Bộ câu hỏi đề cương liên quan đến môn tôn giáo học đại cương bao gồm: các câu hỏi về khái niệm, chức năng của tôn giáo, các giáo lý cơ bản, các đạo phổ biến ở Việt Nam: Phật giáo, Cao Đài, Hoà Hảo,...tín ngưỡng thờ mẫu, thờ thành hoàng làng
Trang 1Đề cương môn tôn giáo học đại cương
1.Phân tích chức năng “Đền bù hư ảo” của tôn giáo và cho biết sự tác động của chức năng này đối với hoạt động du lịch.
Chức năng đền bù hư ảo: -Tôn giáo ra đời từ sự bất lực của con người trước tự nhiên, từ sự áp bức của giai cấp, từ sự khổ đau của kiếp người, từ sự hụt hẫng của giấc mơ và thực tại…nên nó
“đền bù” cho con người những khổ đau hụt hẫng đó Con người tìm thấy sự an ủi, vỗ về, chở che, yêu thương, cứu rỗi, giải thoát…
- Tôn giáo ra đời trên cơ sở “Nguồn gốc tâm lý” của con người, và đến lượt mình, tôn giáo lại làm thỏa mãn những trạng thái tâm lý đó.
- Ví dụ: Về việc cúng tế người chết, thờ cúng tổ tiên…
- Luận điểm nổi tiếng của Mác “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
=>Khẳng định, sự đền bù “hư ảo” của liều thuốc phiện tôn giáo đối với con người
.=> Kiên quyết đấu tranh xóa bỏ tôn giáo với tư cách là hạnh phúc giả tạm, không sự thật.
- Chức năng đền bù hư ảo là chức năng quan trọng nhất, bản chất nhất của tôn giáo.
Sự tác động: chức năng này có tác động to lớn đến hoạt động du lịch: vì chứcnăng này đền bù cho con người những khổ đau hụt hẫng, nên có rất nhiều khu
du lịch tâm linh được xây dựng: chùa, chiền, đình làng, Khi đến đây con ngườitìm thấy sự an ủi, vỗ về, chở che, yêu thương, cứu rỗi, giải thoát
Câu 2 Phân biệt Phật giáo tiểu thừa và Phật giáo đại thừa (Cho ví dụ cụ thể).
- Trong quá trình hình thành và phát triển, từ Ấn Độ, Phật giáo đã được truyền sang các nước
lân cận, ra khu vực á đông và phát triển trên toàn thế giới Sự phát triển này, được chia theo 2 hướng: về phương Bắc, gọi là Phật giáo Bắc Tông, mang tư tưởng Đại thừa Về phương Nam, gọi là Phật giáo Nam Tông, mang tư tưởng Tiểu thừa. Sự phân chia này không phải do mâu thuẫn
về tổ chức hay quyền lợi, địa vị mà do khác biệt trong quan điểm về giáo lý, giới luật.
Hiện nay, Phật giáo Việt Nam tuy có một số khác biệt giữa Đại Thừa ở miền Bắc và Tiểu Thừa ở Miền Nam về giáo lý, giáo luật nhưng đều thóng nhất
ở phương châm “ đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội ” góp phần giáo dục đạo đức con người, xây dựng đất nước hòa bình, phát triển.
Trang 2điểm giống nhau dễ nhận thấy nhất giữa hai hệ phái này là cùng bắt nguồn từ đức Phật, và cùng tôn kính đức Phật Thích Ca Giáo pháp cơ bản hai phái này đều dung đó là: Tứ diệu đế (1), Thập nhị nhân duyên (2) (Mười hai nhân duyên), Bát chánh đạo (3), Nhân quả (4), Nghiệp (5)…
Phật giáo tiểu thừa Phật giáo đại thừaĐịnh nghĩa - là “con đường cứu vớt nhỏ”
hoặc “cỗ xe nhỏ”, chủ trương chỉ những người xuất gia tu hành mới được cứu vớt Phái này cho rằng những người theo Tiểu thừa phải
tự giác ngộ, tự giải thoát cho bản thân mình, không thể giải thoát cho người khác
- là “con đường cứu vớt lớn”,
“cỗ xe lớn” được gọi là tôn giáo cải cách Giáo lý Đại thừa có nhiều cái mới so với đạo Phật nguyên thủy Phái này cho rằng không chỉ những người xuất gia
tu hành mà cả những phật tử cũng được cứu vớt.
Về sự giải thoát - Phái Tiểu thừa quan niệm rằng
sinh tử luân hồi và niết bàn là hai phạm trù khác biệt nhau, chỉ khi nào con người thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi thì mới lên được Niết Bàn Niết Bàn là cõi hư vô, là nơi đã giác ngộ, ở đó không còn khổ não Phật tổ là người đầu tiên đạt tới Niết Bàn.
- Phật giáo Đại thừa quan niệm rằng sinh tử luân hồi và Niết Bàn không phải là hai phạm trù khác biệt, ngay trong quá trình tồn tại (quá trình sinh tử) cũng
có thể đạt được Niết Bàn Theo phái Đại thừa, Niết bàn là nơi cực lạc, là thế giới của các vị Phật, giống như Thiên đường của các tôn giáo khác.
Về thờ phụng - Theo phái Phái Tiểu thừa chỉ có
Thích Ca là Phật duy nhất Phái Đại thừa không chỉ thừa
nhận Thích Ca là Phật mà còn thừa nhận nhiều Phật khác như Phật Adiđà, Phật Di Lặc, Phật Đại Dược Sư Ai cũng
có thể trở thành Phật và thực
tế đã có nhiều người thành Phật như Văn Thù Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Phổ Hiền
Bồ Tát
Với quan niệm đó, những chùa theo Phái Đại thừa thờ nhiều tượng Phật Bồ Tát cũng là đối tượng được thờ cúng.
Về vđ truyền bá - Phái Tiểu thừa được truyền bá ra
nhiều nơi, từ Xri Lanka đến Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam… Quá trình phát triển của phái Tiểu thừa cũng chia thành nhiều chi phái, tiêu biểu như Thành thực tông,
-Với quan điểm cách tân của mình, Phật giáo Đại thừa được truyền bá đến nhiều nơi trên thế giới, trước hết là các nước châu
Á Từ Ấn Độ truyền sang Tây Tạng rồi vào Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam Trong quá trình đó, phái Đại
Trang 3Luật tông, Câu xá tông… thừa cũng chia thành nhiều chi
phái, tiêu biểu có Pháp tương tông, Tam luận tông, Hoa nghiêm tông, Mật tông, Tịnh độ tông, Thiền tông.
- tập trung giữ gìn giới luật cho trong sạch như lời Phật dạy
- Phật giáo Đại thừa thì xem trọng
lễ nghi và ăn chay
Về cách thức tu hành nhấn mạnh việc tự giải phóng
thông qua nỗ lực của cá nhân.
Phương tiện chính để đạt được giác ngộ là thông qua Thiền và coi trọng tầm quan trọng của tu viện
- thì phải tự do lao động để sinh sống và sắc phục thường mặc là
áo màu nâu, khi hành lễ mới mặc đạo phục màu vàng.
Câu 3 Phân tích hai chức năng “Đền bù hư ảo” và “Điều chỉnh” của tôn giáo (cho ví dụ cụ thể đối với từng chức năng)
Chức năng đền bù hư ảo: -Tôn giáo ra đời từ sự bất lực của con người trước tự nhiên,
từ sự áp bức của giai cấp, từ sự khổ đau của kiếp người, từ sự hụt hẫng của giấc mơ và thực tại…nên nó “đền bù” cho con người những khổ đau hụt hẫng đó Con người tìm thấy
sự an ủi, vỗ về, chở che, yêu thương, cứu rỗi, giải thoát…
- Tôn giáo ra đời trên cơ sở “Nguồn gốc tâm lý” của con người, và đến lượt mình, tôn giáo lại làm thỏa mãn những trạng thái tâm lý đó.
- Luận điểm nổi tiếng của Mác “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
=>Khẳng định, sự đền bù “hư ảo” của liều thuốc phiện tôn giáo đối với con người
.=> Kiên quyết đấu tranh xóa bỏ tôn giáo với tư cách là hạnh phúc giả tạm, không sự thật.
- Chức năng đền bù hư ảo là chức năng quan trọng nhất, bản chất nhất của tôn giáo.
- Có hai nhóm hành vi được điều chỉnh:
o Nhóm hành vi liên quan đến nghi lễ như bái, quỳ, dâng vật phẩm, dâng hương…Gọi là nhóm hành vi nghi lễ
o Nhóm hành vi phi nghi lễ như cách ứng xử với đạo hữu, lối sống, đạo đức
Trang 4- Thực hiện chức năng này, một mặt tôn giáo hướng con người ta tới sống tốt hơn, thánh thiện hơn nhưng cũng có thể ru ngủ, dẫn dắt con người đến những hành vi mê tín, cuồng tín…
Vd: bói toán xem thẻ đầu năm -> mê tín.
- Không ít kẻ xấu lợi dụng chức năng này để dẫn dắt con người, phục vụ các mục đích phi tôn giáo: Phong trào “chúa vào nam”, phong trào Hồi giáo cực đoan.
Câu 4 Trình bày những nội dung cơ bản về Phật giáo(Lịch sử hình thành, Người sáng lập, Giáo lý cơ bản, Trường phái, Nghi lễ v v.)
Lịch sử hình thành:
-Đạo Phật ra đời vào thế kỷ thứ VI Tr.CN tại Ấn Độ
- Từng là quốc giáo của Ấn Độ vào thế kỷ thứ III và sau đó lan truyềnsang khắp các quốc gia, châu lục, chủ yếu là ở phương Đông và biến thànhquốc giáo của nhiều quốc gia
-Đạo Phật hiện nay có khoảng trên 300 triệu tín đồ trên khắp thế giới.
Người sáng lập ra đạo Phật: là Thái tử Tất Đạt Đa (Shidartha) sinh năm 624 trước công nguyên thuộc dòng họ Thích Ca (Sakyà), con vua Tịnh Phạn Vương Đầu
Đà Na (Sudhodana) trị vì nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavasu) xứ Trung Ấn Độ lúc đó và hoàng hậu Ma Da (Maya)
Dù sống trong cuộc đời vương giả nhưng Thái tử vẫn nhận ra sự đau khổ của nhân sinh, vô thường của thế sự nên Thái tử đã quyết tâm xuất gia tìm đạo nhằm tìm ra căn nguyên của đau khổ và phương pháp diệt trừ đau khổ để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi Sau nhiều năm tìm thày học đạo, Thái Tử nhận ra rằng phương pháp tu hành của các vị đó đều không thể giải thoát cho con người hết khổ được
Cuối cùng, Thái tử đến ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ đề và thề rằng “Nếu Ta không thành đạo thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này” Sau 49 ngày đêm thiền định, Thái tử đã đạt được Đạo vô thượng, thành bậc “Chánh đẳng chánh giác”, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni Đó là ngày 08 tháng 12 năm Đức Phật 31 tuổi.
Giáo lí cơ bản: của đạo Phật nằm trong Tam tạng kinh điển:
Kinh
Luật
Trang 5Luật Nhân Quả: Đạo Phật chủ trương rằng, đời sống con người cũng như
của tất cả sự vật hiện tượng đều không phải do một đấng sáng thế nào sinh ra
mà tất cả đều do nhân duyên Con người sở dĩ có sai khác trong hình hài, dáng
vẻ, hoàn cảnh sống là do đã gieo “nhân” thiện ác khác nhau
Lý Luân Hồi: là sự chuyển sinh, sự chuyển tiếp, sự diễn tiến liên tục của
những kiếp sống và sự chuyển sinh liên tục đó thường biểu thị bằng bánh xeđược gọi là bánh xe luân hồi Từ chỗ luận giải về Luật Nhân Quả, Đạo Phật chủtrương con người do nghiệp sinh ra, sinh ra lại tạo nghiệp nên cứ trôi lăn mãitrong vòng luẩn quẩn không thoát ra được
Vô Thường: Soi xét cuộc đời, đạo Phật cho rằng tất cả mọi sự vật, sự việc,
hiện tượng không có gì tồn tại vĩnh viễn, bất biến mà tuân theo quy luật vôthường: Có sinh ra, có tồn tại, có biến đổi và có diệt mất Tất cả những sự sinh
ra, tồn tại, biến hoại, và mất đi đó đều do Nhân Duyên mà ra
Vô Ngã là không có những thực thể vật chất tồn tại một cách cố định.
Con người cũng chỉ là sự tập hợp của 5 uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành, thức chứkhông phải là một thực thể lâu dài
Cơ sở tư tưởng của Phật pháp là Tứ diệu đế, là cốt lõi giáo pháp của đạo Phật vàcũng là điều mà Phật đã chứng ngộ lúc đạt đạo Bốn chân lí này chính là câu trảlời cho câu hỏi của thời đại đó là: Tại sao con người cứ bị trói buộc trong luânhồi và liệu con người có hội thoát khỏi nó hay không?
Tứ diệu đế là: Bốn chân lí mà Đạo Phật khẳng định là tuyệt đối đúng khi nhận
thức về cuộc đời
Khổ đế : Chân lí về các nỗi khổ Chân lí thứ nhất cho rằng mọi dạng đang tồn
tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn Sinh, lão, bệnh, tử, xa lìa ngườimình yêu quý, ở gần người mình ghét bỏ, không đạt sở nguyện, là 8 điều khổ(bát khổ): = Sự khổ đau (bát khổ: Sinh, Lão, Bệnh,Tử
+ Ái biệt ly khổ (những người thân yêu phải xa nhau là khổ);
+ Oán tăng hội khổ (những người có oán thù mà phải gặp gỡ cũng khổ);
+ Cầu bất đắc khổ (điều mong cầu không toại nguyện là khổ);
Trang 6+ "Ngũ ấm xí thịnh khổ"
Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm Ngũ uẩn là các điều kiện tạonên cái ta, đều là khổ
Tập đế là chân lý về nguyên nhân của các nỗi khổ Nguyên nhân chủ yếu là luân
hồi, mà nguyên nhân của luân hồi là nghiệp, sở dĩ có nghiệp là do long hammuốn như ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang…
Diệt đế là chân lí về sự chấm dứt các nỗi khổ Đạo Phật cho rằng, con người có
khả năng thoát khỏi sự khổ đau, ràng buộc của thế gian để đạt tới sự giải thoátrốt ráo, tuyệt đối (Niết Bàn) Muốn đạt đến Niết Bàn thì phải chấm dứt luân hồi
Đạo đế: chân lý về con đường dẫn đến bất diệt khổ Phương pháp để đạt sự diệt
khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo Không thấu hiểu Tứ diệu
đế được gọi là vô minh
Phật xác nhận ba đắc tướng của cuộc đời là vô thường, vô ngã và vì vậy mà conngười phải chịu khổ Nhận thức ba dấu ấn, đặc trưng này của sự vật đồng nghĩabước đầu đi vào đạo Phật
Khổ được giải thích là xuất phát từ ái và vô minh và một khi dứt được nhữngnguyên nhân đó thì ta có thể thoát khỏi vòng sinh tử hữu luân Cơ chế làm chochúng sinh còn vướng mãi trong vòng sinh tử được đạo Phật giải thích bằngthuyết Duyên khởi pi Chấm dứt luôn hồi, vòng sinh tử đồng nghĩa với việcchứng ngộ Niết bàn Theo con đường dẫn đến Niết-bàn là Bát chính đạo
Bát chính đạo bao gồm:
1 Chính kiến: Gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lí vô
ngã
2 Chính tư duy: Suy nghĩ hay có một mục đích đúng đắn, suy xét về úy
nghĩa của bốn chân lí một cách không sai lầm
3 Chính nghĩa: Không nói dối hay không nói phù phiếm.
4 Chính nghiệp: Tránh phạm giới luật.
5 Chính mệnh: Tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát sinh (giết hại sinh
vật) như đồ tể Thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện
6 Chính tinh tiến: Phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.
7 Chính niệm: Tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ý.
Trang 78 Chính định: Tập trung tâm ý đạt bốn định xuất thế gia.
Con đường tám nhánh này có thể phân loại thành ba loại gọi là: Tam học tức là
tu học Giới và Huệ Những tư tưởng cơ bản cuả Phật - đà đều được nhắc lạitrong các kinh sách, nhưng có khi chúng được luận giải nhiều cách khác nhau
và vì vậy ngày nay có nhiều trường phái khác nhau, hình thành một hệ thốngtriết lí hết sức phức tạp
-Tứ diệu đế:
Bốn chân lý tuyệt đối đúng của đạo Phật khi nhận thức về cuộc đời đó là:
Khổ đế= Sự khổ đau (bát khổ: Sinh, Lão, Bệnh,Tử
+ Ái biệt ly khổ (những người thân yêu phải xa nhau là khổ);
+ Oán tăng hội khổ (những người có oán thù mà phải gặp gỡ cũng khổ);
+ Cầu bất đắc khổ (điều mong cầu không toại nguyện là khổ);
+ "Ngũ ấm xí thịnh khổ"
Tập đế= Nguyên nhân sự khổ đau (vô minh che lấp trí tuệ)
Diệt đế=Có thể giải thoát được Khổ đau (đạt đến cảnh niết bàn)
Đạo đế = Con đường giải thoát Khổ đau ( bát chính đạo: Chính kiến,
chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, )
-Trường phái (tông phái):
+ Phật giáo đại thừa (thiền tông, tam luận tông, )
+Phật giáo tiểu thừa
tới cõi Niết Bàn-Hạnh phúc tuyệt đối, thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi
Để thoát khỏi đau khổ và đạt tới cõi Niết Bàn cần có con đường đi, đó chính là
“Đạo đế” (Magga) Đạo đế gồm: Tứ Niệm Xứ; Tứ Chánh Cần; Tứ Như Ý Túc;
Trang 8Một số ngày lễ, kỷ niệm lớn
trong năm của Phật giáo (tính
theo ngày âm lịch):
- Tết Nguyên đán
- Rằm tháng giêng: lễ Thượng nguyên
- Ngày 08/02 : Đức Phật Thích Ca xuất gia
Tham Sân Si được ví như ba thứ độc hại (tam độc Tham – Sân – Si) luôn nằm
trong thâm tâm của mỗi con người Nếu con người không hiểu biết và tìm cáchkiểm soát nó thì sẽ trở thành nạn nhân của Tham Sân Si Bởi vì khi ba thứ kịchđộc này bộc phát thì con người sẽ đánh mất đi mọi thứ như: Đạo đức, bình tĩnh,tính mạng…
Tham là gì?
Tham chính là thứ nhu cầu dùng để kích thích lòng tham bất tận của con người
Họ sẽ đoạt được thứ mình thích bằng mọi cách Tham cũng được chia làm nhiềuloại: Tham sắc, tham tài, tham danh…
Tham sắc: Tham sắc là từ dùng ám chỉ lòng tham của bản thân con người
Sân về sắc, dục, quyền lợi… của chính bản thân con người
Sân về tiền tài, danh vọng, vật chất… mà bản thân con người không thểđạt được
Sân về những thứ người khác có mà chính bản thân của họ lại không có
Si là gì?
Trang 9Si là từ dùng để ám chỉ sự si mê quá đà, không làm chủ được bản thân củamình Bị chính những si mê đó che mắt đi không còn giữ vững được lý trí củabản thân Si cũng được chia làm nhiều loại như:
Mất đi khả năng nhận biết đạo lý làm người
Mất đi khả năng nhận biết bản chất của mọi chuyện
Mất đi khả năng nhận diện tâm, thân của bản thân
- Trong “Tam độc” thì “si”có tác hại lớn nhất, là mấu chốt căn bản của tam độc:
Vì thế, tuy là yếu tố độc hại được kể ra cuối cùng, nhưng si mê có thể xem làmấu chốt quan trọng nhất trong cả ba yếu tố Mối tương quan sinh khởi như vừaphân tích trên cho thấy rằng, nếu không đẩy lùi được sự si mê thì sẽ chẳng baogiờ có thể mở ra khả năng nhận biết và trừ bỏ được các yếu tố tham lam và sânhận
Ngược lại, khi đẩy lùi được sự si mê, ta sẽ có đủ sáng suốt để nhận ra sự thamlam và sân hận đang hiện hữu trong lòng mình, nhận biết được tác hại củachúng cũng như phương thức đối trị, và nhờ đó mà có thể tiếp tục tiến bước trêncon đường hướng thượng
6 Phân tích sự ảnh hưởng của giáo lý Từ, Bi của đạo Phật đến tâm hồn, cách ứng xử của người Việt Nam (Cho ví dụ cụ thể).
Việt Nam: Phật giáo là một tôn giáo lớn của thế giơi, được du nhập vào Việt
Nam từ rất sớm Trong mỗi thời kỳ lịch sử của nước ta, Phật giáo luôn gắn
bó mật thiết với dân tộc và thấm sâu vào tiềm thức của nhiều người
VD: Hầu hết người dân Việt Nam từ xưa đến nay vẫn tìm sự thanh tịnh cho
mình ở chốn chùa chiền nơi mà cuộc sống phức tạp và cạnh tranh sinh tồnkhông bao giờ chạm đến được
Trang 10- Ảnh hưởng của giáo lý Từ, Bi của đạo Phật đến cách ứng xử của người Việt Nam Các thuật ngữ như “từ bi, hỷ xả”, “vô ngã, vị tha”, “cứu nhân độthế”, “tu nhân tích đức”, “sống nhân từ để phúc cho đời sau”… đã không cònnguyên nghĩa của riêng Phật giáo, mà trở thành một phần trong lẽ sống củangười Việt, trở thành ngôn ngữ của đời sống thường ngày Cách thức giaotiếp, ứng xử của người Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các quanniệm Phật giáo Nét phổ biến trong quan hệ ứng xử và giao tiếp của Phậtgiáo là cái thật, cái thiện ở cả thân, khẩu, ý Trong bát chính đạo của Phậtgiáo, có chính ngữ (giữ cho lời nói được đúng mực), đó chính là một trongcác điều kiện để mỗi con người có những ứng xử phù hợp với mọi ngườitrong xã hội
Về ứng xử, giao tiếp trong gia đình, Phật giáo đề cao sự hòa thuận và tráchnhiệm của các bậc cha mẹ, anh em, vợ chồng… đề cao sự hiếu thuận thôngqua thực hiện Tứ ân
Ví dụ về ứng xử, gt trong gđ: Điều này được thể hiện rất nhiều trong ca dao,tục ngữ Việt Nam: “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trongnguồn chảy ra/Một lòng thờ mẹ, kính cha/Cho tròn chữ hiếu mới là đạocon”, hay như: “Đi khắp thế gian, không ai tốt bằng mẹ/Gánh nặng cuộc đời,không ai khổ bằng cha” đã trở thành đạo lý, lẽ sống của người Việt
Câu 7: Thuyết nhân quả, nghiệp báo của Phật giáo ảnh hưởng như thế nào đến quan niệm và thái độ sống của người Việt Nam (cho ví dụ cụ thể).
-Kn thuyết nhân quả : Trong thế giới tương quan của hiện tượng, mỗi hiện hữuđều có nguyên của nó Nguyên nhân của sự có mặt của các hiện hữu gọi là nhân
và hiện hữu gọ là quả Mỗi hiện tượng vừa là kết quả vừa là nguyên nhân.Tương quan nhân thành quả ấy gọi là tương quan duyên sinh
-Kn thuyết nghiệp báo: Nghiệp là một khái niệm thuộc về đời sống của conngười nói riêng và chúng sinh nói chung, dùng để chỉ cái vừa ở bên trong, vừa ở
Trang 11bên cạnh của hành động, là nhân chứng giống như hình với bóng của hànhđộng, đi theo hành động để trở thành kết quả của hành động
Những tác động và ảnh hưởng của thuyết nhân quả, nghiệp báo đối với quanniệm, thái độ sống của người Việt Nam được thể hiện qua:
2.3.1 Tác động đến quan niệm ứng xử nhân sinh
Ảnh hưởng của thuyết nhân quả đến nhân sinh quan người Việt được biểu hiệnqua cách đối nhân xử thế trong đời sống ngày thường: “Người làm thiện gặp tốt,
kẻ làm ác gặp dữ” Mỗi người dân Việt Nam luôn đồng cảm với nỗi đau củangười khác và sẵn sàng: “nhường cơm sẻ áo” cho nhau với tinh thần “lá lànhđùm lá rách” Tư tưởng thương người như thể thương thân được nhân dân giữgìn và truyền lại cho nhiều thế hệ sau Ngoài ra tinh thần nhân văn hướng thiệntrở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta, cùng với tấm long vị tha, khoandung nhân hậu làm cho con người Việt Nam trở nên gần gũi, đất nước ViệtNam thân thiện
VD: giúp đỡ nhân dân miền Trung chống lụt, quyên góp mua dưa hấu
2.3.2 Thể hiện qua phong tục tín ngưỡng
* Ảnh hưởng qua tục phóng sanh, bố thí
Hầu như tất cả người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng của nếp sống văn hóa này
Nó xuất phát từ quan niệm từ bi của Phật giáo, tục lệ phóng sinh và bố thí đã ănsâu vào đời sống tinh thần của người dân
VD: Đến ngày rằm và mùng một, người Việt thường mua chim cá… để đem vềchùa cầu nguyện rồi đi phóng sinh Trong nhân quả ba đời của Phật có răn rằng:
“Kiếp trước mở chuồng phóng sinh thả chim, đời nay đông con nhiều cháu”,hay là “Kiếp trước hay phóng sinh thả cá, đời nay sống lâu”
trong xã hội hiện đại ngày nay, người ta tham gia vào những đợt cứu trợ đồngbào gặp thiên tai, hoạn nạn, hoàn cảnh sống khó khăn đúng với truyền thốngđạo lí của dân tộc:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
Trang 12Theo quan niệm của Phật giáo và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của thuyết nhânquả, thì những người con dân dù theo Phật hay không theo Phật thì người ta vẫnluôn có niềm tin rằng làm việc thiện sẽ gặp điều thiện, làm việc ác sẽ gặp điều
ác Chính vì thế mà khi những người không may khi mắc phải những sai lầm thìngười ta sẽ về chùa để sám hối, sửa đổi nhân tâm Những quan điểm này xuấtphát từ ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa
Ngoài việc đi chùa sám hối, ở nhà vào ngày rằm mùng một, người ta cũng sắmđèn nhang, hương hoa để dâng cúng Tam Bảo và tổ tiên ông bà, thể hiện lòngtôn kính, thương nhớ những người quá cố và thể hiện hành vi tu tâm dưỡng tínhcủa họ
VD: Tập tục đến chùa để tìm sự bình an cho tâm hồn đã trở thành một nétphong tục lâu đời của tổ tiên Đi chùa lễ Phật vào những ngày lễ hội lớn trongnăm bắt đầu từ Phật giáo như: lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, lễ tắm Phật… thực sự đãtrở thành ngày hội văn hóa của người dân Những ngày lễ lớn như trên của Phậtgiáo đã là chất keo gắn người dân với nhau, ảnh hưởng ngày càng sâu đậmtrong nhân dân
2.3.3 Thể hiện qua đời sống, lời ăn tiếng nói hàng ngày
lời ăn tiếng nói hàng ngày mang đạm tính chất của nhân quả và nghiệp báotrong Đạo Phật Lời ăn tiếng nói phải đúng phép để tránh nghiệp dữ do lời nóigây ra
Lời nói có thể là nghiệp lành nếu lời nói gây ra những hậu quả tốt làm lợi chongười khác hoặc cho cộng đồng Lời nói có thể là nghiệp ác nếu lời nói gây ranhững hậu quả xấu làm hại cho người khác hoặc làm hại cho cộng đồng
Lời nói được thể hiện trong các quan hệ giao lưu giữa gia đình, bạn bè, hàngxóm, láng giềng, quan hệ làm ăn, buôn bán, quan hệ chủ tớ, quan hệ giao lưuvới các tổ chức, đoàn thể chính quyền… Trong quan hệ đó, có khi chỉ cần mộtlời nói mà làm hỏng việc lớn, có khi chỉ cần một câu nói mà bị vạ lây, bị kiệntụng, thậm chí là bị tù tội chỉ vì người nghe không vừa tai, nên đặt điều vu cáo.Tai họa xảy ra thường là do lời nói gây lên tác hại
VD: Trong quan hệ gia đình : Người con không được ăn nói hỗn láo với cha mẹ,không được nặng lời, đôc ác với cha mẹ Đạo lý làm con phải phụng dưỡng chamẹ không chỉ hành động chăm sóc đời sống mà cả lời ăn tiếng nói hàng ngàycũng tuân theo đạo lý làm con những hành động đó đã tạo cho họ quả báo từ
Trang 13chính những người con của họ sau này và đã tạo ra cho họ một nghiệp ác rất sâunặng, một tội ác lớn nhất trong cuộc đời người
Con người sống với nhau thường nói lời dối trá lẫn nhau, làm tổn thương nhau
và gây hậu quả nghiêm trọng Luật nhân quả và nghiệp báo đã phản ánh sâu sắctrong những lời nói dối Có nhiều loại nói dối : Nói dối vì đùa vui, nói dối vớimục đích lừa phỉnh, nói dối để khoe khoang , nói dối vì sợ hãi khiếp nhược, nóidối để thu lợi bất chính…
Người hay nói dối không ác ý mà chỉ có tính đùa vui gây ra nghiệp quả khôngtốt vì nó làm cho họ quen với thói xấu ấy làm cho những người xung quanhkhông tin ở lời nói của họ nữa dù đôi khi họ nói thật Người hay nói dối chỉ làđùa vui cũng tạo ra nghiệp ác
Người nói dối vì khoe khoang thường là kẻ ham danh, thích địa vị, thích mọingười nể phục mình, cho mình là thông minh tài giỏi hơn người
Người nói dối vì vụ lợi thường là kẻ tham lam, thích tiền tài, ham giàu một cáchkhông chính đáng,
Mỗi lời nói của chúng ta nói ra là một kết quả mà chúng ta nhận được.nếuchúng ta luôn nói đúng, giữ đúng lời nói và làm những gì mình nói thì chúng ta
đã đạt được một kết quả cao chính đáng với sức lao động của mình
2.3.4 Thể hiện qua các loại hình văn hóa nghệ thuật
* Trong các câu chuyện kể dân gian và cổ tích
Người Việt Nam vẫn thường nói : “Gieo nhân nào gặp quả ấy” và luôn tin “ởhiền gặp lành”,“gieo gió ắt gặp bão” vì họ giàu thiện tâm và chịu ảnh hưởng sâusắc từ thuyết nhân quả của nhà Phật Ảnh hưởng từ tưởng nhân quả của Phậtgiáo đến nhân sinh quan người Việt được biểu hiện trước hết trong những câuchuyện kể dân gian Bởi nó phản ánh nhiều mặt đời sống tinh thần của nhân dântrong ta trong suốt hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc Đó là sản phẩm sáng tạocủa quần chúng nhân dân, chủ yếu là những tầng lớp bình dân trong xã hội Nó
đã đề cập đến cách đối nhân xử thế của con người trong cuộc sống đời thường Nhân dân ta đã tiếp thu và Việt hóa triết lý của nhà Phật “Người làm thiện, gặttốt Kẻ gây tội, quả xấu” thành “thiện giả thiện báo, ác giả ác báo”, để phản ánhhiện thực, để thể hiện ước mơ, tư tưởng về một xã hội công bằng, hạnh phúc,
mà trong đó cái thiện sẽ thắng cái ác, cái thiện sẽ được hưởng hạnh phúc, còn
Trang 14cái ác tất yếu phải bị trừng trị Tất cả những điều này được thể hiện qua các câuchuyện cổ tích như: Tấm Cám, Thạch Sang, Cây Khế,…
Ta dễ dàng nhận thấy các nhân vật chính trong các câu chuyện cổ tích đều cómột điểm chung đó là người nào làm thiện, tức gieo trồng nhân tốt thì sẽ gặpđược kết quả tốt lành Ngược lại, người nào gây tạo những nhân xấu, trái vớiluân thường đạo lý sẽ gặp phải những kết cục khổ đau
• Trong ca dao, tục ngữ
Để nói đến tính nhân quả trực tiếp, trong văn học dân gian có rất nhiềucâu ca dao tục ngữ nói lên điều đó:
“ Nhân nào quả ấy’’
“ Không có mây làm sao có khói”
Trong thơ văn chữ hán Nôm
Văn thơ Hán Nôm đã phản ánh và dường như chịu sự tác động,ảnh hưởng từ triết lý nhân quả của Đạo Phật thông qua nhữngtác phẩm có giá trị để đời như : tác phẩm Quan Âm Diệu Thiện,Quan Âm Thị Kính được viết dưới cả hai thể loại văn và thơ, tácphẩm Cung Oán Ngâm khúc của Ôn Như Hầu, và đặc biệt tácphẩm Kiều của Nguyễn Du…
Triết lí nhân quả ảnh hưởng qua đời sống sinh hoạt xh: mang đậm dấu ấntrong đời sống sinh hoạt, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam ngay
từ những ngày đầu dựng nước Nội dung sâu xa bên trong của giáo lýnhân quả chính là những bài học mang tính giáo dục nhân văn đối với xãhội cũng như mang lại cho nền văn hóa dân tộc một bản sắc thuần túyViệt nam Đó chính là những bài học giáo dục đạo đức làm người
Câu 8: Trình bày những nội dung cơ bản của giáo lý “Tam Nghiệp” của đạo
Phật Vận dụng giáo lý này đối với điều chỉnh Thân, Khẩu, Ý của người tu nhưthế nào?
Nghiệp là hành động tạo tác của thân, miệng, ý của chúng sanh; là con đường đi
từ Nhân tới Quả Nếu kiếp trước mình làm điều lành thì tạo được nghiệp lành(thiện nghiệp), còn gọi là tạo phước nghiệp Nghiệp lành này nó hình thành nênđời sống nhiều may mắn, được an vui, hạnh phúc cho kiếp hiện tại và ngược lạinếu kiếp trước mình làm điều xấu ác thì tạo nghiệp dữ, gọi là ác nghiệp hay bất
Trang 15thiện nghiệp Nghiệp dữ này nó hình thành nên đời sống nhiều thất bại, hoạnnạn, bất hạnh cho kiếp hiện tại
Tam nghiệp là hành động tạo tác của thân, miệng, ý của chúng sanh Chúng tacùng nhau luận bàn về Tam nghiệp để tích lũy thêm kiến thức Phật học, kinhnghiệm tu tập các bạn nhé
Thân nghiệp: Là hành động tạo tác của Thân như: đánh đập người, dắt dìu người già qua đường, phá hủy môi trường sống…
Khẩu nghiệp: Là hành động tạo tác của Miệng như: khuyên dạy mọi người làm điều tốt, mắng nhiếc người, vu oan người khác
Ý nghiệp: Là hành động tạo tác của Ý tưởng như: suy nghĩ làm điều thiện, toan tín làm điều ác
Từ nghiệp nhân, tức hành động tạo tác của ba nghiệp, đến nghiệp báo, tức quảbáo phải trả khi gây tạo nghiệp nhân đều gọi chúng là nghiệp Trong tam nghiệptrên, ý nghiệp là hệ trọng hơn hết, bởi vì việc làm của thân hay lời nói phát khởi
từ miệng đều do ý tưởng suy tính, quyết định cả Do vậy, việc ác hoặc thiệnchưa bộc phát ra nơi thân và miệng, nhưng nó đã móng khởi ở ý tưởng rồi Thếnên, người nào có ý ác là đã phạm tội rồi mặc dù nó chưa bộc phát ra hànhđộng
Tam nghiệp là hành động tạo tác của thân, khẩu, ý Tịnh hoá tam nghiệp nghĩa
là tu sửa, thanh lọc thân, khẩu, ý bất thiện dần dần trở nên thuần thiện, an lạc.Diệt trừ 10 điều ác (Thập ác), tu tập 10 pháp thiện (Thập thiện) tạo thành 10phương pháp tịnh hóa tam nghiệp Thực những phương pháp này sẽ đem lại lợiích thiết thực cho chúng ta trong cuộc sống
Vận dụng giáo lý này đối với điều chỉnh Thân, Khẩu, Ý của người tu:
1 Sát sanh là bất thiện, từ bỏ sát sanh là thiện: Từ bỏ sát sanh có nghĩa là
không hủy hoại cuộc sống của mọi loài, của bản thân, không sai người khác giếthại, không sanh lòng vui mừng khi thấy người khác giết Không những khôngsát chúng sanh mà chúng ta còn phải tìm mọi cách để cứu sống chúng sanh nhưcứu người trong lúc nguy nan, phóng sanh các loài động vật, không nuôi chimlồng, cá chậu v.v…
2 Trộm cắp là bất thiện, từ bỏ trộm cắp là thiện: Từ bỏ trộm cắp có nghĩa là
chúng ta không được dùng bất cứ thủ đoạn nào để chiếm đoạt, trộm cướp tài sản
Trang 16của người khác Là người đạo đức, tu hành đạo giải thoát giác ngộ, chúng takhông những không chiếm đoạt, trộm cắp tài sản của người khác mà còn đemtiền của, sức lực của mình giúp đỡ chúng sanh kém may mắn hơn mình, để họđược an vui, ấm no Qua việc làm này, chúng ta vừa xả bỏ lòng tham lam, vừatích phước để trang nghiêm đạo tâm
3 Tà hạnh là bất thiện, từ bỏ tà hạnh là thiện: Từ bỏ tà hạnh có nghĩa là
không sống trác táng, ăn chơi, cờ bạc, rượu chè, hút sách, gian dâm Là ngườiđạo đức, người tu đạo, chúng ta cần có cuộc sống phạm hạnh Tu sĩ thì cấm hẳn
tà hạnh, Cư sĩ thì phải biết tiết dục, vợ chồng chung thủy với nhau Tà dục làgốc sanh tử luân hồi, vì thế chúng ta cần dứt bỏ nó, để tâm hồn ngày càng trởnên thanh khiết, đi dần đến an lạc giải thoát
4 Nói dối là bất thiện, từ bỏ nói dối là thiện: Từ bỏ nói dối là thiện có nghĩa là
không nói sai sự thật: thấy, nghe, biết như thế nào thì nói như thế ấy; chỉ khinào gặp trường hợp đặc biệt, vì muốn đem đến an vui cho chúng sanh thì chúng
ta có thể tạm thời nói sai sự thật
5 Nói lời hung ác là bất thiện, từ bỏ nói lời hung ác là thiện: Từ bỏ nói lời
hung ác là thiện có nghĩa là không được dùng lời ác độc, thâm hiểm chửi rủamọi người Là người đạo đức, người tu hành, khi nói ra điều gì, chúng ta luônnói những lời dịu dàng, từ ái hợp với chân lí, được như thế tình cảm con ngườingày càng trở nên sâu đậm, dắt dìu nhau tu theo thiện pháp để cùng nhau sống
an vui, hạnh phúc
6 Nói lời thêu dệt là bất thiện, từ bỏ lời nói thêu dệt là thiện: Từ bỏ nói lời thêudệt là thiện có nghĩa là không nên thêm bớt trong lời nói để làm cho câu chuyệnsai với sự thật Hoặc dùng lời nói hoa mỹ, bóng bẩy mê hoặc nhằm hãm hạingười… Là người đạo đức, tu hành đạo giải thoát, khi nói ra bất cứ điều gì đều
là lời nói chân thật, đạo đức, khế hợp với ý đạo nhằm đem lại an vui cho bảnthân và tha nhân
7 Nói lưỡi hai chiều là bất thiện, từ bỏ nói lưỡi hai chiều là thiện: Từ bỏ nói
lưỡi hai chiều là thiện có nghĩa là không được đến người A nói xấu người B;đến người B nói xấu người A… mục đích để gây chia rẽ họ, làm cho hai bên thùđịch nhau, ẩu đả nhau để rồi gây thương tổn cho nhau Là người đạo đức, chân
tu, chúng ta cần phải dùng những lời nói đạo đức để hóa giải mọi sự oán thù củacon người, giúp họ sáng suốt dứt bỏ hành động tạo đau khổ cho nhau, để khôngvướng vào nghiệp oan oan tương báo, khổ khổ chất chồng qua nhiều kiếp, mà
Trang 17cần phải biết nhường nhịn, yêu thương lẫn nhau, để cuộc sống luôn được bình
an qua mỗi kiếp
8 Xan tham là bất thiện, từ bỏ xan tham là thiện: Từ bỏ xan tham là thiện có
nghĩa là không tham đắm ngũ dục (tài-sắc-danh-thực-thuỳ) Khi hành giả đắmchìm trong ngũ dục là sa đọa vào con người đường tội lỗi, gieo tạo nhiều ácnghiệp và cuối cùng chuốc lấy khổ đau thống thiết, đọa đày mãi trong lục đạoluân hồi Là người đang đi tìm hạnh phúc, người chân tu, chúng ta luôn làm chủtâm mình, hạn chế và đi dần đến diệt trừ tất cả mọi sự tham muốn thấp hèn,sống tri túc tiết hạnh, siêng năng hành trì thiện pháp để tâm luôn được an tịnh vàthăng hoa mãi trong cảnh giới Thánh thiện
9 Sân hận là bất thiện, từ bỏ sân hận là thiện: Từ bỏ sân hận là thiện có nghĩa
là không hung hăng, nóng giận khi đối đầu với những việc trái ý nghịch lòng.Sân hận là một tánh khí xấu ác, độc hại, nó như ngọn lửa mạnh, mỗi khi bừngcháy là có thể đốt cháy thân tâm ta và tất cả mọi vật xung quanh, vì thế ĐứcPhật từng dạy: “Một niệm sân nổi lên là trăm nghìn cửa nghiệp chướng đềumở” Thế nên, lửa tức giận một phen phát ra, liền đốt cháy tất cả rừng công đức
đã gieo tạo nhiều năm tháng Sự tác hại của tâm sân vô cùng khủng khiếp, để cóđược hạnh phúc, để tiến thân mãi trên đường đạo, chúng ta chủ động tâm mình,luôn hành trì pháp quán từ bi, thương yêu tất cả mọi loài để diệt trừ lòng sân, vìkhi tâm hồn ngập tràn yêu thương thì không tồn tại tâm lý sân hận Bên cạnh đó,chúng ta dùng trí tuệ quán chiếu thật tướng của vạn pháp là “không”, nhờ thếchúng ta có thể chủ động đề phòng tâm sân, mỗi khi nó manh nha liền bị tiêudiệt ngay và tâm dần dần trở nên an tịnh, từ ái
10 Si mê là bất thiện, từ bỏ si mê là thiện: Si mê là tâm tánh ám độn không
phân định được chánh, tà, đúng, sai Mỗi khi con người bị tâm si chi phối,thường gieo tạo nhiều lầm lỗi, dần dần sa đọa vào đường ác Vì thế, si mê lànguồn gốc gây nên mọi tội lỗi, tạo nhiều khổ sầu cho con người Muốn loại trừnhững quan niệm sai lầm, những định kiến tà quấy, chúng ta cần phải siêngnăng tu tập thiền quán, niệm Phật, làm nhiều việc thiện, xả bỏ dần cái tôi tầmthường… dần dần tâm chúng ta trở nên sáng suốt, an tịnh, lúc đó mọi suy nghĩ,mọi hành động của chúng ta đều khế hợp đạo lí, mang lại hạnh phúc cho bảnthân và mọi người
Trong 10 pháp thiện trên, ba pháp đầu thuộc về “thân nhiệp”, bốn pháp kế thuộc
về “khẩu nghiệp” và ba pháp cuối thuộc về “ý nghiệp” Trong ba loại nghiệpnày, tu tập “Ý nghiệp” là khó khăn và quan trọng hơn hết Vì tâm ý chính là
Trang 18người chỉ huy và cũng là thủ phạm Còn thân và miệng chỉ là những kẻ tùngphạm mà thôi.
Câu 9: Trình bày những nét cơ bản trong quan niệm về “Tam bảo” của đạo Phật Trong ba ngôi báu(Tam Bảo) đó, thì ngôi báu nào quan trọng nhất, vì sao?
-TAM BẢO là ba ngôi quý báu: PHẬT- PHÁP-TĂNG
1 PHẬT BẢO - Phật bảo là người giác ngộ, hiều biết hoàn toàn về 2 phương diện: nhân sinh và vũ trụ là vị giáo chủ của Phật
2 Pháp Bảo Pháp bảo là chân lý giác ngộ và phương pháp tu hành do Phật truyền dạy, là phương tiện mà chúng ta có thể làm cho đúng và đạt đến sự giác ngộ, giải thoát như Phật Pháp bảo giúp người tu hành chuyển đời “ phàm phu” trở thành : thánh nhân”
3 TĂNG BẢO Tăng bảo là những người dời bỏ đời sống gia đình để dành trọn đời tu hành theo giáo pháp cảu Đức Phật hướng đến sự giải thoát, sự giác ngộ
=>> Quy là trở, y là nương tựa, trở về nương tựa với phật pháp tăng Quy y tam bảo là khởi đầu của bước tin và học theo Phật.
mỗi Ngôi Báu đều có tướng trạng khác nhau: Phật là bậc có tư cách và phẩm hạnh cao thượng, trải một thời gian tu hành đã thành bậc đại giác, chấm dứt sinh tử luân hồi; Pháp là tất cả những giáo pháp của Phật đã nói ra trong suốt thời gian tại thế, nhằm xiển dương các chân lí mà Ngài đã khám phá; Tăng là tất cả đồ chúng nguyện tu tập theo giáo pháp của Phật Vì Ba Ngôi Báu, mỗi Ngôi Báu đều có tướng trạng khác nhau như thế, cho nên gọi là “biệt thể Tam
-Trong ba ngôi báu thì Phật bảo là quan trọng nhất.Vì cta đang sống trong sự
vô minh, bị mê hoặc bởi ngũ dục, bị chúng lôi kéo để tạo tác nên những ác nghiệp, thân tâm bị ô trược trầm trọng do si mê Để thoát khỏi điều này phải cần nương tựa vào ánh sáng trí tuệ của Đức Phật mới đủ sức mạnh phá tan
sự mê muội này Tất cả mọi cái đều viên mãn ở Phật Và cũng có thể gọi Đức Phật là cha lành của tất cả muôn loài chúng sinh Lòng từ của Phật là vô biên, không có giới hạn, không chỉ thương ai riêng cả, mà thương tất cả muôn loài chúng sinh Vậy cho nên, Đức Phật là bậc tối tôn, tối quý mà tất cả chúng ta rất cần, rất nên nương tựa vào Phật” Đức Phật là bậc tôn quý, từ bi và trí tuệ Thật hạnh phúc thay khi chúng ta được là con của Ngài Vì vậy, quy y, nương
Trang 19tựa Đức Phật, được Ngài soi sáng, dẫn lối, chỉ đường là phước duyên lớn trong cuộc đời mỗi người.
Câu 10: Phân tích những nội dung cơ bản trong giáo lý Nhân – Quả của đạo Phật Nêu ảnh hưởng của giáo lý Nhân – Quả đối với đời sống xã hội Việt Nam.
Nhân thế nào thì quả thế ấy: Một người chủ nông trại nọ muốn mình thu hoạch
được nhiều đậu thì tất nhiên phải gieo trồng hạt giống đậu
Một nhân không thể sinh ra quả: sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp của
nhiều nhân duyên Cho nên không có một nhân nào, có thể tự tác thành kết quảđược, nếu không có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác
Trong nhân có quả, trong quả có nhân: trong nhân đã có sẵn mầm mống của
quả Mỗi vật, vì thế, đều có thể gọi là nhân hay quả được: đối với quá khứ thì nó
là quả nhưng đối với tương lai thì nó là nhân Nhân và quả là sự tiếp nối và đắpđổi cho nhau
Sự chuyển biến từ nhân thành quả có lúc nhanh nhưng cũng có lúc chậm, chứkhông phải bao giờ cũng đồng nhất trong một khoảng thời gian nhất định Vìthế các nhà nghiên cứu đã phân loại nhân quả thành nhân quả đồng thời và nhânquả khác thời
Theo thuyết này, con người sở dĩ có thân hình ngày nay đều là do trước đây đãgieo “nhân” Gieo nhân tốt đẹp thì đượchlà do trước đây đã gieo “Nhân” GieoNhân tốt đẹp thì được hưởng quả tốt, gieo nhân xấu thì được quả xấu
-Ảnh hưởng của giáo lí nhân quả đến đs con người VN:
2.3.1 Tác động đến quan niệm ứng xử nhân sinh
Ảnh hưởng của thuyết nhân quả đến nhân sinh quan người Việt được biểu hiện qua cách đối nhân xử thế trong đời sống ngày thường: “Người làm thiện gặp tốt, kẻ làm ác gặp dữ” Mỗi người dân Việt Nam luôn đồng cảm với nỗi đau của người khác và sẵn sàng: “nhường cơm sẻ áo” cho nhau với tinh thần “lá lành đùm lá rách” Tư tưởng thương người như thể thương thân được nhân dân giữ gìn và truyền lại cho nhiều thế hệ sau Ngoài ra tinh thần nhân văn hướng thiện trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta, cùng với tấm long vị tha, khoan dung nhân hậu làm cho con người Việt Nam trở nên gần gũi, đất nước Việt Nam thân thiện.
VD: giúp đỡ nhân dân miền Trung chống lụt, quyên góp mua dưa hấu
2.3.2 Thể hiện qua phong tục tín ngưỡng
* Ảnh hưởng qua tục phóng sanh, bố thí.
Hầu như tất cả người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng của nếp sống văn hóa này Nó xuất phát từ quan niệm từ bi của Phật giáo, tục lệ phóng sinh và bố thí đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của người dân.