1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BẢN CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA KINH TẾ HỌC

11 474 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bản chất và phương pháp của kinh tế học
Tác giả Quang Hung
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Ghi chú bài giảng
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 129,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẢN CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA KINH TẾ HỌC

Trang 1

Quang Hung 1 ND: Hoàng Phương

GHI CHÚ BÀI GIẢNG 1 BẢN CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA KINH TẾ HỌC

1 KINH TẾ HỌC LÀ GÌ?

Kinh tế học nghiên cứu việc sử dụng có hiệu quả nguồn lực sản xuất có giới hạn để sản xuất hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu vật chất

Tại sao chúng ta nghiên cứu kinh tế học? Có một số lý do sau đây:

• Hiểu biết kinh tế học là rất cần thiết để hiểu rõ các sự kiện kinh tế có tác động đến tất cả chúng ta Nó cung cấp kiến thức quý báu liên quan đến môi trường xã hội của chúng ta Chẳng hạn, nó giúp chúng ta giải thích một số vấn đề như: Chính sách thuế của chính phủ có những tác động gì? Những tác động của lạm phát là gì?

• Giúp những người làm công việc kinh doanh hiểu rõ hơn môi trường kinh tế mà họ phải cạnh tranh Thêm vào đó, nó giúp họ điều hành công việc kinh doanh của mình tốt hơn Trong thực tế, nhiều nhà kinh tế học được các công ty lớn tuyển dụng để thu thập thông tin để từ đó họ có thể đưa ra các quyết định kinh doanh hiệu quả hơn

Kinh tế học được chia thành hai phần: Kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô

• Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế một cách tổng thể Nó nghiên cứu Thu nhập quốc dân gộp (GNI), Tổng Sản phẩm Quốc nội (GDP), Mức giá chung (hệ số giảm phát GDP),… Nó cố gắng giải thích những nguyên nhân gây ra thất nghiệp, lạm phát, thâm hụt cán cân thanh toán để thực hiện các chính sách kinh tế

• Kinh tế vi mô nghiên cứu hành vi kinh tế của từng đơn vị ra quyết định khác nhau như người tiêu dùng, doanh nghiệp kinh doanh, và những người sở hữu nguồn lực trong cơ chế tự do làm ăn Nó cố gắng giải thích những nguyên nhân biến động giá của một mặt hàng hoặc một nhân tố sản nhất nhất định

Bài tập:

Hãy cho biết những câu sau đây thuộc “kinh tế vi mô” hay “kinh tế vĩ mô”

• Giá gạo tăng sẽ làm cho nông dân Việt Nam trồng nhiều gạo hơn

• Lãi suất giảm sẽ khuyến khích nhiều doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào các nhà máy mới?

Trang 2

• Khi công ty Thành Công thuê mướn nhiều công nhân hơn thì sản lượng của mỗi một công nhân tăng thêm sẽ thấp hơn so với sản lượng của những công nhân trước đó

• Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ bắt đầu sử dụng các hoạt động thị trường mở vào năm 1997 để kiểm soát nền kinh tế

2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA KINH TẾ HỌC

Khi phân tích các vấn đề của nền kinh tế, các nhà kinh tế học có thể sử dụng

phương pháp quy nạp hoặc phương pháp diễn dịch Đây là hai hình thức lô-gích

giúp hình thành nên chân lý Diễn dịch đi từ cái chung đến cái riêng trong khi quy nạp đi từ cái riêng đến cái chung

Với phương pháp quy nạp, các nhà kinh tế học thu thập các dữ liệu cụ thể, sắp xếp một cách có hệ thống và tổng hợp các nguyên tắc hay lý thuyết Phương pháp quy nạp bao gồm ba giai đoạn

a) Những quan sát thực tế thông qua việc thu thập các số liệu chi tiết Chẳng hạn, quan sát mối quan hệ giữa thu nhập hộ gia đình và tiêu dùng của họ b) Hình thành nên những Giả thuyết: Một giả thuyết mô tả mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến hiện tượng Chẳng hạn, tiêu dùng của hộ gia đình phụ thuộc vào thu nhập hiện tại của họ

c) Kiểm nghiệm các Giả thuyết bằng cách sử dụng phương pháp kinh tế lượng

Với phương pháp diễn dịch, các nhà kinh tế học có thể dựa vào kiến thức thông thường hoặc trực giác của mình để đưa ra một nguyên tắc có tính gợi ý và chưa được kiểm chứng gọi là giả thuyết Giả thuyết này phải được kiểm nghiệm bằng các xem xét một cách có hệ thống các dữ liệu có liên quan Phương pháp diễn dịch bao gồm bốn giai đoạn:

a) Có ý tưởng rõ ràng đối với vấn đề đang xem xét

b) Định nghĩa các Thuật ngữ được sử dụng trong phân tích và đưa ra các giả định rõ ràng

c) Hình thành các giả thuyết

d) Kiểm nghiệm các giả thuyết

Ở cấp độ chính sách, kinh tế học được chia thành kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc

Kinh tế học thực chứng giải thích thực tế, có nghĩa là, nó mô tả các lý thuyết và

luật lệ để giải thích hiện tượng kinh tế quan sát được Nó tránh đưa ra những đánh

giá chủ quan Trái lại, kinh tế học chuẩn tắc nghiên cứu đánh giá chủ quan của một

người nào đó về việc cần phải làm gì Kinh tế học chuẩn tắc phát huy vai trò ở cấp độ kinh tế học chính sách Ví dụ:

Trang 3

Quang Hung 3 ND: Hoàng Phương

• Lời phát biểu thực chứng: Cắt giảm lương sẽ làm giảm số người sẵn sàng làm việc

• Lời phát biểu chuẩn tắc: ‘Chính phủ Việt Nam cần phải tăng chi tiêu nhiều hơn để phục hồi tổng cầu’

Bài tập:

Hãy xác định rõ những câu sau đây là “Kinh tế học thực chứng” hay “Kinh tế học chuẩn tắc”

• ’Tỉ lệ lạm phát/năm trong năm nay là 6%’

• Chính phủ cần giảm tỉ lệ ngân sách chi cho y tế

• Mức thu nhập bình quân/ người ở Thái Lan cao hơn ở Việt Nam

• Bác sĩ ở các nước cần cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho người trẻ tuổi

4 NHỮNG CÁI BẪY KHI NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỌC

Có một số cái bẫy khi nghiên cứu kinh tế học mà những người mới bắt đầu học thường gặp phải:

• Thành kiến: Các nhà kinh tế học thường lồng một số thành kiến vào trong môn học này Do vậy, chúng ta phải sẵn sàng loại bỏ những thành kiến không được hỗ trợ bằng các dữ kiện

• Những khó khăn về mặt thuật ngữ: Trong kinh tế học, đôi khi các thuật ngữ có chứa yếu tố tình cảm trong đó

• Sai lầm do tổng gộp (fallacy of composition) cho thấy rằng không phải bất kỳ cái gì đúng với cá nhân cũng đều đúng với toàn thể Chẳng hạn, tiết kiệm là điều tốt đối với cá nhân nhưng không tốt xét trên bình diện cả nền kinh tế

• Khó khăn trong việc thiết lập nên mối quan hệ nhân – quả rõ ràng Trong kinh tế học, rất dễ lẫn lộn giữa mối tương quan với mối quan hệ nhân quả Tương quan cho thấy hai tập hợp dữ liệu có liên quan đến nhau Chẳng hạn, chúng ta có thể thấy rằng khi X tăng thì Y cũng tăng nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa là X là nguyên nhân làm cho Y tăng

5 QUAN ĐIỂM KINH TẾ HỌC

Các nhà kinh tế học cho rằng các cá nhân và định chế làm cho các quyết định hợp

lý dựa vào chi phí biên và lợi ích biên

• Những quyết định hợp lý là những quyết định do cá nhân đưa ra để đạt được sự thỏa mãn cao nhất hoặc mục tiêu mong muốn

• chi phí biên có nghĩa là chi phí tăng thêm

• lợi ích biên có nghĩa là lợi ích tăng thêm

Bởi vì sự khan hiếm nên bất kỳ lựa chọn nào cũng bao gồm cả lợi ích biên và chi phí biên Nếu lợi ích biên lớn hơn chi phí biên thì sự lựa chọn đó là hợp lý

Trang 4

Bài tập:

1 Sử dụng phân tích biên tế để giải thích tại sao bạn đi học thay vì đi xem phim

2 Nếu một doanh nghiệp có chi phí và lợi ích sau đây thì nó cần xây dựng bao nhiêu nhà máy?

6 CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH KINH TẾ

Các nhà kinh tế học áp dụng cả phương pháp diễn dịch và quy nạp để thiết lập mối quan hệ giữa các biến kinh tế Cho dù áp dụng phương pháp nào đi nữa thì các nhà kinh tế học cũng phải sử dụng một số công cụ nhất định Trong phần này, chúng ta sẽ giải thích một cách đơn giản các khác niệm về mối quan hệ chức năng, kỹ thuật đồ thị Chúng là những công cụ quan trọng trong phân tích kinh tế

• Các mối quan hệ chức năng: Để hình thành các giả thuyết kinh tế, việc sử dụng

mối quan hệ chức năng là một công cụ quan trọng trong phân tích kinh tế Các mối quan hệ chức năng cho thấy một biến phụ thuộc vào nhiều biến khác Chẳng hạn, lượng cầu của một loại hàng hóa phụ thuộc vào giá cả của nó, thu nhập, sở thích, và giá liên quan (related price) là một quan hệ chức năng, trong đó giá cả, thu nhập, sở thích và giá liên quan là các biến độc lập và lượng cầu là biến phụ thuộc

• Các đồ thị: Đồ thị là phương pháp đơn giản để thể hiện mối quan hệ chức năng

giữa các biến số Tuy nhiên, việc sử dụng đồ thị sẽ dễ dàng hơn khi có liên

quan đến hai biến và các biến khác giữ nguyên không đổi (ceteris paribus)

Chẳng hạn,

QD =10 - 2P

Đ ư øơ n g c a àu

0 2 4 6

L ư ơ ïn g c a àu

Trang 5

Quang Hung 5 ND: Hoàng Phương

VẦN ĐỀ KINH TẾ

1 VẤN ĐỀ KINH TẾ

Kinh tế học xoay quanh hai điều căn bản Trước hết, nhu cầu vật chất của con người là không giới hạn Thứ hai, nguồn lực kinh tế khan hiếm

• Nhu cầu vật chất là mong muốn của người tiêu dùng để có được và sử dụng các

loại hàng hóa (nhà ở, máy vi tính, xe hơi) và dịch vụ khác nhau (cắt tóc, tư vấn pháp lý, y tế, giáo dục), chúng cho họ sự (độ) thỏa dụng Sự thỏa dụng là một thuật ngữ kinh tế để chỉ sự hạnh phúc, vui sướng và thỏa mãn Nhu cầu vật chất là không có giới hạn

Nguồn lực kinh tế có nghĩa là tất cả các nguồn lực được tạo ra, tự nhiên và con

người tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ Chúng có thể được phân thành đất đai, vốn, lao động và khả năng của doanh nhân

• Đất là một nguồn lực tự nhiên, tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa và

dịch vụ, chẳng hạn như sông, rừng, đất nông nghiệp, khí hậu và khoáng sản Chủ đất nhận được thu nhập từ tiền cho thuê đất khi đất được sử dụng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ

• Vốn là nguồn lực do con người tạo ra và bao gồm máy móc, thiết bị, nhà máy,

công cụ và hàng tồn kho được sử dụng trong quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ Chủ sở hữu vốn nhận được thu nhập từ lãi

• Lao động nói đến tất cả những nỗ lực của con người, cả thể chất lẫn tinh thần,

có thể được sử dụng để sản xuất những hàng hóa mong muốn Lao động nhận được lương

• Khả năng của doanh nhân là nguồn lực con người, kết hợp các nguồn lực khác

để sản xuất ra một sản phẩm Doanh nhân là người hình thành nên doanh nghiệp; thuê mướn lao động và sản xuất hàng hóa và dịch vụ Thu nhập của doanh nhân là lợi nhuận thông thường

Bởi vì các nguồn lực kinh tế nhìn chung bị hạn chế về cung nên lượng hàng hóa và dịch vụ mà bất kỳ xã hội nào muốn sản xuất cũng vì thế bị hạn chế Có nghĩa là, xã hội không thể sản xuất tất cả hàng hóa và dịch vụ mình mong muốn, nhưng xã hội phải lựa chọn hàng hóa gì cần phải sản xuất và cần phải hy sinh cái gì Do vậy, mỗi xã hội phải đối mặt với tình trạng khan hiếm

• Sự khan hiếm có nghĩa là các nguồn lực sẵn có không đủ để cung cấp cho tất cả

mọi nhu cầu của xã hội Đừng lẫn lộn sự khan hiếm với sự nghèo khổ bởi vì

thậm chí các nước giàu cũng muốn có nhiều hơn

Trang 6

Nếu các nguồn lực khan hiếm thì chúng ta không thể thỏa mãn tất cả các nhu cầu vật chất của xã hội Điều tốt nhất là sử dụng những nguồn lực hạn chế này để sản xuất ra lượng tối đa hàng hóa và dịch vụ mong muốn Để đạt được điều này, phải giải phóng toàn bộ lao động và sản xuất

• Toàn dụng lao động xảy ra khi tất cả các nguồn lực sẵn có được sử dụng

Toàn dụng sản xuất có nghĩa là sản xuất ‘những hàng hóa đúng’ theo cách tốt

nhất Điều này hàm ý rằng hai loại hiệu quả – hiệu quả phân bổ và hiệu quả

sản xuất - đều đạt được

• Hiệu quả phân bổ xảy ra khi tất cả các nguồn lực sẵn có đều dành cho kết hợp những hàng hóa mà xã hội mong muốn nhất

• Hiệu quả sản xuất xảy ra khi hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bằng cách sử dụng các phương pháp sản xuất với chi phí thấp nhất

Bởi vì nguồn lực khan hiếm nên thậm chí một nền kinh tế toàn dụng lao động và

toàn dụng sản xuất cũng không thể sản xuất ra một sản lượng vô hạn hàng hóa và

dịch vụ Do vậy cần phải lựa chọn hàng hóa phải sản xuất và hàng hóa nào phải

hy sinh Chúng ta có thể nói rằng sự khan hiếm là nguồn gốc của mọi lựa chọn

Do vậy, nền kinh tế phải có sự đánh đổi Có nghĩa là, nền kinh tế phải hy sinh

một số hàng hóa này để có được nhiều hơn những hàng hóa khác Giá trị của việc

sử dụng hàng hóa thay thế tốt nhất bị bỏ qua chính là chi phí cơ hội của lựa chọn này

Bài tập:

1 Một người chủ doanh nghiệp cần thuê mướn một số người quản lý Giả định rằng mỗi người quản lý chỉ có thời gian để làm một nhiệm vụ mà thôi Nhiệm vụ A trị giá $100 đối với người chủ, nhiệm vụ B trị giá $70 và nhiệm vụ C là

$50 Người chủ thuê hai người quản lý, một người làm nhiệm vụ A và người kia làm nhiệm vụ B Chi phí cơ hội của việc làm nhiệm vụ B? và chi phí cơ hội của việc làm nhiệm vụ A?

2 Các cuộc nghiên cứu cho thấy rằng phụ nữ dành nhiều thời gian để nuôi con Việc tăng lương cho phụ nữ sẽ có tác động như thế nào đối với chi phí nuôi con?

3 Sử dụng các nguyên tắc của chi phí cơ hội để giải thích vì sao các doanh nghiệp dành nhiều thời gian hơn để đào tạo công nhân của mình trong giai đoạn tình hình kinh doanh suy giảm?

Trang 7

Quang Hung 7 ND: Hoàng Phương

2 ĐƯỜNG GIỚI HẠN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT

Để mô tả sự đánh đổi mà nền kinh tế, doanh nghiệp, hoặc một cá nhân phải đối mặt, các nhà kinh tế học sử dụng đường giới hạn khả năng sản xuất (PPC) Đường giới hạn khả năng sản xuất thể hiện các kết hợp khác nhau của hai hàng hóa mà xã hội có thể sản xuất với giả định rằng (1) nền kinh tế đang vận hành ở mức độ toàn dụng lao động và có hiệu quả sản xuất và (2) công nghệ và nguồn lực không thay đổi

Bảng dưới đây cho thấy dự đánh đổi mà một công nhân có thể gặp phải khi người này có 4 giờ để sản xuất ra hai hàng hóa: ghế thường (chair) và ghế dài (bench) Trong ví dụ này, thời gian là nguồn lực khan hiếm Người công nhân này càng bỏ nhiều thời gian để sản xuất ghế thường thì anh ta càng có ít thời gian để sản xuất ghế dài

Xác định đánh đổi vì nguồn lực khan hiếm

T/gian bỏ ra Sản phẩm T/gian bỏ ra Sản phẩm

0 0 4 20

1 4 3 18

2 7 2 14

Hình vẽ dưới đây thể hiện đường giới hạn khả năng sản xuất từ những con số đã cho ở trên Nếu người công nhân bỏ ra 4 giờ để làm ghế dài thì sẽ có 20 chiếc ghế dài và không có chiếc ghế thường nào (điểm A); 3 giờ làm ghế dài dẫn đến có 18 chiếc ghế dài và 4 ghế thường (điểm B); 2 giờ làm ghế dài dẫn đến 14 ghế dài và

7 ghế thường (điểm C); một giờ làm ghế dài cho ra 8 ghế dài và 9 ghế thường (điểm D)

Production Possibility Curve

0 5 10

15

20

25

Chairs

C

E

D

M

N

Trang 8

• Các điểm (A,B,C,D,E) nằm trên PPC cho thấy sản lượng tối đa của hai hàng hóa từ việc sử dụng có hiệu quả nhất tất cả các nguồn lực sẵn có

• Điểm (M) nằm bên trong PPC thể hiện sự thất bại trong việc đạt được mức toàn dụng lao động và toàn dụng sản xuất (không có thất nghiệp hay không hiệu quả) Bằng cách tiến đến toàn dụng lao động và toàn dụng sản xuất, nền kinh tế có thể sản xuất một trong hai (hoặc cả hai) sản phẩm nhiều hơn

• Điểm (N) nằm bên ngoài PPC không thể đạt được bởi vì nguồn lực hạn chế không cho phép sản xuất được bất kỳ kết hợp hai hàng hóa nào nằm bên ngoài PPC

Thủ tục để tính chi phí cơ hội/ đơn vị đối với đường giới hạn khả năng sản xuất

• Bắt đầu bằng việc tăng bất kỳ mức sản xuất của một hàng hóa và coi đó là khoản lợi

• Đo lường sự mất mát (mức giảm của hàng hóa kia để có được khoản lợi trên)

• Chi phí cơ hội/ đơn vị bằng mất mát chia cho phần lợi

Chi phí cơ hội để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa chính là độ dốc của PPC

Bài tập:

1 Nền kinh tế khi nằm bên trong PPC có phải đương đầu với sự đánh đổi nào hay không?

2 Người công nhân trên hiện đang dành 1 giờ để sản xuất ghế thường và 3 giờ để sản xuất ghế dài Chi phí cơ hội của việc sản xuất thêm một đơn vị ghế thường bằng bao nhiêu?

Quy quật chi phí cơ hội tăng dần nói rằng khi sản xuất càng nhiều một hàng hóa nào đó thì chi phí cơ hội của nó càng tăng Lý do của chi phí cơ hội tăng dần là do lợi tức giảm dần Độ dốc của đường giới hạn khả năng sản xuất ngày càng dốc hơn thể hiện quy luật này

Tăng trưởng kinh tế

Production Possibility Curve

5

10

15

20

25

C

E D

Trang 9

Quang Hung 9 ND: Hoàng Phương

Đường giới hạn khả năng sản xuất cũng có thể được sử dụng để thể hiện những nguyên nhân và tác động của tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế có thể được thể hiện như là sự dịch chuyển sang bên phải của đường giới hạn khả năng

sản xuất; đó là do kết quả của việc cung các nguồn lực tăng lên, cải thiện chất

lượng nguồn lực và sự tiến bộ công nghệ

Bài tập: Nền kinh tế đang sản xuất hai loại hàng hóa A và B Có sự tiến bộ công

nghệ nhưng chỉ đối với hàng hóa A mà thôi Liệu nền kinh tế có thể tiêu dùng nhiều hơn hai hàng hóa đó hay không? Tại sao?

3 BA CÂU HỎI CĂN BẢN

Vấn đề kinh tế có thể diễn giải ra thành ba câu hỏi căn bản:

a) Cần phải sản xuất ở kết hợp nào của các xuất lượng? Câu hỏi này liên quan đến

việc phân bổ các nguồn lực khan hiếm giữa các mục đích sử dụng khác nhau Theo chủ nghĩa tư bản, hầu hết các quyết định liên quan đến phân bổ nguồn lực được thực hiện thông qua cơ chế giá Có nghĩa là, chỉ có những hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn lòng chi trả với một mức giá đủ cao để trang trải hết tất cả các chi phí sản xuất mới được sản xuất Chẳng hạn, giá sữa tăng và giá trứng giảm là những dấu hiệu để người nông dân nuôi nhiều bò hơn và

giảm số lượng gà nuôi đi

b) Những sản lượng này được sản xuất như thế nào? Câu hỏi này nói đến cách thức sử dụng những nguồn lực để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ mà xã hội mong muốn Bởi vì các nguồn lực là khan hiếm và chúng có thể được sử dụng để sản xuất hàng hóa theo nhiều cách khác nhau khả dĩ về mặt kỹ thuật cho nên điều quan trọng đối với xã hội là sử dụng những nguồn lực sẵn có càng hiệu quả càng tốt Vì giá cả của các nguồn lực phản ánh sự khan hiếm tương đối của chúng nên các doanh nghiệp sẽ kết hợp chúng sao cho tối thiểu hóa được chi phí sản xuất Có nghĩa là, khi giá của một nguồn lực nào đó tăng thì doanh nghiệp sẽ cố gắng để tiết kiệm việc sử dụng nguồn lực đó hoặc lấy nguồn lực rẻ hơn để thay thế Chẳng hạn, việc tăng lương làm cho các doanh nghiệp sử dụng máy móc để thay thế cho một số lao động không có tay nghề

c) Ai sẽ nhận và tiêu dùng những sản lượng này? Câu hỏi này liên quan đến cách phân phối sản lượng giữa những thành viên của xã hội Tại sao một số người có thể tiêu dùng tỉ trọng lớn sản lượng trong khi những người khác chỉ có thể tiêu dùng một phần nhỏ? Đây là vấn đề cơ bản của phân phối

4 CÁC LOẠI HỆ THỐNG KINH TẾ

Câu trả lời cho năm câu hỏi căn bản phụ thuộc một phần vào hệ thống kinh tế Chúng ta sẽ nghiên cứu những đặc điểm chính của hai loại hệ thống kinh tế

Trang 10

Chủ nghĩa tư bản thuần túy (để mặc) có đặc điểm

• Sở hữu tư nhân đối với nguồn lực Mỗi người tham gia đều có động cơ vì lợi ích của riêng mình

• Sử dụng cơ chế thị trường và giá để điều phối các hoạt động kinh tế

• Các câu hỏi sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, và sản xuất cho ai,… do cơ chế thị trường quyết định

Nền kinh tế chỉ huy (mệnh lệnh) có đặc điểm

• Sở hữu công cộng các nguồn lực

• Sử dụng Kế hoạch hóa tập trung để điều phối các hoạt động kinh tế

• Các câu hỏi sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, và sản xuất cho ai,… do chính phủ trung ương quyết định

Cơ chế kinh tế hỗn hợp nằm giữa chủ nghĩa tư bản thuần túy (để mặc) và nền

kinh tế chỉ huy

Có thể mô tả nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp Chính phủ đóng vai trò tích vực trong việc

• Thúc đẩy sự ổn định và tăng trưởng kinh tế (chính sách tài chính và tiền tệ)

• cung cấp một số hàng hóa công cộng và hàng khuyến dụng sản xuất không đủ do cơ chế thị trường (công viên, sân bay, cầu đường, giáo dục,…)

• cung cấp một khung xã hội và pháp lý thích hợp

• giúp duy trì cạnh tranh (luật lệ đáng tin cậy)

• Điều chỉnh phân bổ thu nhập (cơ chế chuyển nhượng thuế)

5 DÒNG LUÂN CHUYỂN THU NHẬP

Có thể làm rõ hơn hoạt động chung của cơ chế thị trường thông qua mô hình dòng luân chuyển của thu nhập Mô hình này xác định các thị trường nguồn lực và sản phẩm và thể hiện các dòng thu nhập - chi tiêu chủ đạo và các dòng nguồn lực - sản lượng Hộ gia đình và doanh nghiệp tham gia vào hai thị trường nhưng ở hai phía khác nhau

• Các doanh nghiệp nằm ở phía mua, tức phía cầu, đối với thị trường nguồn lực và hộ gia đình với tư cách là các nhà cung cấp nằm ở phía bán, tức phía cung

• Trái lại, trên thị trường hàng hóa, doanh nghiệp với tư cách là nhà cung cấp nằm ở phía bán, tức phía cung, và hộ gia đình với tư cách là người tiêu dùng nằm ở phía mua, tức phía cầu

• Hộ gia đình bán nguồn lực có giới hạn của mình cho các doanh nghiệp, và họ, với tư cách là người tiêu dùng, chi tiêu thu nhập nhận được của mình để mua

Ngày đăng: 17/12/2013, 08:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng dưới đây cho thấy dự đánh đổi mà một công nhân có thể gặp phải khi người  này có 4 giờ để sản xuất ra hai hàng hóa: ghế thường (chair) và ghế dài (bench) - BẢN CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA KINH TẾ HỌC
Bảng d ưới đây cho thấy dự đánh đổi mà một công nhân có thể gặp phải khi người này có 4 giờ để sản xuất ra hai hàng hóa: ghế thường (chair) và ghế dài (bench) (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w