1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bao cao quy hoach CTR tinh thua thien hu

190 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Quy Hoạch CTR Tỉnh Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Huế
Chuyên ngành Quy Hoạch
Thể loại Báo Cáo
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Bảng 1.1. Lượng mưa những năm cao nhất ở một số vùng

  • Bảng 1.2. Một số đợt không mưa và mưa lớn đặc biệt

  • Bảng 1.3. Đặc trưng dòng chảy (trung bình nhiều năm) của một số sông của tỉnh

Nội dung

KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam, nằm ở vị trí địa lý thuận lợi với phía bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía nam giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, phía tây giáp nước Lào và phía đông giáp biển Tỉnh có diện tích tự nhiên 5.053,99 km², chiếm 1,5% tổng diện tích tự nhiên của cả nước.

Tỉnh Thừa Thiên Huế bao gồm cả phần đất liền và lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông Địa hình của tỉnh kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam, với tọa độ cực bắc là 16°44'30" vĩ bắc và 107°23'48" kinh đông tại thôn Giáp Tây, xã Điền Hương, huyện Phong Điền Cực nam nằm ở 15°59'30" vĩ bắc và 107°41'52" kinh đông thuộc xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông.

Vị trí địa lý của tỉnh Thừa Thiên Huế được xác định với tọa độ 16° 0' 22.45" vĩ bắc và 107° 0' 56" kinh đông, thuộc bản Paré, xã Hồng Thủy, huyện A Lưới Điểm cực đông của tỉnh nằm tại 16° 13' 18" vĩ bắc và 107° 12' 57" kinh đông, tại bờ phía đông đảo Sơn Chà, thuộc thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc.

1.1.2 Đặc điểm địa chất, khoáng sản và địa chất thuỷ văn

Khu vực tỉnh Thừa Thiên Huế chủ yếu có cấu trúc địa chất với các đá trầm tích không biến chất, có thời gian hình thành từ tiền Cambri đến Đệ tứ Các đá trầm tích này bao gồm loại gắn kết rắn chắc và loại bở rời gắn kết yếu, thường là sản phẩm của quá trình phong hoá Đá bở rời thường trẻ tuổi, được vận chuyển và lắng đọng dọc bờ biển Đông, trong khi đá gắn kết rắn chắc chủ yếu phân bố ở phía tây Ngoài ra, các đá trầm tích này còn bị xuyên thủng bởi các đá magma xâm nhập, chủ yếu ở trung tâm tỉnh Các nhà địa chất đã phân chia các thành tạo xâm nhập granit thành các phức hệ Đại Lộc, Chaval, Hải Vân và Bến Giằng – Quế Sơn Do tuổi cổ và điều kiện khí hậu ẩm ướt, các đá granit này thường bị phong hoá mạnh, tạo nên một lớp phong hoá dày.

Tỉnh Thừa Thiên Huế sở hữu sự phong phú về các thành tạo trầm tích, với 12 phân vị địa tầng được xác định, bao gồm 04 hệ tầng thuộc kỷ Paleozoi và 06 hệ tầng thuộc kỷ Kainozoi.

Hệ tầng A Vương phân bố tại tây nam A Lưới, bao gồm các loại đá như đá hoa khối, đá phiến sericit - clorit - thạch anh, phiến thạch anh mica, và phiến actinolit - zoisit - epidot Đôi khi, khu vực này có sự xuất hiện của phiến sét đen, phiến silic và cát kết dạng quarzit, nhưng thường khi có mặt các loại đá này thì đá hoa dạng khối lại vắng mặt Độ dày của hệ tầng này dao động từ 1.700 đến 1.800 m.

- Hệ tầng Long Đại (O3 - S1 lđ)

Hệ tầng Long Đại, nằm ở phía Tây và Tây Nam Huế, chủ yếu bao gồm các loại đá lục nguyên như cát kết đơn và đa khoáng, bột kết sericit, đá phiến sericit, đá phiến thạch anh và đá phiến sét Đặc điểm nổi bật của hệ tầng này là cấu tạo phân nhịp và mức độ biến chất yếu Tuy nhiên, tại nơi tiếp xúc với phức hệ Hải Vân, đá của hệ tầng Long Đại chịu ảnh hưởng của biến chất nhiệt mạnh Hóa thạch trong khu vực có Bút đá (Ocđovic) và bề dày của hệ tầng đạt 2.380m.

- Hệ tầng Tân Lâm (D1-2 tl)

Hệ tầng phân bố kéo dài từ Hướng Hóa đến phía nam Huế, nằm không chỉnh hợp trên đá của hệ tầng Long Đại và bị xâm nhập bởi phức hệ Hải Vân, gây ra hiện tượng sừng hóa Hệ tầng này có hai mặt cắt điển hình: Cao Bau - Khe Tre với ba tập và Thanh Lân, đông nam Nam Đông với hai tập.

Hệ tầng này có thành phần thạch học đa dạng, bao gồm sạn kết thạch anh, cát kết quarzit, đá phiến sét, và bột kết màu tím gụ hoặc xám, tím đỏ Đặc biệt, cát kết đa khoáng với nhiều màu sắc khác nhau cũng được tìm thấy trong hệ tầng này Bề dày tổng cộng của hệ tầng đạt 1.000m.

- Hệ tầng Cò Bai (D2 - 3 cb)

Hệ tầng Cò Bai xuất hiện trên diện tích nhỏ tại các thung lũng Nam Đông và một số đỉnh đồi vùng gò đồi Huế, nằm dưới lớp phủ Kainozoi ở độ sâu 50 - 100m Thành phần thạch học của hệ tầng này bao gồm đá vôi màu đen, xám và xám nhạt, xen kẽ với các lớp sét vôi màu xám, cùng với bột kết và đá phiến, bột sét ở phía trên Hệ tầng này cũng chứa hóa thạch đáng chú ý.

Trầm tích Kainozoi có sự phân bố rộng rãi tại các đồng bằng ven biển, thể hiện cả ở diện rộng và chiều sâu trong các lỗ khoan, với các thành tạo Đệ Tứ là phổ biến nhất.

- Thành tạo bồi tích Pliocen - Pleistocen hạ (a N2 - Q1)

Tại Bồ Điền, núi Hoàn Cây, chúng lộ thành diện nhỏ trong các lỗ khoan với thành phần chủ yếu là cát sỏi hỗn tạp Một số khu vực có xi măng gắn kết từ sét caolin, trong khi phần trên bị kết cứng do quá trình laterit hóa Độ dày của lớp đất này dao động từ 10m đến 30m.

Hệ tầng Tân Mỹ (QI tm) ở đồng bằng Thừa Thiên - Huế bao gồm các trầm tích Pleistocen hạ có nguồn gốc sông và nguồn gốc hỗn hợp sông - biển Hệ tầng này được Phạm Huy Thông xác lập vào năm 1997 và chỉ xuất hiện trong các lỗ khoan sâu, phân bố từ độ sâu 163 đến 63,7m, với bề dày thay đổi từ 5,3 đến 46m.

- Hệ tầng Quảng Điền (Q II-III 1 qđ) gồm các loại trầm tích có các nguồn gốc khác nhau với thành phần tương ứng như sau:

 Trầm tích nguồn gốc hỗn hợp sông - lũ (ap QII-III 1qđ)

Chúng phân bố trên diện tích nhỏ hẹp, tạo thành những dải hẹp không liên tục ven rìa đồng bằng ở Long Thọ, Văn Xá, Phong Sơn, với bề mặt thềm bực II cao từ 15 - 20m Trầm tích tại đây bao gồm cuội, cuội tảng (kích thước lên đến 0,30 - 0,40m), cùng với sỏi, dăm, cát, bột, và sét, có màu xám, xám vàng, hoặc sạn, sỏi nhỏ, cát, bột, sét với màu vàng gạch, xám xám, và chứa bào tử phấn hoa Mặt cắt đặc trưng được ghi nhận tại lỗ khoan LK.Hu 406 ở moong khai thác đá Long Thọ - Huế, với bề dày 5,5m.

 Trầm tích nguồn gốc sông (a QII-III 1qđ)

Trầm tích nguồn gốc sông tuổi QII-III phân bố rộng rãi, chủ yếu xuất hiện trong các lỗ khoan từ độ sâu 14,5 đến 114m, với bề dày thay đổi từ 5,8 đến 42,4m Thành phần của trầm tích bao gồm cuội (1 - 7cm), sỏi, cát, ít bột, có màu xám vàng; hoặc cát hạt vừa lẫn bột, sạn sỏi, màu xám Mặt cắt đặc trưng được ghi nhận tại lỗ khoan LK.Hu6A ở Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế, có bề dày 16,2m.

 Trầm tích nguồn gốc hỗn hợp sông - biển (am QII-III 1qđ)

HIỆN TRẠNG KINH TẾ-XÃ HỘI

1.2.1 Tổ chức hành chính và hệ thống đô thị

Tỉnh Thừa Thiên Huế, vào năm 2004, có diện tích tự nhiên lên tới 5.503,99 km² và dân số đạt 1.119.816 người Tỉnh được tổ chức thành 8 huyện, bao gồm Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thuỷ, Phú Lộc, A Lưới, Nam Đông, cùng với thành phố Huế, thành phố loại I trực thuộc tỉnh.

B ả ng 1.6 Tổ chức hành chính tỉnh Thừa Thiên Huế

Thành phố, huyện Thị trấn huyện lỵ

Số xã Số phường, thị trấn

Thành phố Huế Tp Huế 70,99 5 20

Huyện Phong Điền Phong Điền 953,75 15 1

Huyện Hương Trà Tứ Hạ 520,89 15 1

Huyện Phú Vang Phú Đa 280,32 19 1

Huyện Hương Thủy Phú Bài 457,39 11 1

Huyện Phú Lộc Phú Lộc 728,09 16 2

Huyện Nam Đông Khe Tre 650,52 10 1

Nguồn: Niên giám thông kê năm 2004 tỉnh Thừa Thiên Huế[17]

Tỉnh có tổng cộng 121 xã, 20 phường (thuộc thành phố Huế) và 09 thị trấn, trong đó có 7 thị trấn huyện lỵ gồm: Phong Điền (huyện Phong Điền), Sịa (huyện Quảng Điền), Tứ Hạ (huyện Hương Trà), Phú Bài (huyện Hương Thủy), Phú Lộc (huyện Phú Lộc), Khe Tre (huyện Nam Đông) và A Lưới (huyện A Lưới) Ngoài ra, còn có 02 thị trấn thuộc huyện là Thuận An (huyện Phú Vang) và Lăng Cô (huyện Phú Lộc) Hiện tại, huyện Phú Vang đang trong quá trình hình thành thêm 01 thị trấn tại xã Phú Đa.

1.2.2 Đặc điểm dân số, dân cư, dân tộc

Theo niên giám thống kê năm 2004, tỉnh Thừa Thiên Huế có tổng dân số 1.119.816 người, với mật độ trung bình 222 người/km² Dân cư phân bố không đều, trong đó dân số đô thị khoảng 349.948 người, chiếm 31,3%, chủ yếu tập trung ở thành phố Huế với mật độ lên đến 4.529 người/km² Ngược lại, khu vực nông thôn có 769.868 người, chiếm 68,7% tổng dân số, đặc biệt tại các huyện miền núi như A Lưới và Nam Đông, mật độ dân số chỉ từ 32-35 người/km².

Trong những năm qua, nhờ thực hiện nghiêm túc công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ gia tăng dân số của tỉnh đã giảm từ 1,7% năm 1994 xuống 1,3% năm 2005, trong khi tỷ lệ sinh giảm từ trên 3% xuống 1,7% Sự gia tăng dân số đô thị chủ yếu đến từ việc thành lập các đô thị mới ở các huyện Đặc biệt, trong 10 năm qua (1995-2004), tỷ lệ dân số nông thôn so với thành phố Huế vẫn giữ ổn định.

B ả ng1.7 Phân bố dân số của tỉnh Thừa Thiên Huế Đơn vị hành chính Tổng số Mật độ

Phân theo thành thị, nông thôn

Thành thị Nông thôn Nam Nữ

Cả tỉnh 1.119.816 222 349.948 769.868 549.108 570.708 Thành phố Huế 321.489 4529 259.679 61.819 156.372 165.126 Huyện Phong Điền 105.134 110 6.328 98.806 50.853 54.281 Huyện Quảng Điền 92.229 566 10.444 81.785 45.196 47.033 Huyện Hương Trà 116.066 223 7.796 108.270 56.731 59.335 Huyện Phú Vang 180.059 642 20.425 159.634 88.510 91.549 Huyện Hương Thủy 93.491 204 13.021 80.470 46.166 47.325 Huyện Phú Lộc 149.875 206 22.968 126.907 74.712 75.163

Theo Niên giám thống kê năm 2004 tỉnh Thừa Thiên Huế, tỷ lệ dân số dao động trong khoảng 23,1-23,8%, cho thấy sự gia tăng dân số cơ học và di cư từ nông thôn ra thành phố là không đáng kể Thông tin này sẽ được xem xét khi dự báo dân số và lượng rác thải phát sinh ở các đô thị trong tương lai.

Tỉnh có khoảng 604,700 người trong độ tuổi lao động, chiếm 54% tổng dân số Trong đó, số lao động làm việc trong khu vực nhà nước là khoảng 56,683 người, tương đương 9,4% tổng nguồn lao động của tỉnh.

Tỉnh có sự hiện diện của 24 dân tộc, trong đó các nhóm dân tộc thuộc ngôn ngữ Môn – Khơ Me như Pa Kô, Kà Tu, Tà Ôi, Vân Kiều chủ yếu sinh sống ở khu vực phía tây các huyện A Lưới, Nam Đông, Phong Điền, Hương Trà và Hương Thủy Nhiều vùng đồng bào dân tộc ít người vẫn đang đối mặt với khó khăn, đặc biệt là về cơ sở hạ tầng, cần được đầu tư phát triển trong những năm tới.

Trong giai đoạn 2000-2005, tỉnh Thừa Thiên Huế đã có sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh tế, với tỷ trọng GDP của ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tăng lên, trong khi tỷ trọng ngành nông – lâm – ngư giảm So với các tỉnh khác, Thừa Thiên Huế có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, mặc dù tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng vẫn tăng chậm hơn.

Cơ cấu vùng kinh tế của tỉnh đang dần hình thành theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, với sự đầu tư vào các vùng đồng bằng, gò đồi, miền núi và đầm phá ven biển Các chương trình trọng điểm đã được triển khai nhằm phân bố lao động hợp lý, từ đó phát huy tốt hơn các thế mạnh của từng vùng Sự phát triển giữa các khu vực đã trở nên đồng đều hơn.

Trong những năm gần đây, tỉnh đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ với cơ cấu kinh tế đa dạng hơn Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế tập trung vào việc phát huy tiềm năng của từng thành phần đã thúc đẩy lực lượng sản xuất Khu vực kinh tế quốc doanh đang được sắp xếp lại và giữ vai trò chủ đạo, đồng thời cùng với kinh tế tập thể trở thành những thành phần quan trọng Ngoài ra, khu vực kinh tế tư nhân và cá thể được khuyến khích phát triển, góp phần đáng kể vào việc tạo ra việc làm và phát triển ngành nghề.

Năm 2004, tổng giá trị sản phẩm của tỉnh đạt 5.872.417 triệu đồng, trong đó nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 22,4% với 1.314.662 triệu đồng; công nghiệp và xây dựng đạt 34,1% tương đương 2.005.068 triệu đồng Đặc biệt, giá trị sản phẩm dịch vụ phát triển mạnh mẽ, đạt 2.552.687 triệu đồng, chiếm 43,5% tổng sản phẩm Đến năm 2005, cơ cấu kinh tế có sự thay đổi với công nghiệp – xây dựng chiếm 34,5%, dịch vụ 43,7% và nông nghiệp 21,8%, theo báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ XIII.

Công nghiệp ngoài quốc doanh tuy được khuyến khích, song tốc độ phát triển còn chậm, đến năm 2005 số doanh nghiệp công nghiệp tư nhân toàn tỉnh là

Tính đến năm 2023, khu vực kinh tế hộ gia đình và tiểu thủ công nghiệp đã phát triển với 68 doanh nghiệp, tăng thêm 10 so với năm 2000, thu hút 1.569 lao động Đồng thời, khoảng 23.870 lao động đã có việc làm ổn định từ 13.071 cơ sở sản xuất trong lĩnh vực này.

Ngành công nghiệp quốc doanh với 23 doanh nghiệp đã đóng góp đáng kể vào ngân sách với 1.576.798 triệu đồng và tạo ra 10.359 việc làm Các ngành chế biến chủ chốt như thực phẩm, đồ uống, dệt may, chế biến gỗ, giấy, hóa chất và thiết bị điện tử chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Ngành chế biến thu hút 31.709 lao động, chiếm 86% tổng số lao động trong ngành công nghiệp, với giá trị sản xuất đạt 3.107.421 triệu đồng.

90.4% tổng giá trị công nghiệp toàn tỉnh Góp phần đưa tổng giá trị sản phẩm công nghiệp năm 2004 đạt 3.437.909 triệu đồng (giá thời điểm 2004) [17].

Hầu hết các cơ sở công nghiệp tại Huế tập trung chủ yếu trong thành phố và khu vực ven đô, với 87% doanh nghiệp quốc doanh và 40% cơ sở ngoài quốc doanh Một số cơ sở sản xuất nhỏ nằm ở Phòng Điền, Hương Trà, trong khi các huyện Nam Đông và A Lưới gần như không có sự hiện diện của công nghiệp quốc doanh.

Năm 2004, tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh đạt 1.359.141 triệu đồng, chiếm 23,1% tổng sản phẩm của tỉnh Trong đó, trồng trọt đóng vai trò chủ chốt với giá trị 855.191 triệu đồng, tương đương 63% cơ cấu giá trị sản lượng nông nghiệp Ngành chăn nuôi cũng có bước phát triển mạnh mẽ nhờ đầu tư vào kỹ thuật, đạt giá trị 419.549 triệu đồng, tăng 18,3% so với năm 2003 Một số huyện như Nam Đông và A Lưới đã thành công trong việc phát triển mô hình trang trại và nuôi tập trung công nghiệp, đồng thời cải thiện chất lượng và hiệu quả sản xuất Dịch vụ trồng trọt và chăn nuôi cũng ghi nhận sự phát triển vượt bậc, đạt giá trị 84.221 triệu đồng, chiếm 62% tổng giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp trong năm 2004.

TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN VÀ QUẢN LÝ CTR Ở VIỆT NAM

2.1.1 Chất thải rắn, phân loại và yêu cầu xử lý

Chất thải hiện nay là một trong những vấn đề môi trường nghiêm trọng tại Việt Nam Theo Luật Bảo vệ môi trường 1994, chất thải được định nghĩa là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt, sản xuất hoặc các hoạt động khác, tồn tại dưới nhiều dạng như rắn, khí, lỏng Chất thải rắn (CTR), theo Thông tư liên tịch số 1590/1999/TTLT/BKHCNMT-BXD, bao gồm chất thải từ khu dân cư, hoạt động thương mại, dịch vụ đô thị, bệnh viện, công nghiệp và xây dựng Các nguồn phát sinh chất thải rắn chủ yếu từ các hoạt động đô thị và khu công nghiệp cần được quản lý hiệu quả để bảo vệ môi trường.

Trong quá trình sản xuất, các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng thường phát sinh chất thải, bao gồm cả chất thải thông thường và chất thải nguy hại.

- Từ các hoạt động sinh hoạt, bao gồm chất thải từ các hộ gia đình, đường phố, các chợ

Các hoạt động dịch vụ và thương mại, bao gồm khách sạn, nhà hàng, sửa chữa và bảo dưỡng ô tô, xe máy, cũng như đồ dùng điện và điện tử, đóng vai trò quan trọng trong ngành du lịch.

- Từ các hoạt động y tế, gồm chất thải từ bệnh viện, bệnh xá, trạm y tế.

- Từ các hoạt động sân bay, bến cảng, bến xe, nhà ga.

- Từ các công sở, trường học, khu vui chơi giải trí.

Tùy thuộc vào đặc điểm và quy mô của từng đô thị, nguồn thải và thành phần chất thải rắn có sự khác biệt Chất thải rắn có thể được phân loại theo nhiều phương pháp khác nhau.

- Theo nguồn thải có thể phân ra chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn xây dựng…

Chất thải rắn có thể được phân loại theo thành phần, bao gồm chất thải rắn hữu cơ và vô cơ, chất thải rắn kim loại và phi kim loại, cũng như chất thải rắn dễ phân huỷ và khó phân huỷ Ngoài ra, chất thải rắn còn được chia thành loại dễ cháy và không cháy được.

- Theo tính chất độc hại có thể phân ra chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại

Chất thải sinh hoạt thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số chất thải rắn, nhưng tương đối dễ chế biến thành phân bón các loại

Chất thải rắn công nghiệp có thể đạt khối lượng lớn tại nhiều địa điểm, nhưng nếu áp dụng công nghệ hợp lý, chúng có thể được tái sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho các xí nghiệp khác.

Chất thải y tế tuy có khối lượng nhỏ, nhưng lại thuộc vào loại rất nguy hại nên cần được quản lý rất chặt chẽ.

Tất cả các loại chất thải rắn, bất kể nguồn gốc và tính chất, nếu không được xử lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm không khí, nước, đất và ảnh hưởng xấu đến môi trường sống Do đó, việc quản lý chất thải rắn là cần thiết để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

Quản lý chất thải rắn bao gồm việc kiểm soát toàn bộ quy trình từ sản xuất đến thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu huỷ chất thải Điều này bao gồm tái sử dụng, tái chế, thiêu đốt và chôn lấp chất thải, cùng với việc giám sát môi trường tại các địa điểm tiêu huỷ Theo Thông tư liên tịch số 1590/1999/TTLT/BKHMT-BXD, việc quản lý chất thải rắn là rất quan trọng để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Sở Xây dựng các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổ chức thiết kế và xây dựng các bãi chôn lấp chất thải, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường hiện hành của Việt Nam.

2.1.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn ở Việt Nam

Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn đang trở thành vấn đề nghiêm trọng, vì vậy từ năm 1997, Nhà nước đã ban hành nhiều Thông tư và Chỉ thị nhằm quản lý chất thải rắn hiệu quả tại các đô thị và khu công nghiệp Đặc biệt, vào tháng 7/1999, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến 2020”, với các mục tiêu và giải pháp cụ thể Tuy nhiên, việc quản lý chất thải rắn ở Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức.

Theo các công trình nghiên cứu trước và các tư liệu đã công bố [39,41,42] có thể thấy:

Vào năm 2000, lượng chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp bình quân đầu người trên toàn quốc dao động từ 0,52 kg/người/ngày đến 0,8 kg/người/ngày, tùy thuộc vào loại hình đô thị.

Theo Bộ Công nghiệp, vào năm 2001, chất thải rắn công nghiệp chiếm khoảng 18% tổng lượng chất thải rắn của cả nước, với chất thải nguy hại chiếm từ 18% đến 47% tùy thuộc vào từng ngành sản xuất.

Tổng lượng chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp ở Việt Nam ước tính trên 7 triệu tấn vào năm 2002, trong đó chất thải rắn sinh hoạt chiếm khoảng 80,3% và chất thải rắn công nghiệp không nguy hại chiếm khoảng 12% Thành phố Hồ Chí Minh là nơi phát thải nhiều chất thải rắn nhất, chiếm 37% rác sinh hoạt và 30% rác công nghiệp, trong khi Thành phố Hà Nội chiếm 11% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt và công nghiệp.

- Lượng chất thải rắn sinh hoạt bình quân đầu người ở Việt Nam năm

Năm 2002, mức phát thải rác thải đạt 0,8 kg/người/ngày, trong đó các đô thị loại 1 ghi nhận lượng rác thải cao nhất Cụ thể, thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với 1,3 kg/người, tiếp theo là Hà Nội với 0,98 kg/người và Đà Nẵng với 0,76 kg/người.

Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần đa dạng và phức tạp, phụ thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, mức độ đô thị hóa, mức sống và thói quen tiêu dùng của người dân Đặc điểm chung là tỷ lệ chất hữu cơ chiếm từ 50-65%, độ ẩm cao từ 35-45%, và chứa nhiều vật liệu xây dựng như đất, cát, sỏi, đá vụn, và gạch vụn.

HIỆN TRẠNG THU GOM, XỬ LÝ CTR Ở THỪA THIÊN HUẾ

Thừa Thiên Huế, một tỉnh trong vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung, có vị trí địa lý thuận lợi và nhiều cơ hội phát triển Từ năm 2001 đến 2004, tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 9,1 – 9,2%/năm, cao hơn mức trung bình cả nước GDP bình quân đầu người năm 2004 đạt 504,9 USD và năm 2005 tăng lên 590 USD, gấp đôi so với năm 1995 Sự tăng trưởng kinh tế đã nâng cao mức sống cư dân đô thị, dẫn đến sức tiêu thụ tăng và lượng chất thải, đặc biệt là chất thải rắn đô thị, ngày càng gia tăng Do đó, vấn đề quản lý chất thải rắn trở nên ngày càng cấp bách.

Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển Miền Trung với địa hình đa dạng, bao gồm núi, trung du, đồng bằng và biển Các đô thị trong tỉnh không chỉ phản ánh đặc trưng của Việt Nam mà còn mang những sắc thái riêng biệt của Thừa Thiên Huế Điều này cũng được thể hiện trong quản lý chất thải rắn đô thị Để đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn từ khâu thu gom, vận chuyển đến xử lý và chôn lấp, cần thực hiện điều tra và khảo sát tình hình chất thải rắn tại các đô thị trong tỉnh, cùng với việc phân tích quy trình thu gom và xử lý chất thải.

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu, điều tra, khảo sát

Ph ươ ng pháp nghiên c ứ u

Trong các đợt khảo sát thực địa vào tháng 4 và tháng 7 năm 2005, các nhóm công tác đã áp dụng nhiều phương pháp để đánh giá tình hình quản lý chất thải rắn Các nghiên cứu thực địa được thực hiện nhằm khảo sát các bãi chứa rác và điểm chôn lấp hiện có, xác định vị trí địa lý và thành phần rác thải, cũng như các vấn đề liên quan đến thu gom và quản lý rác Bên cạnh đó, điều tra qua phiếu và phỏng vấn trực tiếp đã được tiến hành với các cán bộ lãnh đạo thị trấn và UBND, HĐND các xã để thu thập thông tin về tình hình chất thải rắn và nguyện vọng của họ Ngoài ra, việc phỏng vấn người dân và chủ cửa hàng, nhà hàng cũng được thực hiện để nắm bắt lượng chất thải rắn, lệ phí thu gom rác và ý kiến cộng đồng trong việc giải quyết vấn đề rác thải.

Hình 2.1 Các nguồn phát sinh chất thải rắn ở Thừa Thiên Huế và phân loại

Hoạt động kinh tế – xã hội của con người

Các quá trình sản xuất

Các quá trình phi sản xuất

Hoạt động sống của con người

Trong bài viết này, chúng tôi phỏng vấn các chủ tư nhân tổ chức thu gom rác tại một số huyện lỵ và chủ xí nghiệp chế biến rác, đặc biệt chú trọng vào vấn đề xã hội hóa trong quản lý chất thải rắn Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát thành phần rác và hình thức thu gom, vận chuyển rác tại thành phố Huế, kết hợp với công nhân của Công ty Môi trường đô thị để nắm bắt thực trạng và đưa ra giải pháp hiệu quả.

Kết quả khảo sát cho thấy, nguồn phát sinh chất thải rắn ở Thừa Thiên Huế rất đa dạng, chủ yếu đến từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người Các thị trấn huyện lỵ có quy mô nhỏ và một số cư dân tham gia hoạt động nông nghiệp, dẫn đến chất thải từ nông nghiệp chiếm tỷ lệ đáng kể Thành phần rác thải bao gồm ít vụn sắt thép và thủy tinh, nhưng lại có nhiều cành lá cây xanh và vỏ bao bì, phản ánh đặc điểm của thành phố có nhiều nhà vườn và lượng khách du lịch đông đảo Thông tin chi tiết về thành phần chất thải rắn được trình bày trong Phụ lục số 8.

Bài viết này sẽ phân tích và đánh giá tình hình thu gom, xử lý và chôn lấp chất thải rắn đô thị dựa trên kết quả điều tra và khảo sát từ các vùng miền khác nhau trong tỉnh, bắt đầu từ thị trấn huyện lỵ Phong Điền ở phía bắc tỉnh.

2.2.2 Hiện trạng thu gom và xử lý CTR ở huyện Phong Điền

Thị trấn Phong Điền có diện tích 18,86 km² và dân số khoảng 6.215 người vào năm 2003, với 1.480 hộ gia đình tập trung dọc theo 3,5 km Quốc lộ 1A Trước đây, thị trấn không có hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn, dẫn đến tình trạng rác thải tồn đọng, vứt bỏ và đốt rác bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng xấu đến cảnh quan của khu vực.

Trong những năm gần đây, thị trấn Phong Điền đã hợp tác với ông Nguyễn Văn Mãn, một cư dân địa phương, để thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt Đội thu gom do ông Mãn thành lập gồm 3 thành viên, với ông làm đội trưởng, và kinh phí hoạt động được UBND thị trấn chi trả Mỗi nhân viên thu gom nhận lương trung bình 400.000đ/tháng, chủ yếu từ nguồn thu phí vệ sinh của các hộ gia đình, với mức đóng góp linh hoạt từ 3.000 đến 5.000đ/hộ, trong khi các nhà hàng đóng từ 15.000 đến 45.000đ.

Phương tiện thu gom rác thải tại các thôn ven đường quốc lộ 1A chủ yếu là xe đẩy tay và xe công nông, thực hiện việc thu gom một lần mỗi ngày với tổng khối lượng khoảng 600 – 700kg Đối với các thôn khác trong thị trấn, do không thể thu gom tận nơi, người dân được khuyến khích tự đốt hoặc chôn lấp rác gọn gàng trong vườn nhà.

Rác thải sau khi thu gom được chuyển đến bãi rác tạm thời tại thôn Khánh Mỹ, cách trung tâm thị trấn khoảng 2km Tại đây, rác được để khô trước khi tiến hành đốt và lấp.

Huyện và thị trấn đã chú trọng đến vấn đề vệ sinh môi trường và thu gom rác thải sinh hoạt Đội thu gom địa phương đã góp phần giải quyết tình trạng rác thải, nhưng bãi đổ rác và quy trình xử lý vẫn còn hạn chế, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Để cải thiện tình hình, cần tổ chức đội thu gom đủ nhân lực và phương tiện, đồng thời xây dựng bãi xử lý rác đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, điều này đòi hỏi sự hỗ trợ từ cấp trên.

Thực hiện quyết định 3417/QĐ-UB ngày 25-11-2003 của UBND tỉnh, năm

Năm 2004, huyện Phong Điền đã khởi công xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn phục vụ cho thị trấn Phong Điền và khu vực lân cận Bãi chôn lấp này được đặt trên một khu đất gò đồi thuộc xã Phong Thu, cách quốc lộ 1A khoảng 3,6km về phía tây nam và cách trung tâm thị trấn khoảng 5,5km về phía tây, với tọa độ địa lý 16°34’806’’ độ vĩ bắc và 107°19’603’’ độ kinh đông.

Công trình xử lý rác bao gồm bãi chứa rác trung gian, bãi chôn lấp rác, khu xử lý nước rác và đường giao thông vào bãi Với diện tích 1,5ha, chiều sâu chôn lấp trung bình và dung tích 180.000m³, bãi rác dự kiến sử dụng trong khoảng 20 năm Dự án được đầu tư bởi phía Phần Lan, nhưng đến cuối năm 2004 vẫn chưa thể đưa vào sử dụng do thiếu đánh giá tác động môi trường đầy đủ Nước rác từ hồ xử lý ban đầu được thiết kế chảy về phía tỉnh Quảng Trị, dẫn đến khiếu kiện từ người dân và yêu cầu thay đổi thiết kế Hiện tại, bãi rác đang trong quá trình sửa chữa để điều chỉnh dòng chảy về phía Phong Điền và sẽ mất thêm thời gian trước khi đi vào vận hành.

2/ Trung tâm tiểu vùng Điền Hải: Điền Hải là một xã ở vùng Ngũ Điền, nằm ở bờ phía đông của phá Tam Giang, trên trục đường 49B chạy dọc theo chân phía tây của cồn cát biển kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam Xã Điền Hải có diện tích tự nhiên 1721ha, gồm 8 thôn, dân số 6210 người với 1218 hộ, chủ yếu làm nghề nông nghiệp và ngư nghiệp.

Điền Hải có hai chợ lớn, là nguồn phát sinh nhiều chất thải rắn Để giải quyết vấn đề này, xã đã chú trọng đến công tác thu gom rác thải Rác từ chợ và các hộ gia đình lân cận được thu gom hàng ngày và chuyển đến bãi rác tạm thời của xã Đội thu gom gồm hai người, được xã thuê với mức lương 250.000đ/tháng Chỉ những hộ dân ở khu vực chợ mới phải nộp phí thu gom rác.

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI, PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ Ở THỪA THIÊN HUẾ

QUY HOẠCH HỆ THỐNG THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Ngày đăng: 05/07/2021, 18:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nghị định số 175/CP ngày 18-10-1994 của Chính phủ về Hớng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trờng Khác
3. Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị BCH Trung ơng Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ môi trờng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Khác
4. Quyết định 1018/1997/QĐ_TTg ngày 29 – 11 – 1997 của Thủ tớng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2010 Khác
5. Quyết định của Thủ tớng Chính phủ số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23-01-1998 Phê duyệt định hớng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 Khác
6. Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10-7-1999 của Thủ tớng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lợc quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 Khác
7. Quyết định số : 115/1999/QĐ-TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999 của Thủ tớng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại Khác
8. Quy chế quản lý chất thải nguy hại (Ban hành kèm theo quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999 của Thủ tớng Chính phủ Khác
9. Quyết định của Thủ tớng Chính phủ số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17-08-2004 của Thủ tớng chính phủ về việc ban hành Định hớng chiến lợc phát triển bền vững ở Việt Nam. (Chơng trình nghị sự 21 của Việt Nam) Khác
10. Định hớng chiến lợc phát triển bền vững ở Việt Nam (Ch-ơng trình nghị sự 21 của Việt Nam ). Ban hành kèm theo quyếtđịnh 153/TTg. Hà Nội 2004 Khác
11. Chỉ thị của Thủ tớng Chính phủ số 199/TTg ngày 3 tháng 4 năm 1997 về những biện pháp cấp bách trong công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w