vào giai đoạn 1986 đến nay, quan niệm về con người trong văn chương đã thực sự thay đổi: “Đặc điểm nổi bật nhất là con người đang được nhìn nhận, xem xét, lí giải theo nhiều hướng, nhiều chiều [132,Tr.65] Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long cũng nhận xét một cách tổng quát xu hướng dân chủ của văn học gần đây trong cách nhìn và khám phá con người: “Con người trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế, trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: con người với xã hội, con người với lịch sử, con người của gia đình, gia tộc, con người với phong tục, với thiên nhiên, với những người khác và với chính mình…Con người cũng được văn học khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện và nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát [109, Tr54]

Từ thực tế đó đòi hỏi nhà văn phải có những tiếng nói thể hiện nhu cầu phong phú, đa dạng, phức tạp trong đời sống tinh thần của con người, từ tâm lí, tình cảm, đời sống riêng tư của từng cá nhân đến khát vọng vươn tới xu hướng phát triển của xã

Trang 39

hội Việt Nam Sau 1986, con người được nhìn nhận và soi chiếu dưới nhiều góc độ,

đó là con người có nhân cách cao đẹp, mang đậm những phẩm chất của tâm hồn Việt,

đó là những con người cá nhân gắn với cảm hứng bi kịch, là con người trước nguy cơ tha hóa, con người trong chiều sâu tự nhận thức, con người đa nhân cách, con người được khai thác ở bản năng tính dục… Như vậy, trong truyện ngắn Việt Nam sau

1986, con người không chỉ được mổ xẻ ở vấn đề đạo đức, nhân cách trong mối quan

hệ với sự kiện lịch sử mà còn được nhìn dưới nhiều góc độ, cả ở con người tự nhiên, con người xã hội, con người tâm linh Qua mỗi đề tài, chủ đề về con người, nhà văn

đã phát huy cái đa diện, đa tầng, vừa gai góc trần trụi, vừa thẳng thắn chân thành, vừa băn khoăn suy tư, vừa hoài nghi tự vấn, vừa lo lắng hoang mang trước “phần nhân tính dư thừa chưa được thể hiện” (M.Bakhtin) của con người

2.1.2 Hình tượng con người trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy

Nằm trong mạch vận động và đổi mới của quan niệm nghệ thuật về con người của văn học thời kì sau 1986, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy cũng có những quan niệm nghệ thuật về con người rất đa dạng, phong phú Nó cho thấy sự tinh nhạy trong việc nắm bắt và phản ánh các vấn đề của đời sống xã hội vào trong văn học, đồng thời cũng thể hiện khả năng quan sát, chiều sâu tư duy nghệ thuật của các nhà văn nữ Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ đưa ra một số hình tượng về con người, theo chúng tôi là có tính chất nổi bật nhất để khảo sát, qua đó thấy rõ tính đổi mới tư duy nghệ thuật của các nhà văn về con người

3.1.2.1 Con người có nhân cách cao đẹp

Trong sáng tác của các tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy xuất hiện khá nhiều hình ảnh những con người có nhân cách cao đẹp

Trong tác phẩm Nước chảy mây trôi, Nguyễn Ngọc Tư đã để cho nhân vật của mình

thể hiện những phẩm chất hết sức tốt đẹp Thông qua lời kể của Diệp, chúng ta hiểu hơn về những nét đẹp cao cả, sự hi sinh thầm lặng và vị tha của mỗi con người sẽ làm cho thế giới này này càng thân ái hơn Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Thị Thu Huệ hay nói về những bất hạnh người phụ nữ Nói về sự đau khổ, mất mát của

họ, các nhà văn nữ không nhằm mục đích thể hiện sự bi quan, bế tắc của họ trước cuộc sống hiện đại đầy rẫy những phức tạp mà nhấn mạnh sức chịu đựng bền bỉ, lòng bao dung độ lượng, sự hi sinh không đền đáp của người phụ nữ Lòng bao dung ấy được thể hiện ở hình ảnh người đàn bà đã âm thầm hi sinh, nuôi nấng,

Trang 40

chăm nom người đàn bà và đứa con riêng của chồng, là sự hi sinh không cần đáp đền Tình yêu có muôn hình vạn trạng, muôn màu muôn vẻ, nhà văn Thu Huệ đã bộc lộ tình yêu ở trạng thái trọn vẹn dâng hiến mà không cần đáp đền Đó là sự cao thượng của tình yêu chân chính Những cô gái trong tác phẩm của chị đã tìm cho mình một tình yêu chân chính, dù có mãi cách xa, họ cũng vẫn đặt tình yêu ở vị trí thiêng liêng, thờ phụng bởi tình yêu đó giúp họ vững tin khi bước trên đường đời:

“Người đàn ông đã có vợ thường tìm trong tình yêu mới là tinh thần chứ không phải

là sự cuồng si của thể xác Tôi sống và hiểu rằng, chẳng bao giờ tôi gặp lại người đàn ông thay thế được anh trong tâm linh…” [84], “Giờ này, anh đang ở nhà với mọi sự cố định mà tôi không bắt anh phải day dứt bởi tôi là người đến chậm, đêm nay, tôi sẽ sửa lại ban thờ, một ban thờ không có bản liên khúc đánh số, thờ

anh…[84]

Giống như Nguyễn Thị Thu Huệ, con người có nhân cách cao đẹp trong tác phẩm của Đỗ Bích Thúy luôn gắn liền với hình ảnh của những người mẹ, người chị, những người phụ nữ nơi vùng cao Dường như cây bút này luôn dành những gì ưu

ái nhất, trân trọng nhất cho những người phụ nữ như thế, bởi đối với chị họ luôn là biểu tượng của cái đẹp thuần hậu, nhuần nhụy và chất phác, bao dung Lúc nào người phụ nữ vùng cao cũng hiện lên rất cao cả dù họ có bị đẩy vào bất kỳ hoàn cảnh, tình huống nghiệt ngã nào Họ là những người mẹ âm thầm nén chịu đau

thương cả một đời để dồn tình thương cho những đứa con bé bỏng Tiếng đàn môi sau bờ rào đá là câu chuyện xúc động về tình mẫu tử thiêng liêng đó Mẹ già là

người phụ nữ có số phận bất hạnh, lấy chồng, không có con, mẹ chấp nhận cho người vợ hai của chồng ở trong nhà mình, dù phải chịu biết bao cay đắng, xót xa Chi tiết hết con May đến thằng Trài thay nhau nhai đến bật máu đôi vú teo tóp không một giọt sữa nào của mẹ già đã nói lên tất cả tình yêu của bà dành cho chúng

Rõ ràng, đức bao dung, vị tha và lòng nhân hậu của mẹ già đã vượt qua được những day dứt ghen tuông thường nhật để nhân vật tỏa sáng trên trang viết Trong tác phẩm của Đỗ Bích Thúy, hình ảnh những người phụ nữ hiện lên với đức hi sinh và

chan chứa lòng bao dung, vị tha Trong Gió không ngừng thổi, Đỗ Bích Thúy đã tôn

vinh ca ngợi hình ảnh người phụ nữ vùng cao thuần hậu thông qua hình ảnh bà Kía Trang văn của Đỗ Bích Thúy như dừng lại, lắng sâu bên những người đàn bà đôn hậu, thủy chung này: Một cô Mai chấp nhận cuộc sống vợ chồng không như mong muốn mà trong lòng không hề nảy sinh những hờn giận, trách móc hay suy nghĩ ăn

Ngày đăng: 27/12/2018, 10:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alain Gheerbrant, Jean Chevavlier (2000), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng – Trường Viết văn Nguyễn Du, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Alain Gheerbrant, Jean Chevavlier
Nhà XB: NXB Đà Nẵng – Trường Viết văn Nguyễn Du
Năm: 2000
2. Tạ Duy Anh (2000), Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2000
3. Phan Thị Vàng Anh (1995), Khi người ta trẻ, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi người ta trẻ
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1995
4. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại – Nhận định và thẩm định, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại – Nhận định và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2001
5. Điệp Anh (2001), “Gặp hai nữ thủ khoa truyện ngắn trẻ”, Tạp chí Văn nghệ trẻ (10), tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gặp hai nữ thủ khoa truyện ngắn trẻ”, Tạp chí" Văn nghệ trẻ
Tác giả: Điệp Anh
Năm: 2001
6. Kim Anh (2004), “Hỏi chuyện nhà văn Dạ Ngân: Nguyễn Ngọc Tư – Điềm đạm mà thấu đáo”, Tạp chí Văn nghệ trẻ (15), tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi chuyện nhà văn Dạ Ngân: Nguyễn Ngọc Tư – Điềm đạm mà thấu đáo”, Tạp chí" Văn nghệ trẻ
Tác giả: Kim Anh
Năm: 2004
7. Vũ Tuấn Anh, “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí Văn học (4), tr.14-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí" Văn học
8. Lại Nguyên Ân (2004) 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
9. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, NXB Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1984
10. Nguyễn Duy Bắc (2006), Cảm nhận văn hóa và văn học trong hành trình đổi mới, NXB Văn hóa dân tộc – Hội VHNT Lạng Sơn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm nhận văn hóa và văn học trong hành trình đổi mới
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc – Hội VHNT Lạng Sơn
Năm: 2006
11. Nguyễn Duy Bắc (1998), Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1945-1975), NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1945-1975)
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1998
12. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học (9), tr.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
13. Lê Huy Bắc (2005), Truyện ngắn: Lí luận tác giả và tác phẩm. Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn: Lí luận tác giả và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
14. Vũ Bằng, (2003), Vũ Bằng – Thương nhớ mười hai, mê chữ, Món ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Bằng – Thương nhớ mười hai, mê chữ, Món ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2003
15. Bakhtinne (1990), Nghệ thuật như là thủ pháp, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ghệ thuật như là thủ pháp
Tác giả: Bakhtinne
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1990
16. Bakhtinne M(1998), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtinne M
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1998
17. Bakhtin (2006), “Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức sáng tạo nghệ thuật ngôn từ”, Phạm Vĩnh Cư dịch, Tạp chí Văn học nước ngoài (1), tr.25-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức sáng tạo nghệ thuật ngôn từ”, Phạm Vĩnh Cư dịch, "Tạp chí Văn học nước ngoài
Tác giả: Bakhtin
Năm: 2006
18. Roland Barthes (1997), Độ không của lối viết, Nguyên Ngọc dịch, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ không của lối viết
Tác giả: Roland Barthes
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1997
19. Phan Quý Bích (2005), “Về sự đổi mới trong sáng tác. Kì I: Từ sự phản ứng của công chúng”, Báo Văn nghệ trẻ (50), tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự đổi mới trong sáng tác. Kì I: Từ sự phản ứng của công chúng”, Báo" Văn nghệ trẻ
Tác giả: Phan Quý Bích
Năm: 2005
238. Neuage T(1997), Influence of the World Wide Web on literature, Mastes thesis, University of South Australia, http://neuage.org ngày 18/10/2010.Tiếng Pháp Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w