1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tich luy thang 2 2013

19 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 53,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ trái sang phải: Xuân Diệu, Thế Lữ, Nhất Linh, Khái Hưng thời Tự Lực văn đoàn Danh sách Tự Lực văn đoàn, theo Tú Mỡ công bố trên tạp chí Văn học số 5-6 năm 1938 và số 1 năm 1939, gồm c[r]

Trang 1

Tự Lực văn đoàn

Tự Lực văn đoàn là một văn đoàn do Nhất Linh cùng một số nhà văn khác thành lập vào năm 1933[1] Trong khoảng 10 năm tồn tại, Tự Lực văn đoàn với những sáng tác văn học, hoạt động báo chí, trao giải thưởng, tạo nhiều ảnh hưởng đến văn học Việt Nam thời kỳ đó Tự Lực văn đoàn cũng là đại biểu của văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20

Thành viên

Từ trái sang phải: Xuân Diệu, Thế Lữ, Nhất Linh, Khái Hưng thời Tự Lực văn đoàn

Danh sách Tự Lực văn đoàn, theo Tú Mỡ công bố trên tạp chí Văn học số 5-6 năm 1938 và số 1 năm 1939, gồm có:

Thành viên

Nhất Linh

Khái Hưng

Hoàng Đạo

Thạch Lam

Tú Mỡ

Thế Lữ

Xuân Diệu

Trần Tiêu

Tên thật

Nguyễn Tường Tam

Trần Khánh Giư

Nguyễn Tường Long

Nguyễn Tường Vinh

Hồ Trọng Hiếu

Nguyễn Thứ Lễ

Ngô Xuân Diệu

Trần Tiêu

Ngoài ra còn có một số nhà văn khác cộng tác chặt chẽ với Tự Lực văn đoàn như: Trọng Lang, Huy Cận, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ Cơ quan ngôn luận của Tự Lực văn đoàn là báo Phong Hóa,

và tờ Ngày Nay sau khi Phong Hóa bị đóng cửa vào năm 1936

Sách của Tự Lực văn đoàn được in ở nhà in Trung Bắc Tân văn, sau đó họ có nhà in riêng là Đời nay Bìa sách và tranh được minh họa bởi những họa sĩ nổi tiếng Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân

Trang 2

Quan điểm nghệ thuật

Khi ra đời, Tự Lực văn đoàn có đề ra tôn chỉ mục đích rõ ràng: "Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời,

có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ Theo chủ nghĩa bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái Tôn trọng tự do cá nhân Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa Đem phương pháp Thái Tây áp dụng vào văn chương An Nam."

Giải thưởng

Không chỉ sáng tác văn học, Tự Lực văn đoàn còn trao các giải thưởng cho các nhà văn không thuộc nhóm Giải thưởng Tự Lực văn đoàn cứ 2 năm xét trao giải một lần, xét vào các năm lẻ là

1935, 1937, 1939

Giải thưởng năm 1935

Gồm bốn giải khuyến khích với tổng số tiền thưởng là 100 đồng

Ba, truyện ngắn của Đỗ Đức Thu

Diễm dương trang, tiểu thuyết của Phan Văn Dật

Bóng mây chiều, tiểu thuyết của Hàn Thế Du

(Tác phẩm thứ tư hiện chưa rõ)

Giải thưởng năm 1937

Về kịch, trao cho Kim tiền của Vi Huyền Đắc, kèm theo 50 đồng

Về phóng sự tiểu thuyết[2], trao cho Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, kèm theo 30 đồng

Giải khuyến khích, trao cho tiểu thuyết đầu tay Nỗi lòng của Nguyễn Khắc Mẫn

Giải thưởng năm 1939

Được trao đồng hạng cho:

Làm lẽ, tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư

Cái nhà gạch, tiểu thuyết của Kim Hà (khi xuất bản thành sách tác phẩm này đổi tên gọi là Tiếng còi nhà máy)

Hai tiểu thuyết này được thưởng mỗi cuốn 100 đồng

Hai tập thơ Bức tranh quê của Anh Thơ và Nghẹn ngào của Tế Hanh

Những tác phẩm tiêu biểu

Bướm Trắng, Nhất Linh

Đoạt Tuyệt, Nhất Linh

Hồn Bướm Mơ Tiên, Khái Hưng

Nửa Chừng Xuân, Khái Hưng

Gánh Hàng Hoa, Nhất Linh - Khái Hưng

Đời Mưa Gió, Nhất Linh - Khái Hưng

Trang 3

Ghi chú

^ Theo tài liệu trên trang của Bộ Văn hóa - Thông tin thì Tự Lực văn đoàn thành lập năm 1932

^ Cách gọi của những năm 1930 – 1945

=====================================================================

Nguyễn Du (tên tự là Tố Như , tên hiệu là Thanh Hiên ) sinh năm 1765 và mất năm 1820 Quê

ông gốc làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh và trải qua thời niên thiếu ở Thăng Long Ông thuôc dòng dõi trâm anh thế phiệt: cha là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm đã làm tới chức tể tướng dưới triều Lê; mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, người xứ Kinh Bắc (Nguyễn Nghiễm có 8 vợ, 21 người con); anh là Toản Quận Công Nguyễn Khản cũng làm tới Tham Tụng, Thái Bảo trong triều Lúc mười tuổi Nguyễn Du mồ côi cha, lúc mười ba tuổi mồ côi mẹ Vì thế mang tiếng là con quan đại thần nhưng ngay từ thời thơ ấu Nguyễn Du đã phải sống vất vả thiếu thốn Truyện Kiều và Văn chiêu hồn là hai kiệt tác chữ

Sinh ra trong một gia đình quan lại, có truyền thống văn học, năng khiếu thơ văn của Nguyễn Du sớm có điều kiện nảy nở và phát triển Từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh dĩnh ngộ Năm 1783, Nguyễn Du thi hương đậu Tam Trường Vì lẽ gì không rõ, ông không tiếp tục thi lên nữa

Năm 1789, Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc, đại thắng quân Thanh Nguyễn Du, vì tư tưởng trung quân phong kiến, không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn

Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lật đổ nhà Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, rồi mời Nguyễn Du ra làm quan; ông từ mãi mà không được nên miễn cưỡng tuân mệnh Năm 1805, ông được thăng Đông Các điện học sĩ, tước Du Đức Hầu Năm 1813, thăng Cần Chánh điện học sĩ, được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc Sau khi về nước, năm 1815, ông được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri

Đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn chẳng có mấy trở ngại Ông thăng chức nhanh

và giữ chức trọng, song chẳng mấy khi vui, thường u uất bất đắc chí

Theo Đại Nam Liệt Truyện: "Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như không biết nói năng gì "

Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần nữa, nhưng lần này chưa kịp đi thì ông đột ngột

Đại Nam Liệt Truyện viết: "Đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân Họ thưa đã lạnh cả rồi Ông nói "được" rồi mất; không trối lại điều gì."

Ngoài Truyện Kiều nổi tiếng ra, Nguyễn Du còn để lại

Trang 4

và ba tập thơ chữ Hán:

Thơ chữ Hán Nguyễn Du cho thấy phần sâu kín trong tâm trạng ông Nó như một thứ nhật ký, giãi bày mọi nỗi niềm, mọi ý nghĩ trong cảnh sống thường nhật của chính ông Cả ba cuốn Thanh Hiên thi tập (viết trong khoảng 1785-1802, khi Nguyễn Du lánh ẩn ở quê vợ, Thái Bình, rồi trở

về Hồng Lĩnh và ra lại Bắc Hà làm quan triều Gia Long) Nam trung tạp ngâm (1805-1812, khi Nguyễn Du làm quan ở Huế rồi cai bạ Quảng Bình) và Bắc hành tạp lục (1813-1814, thơ viết trên đường đi sứ Trung Hoa) đều có một giọng u trầm thấm thía, đầy cảm xúc nội tâm

Thơ chữ Hán Nguyễn Du như một tiếng thở dài luận bàn nhân tâm thế sự và xót thương thân phận Một hình ảnh trở đi trở lại là mái tóc bạc, Nguyễn Du có mái tóc bạc sớm, mái tóc như biểu tượng của lo nghĩ, của những nghiền ngẫm buồn thương và bế tắc

Tráng sỹ ngẩng mái đầu tóc bạc bi thương than với trời xanh Chí lớn một đời và miếng ăn hàng ngày cả hai đều mờ mịt Với một tài năng, lại từng là con quan tể tướng, lời than ấy thật xót xa

Tây Sơn ra Bắc 1786, Nguyễn Du ôm mối ngu trung với nhà Lê, không cộng tác, tìm đường lánh

ẩn chịu sống nghèo khổ Những thiếu thốn vật chất đôi lúc lộ ra trong thơ:

Hoặc:

Trước đèn phải mượn chén rượu cho gương mặt được hồng hào

Trang 5

Lời nhận xét thật chua chát, bế tắc Mái tóc bạc như một chứng tích tiều tụy cho cái nghịch lý ấy:

rồi:

Nói là già đến, nhưng lúc viết Thanh Hiên thi tập Nguyễn Du chỉ ở tuổi 20 đến 37

Ngậm ngùi vì ngày tháng giục tóc bạc Mái tóc bạc thành bạn tri âm cho Nguyễn Du than thở:

Mái tóc bạc bay trước gió thu Mái tóc bạc nhuốm bụi hồng là chân dung tâm hồn của Nguyễn

Du Cả đời chưa thấy lúc nào ông đắc ý Một sự chọn hướng trái chiều với bước đi của lịch sử làm Nguyễn Du ngùi ngẫm giằng xé cả một đời, ngay cả thời gian ra làm quan với Gia Long:

Tạ ơn mưa móc của vua nhưng lại thấy buốt lạnh trong xương cốt Nỗi niềm ấy chúng ta hiểu cho Nguyễn Du Nguyễn Du ôm một nỗi niềm éo le Giáo lý Khổng Mạnh dạy: Tôi trung không thờ hai vua Nhưng với Nguyễn Du, vua phải thờ thì hèn kém, thậm chí rước voi về giày mồ (Lê Chiêu Thống), còn vua phải chống thì lại anh hùng, bảo vệ độc lập dân tộc (Quang Trung) Đau đớn, bế tắc của Nguyễn Du là ở đấy Biết mà không vượt qua được, ông mong được hậu thế cảm thông:

Tương truyền: "Khi ốm nặng, ông không uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân Họ nói: đã lạnh rồi Ông bảo: Được! Rồi mất Không trối lại một lời."

Có một nỗi niềm đến phút cuối Nguyễn Du vẫn phải nén lại và mang đi Buồn thương, cô đơn đã thành thuộc tính của đời ông như màu xanh là thuộc tính của cỏ:

Hiện thực cuộc sống bi thương trong xã hội phong kiến cả ở nước ta lẫn ở Trung Hoa thuở ấy, từ cảnh ngộ dâu bể của cô Cầm đánh đàn ở Thăng Long đến nỗi cơ cực của ông già hát rong ở đất Thái Bình (Trung Quốc) đã cho Nguyễn Du thấy thân phận bèo bọt và những bất công mà kiếp người phải chịu Từ chính cảnh ngộ của mình ông thông cảm sâu sắc, tạo nên tình cảm thấm thía

Trang 6

cho những bài thơ thương đời Thương đời và thương mình đều da diết như nhau.

Nguyễn Du hay nói tới thân phận tha hương, lưu lạc Nỗi nhớ quê nhà luôn luôn bàng bạc trong các bài thơ Ông thấy tài năng văn chương như con chim phượng nhốt trong lồng nát và công danh thì cùng đường như con rắn đã chui trong hang

Ông viết bài thơ chống lại bài Chiêu hồn Khuất Nguyên của Tống Ngọc (bài Phản chiêu hồn), ông xui Khuất Nguyên đừng về vì thành quách vẫn còn nguyên mà người đã đổi khác, bụi bặm cuồn cuộn làm nhơ nhớp cả quần áo Ông khái quát: Đời bây giờ người người đều đều là Thượng Quan (Thượng Quan là kẻ gièm pha làm hại Khuất Nguyên) và mặt đất thì chỗ nào cũng là sông

Ở các bài vịnh nhân vật và luận về các sự kiện lịch sử Trung Hoa trong Bắc hành tạp lục, Nguyễn

Du đã xuất phát từ quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của con người để cân đo lại trọng lượng các vĩ nhân và các chiến công ầm ỹ một thời

Đọc thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng ta hiểu cội nguồn chủ nghĩa nhân đạo của ông thể hiện trong Truyện Kiều và những ký thác đời ông vào hình tượng Kiều, nhân vật sắc tài mà bạc mệnh

Góp một cách nhìn về Nguyễn Du và 'Truyện Kiều'

Trong hội thảo khoa học về Nguyễn Du tháng 12/2005 vừa qua, nhiều ý kiến khẳng định rằng, trong thời đại ngày nay, Nguyễn Du và Truyện Kiều mới được tôn vinh xứng đáng với giá trị của

Nguyễn Du là một thiên tài Thiên tài được hình thành không chỉ từ học vấn, từ bối cảnh xã hội

cụ thể nào mà còn có yếu tố từ vũ trụ, từ một khoảnh khắc nào đó mà thôi Truyện Kiều là một kiệt tác Là kiệt tác, nó luôn ẩn chứa những thông tin vĩnh cửu Không thể lấy thước đo của một thời mà đo chiều kích của thiên tài và kiệt tác Nhưng mỗi thời, đánh giá và khai thác di sản quá khứ một cách khác nhau, âu cũng là lẽ thường tình Với những kiệt tác, với những nhân vật kiệt xuất trong lịch sử, theo tôi, không nên tìm những “nhược điểm” theo cách nhìn của mình mà nên

1 Truyện Kiều là truyện tình năm Gia Tĩnh triều Minh hay truyện thế sự, truyện về thân

Tôi được nghe cha tôi giảng Kiều từ nhỏ Ấy là vì mẹ tôi mê Kiều đến nỗi, dù đã thuộc lòng, đêm nào cũng bắt cha tôi giảng giải kỹ từng đoạn Có lần, hai người tranh luận sôi nổi quá, cha tôi quờ tay làm rơi cái đèn chai Mảnh thủy tinh vỡ còn để sẹo ở tôi đến bây giờ Thế nhưng ngay cả khi

Trang 7

học xong đại học, tôi không bao giờ chú ý thấu đáo cái đoạn mở đầu của Truyện Kiều Đến bây giờ, tôi thấy không hiểu cái đoạn “đơn giản” như một lời dẫn chuyện ấy thì không thể hiểu hết

“Trăm năm” là thời gian, là khoảng sống của một đời người và cũng là từng trăm năm kiếp người một “Cõi người ta” là không gian Tóm lại, câu ấy gồm cả vũ trụ, là sự vĩnh cửu trong cõi người Chữ “Tài” là tài năng, là cái vốn có, là khát vọng của con người cá nhân “Mệnh” là điều kiện khách quan, mà khách quan thì có đáp ứng, có hạn chế Đối với bậc tài hoa thì sự hạn chế ấy là phũ phàng vì nó vượt qua tầm thời đại, nó là sự bù lại “lộc trời” đã ban cho quá lớn Trải qua một cuộc bể dâu - Những điều trông thấy mà đau đớn lòng là thế sự, là toàn bộ chuyện đời Truyện Kiều do đó không phải là chuyện tình, mà là một “tiểu thuyết” luận đề Vấn đề ở đây là quan hệ con người cá nhân với xã hội Và cách giải quyết của Nguyễn Du là Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài Có người cho rằng, để giải quyết nỗi khổ của con người, phải có một cuộc cách mạng triệt để Nhưng thực tế, nỗi khổ và oan khuất của con người có bao giờ hết? Trong trăm năm cõi người, lấy chữ “tâm” để ứng xử, không chỉ là ảnh hưởng của đạo Phật mà là một triết lý sâu xa, là tinh hoa những tư tưởng mà Nguyễn Du tiếp thu được cộng với sự trải nghiệm của ông trong quãng đời ngắn ngủi của mình chứng kiến sự sụp đổ của nhiều triều đại, sự tạm bợ của nhiều điều, kể cả chính cả bản thân sự sống Có người nói Nguyễn Du ảnh hưởng của giáo lý này, giáo

lý khác Không, ông đã đứng được ở bờ vĩnh cửu, đã không chỉ nói quan hệ xã hội của con người

mà còn nói tới quan hệ của cõi sống với những cõi khác huyền diệu

2 Vì sao Nguyễn Du lại chọn Thúy Kiều, một phụ nữ tài sắc thuộc tầng lớp trung lưu, làm

Không lấy nhân vật chính là người lao động bình thường không phải là hạn chế của Nguyễn Du theo quan điểm giai cấp mà là chỉ với sự lựa chọn ấy, Nguyễn Du mới có thể dẫn Thúy Kiều và chúng ta tới mọi cảnh ngộ của đời sống, mọi cung bậc của tình cảm Theo tôi, đó là một lựa chọn

3 Vì sao Nguyễn Du lại lựa chọn một câu chuyện Trung Hoa?

Đây lại là một lựa chọn thiên tài nữa Nó làm cho tác phẩm mang tính phổ quát Thứ nữa, trong các xã hội, nhất là trong xã hội phong kiến, có những án văn tự dẫn đến việc đốt sách và mang họa tru di Nguyễn Du là người biết rất rõ điều đó Có một câu về Từ Hải thôi mà Tự Đức nói, nếu Nguyễn Du còn sống thì phải nọc ra đánh Vậy viết một chuyện cụ thể Việt Nam, liên quan đến một dòng họ cầm quyền nào đó với sức tố cáo lớn như vậy, liệu Truyện Kiều có còn đến

Trang 8

ngày nay?

Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khốc Tố Như? - Đó là câu thơ trong bài Độc Tiểu Thanh ký Nàng Tiểu Thanh là người tài sắc, sống vào thời nhà Minh, bị vợ cả ghen giam lỏng trên núi đến buồn mà chết Nguyễn Du đọc được một bài thơ còn sót lại sau khi bị đốt của nàng, cảm kích mà làm bài này Bài thơ được ông Vũ Tam Tập dịch là:

Tôi không dám không hiểu như các cụ túc nho đã dịch và lâu nay mọi người vẫn hiểu Nhưng tôi cũng có một băn khoăn Vì sao lại là ba trăm năm? Có thuyết cho rằng Tiểu Thanh sống cách Nguyễn Du ba trăm năm Nhưng các cụ cũng nói rõ, đấy chỉ là giả thuyết, còn ý của Nguyễn Du thật như thế nào thì cũng chưa biết “Tam bách dư niên” phải chăng là một con số ước lệ, chỉ một vòng triều đại, một cuộc biến thiên lớn của lịch sử? Quả là Nguyễn Du có hay nói về già bệnh, về

cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân nhưng ngay cả đến lúc chết, ông cũng chỉ nói “Được” rất thanh thản Ông có cần, có mong muốn người đời sau khóc thương mình hay không? Nếu nghi vấn ấy có lý thì câu thơ sẽ phải được hiểu khác, sẽ mang một trường nghĩa rộng hơn Giả sử, Nguyễn Du đặt câu hỏi, ba trăm năm sau còn người ở vào chỗ phong vận kỳ oan như Nguyễn Du

Và cuối cùng, tôi nghĩ rằng, tình cảm chính của chúng ta hôm nay và hậu thế cũng không phải là khóc thương ông, mà muôn vàn khâm phục, biết ơn những di sản tinh thần vô giá mà ông đã sáng tạo nên Dẫu trong Truyện Kiều có bao nhiêu oan khuất thì sáng lên nhất vẫn là mối tình nồng thắm, đẹp đẽ của Kim - Kiều trong những ngày xuân Nó làm sáng lên ước vọng yêu đời của không biết bao nhiêu thế hệ, nó hướng con người tới những vì sao của tình yêu và hạnh phúc

Trong lời tựa của bản Kiều đem in năm 1820, Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân viết: “Ta lúc nhàn đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh như hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải con mắt trông cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả

Vua quan thời Minh Mệnh, Tự Đức đều rất mê Kiều Tự Đức muốn nọc Nguyễn Du ra đánh một trăm roi vì câu Chọc trời khuấy nước mặc dầu, Dọc ngang nào biết trên đầu có ai Nhưng cũng

Tự Đức: Mê gì? Mê đánh tổ tôm, Mê ngựa Hậu bổ, mê Nôm Thúy Kiều

Trang 9

Tuy nhiên, có một luồng khác coi Truyện Kiều là một dâm thư: Đàn ông chớ kể Phan Trần, Đàn

Phạm Quỳnh trong bài diễn văn đọc tại Hội Khai trí tiến đức năm 1924 tại Hà Nội: “Truyện Kiều không chỉ đối với văn hóa nước nhà mà đối với văn học thế giới cũng chiếm được một địa vị cao quý Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn ”

Để chống lại quan điểm này, quan điểm mà các nhà cách mạng cho nhằm để “ru ngủ” thanh niên, chí sĩ Ngô Đức Kế trong bài Luận về chánh học cùng tà thuyết, Quốc văn, Kim Vân Kiều, Nguyễn Du cùng năm đó viết trên tạp chí Hữu Thanh: “Văn tuy hay mà truyện là truyện phong tình, thì có vẻ ai dâm sầu oán, đạo dục tăng bi Các gã thiếu niên chí khí chưa định, tình dục đang nồng, xem truyện thì mê, rồi sinh cái tư tưởng trộm ngọc cắp hương, khêu hoa ghẹo nguyệt, say đắm trong trời tình bể ái mà mềm nhũn cái gan lòng sắt đá, bỏ mất cái chí nguyện cao xa ”

Sau cách mạng, chỉ có bài của Ngô Đức Kế chứ không có bài của Phạm Quỳnh được dạy trong nhà trường Một giáo trình đại học còn viết: Âm mưu của Phạm Quỳnh là ở chỗ này: “Truyện Kiều còn nước ta còn”, như thế thì yêu nước chỉ lao đầu vào nghiên cứu Truyện Kiều chứ cần

Bên cạnh sự ngợi khen và tôn vinh, học tập và nghiên cứu nhiều nhất từ trước tới nay, nửa thế kỷ qua vẫn còn nhiều lời phê phán đối với Truyện Kiều và tác giả của nó

Trong bài Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hoài Thanh viết:

“Nguyễn Du đã cảm thông được một phần nỗi khổ chung của con người bị chà đạp dưới một chế

độ ngày càng thêm mục nát Cố nhiên cũng chỉ cảm thông được một phần thôi Rốt cuộc, Nguyễn

Du vẫn là người của giai cấp phong kiến, của chế độ phong kiến”

Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai trong khi đề cao Truyện Kiều là tác phẩm ưu tú nhất, cũng viết:

“Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du cố nhiên mới chỉ biểu hiện bằng những phương thức yếu ớt theo đạo lý chữ nhân của đạo Khổng hoặc theo tinh thần hiếu sinh của đạo Phật, chưa phải là chiến đấu tính cho nhân đạo, cho con người Trong Truyện Kiều, tính chiến đấu chưa phải là tích cực và đúng với lập trường; mâu thuẫn chỉ giải quyết theo tinh thần thỏa hiệp với chế độ, tinh thần khuất phục với mệnh trời” (Đặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung Truyện Kiều)

Nguyễn Du tên tự là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, sinh năm 1765 và mất năm 1820 Quê ông gốc làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh và trải qua thời niên thiếu ở Thăng Long Ông thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt, cha là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm

Trang 10

đậu nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ, phong tước Xuân quận công (tể tướng dưới triều Lê); mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm), con gái quan Câu kê họ Trần ở làng Hoa Thiền huyện Đông Ngạn xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh)

Câu ca dao “Bao giờ ngàn Hống hết cây, sông Rum hết nước họ này hết quan” là chỉ cái việc làm

Anh đầu Nguyễn Du là Nguyễn Khản đậu đồng tiến sĩ, làm quan đến chức Tham tụng, cùng ở một triều với thân phụ Anh thứ hai là Nguyễn Điều trúng tam trường thi Hội, làm quan đến chức Trấn thủ Hưng hoá, phong tước Điền Nhạc hầu Anh thứ ba là Nguyễn Dao trúng tứ trường thi Hương, chịu chức Hồng lô Tự thừa Anh thứ tư là Nguyễn Luyện trúng tam trường thi Hương Anh thứ năm là Nguyễn Trước trúng tứ trường thi Hương Anh thứ sáu là Nguyễn Nễ trúng tứ trường thi Hương, một nhà đều là khoa giáp xuất thân, cùng làm quan ở triều Lê cả

Dòng họ Nguyễn Du không những nổi tiếng về khoa hoạn mà lại còn chiếm nhiều danh tiếng trong lĩnh vực văn chương Nguyễn Nghiễm còn để lại những tập Quân Trung liên vịnh, Xuân đình tạp vịnh, và quyển Việt sử bị lâm cung cùng nhiều tác phẩm chữ Nôm, từng làm bài phú Khổng tử mộng Chu công, nay còn truyền tụng Nguyễn Nễ còn để lại Quê hiên giáp ất tập và Hoà trình hậu tập cũng sở trường về văn Nôm Cháu Nguyễn Du là Nguyễn Thiện có tập thơ Đông phú và Nguyễn Đạm có tập thơ Quan hải, tập thơ Minh quyên đều là những văn hào đương thời Danh sĩ trong nước bấy giờ truyền có năm người lỗi lạc, người đời gọi là “An Nam ngũ tuyệt” thì họ Nguyễn Tiên Điền có đến hai người là Nguyễn Du và Nguyễn Đạm rồi

Dòng họ này lại còn được người đời nể trọng về lòng trung nghĩa Tổ tiên thuở xưa theo Mạc thì nhiều người tuẫn tiết khi nhà Mạc mất Thời Lê, sau khi Lê mất, mấy anh em Nguyễn Khản, Nguyễn Điêu, Nguyễn Luyện, Nguyễn Du cho đến cháu là Nguyễn Đạm đều khởi nghĩa cần vương Triều Tây Sơn sang đời Nguyễn nhiều người không chịu ra làm quan, kiên trinh giữ tiết

Trong thiên tài của Nguyễn Du, ông đã thừa hưởng được cái tính dịu dàng, nhã nhặn và phong lưu của xứ Kinh Bắc nhờ ảnh hưởng của mẹ, đã hưởng được hào khí của đất Hồng Lam, hùng tâm của người xứ Nghệ, cùng là lòng tiết nghĩa, khiếu văn chương, do gia phong truyền xuống

Lúc mười tuổi Nguyễn Du mồ côi cha, lúc mười ba tuổi mồ côi mẹ, thời niên thiếu ở với bác tại Thăng Long, dấu vết đài các hoa lệ của kinh đô để lại nhiều dấu vết trong ký ức Nguyễn Nhưng bao nhiêu yếu tố kể đó cũng chưa đủ tạo thành cái tính cách phức tạp và mâu thuẫn của ông, nếu

ta không kể đến những ngày tháng loạn ly ông phải sống điền dã nơi hang cùng xóm vắng, trong

sự thiếu thốn, lạnh rét như những người loạn dân thời bấy giờ

Sinh ra trong một gia đình quan lại, có truyền thống văn học, năng khiếu thơ văn của Nguyễn Du sớm có điều kiện nảy nở và phát triển Từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh đĩnh ngộ Năm 1783, Nguyễn Du thi hương đậu Tam Trường Vì lẽ gì không rõ, ông không tiếp tục thi lên nữa Phải chăng những năm niên thiếu của Nguyễn là những năm đầy biến động Ở Bắc giặc giã nổi lên tứ tung vì tệ tham nhũng, bè phái của các chúa Trịnh Giang, Trịnh Doanh và Trịnh Sâm

Ngày đăng: 07/07/2021, 00:08

w