1. Văn hoá ở các vùng Đông Bắc Tây Bắc Tây Nguyên Bánh chưng gù Ô quy hồ Múa xoan Phở chua Dtộc: cống, sila, lự Bỏ mả Bắc sum Măc khén Nhà dài Mù căng chải Pha đin Tiễn dặn người yêu Đẻ đất đẻ nước Tiếng hát làm dân Đâm trâu Phan xipăng Khau phạ Mã pí lèng Sử thi đăm săn Dinh nhà vương Sông lô Mường nhé Yên bái Tiếng hát lòng dân Đàn đá Pháo hoa Tằng cẩu Chọi trâu Hoa pơ lang Hội tam giác mạch Đàn môi Móc mật Hạn cuống Khăn piêu Bánh khảo Sắc bùa Lồng tồng Khảm hải Đẻ đất đẻ nước Đàn tính Khô già già Y tý Hát then Bánh chứng kiến Khèn Sông nho quế Sông đáy Mùa măng mọc Gầu tào của người mông có cả ở đông bắc và tây bắc 2. Khái quát được các vùng văn hoá: Đông Bắc Đặc điểm tự nhiên và xã hội vùng Đông Bắc có vị trí địa lí: +phía bắc giáp trung quốc +Phía đông tiếp giáp vịnh bắc bộ thuộc quảng ninh + phía tây giáp khu việt bắc + phía nam là vùng núi thấp giáp đồng bàng sông hồng Địa hình đồi núi thấp,:đá vôi hiểm trở, nhiều thung lũng, sườn dốc Máng trũng. Khí hậu Mùa Đông: Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ gió mùa Đông Bắc.Mùa lạnh đến sớm, kết thúc muộn, Có hiện tượng sương muối, sương giá, tuyết rơi. Mùa hạ :Chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam nên mưa nhiều, mùa mưa kéo dài 5 tháng Vùng đông bắc hiện nay gồm 7 tỉnh với diện tích trên 5,661 triệu ha
Trang 11 Văn hoá ở các vùng
Tiễn dặn người yêu
Đẻ đất đẻ nước Tiếng hát làm dân
Đâm trâu
Mường nhé Yên bái Tiếng hát lòng dân
Đàn đá
Chọi trâu
Hoa pơ lang Hội tam giác mạch Đàn môi
Khăn piêu
Đẻ đất đẻ nước
Y tý
Khèn Sông nho quế
Sông đáy
Mùa măng mọc
Gầu tào của người mông có cả ở đông bắc và tây bắc
2 Khái quát được các vùng văn hoá:
Đặc điểm tự nhiên và xã hội
vùng Đông Bắc có vị trí địa lí:
+phía bắc giáp trung quốc +Phía đông tiếp giáp vịnh bắc bộ thuộc quảng ninh + phía tây giáp khu việt bắc
+ phía nam là vùng núi thấp giáp đồng bàng sông hồng
Trang 2Địa hình- đồi núi thấp,:đá vôi hiểm trở, nhiều thung lũng, sườn dốc Máng trũng.
Khí hậu
Mùa Đông: Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ gió mùa Đông Bắc.Mùa lạnh đến sớm, kết thúc muộn, Có hiện tượng sương muối, sương giá, tuyết rơi
Mùa hạ :Chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam nên mưa nhiều, mùa mưa kéo dài 5 tháng
Vùng đông bắc hiện nay gồm 7 tỉnh với diện tích trên 5,661 triệu ha
- các tỉnh đó là: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Ninh
-Ở Tỉnh Hà Giang, cột mốc biên giới số 261 chính là cửa khẩu Thanh Thủy -Ở Tỉnh Cao Bằng cột mốc biên giới số 846 chính là cửa khẩuLý Vạn -Ở Tỉnh Lạng Sơn cột mốc biên giới số 1116 mang danh hiệu Hữu Nghị Quan -Ở Tỉnh Quảng Ninh cột mốc biên giới số 1305
Dân cư
-Dân cư các tỉnh vùng Đông Bắc gồm nhiều dân tộc : Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, H’Mong ( Mèo), Hoa, Thổ, La Chí, Mán, Giáy, Lô Lô Cư dânn chủ yếu ở vùng nay là tày nùng -Vùng đông bắc có nhiều sông chảy qua, trong đó các sông lớn là sông Hồng, sông Chảy, sông
Lô, sông Gâm (thuộc hệ thống sông Hồng), sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam
-Những đỉnh núi cao của vùng đông bắc đều tập trung ở đây, như Tây Côn Lĩnh, Kiêu Liêu Ti
Đặc điểm kinh tế; phương thức sản xuất chủ đạo là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, chiếm hữu
tự nhiên
Đời sống văn hoá vật chất:
Nhà ở :
Mỗi ngôi nhà sàn của người Tày - Nùng đều có cửa chính và cửa phụ, cửa chính được đặt ở gian giữa nhà, cửa phụ là cửa ra phía sau hoặc bên cạnh phía sau hông nhà Đầu hồi trước hoặc sau ngôi nhà đều có mặt sàn được làm bằng thân cây tre với chức năng chính dùng để phơi thóc, ngô…
Bên trong ngôi nhà sàn của người Tày - Nùng được thiết kế rất chặt chẽ, thường được chia làm 3 gian Trong đó, gian chính giữa là gian trang trọng nhất dùng để đặt bàn thờ cúng tổ tiên và tiếp khách; hai bên là phòng ngủ của gia đình Bếp được đặt ở phần cuối gian giữa của ngôi nhà, đây
là nơi để nấu ăn và mọi người sum họp bên bếp lửa Phía trên bếp lửa là gác bếp, thường dùng làm kho chứa đồ cũng như tận dụng sức nóng của lửa để bảo quản ngô, lạc, khoai… Còn bên dưới sàn nhà, người dân thường để nông cụ
Trang 3Trang phục của người tày nùng tương đối giản dị
+Nhìn chung người Tày thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm nên trang phục của họ màu chủ đạo là màu chàm, phụ nữ thường chít khăn mỏ quạ, mặc áo năm thân có thắt lưng, đeo vòng
cổ, tay, chân bằng bạc Do là ở thấp nên thường mặc bó
+Về tổng thể, trang phục của dân tộc Nùng hoa văn không cầu kỳ mà thiên về tạo dáng; màu sắc trên trang phục cũng khá đa dạng, từ màu xanh nhạt đến xanh thẫm, tím than, xanh đen… nhưng phổ biến nhất vẫn là màu chàm Trang phục gồm áo, quần, thắt lưng, khăn đội đầu, túi vải thêu,
đồ trang sức bằng bạc…; trang sức chủ yếu là khuyên tai, kiềng
ẩm thực của tày nùng: Một số món ăn có nguồn gốc dân tộc của dân tộc Tày - Nùng giờ cũng
đã trở thành đặc sản như: Khâu nhục Khâu Nhục là món ăn được làm từ thịt lợn ba chỉ Đây là món ăn gần giống như món thịt kho, nhưng được hấp cách thủy với nhiều loại gia vị như : húng lìu, ngũ vị hương, địa liền, tỏi, ớt, nên có hương vị đặc biệt Khâu nhục là món không thể thiếu trong bữa cơm đãi khách và trong mâm cỗ cưới, giỗ chạp, mừng thọ của người Nùng
Cũng như các dân tộc ở miền núi phía Bắc, nói đến món ăn đặc sắc của dân tộc Nùng phải kể đến là món vịt quay, lợn quay nhồi lá và quả Mắc mật, loại cây gia vị chỉ có ở các tỉnh như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn
Đời sống văn hoá tinh thần:
Có rất nhiều lễ hội nổi tiếng như:
Lễ hội Lồng Tồng của Tày, Nùng tức là lễ hội xuống đồng vào mùa xuân, trên một đám ruộng nhất định trước bản Mỗi gia đình sẽ đem đến một mâm lễ bao gồm: thịt, rượu, các loại bánh, xôi ngũ sắc để dâng trời đất Thầy cúng sẽ cầu khấn trời đất cho mưa thuận gió hoà Sau phần lễ, nhiều trò chơi cho mọi người dân tham gia như: đánh yến, đánh quay, kéo co, hát đối đáp…
Lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn sau khi ăn tết Lễ hội này với nhiều nghi thức mang màu sắc thần bí, như sau khi thầy cúng làm lễ xong, ý như là gọi các ma về nhập vào các cậu thanh niên - thường khoảng 12 thanh niên khoẻ mạnh - khi đó họ có thể nhảy trên than nóng, thậm chí
có người còn bốc cả than nóng cho vào mồm … Với người Pà Thẻn thì nhảy lửa là một tục lệ mang tính chất cộng đồng, là dịp để mọi người cùng nhau vui vẻ, thư giãn
Vùng đông bắc có nhiều phong tục:
-Tục cưới người Tày - N ùng
Đám cưới thường được tổ chức vào lúc chiều tối (tầm 4 -5 giờ trở đi) C ó 2 tiệc Tiệc cưới thứ nhất dành cho người lớn tuổi, bậc cha chú, anh em họ hàng; tiệc thứ hai dành cho nam nữ thanh niên, bạn bè gần xa của cô dâu chú rể Tiệc này bắt đầu vào khoảng 7-8 giờ tối Sau tiệc, tổ chức “lày cỏ” (một trò chơi như kiểu oẳn tù tì, người thua sẽ bị uống rượu phạt), /trai gái hát lượn với nhau kéo dài thâu đêm
-Tục “khẩu lẩu” (gạo rượu)
Khi gia đình nào có cưới hỏi, hiếu hỉ, nhà mới, thôi nôi, mừng thọ, ma chay…, ngoài số tiền phong bao như thường lệ, nhiều người còn đem gạo và rượu đến cho gia chủ Số gạo rượu đó
Trang 4được gia chủ ghi chép vào sổ cẩn thận Để khi nào nhà khác có việc, mình lại đi “khẩu lẩu” lại người ta
Tầng lớp trí thức hình thành sớm
• Có hệ thống chữ viết riêng (chữ Nôm của người Tày)
• Sinh hoạt văn hóa đặc thù,là văn hóa chợ (chợ phiên,chợ tình…)
• Văn học dân gian: phong,phú, đa dạng, đặc biệt là,lời ca giao duyên
Tín ngưỡng của dân cư vùng Đông Bắc
- Vùng này có những tục sau dây:
Tục thờ cúng thần đất, thần lúa
Tục thờ cúng tổ tiên,
Tục thờ phụng những người anh hùng dân tộc có công với nước, có công khai làng, lập ấp Nhân vật lịch sử được thờ phụng nhiều nhất là Phò mã triều Lý Dương Tự Minh, Đức thánh Trần Hưng Đạo
Về tôn giáo
-Có 5 tôn giáo: Đạo Phật, Ðạo Tin Lành, Đạo Công giáo, Đạo Cao Đài và Đạo Hồi Các tôn giáo này luôn luôn bị nhà nước Xã hội Chủ nghĩa kiểm soát chặt chẽ Riêng về Phật Giáo, thì chỉ có Phật Giáo Quốc Doanh được tự do hoạt động, còn thì Phật Giáo Việt Nam thống Nhất bị kiểm chế triệt để
Vùng Đông Bắc có một số địa danh Lịch sử:
Khu di tích Pác Bó lịch sử cách mạng Cộng Sản thuộc bản Pác Bó xã Trường Hà huyện Hà Quảng tỉnh Cao Bằng.Khu di tích bao gồm: nhà tưởng niệm Bác Hồ, núi Các Mác, suối Lê nin, hang Pác Bó nơi Hồ Chí Minh đã sống và làm việc
-Thành nhà Mạc: nằm trên địa phận tổ 7, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang Thành được xây dựng từ năm 1592, thời nhà Mạc và được sửa chữa vào thời đầu nhà Nguyễn
Vùng Đông Bắc có nhiều khu du lịch nổi tiếng:
-Khu Tam Đảo
-"Khu Công viên Địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn"
-Hang Pác Bó, thác Bản Giốc
- Hồ núi cốc, hồ ba bể
- ở vùng này hệ thống chữ nôm được xây dựng trong giai đoạn cận đại
- có một số di sản văn hoá như:
Trang 5-Lời ca giao duyên của dân tộc Tày – Nùng
- Lễ cúng thần rừng của dân tộc Pu Péo,
Nghệ thuật hát Then của dân tộc Tày Cao Bằng
Câu2: Những nội dung, đặc điểm cơ bản của ĐK tự nhiên, tộc người, lịch sử, văn hóa của vùngTây Bắc-
bao gồm 6 tỉnh:hoà bình, , Sơn La, điện biên, lai châu, lào cai, Yên Báí
Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi
Đặc điểm tự nhiên và xã hội
+ Núi rừng thung lũng đan xen, thung lũng là vựa lúc của cả vùng (4 vựa lúa lớn nhất: Nhất Thanh, Nhì Lò, Tam Than, Tức Tấc)
.+ Miền núi cao hiểm trở: Đỉnh Fanxipang là điểm cao nhất của dãy núi Hoàng Liên Sơn
+ Vùng văn hoá được tạo bởi 3 dòng sông lớn Sông Đà); Sông Mã, Sông Hồng
Đặc điểm kinh tế
+ Văn hoá sản xuất của người Thái “ Mương Phai Lái Lịn”
+ phương thức lao động sản xuất của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Mông-Dao( ở vùng núi cao), tạng miến chủ yếu là phát nương làm rẫy, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên
+ phương thức lao động sản xuất chính cuả các dân tộc Môn-Khmer( ở vùng rẻo giữa) là trồng lúa cạn, chăn nuôi gia súc và một số nghề thủ công;
+còn ở vùng thung lũng, chân núi là nơi sinh sống của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt -Mường, Thái - Kadai,điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn để phát triển nông nghiệp và các ngành nghề khác sự khác biệt về điều kiện sinh sống và phương thức lao động sản xuất cũng gây ra sự khác biệt văn hóa rất lớnnhà)
- dân cư
+ Người Thái là chủ thể trong lịch sử phát triển của vùng, văn hoá Thái nổi lên như một sắc thái đạidiện cho văn hoá Tây Bắc
+Mường là dân tộc có dân số lớn nhất vùng Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác như H'Mông, Dao, Tày, Kinh, Nùng
Đời sống văn hoá vật chất:
Nhà ở của các tộc người thái, lào mường, khơmú, xinhmun, kháng cống đều bằng nhà sàn
Với người Hmông, dao lạ ở nhà trệt, mái thấp tường trình
Trang 6+ Ở: Người Thái sống nhiều ở vùng thung lũng, quanh sông, suối…Nếu ở thung lũng thì ở nhà sàn (cómái đầu hồi khum khum hình mai rùa), nếu ở trên cao thì ở nhà dựa núi
+Người mông thường ở nhà đất và kín cho ấm
Trang phục
-nam giới: trang phục của nam người Thái đơn giản và ít chứa đựng sắc thái, gồm: Áo, quần, thắt lưng và các loại khăn Áo nam giới có hai loại: áo cánh ngắn và áo dài Áo ngắn may bằng vải chàm, kiểu xẻ ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn Khuy áo làm bằng đồng hay tết thành nút vải Áo không có trang trí hoa văn, chỉ trong dịp trang trọng người ta mới thấy nam giới Thái mặc tấm áo cánh ngắn mới, lấp ló đôi quả chì ở đầu đường xẻ tà hai bên hông áo
-nữ giới: Nếu như hoa ban là biểu tượng cho núi rừng Tây Bắc thì áo cóm chính là biểu tượng của người phụ nữ dân tộc Thái Một bộ trang phục truyền thống phụ nữ Thái gồm: áo ngắn (xửa cỏm), áo dài, váy, thắt lưng, khăn (piêu), nón (cúp), xà cạp ,các loại hoa tai, vòng cổ, vòng tay và
xà tích
So với một số dân tộc khác, trang phục của người Mường không có màu sắc rực rỡ mà đơn giản hơn nhiều, song cũng có những nét rất đặc trưng Nam giới thường mặc áo ngắn hoặc áo dài, màu chàm, cài khuy, quần dài, rộng, thắt lưng quấn quanh cạp, đầu búi, quấn khăn dài, đầu khăn giắt sang hai bên, sau này cũng có dùng khăn xếp quấn như của người Kinh dưới xuôi
Trang phục của phụ nữ thường là áo màu trắng hay màu sáng ngắn chấm đến eo để chỗ cho chiếc cạp váy chiếm vị trí quan trọng trong trang phục Váy của phụ nữ Mường thường dùng vải thâm hay nhuộm chàm đen hình ống Nổi bật nhất của chiếc váy là cái cạp váy đã trở thành một sản phẩm nghệ thuật đặc sắc nhất của người Mường
ẩm thực:
- là cái nôi của các dân tộc thiểu số như Thái, Tày, Mường, Dao, hà nhì Tây Bắc nổi tiếng với những món ăn truyền thống đặc sắc không giống như người miền xuôi, người tây bắc thích thưởng thức ẩm thực trong không gian cộng đồng tại các lễ hội chợ phiên đặc biệt là vào ngày Tết
những món ăn mang nét đặc sắc riêng của dân tộc ở tây bắc như: cơm lam, gà mọ, cá suối nướng thịt trâu gác bếp: Với vị cay của ớt quyện với vị cay của gừng, cùng với gia vị hạt mắc khén và mùi khói củi đã làm thành hương vị đặc trưng của món thịt trâu gác bếp Tây Bắc
văn hoá tinh thần:
Có rất nhiều lễ hội ở vùng tây bắc
Lễ hội hoa ban
-Lễ hội hoa Ban là một lễ hội của người Thái ở vùng Tây Bắc được tổ chức vào ngày mùng 5 tháng 2 âm lịch hàng năm Vào lúc này hoa Ban đã phủ trắng cả núi rừng Tây Bắc Lễ hội là dịp thể hiện tấm lòng tôn kính, biết ơn của đồng bào tưởng nhớ công lao to lớn của các vị thần cũng như cầu cho quốc thái, dân an, bản mường no ấm, mùa màng bội thu, …
Trang 7- Lễ hội cầu mưa
Lễ hội cầu mưa là một nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc của người đồng bào dân tộc Thái vùng Tây Bắc Lễ hội thường được tổ chức hàng năm vào khoảng cuối tháng 10, đầu tháng 11
âm lịch Lễ hội có ý nghĩa cầu mong thời tiết ôn hòa, mùa màng bội thu, sức khỏe phơi phới, gia đình ăn nên làm ra,…
các dân tộc trong vùng Tây Bắc đều có tín ngưỡng "mọi vật có linh hồn" một loại tín ngưỡng mà mọi dân tộc trên hành tinh đều trải qua.Có đủ loại hồ và thần sông, đá, cây, súc vật, mưa, sấm, các nộ phận trên thân thể con người cũng có hồn
Tôn giáo: các dân tộc thiểu số ở vùng tây bắc chủ yếu theo đạo tin lành, hiện nay công giáo cũng phát triển manh mẽ
Văn hóa nghệ thuật: Nhạc cụ bộ hơi, những điệu múa xòe và những bản trường ca bất hủ (Tiễn dặn người yêu, Đẻ đất đẻ nước, Tiếng hát làm dâu…)
Phong tục:
Dân tộc thái cưới vợ sau 3 năm ở rể
theo tục lệ cũ người con trai phải đến ở nhà con gái 3 tháng trước khi làm lễ cưới chính thức anh
ta chỉ được phép ở gian đầu nhà sàn dành cho khách nam giới và chỉ được phép mang một con dao để làm việc sau thời gian thử thách 3 tháng Nếu được bố mẹ vợ tương lai ưng ý chàng trai sẽ trở về nhà báo cho bố mẹ mình biết Lễ thành hô chính thức được tổ chức sau 3 năm Sau 3 năm
đó nếu đồng ý cưới chàng trai cô gái sẽ búi tóc nếu ko sẽ tự ý cắt tóc mình
Tục vỗ môg kén vợ của chàng trai mông, tục ngủ thăm của người mường
Một số địa danh nổi tiếng ở vùng tây bắc:
ĐÈO PHA ĐIN nối liền hai tỉnh Điện Biên và Sơn La Đèo Pha Đin cũng được mệnh danh là tứ đại đỉnh đèo của vùng núi phía Bắc bên cạnh đèo Ô Quy Hồ, Mã Pí Lèng, Khau Phạ
Ruộng bậc thang Mù Cang Chải một trong những địa điểm thu hút nhiều nhiếp ảnh gia và khách
du lịch nhất vào mùa lúa chín đến để chiêm ngưỡng cảnh sắc thiên nhiên tuyệt mỹ
Điện biên phủ nơi được mệnh danh là
Văn hoá phi vật thể
-cồng chiêng của người mường, khèn, kèn, đàn môi của người Hmông và sáo, nhị, trống, kèn đồng
-múa dân gian của các tộc người Tây Bắc cũng rất đa dạng người Thái có múa xòe để sạc muốn đón người H'mông nổi tiếng với múa khèn có thể xem nghệ thuật múa dân tộc là một nét đặc trưng của vùng Tây Bắc
Nghệ thuật trang trí tinh tế trên trang phục chăn màn
Những điều cần tránh khi đến tây bắc:
Trang 8Trang phục; múa dân gian của các tộc người Tây Bắc cũng rất đa dạng người Thái có múa xòe để sạc muốn đón người H'mông nổi tiếng với múa khèn có thể xem nghệ thuật múa dân tộc là một nét đặc trưng của vùng Tây Bắc
Chào hỏi; bạn nên chủ động chào hỏi chủ nhà bằng thái độ chân thành khi chia tay có thể bắt tay không cần nói lời tạm biệt Nhưng hãy nhớ luôn nở nụ cười thân thiện bạn không được viết sau khi dạo chơi ở bản bởi những người dân tộc quan niệm việc vi sao là gọi ma quỷ về
Vùng văn hoá Tây Nguyên
Vùng Tây Nguyên có diện tích chiếm 16,5% diện tích cả nước (54,7 nghìn km2)
Nằm trên sườn đông của dải trường sơn, bắt đầu từ vùng núi Bình-Trị-Thiên
Tây Nguyên được cấu thành bởi 5 tỉnh: Đăk Lăk, Lâm Đồng, Đăk Nông, Kom Tum và Gia Lai
Vị trí tiếp giáp:
+ Phía Đông: giáp Duyên hải Nam Trung Bộ
+ Phía Nam: giáp Đông Nam Bộ
+ Phía Tây: giáp Lào và Campuchia
+ Vùng Tây Nguyên không giáp biển và nằm trên cao nguyên Trường Sơn Nam
Nằm ở ngã 3 biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia thuận lợi giao lưu văn hóa, kinh tế giữa các vùng và giữa các nước trong tiểu vùng sông Mê Công Tây Nguyên có ý nghĩa chiến lược trong
an ninh – quốc phòng của Tổ quốc
Là vùng có địa hình cao, gồm các cao nguyên xếp tầng
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ dệt là mùa mưa và mùa khô
Dân cư
ở đây có trên 20 tộc người, nói các ngôn ngữ Môn-Khmer và Nam Đảo cư trú
ở đây có các dân tộc bản địa sống lâu đời hàng chục thế kỉ đó là các dân tộc: Bana, ê đê, Gia Rai, H’mong
Hai dân tộc Bana, Gia Rai sống ở hai tỉnh Kon tum và Gia Rai
Hai dân tộc này về văn hóa có những điểm giống nhau và có những điểm khác nhau , tuy nhiên giống nhau thì nhiều hơn
Giống nhau:
Đời sống văn hoá vật chất:
Về Nhà ở
Trang 9họ có loại hình nhà sàn Trước đây khi chế độ gia đình lớn còn thịnh hành, thường có những căn nhà dài hàng trăm mét, tuy nhiên hiện nay chế độ gia đình lớn không còn nữa, mô hình các gia đình nhỏ với những căn nhà sàn gọn gàng xuất hiện ngày càng nhiều Nhà sàn ngắn của các gia đình nhỏ là phổ biến Nhà sàn thường dài từ 7m đến 15m, rộng từ 3m-4m, cao từ 4m-5m, sàn cách mặt đất khoảng 1m đến 1,5m
Nhà sàn cho mỗi gia đình một vợ một chồng mẫu hệ, loại nhà sản nhỏ, mở cửa chính nhìn về hướng Bắc Đặc điểm là nhà nóc hình mai rùa hoặc nhà có hai mái chính với hai mái phụ hình khum - dấu vết của nóc hình mai rùa Chỏm đầu dốc có "sừng" trang trí với các kiểu khác nhau tùy theo địa phương Vách che nghiêng theo thế "thượng thu hạ thách" Có nhà, cột xung quanh nhà cũng chôn nghiêng như thế vách Thang đặt vào một sàn lộ thiên trước cửa nhà Trên sàn này người ta đặt cối giã gạo (cối chày tay) Điểm đáng chú ý là dưới đáy cối có một cái "ngõng" Khi giã gạo người ta cắm cái ngõng ấy vào một cái lỗ đục trên một thanh gỗ đặt trên sàn.Nhà tre vách nhưng có thêm lớp đố, bên ngoài buộc rất cầu kỳ như là một lớp trang trí Bộ khung nhà kết cấu đơn giản Có làm vì kèo nhưng vẫn trên cơ sở của vì cột
Về Trang phục
Trang phục nam: áo chui đầu, cổ xẻ áo cộc tay, thân áo có đường trang trí sọc đỏ chạy ngang, gấu áo màu trắng khố hình chữ T , luồn qua háng rồi che một phần mông rét, họ mang theo tấm choàng búi tóc giữa đỉnh đầu hoặc để xõa khăn chít theo kiểu đầu rìu Trong dịp lễ bỏ mả, họ thường búi tóc sau gáy và cắm một lông chim công Nam cũng thường mang vòng tay bằng đồng
Trang phục nữ: tóc ngang vai, có khi búi và cài lược hoặc lông chim, hoặc trâm bằng đồng, thiếc.Có nhóm không chít khăn mà chỉ quấn bằng chiếc dây vải hay vòng cườm Nhẫn được dùng phổ biến và thường được đeo ở hai, ba ngón tay Tục xả tai phổ biến vừa mang ý nghĩa trang sức vừa mang ý nghĩa tín ngưỡng của cộng đồng Hoa tai có thể là kim loại, có thể là tre,
gỗ Tục cà răng mang theo quan niệm của cộng đồng hơn là trang sức Phụ nữ mặc áo chủ yếu là loại chui đầu, ngắn thân và váy Áo có thể cộc tay hay dài tay Váy là loại váy hở,Quanh bụng còn đeo những vòng đồng và cài tẩu hút thọc vào đó
Về Kinh tế,
họ giống nhau về chăn nuôi trâu bò, voi, lợn, săn bán và hái lượm chủ yếu là trồng rẫy Công
cụ canh tác của người Gia Rai giản đơn, chủ yếu là con dao chặt cây, phát rừng, cái cuốc xới đất
và cây gậy chọc lỗ khi tra hạt giống bắp và đậu
Về ẩm thực:
họ có đặc sản Rượu cần, Cơm cháy - Rượu nếp, Phở khô (Loại phở hai tô)
Đời sống văn hoá tinh thần:
nhạc cụ họ có : Cồng chiêng, Đàn đá, Đàn K'ni, K'lông pút, Đàn Goong,
Lễ hội:
Trang 10-lễ hôị đâm trâu: là một lễ hội nhằm mục đích tế thần linh hoặc những người đã có công chủ trì thành lập buôn làng, ăn mừng chiến thắng, ăn mừng mùa màng bội thu hay ăn mừng các sự kiện quan trọng khác
- Thường sau khi người chết được 1 hay 3 năm người ta tiến hành làm lễ bỏ mả, khi gia đình của người chết có đủ trâu bò, rượu thịt Nghi thức bỏ mả được diễn ra ở khoảng đất gần nơi chôn người chết Bò được xẻ thịt ngay tại đó, rượu cần được buộc thành hàng, bàn cúng được dựng bằng tre, nứa, trên đó bày đồ cúng cho linh hồn người chết
Về Phương tiện vận chuyển: Gùi có hai dây đeo qua vai là hình thức phổ biến Ngoài ra có
ngựa, voi để thồ và cưỡi Voi còn dùng để kéo
Về Tín ngưỡng: Người Gia-rai v à Bana theo vạn vật hữu linh, suy tôn nhiều vị thần.
Người Ê đê
Người Ê Đê làm rẫy là chính, Ngoài ra còn trồng trọt chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt vải
Đời sống văn hoá vật chất:
Nhà cửa:n hà sàn người Ê Đê có hình con thuyền dài, cửa chính mở phía trái nhà, cửa sổ mở ra phía hông Bên trong nhà có trần gỗ hình vòm giống hệt mui thuyền Nhà sàn của người Ê Đê thuộc loại hình nhà dài sàn thấp, thường dài từ 15 đến hơn 100 m tùy theo gia đình nhiều người hay ít người nhà sàn của gia đình lớn theo chế độ mẫu hệ
Trang phục:
-Trang phục nam :Nam để tóc ngắn quấn khăn màu đen nhiều vòng trên đầu Y phục truyền thống gồm áo và khố
- Trang phục nữ: Phụ nữ Ê Đê để tóc dài buộc ra sau gáy Họ mang áo váy trong trang phục thường nhật Xưa họ để tóc theo kiểu búi tó và đội nón duôn bai Họ mang đồ trang sức bằng bạc hoặc đồng Vòng tay thường đeo thành bộ kép nghe tiếng va chạm của chúng vào nhau họ có thể nhận ra người quen, thân
Đời sống văn hoá tinh thần:
Người Ê Đê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, đặc biệt là các trường ca, sử thi Người Ê Đê yêu ca hát, thích tấu nhạc Nhạc cụ có cồng chiêng, trống, sáo, Đinh Năm, Đinh Tuốc là các loại nhạc cụ phổ biến của người Êđê và được nhiều người yêu thích
Phần lớn người Ê Đê theo đạo Thiên Chúa Giáo Số người theo Tin Lành nhiều hơn Công giáo Đắc Lắc được coi là một trong những trung tâm đạo Tin Lành lớn nhất khu vực Đông Dương