Một số yêu cầu cần chú ý khi áp dụng phương pháp giảng dạy là: - Giúp cho học sinh nhận thức hiểu biết và cảm nhận qua quan sát đúng, thấy được từng phần, cấu trúc, hướng chuyển động, yê
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN ĐỀ THI KẾT THÚC MÔN
LÝ LUÂN PHƯƠNG PHÁP THỂ DỤC
THỂ THAO
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN: MAI HIẾU DUY LỚP; B
MSVS: 17520056 KHÓA: ĐH12
2018-2019
Trang 2CHUYÊN ĐỀ THI KẾT THÚC MÔN LLPP – TDTT
1 Phân tích mối quan hệ chặt chẻ không thể tách rời giữa phương pháp giảng dạy TDTT hệ phương pháp rèn luyện với phát triển tố chất thể lực (tố chất vận động) cho chứng minh cụ thể (6đ)
2 Phân tích vai trò của của giáo dục thể chất và giáo viên thể chất trong nhà trường phổ thông giai đoạn hiện nay (4đ)
BÀI LÀM Câu 1: Phân tích mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời giữa phương pháp giảng dạy
thể dục thể thao, hệ phương pháp rèn luyện với phát triển tố chất thể lực, tố chất vận động cho chứng minh cụ thể
I Phương pháp giảng dạy thể dục thể thao.
1 Phương pháp giảng dạy và làm mẫu:
Trong quá trình giáo dục thể chất phương pháp giảng dạy và làm mẫu là phương pháp cơ bản, nhằm giáo dục và bồi dưỡng những tri thức hiểu biết, kỹ thuật TDTT
a) Phương pháp giảng dạy (phương pháp dùng lời nói) :
Là phương pháp thường được sử dụng trong quá trình giảng dạy TD cho học sinh bậc
TH Là phương pháp giáo viên dùng lời nói để giới thiệu kiến thức mới, động tác mới và
kỹ thuật TDTT, phân tích về các nội dung cơ bản, nhiệm vụ bài học về phương hướng chuyển động của các bộ phận cơ thể, các mấu chốt kỹ thuật, từng bước hoàn thành kỹ thuật, động tác và nâng cao hiểu biết và các kiến thức có liên quan
Một số yêu cầu cần chú ý khi áp dụng phương pháp giảng dạy là:
- Giúp cho học sinh nhận thức hiểu biết và cảm nhận (qua quan sát) đúng, thấy được từng phần, cấu trúc, hướng chuyển động, yêu cầu kỹ thuật của động tác Từ
đó tạo điều kiện cho học sinh có khả năng phân tích kỹ thuật và có các biểu tượng đúng, làm cơ sở cho việc thực hành chính xác kỹ thuật Giáo viên nên mô tả động
Trang 3tác bằng lời nói, thực hiện cùng lúc với việc thực hiện đúng, chính xác động tác mẫu
- Lời giảng cần có sức thuyết phục để truyền thụ tri thức, tạo nên sự chú ý theo dõi của học sinh Giúp học sinh càng sớm nắm bắt được những nét cơ bản cảu kỹ thuật, cần nhấn mạnh điểm chủ yếu khi thực hiện động tác Qua đó, từng bước củng cố các kỹ thuật, nâng cao kỹ thuật, kỷ xạo vận động Phòng tránh những sai lầm thường mắc phải trong khi thực hiện động tác và đánh giá đúng khả năng vận động của học sinh
- Lời giảng giải của giáo viên cần ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu sao cho thu hút được sự chú ý, tập trung sự theo dõi của học sinh Tránh dùng thuật ngữ chuyên môn “xa lạ” khó hiểu khi giảng giải kỹ thuật động tác cần liên hệ với các hoạt động tự nhiên: chạy, nhảy, leo trèo Có thể sử dụng các thuật ngữ chuyên môn bằng từ địa phương để giảng cho các học sinh dễ hiểu và dễ bắt chước, song vẫn phải đảm bảo tính sư phạm và tính giáo dục
- Khi giảng giải kỹ thuật trong giờ học, tập luyện nên kết hợp với việc sử dụng các tín hiệu, mệnh lệnh khi giao nhiệm vụ, hoặc điều chỉnh nội dung tần số, khối lượng vận động khẩu lệnh của giáo viên dưới dạng truyền lệnh cần dứt khoát rõ ràng cso sức truyền cảm, đặc biệt với học sinh các cấp đầu cấp khi giao nhiệm vụ, căn dặn hay phê bình, động viên tất cả nội dung đó có tác dụng không nhỏ đến việc bắt chước, hình thành các thói quen cho học sinh Tấm gương của giáo viên
có ý nghĩa đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp tới đến việc hình thành nhân cách, thói quen và những kỷ niệm tốt đẹp thời niên thiếu
- Trong giảng dạy tập luyện TDTT hình thức hỏi và trả lời (đàm thoại) có ý nghĩa giúp học sinh suy nghĩ, độc lập sáng tạo, phát huy tích cực của các em Từ
đó, giúp học sinh hiểu chính xác phương hướng chuyển động kỹ thuật, động tác, gây hứng thú, giúp học sinh nắm được những quy tắc, đánh giá được động tác đúng, sai của bạn và của chính mình
b) Phương pháp làm mẫu:
Hoạt động giáo dục TDTT là loại hình có nội dung giáo dục chuyên biệt Trong quá trình giảng dạy TDTT yêu cầu giáo viên không chỉ có hệ thống tri thức liên quan đến
Trang 4truyền thụ kiến thức cho học sinh mà còn phải làm mẫu đúng, chính xác động tác, kỹ thuật TDTT Làm mẫu thường được thực hiện cùng lúc với việc giảng giải kỹ thuật và các tri thức khác có liên quan Lời giảng giải của giáo viên cần ngắn gọn, dễ hiểu làm mẫu động động tác cần chính xác đúng, đẹp
- Một số yêu cầu cần chú ý khi làm động tác mẫu:
+ Động tác làm mẫu của giáo viên cần chính xác,đẹp hoàn chỉnh Vì giáo viên
là mẫu động tác, kỹ thuật đúng sẽ giúp học sinh nắm được những yếu lĩnh cơ bản đúng của kỹ thuật, động tác
+ Khi giảng dạy những động tác kỹ thuật mới, phức tạp mới giáo viên cần giảng giải 2 – 3 lần làm mẫu lần 1 có thể thực hiện động tác hoàn chỉnh, tốc độ chuyển động bình thường đúng nhịp độ và yêu cầu Học sinh qua quan sát hình thành trong trí nhớ hình ảnh, có khái niệm sơ bộ của từng phần kỹ thuật hoặc toàn bộ động tác, gây cảm giác đúng, chính xác hứng thú, thích tập luyện theo Làm mẫu lần 2, giáo viên thực hiện động tác chậm, ở những điểm mấu chốt kỹ thuật, giáo viên cần kết hợp với giảng giải và thực hiện động tác để học sinh nhớ lại những điểm chính Làm mẫu lần 3 giống như lần 1 cần chú ý thực hiện hoàn chỉnh, chính xác Trong trường hợp giáo viên cần phải làm mẫu them một hai lần nữa hoặc làm mẫu riêng từng phần cảu kỹ thuật là tùy thuộc vào độ khó cảu động tác kỹ thuật và trình độ tiếp thu của học sinh
+ Khi hướng dẫn học sinh luyện tập các bài tập thể dục tay không, thể dục đồng diễn, thể dục nhịp điệu, thể dục với vòng, gậy,cờ giáo viên cần áp dụng nhiều hình thức làm mẫu khác nhau: làm mẫu theo kiểu “soi gương” hay thực hiện động tác
kỹ thuật đứng cùng chiều với học sinh Khi giáo viên thực hiện động tác bước đầu tiên nên làm động tác có chuyển động chầm để học sinh dễ thực hiện theo Cần thực hiện làm mẫu độgn tác tự nhiên và bảo đảm tính phối hợp kỹ thuật nhịp nhàng
Trang 5+ Giáo viên cần chọn vị trí đứng thích hợp để khi làm mẫu tất cả học sinh đều
có thể nhìn thấy cac chi tiết chuyển động cảu động tác, kỹ thuật Tổ chức hoạt động theo các nhóm, tổ, cặp 2 học sinh Phân công các nhóm, tổ học sinh làm theo
kỹ thuật giáo viên đã hướng dẫn Số học sinh còn lại chú ý theo dõi, phát hiện từng phần kỹ thuật sai, nhắc nhỡ, tự sữa chữa cho bạn Sau đó đổi nội dung tập luyện giữa các nhóm, tổ thay phiên nhau quan sát, tập luyện và sữa chữa động tác sai + khi hướng dẫn thực hiện các động tác giáo viên đã làm mẫu, có thể sử dụng các dụng cụ phát ra tín hiệu âm thanh(còi, tiếng trống, tiếng vỗ tay) để giúp học sinh hình thành cảm giác nhịp điệu đúng, phân phối điều hòa tốc độ vận động biết tập trung vào các thời điểm câng gắng sức, nghỉ ngơi hoặc thỏ để góp phần làm giảm bớt căng thẳng liên tục
2 Phương pháp giảng dạy hoàn chỉnh và phân đoạn:
a) Phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh:
- Đối với các động tác đơn giản hoặc khó phân chia thành các cử động nhỏ khi giảng dạy, giáo viên nên áp dụng phương pháp dạy dộng tác hoàn
chỉnh(nghĩa là động tác không bị phân ra thành các bộ phận cử động riêng lẻ) Khả năng phân tích động tác, kỹ thuật của học sinh phổ thông còn hạn chế, nên việc thực hiện động tác còn thiếu chính xác, sự kết hợp các cử động riêng
lẻ còn khó khăn lúng túng, tốc độ, biên độ động tác chưa có cảm giác đúng và phù hợp Vì vậy, giáo viên phải luôn quan sát giúp đỡ học sinh để các em tập được các động tác hoàn chỉnh
- Khi sử dụng phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh, giáo viên cần chú ý những ưu, nhược điểm sau:
o Về ưu điểm: học sinh tạo được cảm giác đúng toàn bộ kỹ thuật, dễ dang nắm được kỹ thuật động tác, có thể thực hiện theo yêu cầu của giáo viên
o Về nhược điểm: khi giảng dạy các động tác có kỹ thuật phức tạp, sử dụng phương pháp này kém hiệu quả Do đó, khi sử dụng phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh, giáo viên cần chú ý nhấn mạnh vào các điểm chủ yếu cần thiết của kỹ thuật, động tác, có thể giảm bớt yêu cầu về biên độ, cự ly,
Trang 6trọng lượng, độ cao phối hợp các động tác bổ trợ khác trong quá trình giảng dạy các kỹ thuật động tác phức tạp
b) Phương pháp giảng dạy động tác phân đoạn:
- Khi giảng dạy những động tác, bài tập khó và phức tạp, giáo viên cần sử dụng phương pháp phân đoạn Đây là phương pháp chia kỹ thuật động tác ra thành các phần kỹ thuật động tác riêng lẻ, để hướng dẫn học sinh từng phần kỹ thuật Khi từng phần kỹ thuật học sinh thực hiện thuần thục, thì liên kết các phần đó thành động tác hoàn chỉnh
Vd: Dạy học sinh động tác ném bóng cao su trúng đích tại chỗ Cần hướng dẫn học sinh đứng ở tư thế chuẩn bị, cầm bóng, cách vung tay, lấy đà, ra sức, phối hợp với chuyển động toàn thân động tác kết thúc, giữ thăng bằng Hướng dẫn học sinh từng phần kỹ thuật, thực hiện đúng các chi tiết kỹ thuật động tác sau đó, hướng dẫn cách liên kết các chi tiết kỹ thuật thành động tác ném bóng hoàn chỉnh
Với yêu cầu : xa, trúng đích, bảo đảm đúng kỹ thuật
Khi sử dụng phương pháp giảng dạy động tác phân đoạn giáo viên cần chú
ý đến ưu, nhược điểm sau:
Ưu điểm: học sinh dễ nắm được các chi tiết của từng phần động tác, thích hợp với việc dạy động tác khó, phức tạp, có yêu cầu cao về kỹ thuật
Nhược điểm: chia động tác ra thành nhiều phần chi tiết, kỹ thuật riêng
lẻ, học sinh gặp khó khăn khi thực hiện toàn bộ kỹ thuật
- Do đó khi giảng dạy cần nêu rõ các điểm mấu chốt, tính liên kết từng phần kỹ thuật chi tiết này sang phần khác, những mối quan hệ trong các phần trong toàn bộ
kỹ thuật, tạo cho học sinh có biểu tượng đúng và phối hợp chính xác động tác, kỹ thuật
3 Phương pháp tập luyện và các hình thức tập luyện:
Phương pháp thực hành: trong quá trình giáo dục TDTT sử dụng phương pháp thực hành chính là dùng các hình thức luyện tập, tạo nên sự tác động trực tiếp cơ thể học sinh
Trang 7Thông qua quá trình tập luyện học sinh hình thành tri thức, nắm vững được kết cấu, chuyển động của động tác, cảm giác cơ bắp, thần kinh, hoàn thiện kỹ năng vận động và phát triển kỹ năng thể chất toàn diện
Phương pháp tập luyện được sử dụng trong các giờ TDTT dưới hình thức khác nhau Thực tế trong giảng dạy TDTT thường được sử dùng 3 loại hình sau:
a) Hình thức tập luyện lặp lại:
- Đây là phương pháp tập luyện với hình thức tập kỹ thuật, động tác được lặp lại nhiều lần Hình thức tập luyện này có ưu điểm là kỹ thuật , động tác sớm hình thành, tạo cho việc thực hiện đúng và chính xác Học sinh khi đã nắm được các kỹ thuật vận động nếu không được thường xuyên tập luyện lặp lại để hình thành kỹ năng khi kỹ thuật, động tác- tuy học sinh đã nắm được, sau một thời gian sẽ bị phá
vỡ do đó, cần tập luyện lặp lại kỹ thuật, động tác trong các giờ học, buổi tập, giờ ngoại khóa và ở nhà
- Việc áp dụng phương pháp luyện tập lặp lại thường góp phần hình thành các thói quen vận động, các đường liên hệ tạm thời ở vỏ não, giúp học sinh thực hiện đúng
kỹ năng hoạt động trong cuộc sống: đi, chạy, nhảy , ném, leo, trèo, nắm bắt
b) Hình thức tập luyện biến đổi:
- Đây là hình thức tập luyện các kỹ thuật, động tác luông có sự điều chỉnh, thay đổi yêu cầu, mức độ, mục tiêu và các điều kiện sử dụng phương pháp thực hiện có biến đổi nhằm tạo cho học sinh khả năng làm quen, nahnh chóng thích ứng, giải quyết các điểm mấu chốt, quan trọng của kỹ thuật khi hướng dẫn tập luyện với các động tác phức tạp, giáo viên nên chia động tác thành các phần chi tiết khác nhau( theo nguyên tác từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp)
- Sau cùng giáo viên hướng dẫn để học sinh biết, phối hợp các phần riêng lẻ thành động tác hoàn chỉnh ở trong các điều kiện không giống nhau tang dần mức độ khó khăn, phức tạp, song đảm bảo yêu cầu vừa sức với từng đối tượng
- Khi học sinh đã nắm vững bài tập, giáo viên có thể tang khoảng cách, thay đổi độ cao, thấp của dụng cụ, thay đổi điều kiện bổ trợ, nâng cao yêu cầu về chất lượng
kỹ thuật, qua đó dần dần nâng cao, củng cố và hoàn thiện kỹ năng vận động
4 \Phương pháp sữa chữa động tác sai:
Trang 8- Khi tập luyện TDTT học sinh không tránh khỏi thực hiện động tác, kỹ thuật có sai sót, nên việc áp dụng phương pháp sữa chữa động tác, kỹ thuật sai là rất cần thiết,
sẽ góp phần kịp thời giúp cho học sinh thực hiện đúng, chính xác kỹ thuật, tạo điều kiện tiếp thu kỹ thuật mới nhanh và phòng tránh chấn thương
a) Một số nguyên nhân dẫn đến thực hiện sai kỹ thuật sai và động tác:
- Do học sinh chưa nắm được yêu cầu, kỹ thuật cách tiến hành tập luyện, tập luyện thiếu dũng cảm, chưa tự tin, còn lo lắng, hồi hộp, sợ sệt
- Việc chuẩn bị thể lực, sức khỏe, vốn kỹ năng vận động còn thấp xa với yêu cầu cần thực hiện động tác Học sinh có khuyết tật, bẩm sinh hoặc cơ thể sau thời gian
bị ốm, mệt, bị chấn thương
- Giáo viên sử dụng phương pháp và nội dung tập luyện chưa phù hợp với đối tượng học sinh, dụng cụ sân bãi không đủ quy cách phù hợp và an toàn, do thời tiết khí hậu khắc nghiệt và một số ảnh hưởng ngoại cảm khác: học sinh thiếu tập trung học tập, tính tổ chức, tính kỷ luật còn thấp
b) Cách sữa chữa:
- Trước tiên, giáo viên cần nghiên cứu và quan sat kỹ lưỡng để sớm phát hiện những nguyên nhân đưa tới những thiếu sót, cần điều chỉnh nội dung bài học, vận dụng các phương pháp sữa chữa sai lầm cho kịp thời phù hợp với đối tượng
- Trên thực tế bài học trên lớp giáo viên không thể sữa chữa mọi sai sót cho học sinh Đối với học sinh ở các lớp đầu cấp, không nên đòi hỏi học sinh thực hiện đúng động tác, kỹ thuật trong một thời gian ngắn chỉ nên nêu yêu cầu thực hiện đúng những phần cơ bản của động tác Khi sữa chữa các động tác sai tránh áp dụng biên pháp cứng nhắc, cần dựa trên khả năng vận động của từng học sinh mà hướng dẫn, nhắc nhỡ các sai sót cơ bản giúp học sinh sửa chữa, tạo điều kiện cho học sinh tự sửa cho mình Trong sửa chữa các động tác sai cần gắn liền với việc động viên rèn luyện cho học sinh tinh thần dũng cảm, tự tin, mạnh dạn, làm quen với các điều kiện khó khăn trong tập luyện
- Phương pháp sửa chữa động tác sai trong tập luyện TDTT cho học sinh cần áp dụng các hình thức phong phú Những thiếu sót về tư thế, kỹ thuật, các chi tiết riêng lẻ, ý thức cần nhắc nhở nhẹ nhàng bằng lời nói Nếu có sai về động tác kỹ thuật , nên cho ngừng tập giáo viên làm mẫu lại và giảng giải chậm để học sinh
Trang 9xem có thể thực hiện động tác sai của học sinh, để học sinh thấy được thiếu sót của chính mình
- Sự giúp đỡ trực tiếp, uốn nắn kỹ thuật, nhắc nhở nhẹ nhàng đúng lúc của giáo viên
có tác động to lớn động viên các em khắc phục quyết tâm sửa chữa động tác sai Giáo viên có thể sử dụng các dụng cụ tập luyện, tiêng hô, tiếng vỗ tay, nhịp gõ để nhắc nhở các em thời điểm chủ yếu để thay đổi hay giữ vững kỹ thuật, động tác giúp học sinh nhớ và nắm vững thời điểm khi dùng sức, xây dựng các cảm giác đúng chính xác, sử dụng sức mạnh cơ bắp trong quá trình thực hiện, hoàn thiện kỹ thuật, bài tập
1 Hệ phương pháp rèn luyện:
- Nguyên tắc tập luyện TDTT là những nguyên tắc chuẩn mà mọi người tham gia tập luyện TDTT đều phải tuần thủ trong quá trình tập luyện Nghĩa là những khái quát và những tổng kết kinh nghiệm tập luyện TDTT trong thời gian dài, nó cũng phản ánh quy luật khách quan của tập luyện thể dục thể tha Thực tế tập luyện thể dục thể thao đã cho chúng ta thấy bất kể một hành vi tập luyện thể dục thể thao có hiệu quả sớm thường là kết quả của việc tự giác hay không tự giác tuân theo một
số nguyên tắc tập luyện Việc tập luyện thể dục thể thao không thể tách rời những nguyên tắc tập luyện đúng đắn, bắt buộc phải hiểu và nắm bắt cũng như tuân theo những nguyên tắc tập luyện thể dục thể thao
2 Phát triển tố chất thể lực(tố chất vận động):
1 Khái niệm sức nhanh: Là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người, nó
quy định chủ yếu và trực tiếp đặc tính tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vận động
2 Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động.
2.1 Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản.
Phương pháp phổ biến nhất trong rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản là tập lặp lại phản ứng với các tín hiệu xuất hiện đột ngột Đối với người mới tập, phương pháp lặp lại nhanh chóng đem lại kết quả tốt, sau đó sức nhanh phản ứng ổn định và rất khó có thể phát triển thêm
2.2 Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động phức tạp.
Trang 10Phản ứng vận động phức tạp thường gặp trong thể thao gồm hai loại: phản ứng đối với vật thể di động và phản ứng lựa chọn
Trong phản ứng đối với vật thể di động thì kỹ năng quan sát giữ vai trò
cơ bản Để phát triển kỹ năng quan sát, người ta sử dụng các bài tập phản ứng đối với vật di động, yêu cầu tập luyện được gia tăng thông qua tốc độ tập thể, tăng tính bất ngờ và rút ngắn cự ly
2.3 Phương pháp rèn luyện tốc độ:
Tốc độ tối đa mà con người có thể phát huy trong động tác nào đó không chỉ phụ thuộc vào sức nhanh mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như sức mạnh động lực, độ linh hoạt khớp, mức hoàn thiện kỹ thuật Vì vậy, rèn luyện sức nhanh động tác cần kết hợp chặt chẽ với rèn luyện các tố chất thể lực khác và hoàn thiện kỹ thuật Từ đó có thể tách biệt hai xu hướng trong rèn luyện tốc độ
Nâng cao tần số động tác
Hoàn thiện các nhân tố ảnh hưởng tới tốc độ tối đa
3 Mối quan hệ chặt chẽ giữa phương pháp giảng dạy TDTT và hệ
phương pháp rèn luyện với phát triển tố chất thể lực (tố chất vận động).
- Trong quá trình giảng dạy và làm sáng kiến kinh nghiệm và các giải pháp đã được
áp dụng và thấy các em đã có tiến bộ, mặc dù kết quả vẫn chưa tốt song các em đã biết và từng bước hiểu được yêu cầu của bộ môn cũng như nhận thức được vai trò của môn TD đối với việc phát triển các tố chất thể lực góp phần phát triển toàn diện cho học sinh Từ khi giảng dạy và sử dụng các phương pháp khác nhau, học sinh đã có sự thay đổi về ý thức kỹ luật trong tập luyện cũng như vui chơi dẫn đến
tỷ lệ chuyên cần học sinh đến lớp ngày càng được đảm bảo ổn định hơn mức ban đầu
4 Chứng minh cụ thể:
- Sau khi vận dụng thực nghiệm cho học sinh với các phương pháp giảng dạy được
áp dụng từ khi được giao dạy học sinh ở tất cả các khối lớp thì đã đem lại kết quả rất khả quan Thực tế cho thấy từ khi được giao nhận lớp và áp dụng các phương pháp dạy học đó vào tập luyện đã thu hút được học sinh luyện tập và gây được tính tích cực cho học sinh, một số nhận thức được nay đã có sự tiến bộ nhất định