-Từ hình a ta nhận thấy,bề mặt mẫu vật liệu làm thép sau khi ngâm trong môi trường HCl 1M sau 10 giờ bắt đầu xuất hiện các điểm ăn mòn với mật độ dày đặc. Các điểm ăn mòn có kích thướ[r]
Trang 1Tìm hiểu về khái niệm, Sơ lược về sự ra đời của kính hiển vi điện tử quét (SEM), 1 số hình ảnh
SEM về vật liệu thép
Sinh viên thực hiên: Nguyễn Thị Liên
Giaó viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Linh
ĐẠI HỌC KHOA HOC KHOA HÓA HỌC
Trang 2Khái niệm
Kính hiển vi điện tử
quét (Scanning Electron
Microscope- SEM)
Là một loại kính hiển vi
điện tử có thể tạo ra ảnh
với độ phân giải cao của bề
mặt mẫu vật bằng cách sử
dụng một chùm điện tử hẹp
quét trên bề mặt mẫu
Hình 1:Thiết bị kính hiển vi điện tử quét Jeol 5410 LV tại Trung tâm Khoa học Vật liệu, Đại học Quốc gia
Hà Nội
Trang 3II Sơ lược về kính hiển vi điện tử quét SEM
Hình 2: Zworykin(1889-1982)-nhà bác học người Nga
Vào năm 1942 là một
thiết bị gồm một súng
phóng điện tử theo chiều
từ dưới lên, ba thấu kính
tĩnh điện và hệ thống các
cuộn quét điện từ đặt
giữa thấu kính thứ hai và
thứ ba, và ghi nhận chùm
điện tử thứ cấp bằng một
ống nhân quang điện.
Trang 4Hình 4 :D McMullan Hình 3:C W Oatley
Năm 1948, C. W.
Oatley phát triển
kính hiển vi điện tử
quét trên mô hình
này và công bố trong
luận án tiến sĩ của D.
McMullan với chùm
điện tử hẹp có độ
phân giải đến 500
Angstrom.
Trang 5Hình ảnh SEM
Hình5: Ảnh SEM của các thành phần làm thép
Trang 6Hình a: vật liệu làm thép có cấu trúc dạng khối không đồng đều Có những khối có đường kính
1 -2μm nhưng cũng có những khối vật liệu có m nhưng cũng có những khối vật liệu có đường kính từ 20 ÷ 40μm nhưng cũng có những khối vật liệu có m
Hình b: Vật liệu có cấu trúc dạng khối và dạng thọi dài, phân bố không đồng đều, khối lớn có đường kính 64µm, khối nhỏ có đường kính 8µm
Trang 7• Hình c: có cấu trúc dạng hạt nhỏ phân bố đồng đều, kích thước chỉ khoảng 2-3µm.
• Hình d: cấu trúc dạng khối, phân bố không
đồng đều, các tấm lớn có đường kính khoảng 20µm, những tấm nhỏ chỉ có kích thước
khoảng 5-6 µm
Trang 8Hình 6 :a.Vật liệu làm thép ngâm dung dịch HCl 1M
b Vật liệu làm thếp ngâm dung dịch (4-chloro-acetophenone-O-1′-(1′,3′,4′-triazolyl)-metheneoxime (CATM) 10 -3 M
c Vật liệu làm thép được ngâm trong dung dịch 4-methoxyl-acetophenone-O-1′-(1′,3′,4′-triazolyl)-metheneoxime (MATM) 10 -3 M
d Vật liệu làm thép được ngâm trong dung dịch 4-fluoro-acetophenone-O-1′-(1′,3′,4′-triazolyl)-metheneoxime (FATM))10 -3 M
Trang 9• Trong hình 6, với thời gian ngâm là 10h với tất cả các dung dịch ngâm.
-Từ hình a ta nhận thấy,bề mặt mẫu vật liệu làm thép sau khi ngâm trong môi trường HCl 1M sau 10 giờ bắt đầu xuất hiện các điểm ăn mòn với mật độ dày đặc Các điểm ăn mòn có kích thước không đồng đều.
• Hình b: Vật liệu làm thép được ngâm trong dung dịch
CATM10-3 M cũng xuất hiện các vết nứt với mật độ thấp
• Hình c: Vật liệu làm thép được ngâm trong dung dịch
MATM 10-3 xuất hiện các điểm ăn mòn với mật độ dải đều.
• Hình c : Vật liệu làm thép được ngâm trong dung dịch
FATM 10-3 M xuất hiện các điểm ăn mòn phân bố không đều, có nơi thì dày đặc, có nơi thì thưa thớt, đường kính các vết ăn mòn khoảng 5µm.
Trang 10Hình 4 Ảnh SEM của
vỏ đỗ
Vỏ đỗ sau khi nghiền có cấu
trúc dạng sợi, kích thước của
vỏ đỗ không đồng đều, có
những sợi đường kính 150
nm, nhưng cũng có những sợi
khoảng 30- 40 nm
Một số hình ảnh SEM
Trang 11Hình 3.5 Ảnh SEM của PANi/ vỏ đỗ
dạng muối
Vật liệu compozit
dạng muối có cấu
trúc dạng tấm, kích
thước các tấm
compozit này
không đồng đều,
với đường kính từ
20 đến 200nm,
nhưng chúng khá
kết dính với nhau
Trang 12Compozit dạng
trung hòa có cấu trúc
dạng sợi nhưng
không dài, liên kết
thành từng đám, mặt
cắt ngang của các
sợi là các đường tròn
với đường kính
khoảng 20 ÷ 30 nm Ảnh SEM của PANi/ vỏ đỗ dạng trung hòa