1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI/ HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU ĐẾN NĂM 2020

73 135 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Năm Căn đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh CàMau phê duyệt tại Quyết định số 445/QĐ-CTUB n

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN

BÁO CÁO QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI/ HUYỆN NĂM CĂN

TỈNH CÀ MAU ĐẾN NĂM 2020

Năm Căn, tháng 11 năm 2010

M C L CỤC LỤC ỤC LỤC

Trang 2

STT Tiêu đề Trang

Phần thứ 1 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN PHÁT

TRIỂN, KHẢ NĂNG KHAI THÁC CÁC TIỀM NĂNG

1.1 Phần tích, đánh giá các yếu tố, điều kiện nguồn lực 6

BÁO CÁO

Trang 3

QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN

NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU ĐẾN NĂM 2020

MỞ ĐẦU

Huyện Năm Căn là một trong 9 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh CàMau, diện tích tự nhiên 509,3 km2, bằng 9,5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đượcchia thành 7 xã và 1 thị trấn, dân số trung bình năm 2009 là 66.541 người, bằng5,57% dân số toàn tỉnh Cà Mau

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Năm Căn đến năm

2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh CàMau phê duyệt tại Quyết định số 445/QĐ-CTUB ngày 09/6/2005; các mục tiêuphát triển kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2010 đã và đang được huyện tổchức thực hiện, nhiều chỉ tiêu quan trọng của quy hoạch có thể sẽ đạt được vàonăm 2010, tuy nhiên cũng có một số chỉ tiêu mức độ thực hiện còn thấp, nhất làxây dựng kết cấu hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực cần phải tiếp tục phấn đấu vớimức độ cao trong thời gian tới; đồng thời yêu cầu phát triển bền vững, chủ độngứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng đang là những thách thức pháttriển của huyện (cũng như của toàn tỉnh Cà Mau và vùng Đồng bằng sông CửuLong)

Ngày 11/12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 163/2008/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh CàMau đến năm 2020; đồng thời Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau đã phê duyệt Quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mauthời kỳ đến năm 2020 tại Quyết định số số 407/QĐ-CTUB ngày 12/3/2009.Trong đó, địa bàn huyện Năm Căn là một trong những địa bàn động lực pháttriển của tỉnh Cà Mau, của vùng kinh tế biển và ven biển của tỉnh với nhiều dự

án quan trọng như khu công nghiệp - khu kinh tế Năm Căn, cảng Năm Căn, sânbay Năm Căn

Thực hiện Kế hoạch số 07/KH-UBND ngày 24/3/2009 của Ủy ban nhândân tỉnh Cà Mau về triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020 và Công văn số 1980/UBND-KT của UBNDtỉnh Cà Mau về chủ trương lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội cáchuyện, Ủy ban nhân dân huyện Năm Căn xây dựng Quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế - xã hội huyện Năm Căn đến năm 2020

Mục đích, yêu cầu:

Trang 4

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Năm Căn là tài liệuluận chứng về phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức không gian các hoạt độngkinh tế - xã hội hợp lý trên địa bàn huyện trong thời kỳ đến năm 2020 Quyhoạch là định hướng và là căn cứ để xem xét đầu tư phát triển, làm cơ sở choviệc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng trên địa bànhuyện.

Theo yêu cầu về đổi mới công tác quy hoạch trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, nội dung quy hoạch bên cạnh những định hướngphát triển có tính nguyên tắc còn bao gồm những nội dung mang tính địnhhướng là chủ yếu, coi trọng tác động của yếu tố thị trường Trong quy hoạchhuyện Năm Căn, nội dung quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, khu côngnghiệp, bảo vệ phát triển rừng yêu cầu phải tuân thủ trong thời kỳ dài hạn, khi

có sự thay đổi phải được phép của cấp thẩm quyền phê duyệt quy hoạch; còn cáclĩnh vực chịu sự ảnh hưởng lớn của thị trường (như quy mô diện tích cây con,khối lượng từng loại sản phẩm hàng hóa) chỉ mang tính định hướng và do thịtrường quyết định, chúng sẽ được điều chỉnh linh hoạt

Quy hoạch huyện Năm Căn phải phù hợp với định hướng phát triển kinh tế

xã hội tỉnh Cà Mau, Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biểntỉnh Cà Mau đến năm 2020 và các quy hoạch phát triển ngành của tỉnh Cà Mau

đã được cấp thẩm quyền phê duyệt; đặc biệt quy hoạch phải gắn kết với Đề ánthành lập Khu kinh tế Năm Căn, giải quyết những yêu cầu chung cho việc hìnhthành và phát triển của Khu kinh tế biển và ven biển

Quy hoạch huyện Năm Căn phải phù hợp với phân bố phát triển kinh tế xãhội của các huyện khác trong tỉnh Cà Mau để tránh sự chồng chéo, trùng lắpđảm bảo tính hiệu quả (nhất là đối với những huyện liền kề như Đầm Dơi, CáiNước, Phú Tân và huyện Ngọc Hiển)

Theo Nghị quyết số 106/NQ-HĐND ngày 22/7/2007 của Hội đồng nhândân tỉnh Cà Mau, trong thời kỳ đến năm 2020 địa giới hành chính huyện NămCăn sẽ có sự điều chỉnh, chia tách cả về đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã;

vì vậy quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Năm Căn cần nghiêncứu các phương án phát triển kết cấu hạ tầng phù hợp khi thực hiện điều chỉnhđịa giới hành chính cấp huyện và cấp xã

Trang 5

Mục tiêu xây dựng Quy hoạch hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hộihuyện Năm Căn đến năm 2020 nhằm:

-Xác định tiềm năng nguồn lực, các lợi thế và hạn chế so sánh; đánh giáthực trạng phát triển kinh tế xã hội để xây dựng các quan điểm, mục tiêu và địnhhướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện, xây dựng các giải pháp và đề xuấtdanh mục các dự án ưu tiên

-Xây dựng các giải pháp thực hiện quy hoạch phù hợp với điều kiện chung

và điều kiện đặc thù của huyện

Căn cứ lập quy hoạch:

- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về công táclập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;

- Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổsung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chínhphủ về công tác lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội;

- Thông tư số 01/2007/TT-BKH ngày 07/02/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày07/9/2006 của Chính phủ;

- Thông tư số 03/2008/TT-BKH ngày 01/7/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày11/01/2008 của Chính phủ;

- Quyết định số 163/2008/QĐ-TTg ngày 11/12/2008 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh CàMau đến năm 2020;

- Thông báo số 188/TB-VP ngày 03/8/2008 của Văn phòng Chính phủ về ýkiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm việc với lãnh đạo tỉnh Cà Mau vàVăn bản số 8493/BKH-KCN&KKT ngày 19/11/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư về việc thành lập Khu kinh tế Năm Căn;

- Quyết định số 407/QĐ-CTUB ngày 12/3/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh

Cà Mau phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển vàven biển tỉnh Cà Mau thời kỳ đến năm 2020;

Trang 6

- Quyết định số 15/2009/QĐ-UBND ngày 07/7/2009 của Ủy ban nhân dântỉnh Cà Mau phê duyệt Chương trình phát triển bền vững tỉnh Cà Mau giai đoạn2009-2015 và tầm nhìn đến năm 2020;

- Quyết định số 445/QĐ-CTUB ngày 09/6/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh

Cà Mau về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyệnNăm Căn đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;

- Công văn số 1980/UBND-KT ngày 04/6/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh

Cà Mau về việc điều chỉnh, lập mới quy hoạch phát triển các ngành và quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các huyện, thành phố Cà Mau

- Các văn kiện Đại hội, chủ trương phát triển kinh tế xã hội của Đảng bộtỉnh Cà Mau và của Đảng bộ huyện Năm Căn

Nội dung báo cáo quy hoạch:

Nội dung báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế huyện Năm Cănđến năm 2020 gồm 4 phần

Phần thứ nhất: Phân tích, đánh giá điều kiện phát triển, khả năng khai thác,

sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn lực của huyện:

Phần thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hộihuyện Năm Căn (từ năm 2004 – 2010)

Phần thứ ba: Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Năm Căn đến năm2020

Phần thứ tư: Giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch

Trong điều kiện có nhiều nguồn thông tin và số liệu khác nhau, do vậy, báocáo có xử ly, điều chỉnh một số số liệu theo các y kiến góp y của các sở banngành trong tỉnh, các thông tin, số liệu còn lại chủ yếu do Ủy ban nhân dânhuyện cung cấp

Quá trình triển khai dự án, chúng tôi đã nhận được sự trợ giúp nhiệt tìnhcủa Ủy ban nhân dân huyện Năm Căn và các sở trong tỉnh Tuy nhiên, Báo cáoquy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Năm Căn không thể tránhkhỏi những thiếu sót về mặt nội dung cũng như về kỹ thuật, rất mong sự góp y của các cơ quan để báo cáo được bổ sung hoàn thiện

Trang 7

Phần thứ nhất PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN,

KHẢ NĂNG KHAI THÁC TIỀM NĂNG CỦA HUYỆN

1.1 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1.1.1 Vị trí địa lý kinh tế

Huyện Năm Căn là huyện ven biển, diện tích tự nhiên 509,3 km2, chiếm9,5% diện tích tự nhiên của tỉnh Cà Mau; dân số trung bình năm 2009 là 66.541người, chiếm 5,57% dân số toàn tỉnh, mật độ dân số trung bình là 130người/km2, chỉ bằng 58% mật độ dân số trung bình toàn tỉnh Cà Mau (là huyện

có mật độ dân số thấp thứ 3 trong tỉnh, sau huyện Ngọc Hiển và huyện U Minh)

+ Phía Đông tiếp giáp Biển Đông

+ Phía Tây tiếp giáp Vịnh Thái Lan

+ Phía Bắc tiếp giáp với các huyện: Phú Tân, Cái Nước, Đầm Dơi

+ Phía Nam tiếp giáp với huyện Ngọc Hiển

Huyện Năm Căn có tuyến quốc lộ 1A (cũng là tuyến đường Hồ Chí Minh)

đi qua, có cảng Năm Căn là nhóm cảng biển Đồng bằng sông Cửu Long (cảngnhóm VI)

Phía Đông và Tây của huyện đều tiếp giáp với biển, bờ biển phía Đông cócửa Bồ Đề là cửa sông lớn, là cửa ra vào của cảng Năm Căn Trong quy hoạchtổng thể phát triển kinh tế xã hội Cà Mau đến năm 2020 đã xác định địa bànhuyện Năm Căn là vùng kinh tế biển và ven biển, từng bước xây dựng Năm Cănthành trung tâm kinh tế động lực ven biển với Khu công nghiệp, khu kinh tếNăm Căn Thị trấn Năm Căn đang được đầu tư để nâng cấp lên đô thị loại IV,điều chỉnh xây dựng thị xã Năm Căn trong giai đoạn đến năm 2020, trở thành đôthị đối trọng với đô thị Cà Mau trên trục quốc lộ 1A, cùng với khu vực SôngĐốc của huyện Trần Văn Thời hình thành tam giác phát triển Cà Mau - NămCăn - Sông Đốc trên địa bàn tỉnh Cà Mau Chương trình xây dựng khu côngnghiệp, khu kinh tế Năm Căn hiện đang được tỉnh cà Mau xúc tiến thành lập vànằm trong vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long nên địa bànhuyện Năm Căn có vị trí địa lý kinh tế quan trọng, có khả năng phát triển nhanhhơn so với các địa bàn khác của tỉnh Cà Mau

Trang 8

Huyện Năm Căn là huyện tiếp giáp với nhiều huyện khác trong tỉnh CàMau, gồm huyện Ngọc Hiển, Phú Tân, Cái Nước, Đầm Dơi; hiện tại ranh giớitiếp giáp với các huyện còn bị chia cắt bởi các sông lớn, nhưng theo dự kiến đếnnăm 2015 sẽ được đầu tư các cầu lớn đảm bảo nối liền giao thông đường bộ từNăm Căn đến các huyện Từ đó có điều kiện liên kết khai thác du lịch sinh tháirừng ngập mặn của huyện Năm Căn (như Lâm ngư trường 184, Khu Cồn ÔngTrang) với các khu du lịch của huyện Ngọc Hiển như: Bãi Khai Long, Đất Mũi,Đảo Hòn Khoai…

Huyện Năm Căn tiếp giáp vùng vịnh Thái Lan, gần đường giao lưu quốc

tế bằng đường biển đến các nước trong khu vực như Singapore, Malaixia, TháiLan và Campuchia là điều kiện quan trọng để huyện Năm Căn có quan hệ kinh

tế với nước ngoài Về đường bộ, Năm Căn là điểm cuối của hành lang kinh tếven biển từ Bangkok qua Phnong Pênh vào Việt Nam tạo tiền đề thuận lợi chohuyện phát triển dịch vụ vận tải đường bộ

Với vị trí địa lý kinh tế như vậy, huyện Năm Căn có khả năng phát triểnnhanh về kinh tế, kết cấu hạ tầng

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, là thời gian mưa tập trung, chiếmkhoảng 90% lượng mưa cả năm, đây là thời gian thuận lợi cho trồng rừng.Trong mùa mưa thường xuất hiện các cơn dông, bão, áp thấp nhiệt đới ảnhhưởng đến khai thác biển của ngư dân

Trang 9

xâm thực rất mạnh làm mất đất rừng và rừng, các hộ dân ở khu vực cửa sôngphải di dời vào trong (như khu vực Hố Gùi xã Tam Giang Đông) Có những chỗmỗi năm bị xói lở vào khoảng 50 m Bờ biển phía Tây của huyện (vùng bãi bồivườn quốc gia Mũi Cà Mau) đang tiếp tục bồi lấn khá nhanh

Qua tài liệu khảo sát địa chất các công trình xây dựng trên địa bàn huyện

và vùng lân cận, cho thấy đây là vùng có nền đất yếu, là đặc điểm hạn chế lớnđến phát triển các công trình kết cấu hạ tầng, lớp bùn hữu cơ và sét hữu cơ dày

từ 0,7 - 1,7m, lớp bùn sét dày 1,3 - 1,4m, có nơi còn sâu hơn, sức chịu tải kém,nên suất đầu tư công trình xây dựng dân dụng và hạ tầng đều rất cao

Về thổ nhưỡng, theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất huyện NgọcHiển (cũ) của Phân viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp miền Nam thì phầnlớn diện tích đất huyện Năm Căn bị nhiễm phèn, trong đó:

+ Vùng đất phèn tiềm tàng nông, dày, mặn nặng chiếm phần lớn diện tích

tự nhiên của huyện, có ở toàn bộ các xã, diện tích 31.950 ha

+ Vùng đất phèn tiềm tàng sâu, dày, mặn nặng, địa hình trung bình thấpnằm dọc theo kênh Ông Đơn và bờ nam sông Bảy Háp, diện tích 8.150 ha

+ Vùng đất phèn tiềm tàng sâu, dày, mặn nặng phân bổ dọc bờ bắc sôngCái Lớn, diện tích gần 7.000 ha Vùng đất này tương đối thuận lợi xây dựng cácđầm nuôi tôm công nghiệp xét riêng về mặt thổ nhưỡng

+ Vùng đất bãi bồi (từ cửa sông Bảy Háp đến cửa Ông Trang)

+ Vùng đất phèn tiềm tàng sâu, dày, dưới rừng ngập mặn, địa hình trungbình cao ven biển Đông

Mặc dù bị nhiễm phèn, mặn nhưng đất đai có độ phì cao, nếu được khaithác một cách hợp lý thì sẽ có hiệu quả kinh tế lớn Về khả năng sử dụng:

+ Đối với đất phèn tiềm tàng nông, khả năng sử dụng chính cho việc khôiphục phát triển rừng ngập mặn kết hợp nuôi thuỷ sản Tuy nhiên cần chú ý hạnchế đến mức thấp nhất về việc làm ôxy hoá các lớp phèn tiềm tàng thành phènhoạt động, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến các vùng nuôi thuỷ sản Đốivới các vùng đất cao (đất rẫy) trong mùa mưa có thể sử dụng sản xuất nôngnghiệp

+ Nhóm đất bãi bồi là nhóm đất mới được hình thành dọc theo bờ biển,đây là nơi xảy ra diễn thế tự nhiên của rừng ngập mặn, chủ yếu là rừng mắm và

là nơi sinh sản của các loài hải sản, đặc biệt là tôm Vùng bãi bồi chưa ổn định

Trang 10

và rất nhạy cảm với các tác động của con người, vì vậy vùng bãi bồi cần đượcbảo vệ, phát triển theo hướng đa dạng sinh học.

Tài nguyên đất đai của huyện Năm Căn chủ yếu đang được sử dụng vàomục đích nông nghiệp (ngư lâm nông nghiệp), diện tích đất phi nông nghiệp cònchiếm tỷ lệ thấp Trong 5 năm (2004-2009) biến động sử dụng đất đai của huyệnnhư sau:

Biểu 1 Thực trạng sử dụng đất huyện Năm Căn

STT Mục đích sử dụng đất Diện tíchNăm 2005 Năm 2009

(ha)

Tỷ lệ

%

Diệntích(ha)

3 Đất canh tác nông nghiệp 1.827,09 3,59 1.443,93 2,84

II Đất phi nông nghiệp 3.867,93 7,60 5.962,45 11,71

Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất huyện Năm Căn

Như vậy, trong 5 năm, diện tích đất nông nghiệp của huyện đã giảm 5%

để chuyển đổi sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp (nguồn số liệu của

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau) Nhìn chung đất đai của huyện đang

được sử dụng có hiệu quả với các loại hình phù hợp điều kiện thực tế, trong đó

có mô hình rừng - tôm kết hợp (nuôi tôm sinh thái)

Thủy văn:

Huyện Năm Căn có cả bờ biển Đông và bờ Vịnh Thái Lan, sông Cửa Lớnchạy xuyên suốt từ bờ biển Đông sang bờ vịnh Thái Lan, vì vậy địa bàn huyện

Trang 11

chịu tác động trực tiếp của cả triều biển Đông (bán nhật triều không đều) vàtriều biển Tây (nhật triều không đều) Thuỷ triều biển Đông lớn, vào các ngàytriều cường biên độ triều vào khoảng 3m, các ngày triều kém biên độ triều cũngđạt từ 1,8-2,2 m Thuỷ triều vịnh Thái Lan yếu hơn, biên độ triều lớn nhấtkhoảng 1m Mực nước thủy triều hàng năm cao trùng với mùa khô (từ tháng 11đến tháng 4 năm sau) Trong thời kỳ có gió chướng thường có hiện tượng triềucường nước dâng Thuỷ triều trên sông Cửa Lớn tại Năm Căn có thời gian triềukéo dài 5 giờ 43 phút và thời gian thuỷ triều xuống là 6 giờ 40 phút, chu kỳ triều

12 giờ 32 phút

Triều biển xâm nhập sâu vào đất liền theo hệ thống sông rạch, do biên độtriều cao nên phần lớn đất đai của huyện thường bị ngập triều Biên độ các sôngchịu ảnh hưởng triều biển Đông lớn hơn nên biên độ triều trên các sông cũng có

xu hường giảm dần từ Đông sang Tây

Độ mặn nước sông biến đổi theo mùa, mùa khô nước các sông có độ mặncao hơn, tuy nhiên đối với khu vực huyện Năm Căn, do nằm sát biển nên sựchênh lệch độ mặn nước sông giữa các mùa biến đổi không lớn bằng các vùngsâu trong nội địa

Đặc điểm địa hình, thuỷ văn của huyện thuận lợi cho việc phát triển giaothông đường thuỷ, du lịch đường thuỷ, nuôi trồng thuỷ sản, rừng ngập mặn…Những đặc thù của điều kiện thuỷ văn đã được nhân dân địa phương ứng dụngvào sản xuất và đời sống từ rất lâu đời

Tuy nhiên điều kiện địa hình, địa chất thuỷ văn cũng có những hạn chếkhó khăn đối với sự phát triển về cơ sở hạ tầng, nhất là về giao thông đường bộ,điều kiện xây dựng công trình… Sự tác động của thuỷ triều (biên độ triều cao)

và nền đất yếu đã gây ra hiện tượng sạt lở ven sông, vùng cửa sông rất nghiêmtrọng (khu vực cảng Năm Căn, bờ sông Cái Nai, ven sông hàng Vịnh), đến naycác giải pháp khắc phục khá tốn kém nhưng chưa mang lại hiệu quả

Chế độ thuỷ triều lên xuống và các đặc điểm sinh trưởng rừng ngập mặn

là các yếu tố chi phối đến các giải pháp xây dựng công trình giao thông, việckiến thiết các vùng nuôi tôm kết hợp trồng rừng trên địa bàn huyện…

Huyện Năm Căn là địa bàn có mật độ sông rạch khá dày đặc, có một sốtuyến sông được công bố là đường thủy nội địa quốc gia gồm: sông Cái Nháp,sông Bảy Háp, kênh Tắc Năm Căn (theo Quyết định số 68/2005/QĐ-BGTVTngày 09/12/2005 và Quyết định số 970/QĐ-BGTVT ngày 15/4/2009 của Bộ

Trang 12

trưởng Bộ Giao thông Vận tải) Đây là đặc điểm tạo cho giao thông đường thủy,sông biển phát triển Ở huyện có cửa sông Bồ Đề ăn thông ra biển, đây là tuyếnsông có độ sâu khá lớn, thuận tiện cho vận tải đường thủy Tuy nhiên phía luồngngoài biển có khu vực cát bồi chạy ngang luồng ra vào cảng, phải nạo vét mới

có thể cho tàu 5.000 tấn vào cảng Năm Căn

Vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng: huyện Năm Căn là huyện venbiển, hệ thống đê biển chưa được đầu tư, địa hình thấp và có nhiều sông lớn ănthông ra biển nên những tác độ của tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu và nướcbiển dâng sẽ khá nặng nề (như kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng tạiViệt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố ngày 09/9/2009), ảnhhưởng rất lớn đền đầu tư xây dựng nhà ở, công trình hạ tầng (cao trình) và sảnxuất Vì vậy trong quá trình quy hoạch, đầu tư phát triển cần chú ý để hạn chếnhững tác động xấu này

Theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm Cà Mau về diện tích rừng và đất lâmnghiệp tháng 02/2009, tổng diện tích có rừng trên địa bàn huyện Năm Căn là12.703,24 ha; trong đó: rừng đặc dụng 1.771,5 ha (bằng 47% diện tích quyhoạch); rừng phòng hộ 3.629,1 ha (bằng 54,82% diện tích quy hoạch) và rừngsản xuất 7.302,64 ha (bằng 44,3% diện tích quy hoạch) Nếu kể cả diện tíchrừng phân tán ở các xã nuôi tôm thì tổng diện tích rừng của huyện là 15.590 ha.Như vậy tỷ lệ diện tích có rừng so với diện tích quy hoạch phát triển rừng ởhuyện Năm Căn còn thấp Tài nguyên rừng của huyện hiện nay chủ yếu mớiphát huy về vai trò phòng hộ, bảo vệ môi trường, giá trị kinh tế chưa phát huy dochưa kết hợp với khai thác kinh doanh du lịch từ tài nguyên rừng

Trang 13

Tài nguyên biển:

Năm Căn là một trong số hai huyện của tỉnh Cà Mau (cùng với huyệnNgọc Hiển) có cả bờ biển Đông và bờ biển Tây (vịnh Thái Lan)

Tổng chiều dài bờ biển huyện Năm Căn là 34,8 km, bao gồm 15,8 km bờbiển Đông và 19 km bờ biển Tây, chiếm 13,7% chiều dài bờ biển tỉnh Cà Mau

Bờ biển phía Đông, có Cửa Bồ Đề là luồng ra vào cảng Năm Căn, tạođiều kiện khai thác phát triển vận tải biển, các dịch vụ cảng biển; đây là lợi thế

có thể hình thành khu kinh tế ven biển của tỉnh Cà Mau ở địa bàn huyện NămCăn, khai thác phát huy cảng Năm Căn là điều kiện mở đầu để thu hút các dự án

và hình thành khu kinh tế Năm Căn Ở bờ biển phía Tây (bãi bồi từ cửa sôngBảy Háp đến cửa Ông Trang) là vùng bồi lấn, là nơi sinh sản của các loại thuỷsản, rất nhạy cảm với các hoạt động khai thác

Vùng biển Cà Mau nói chung (nằm trong vùng biển Tây Nam Bộ) là mộttrong những ngư trường trọng điểm của cả nước, có trữ lượng hải sản lớn và đadạng là điều kiện để ngư dân phát triển nuôi trồng và khai thác hải sản Nhưng

ở khu vực bãi bồi (xã Lâm Hải) là vùng có nguồn lợi thuỷ sản đa dạng, theo báocáo đề tài nghiên cứu nguồn lợi thuỷ sản khu vực bãi bồi tỉnh Cà Mau có khoảng

100 loài thuỷ sản sinh sống, trong đó có 17 loài tôm, 67 loài cá, 6 loài cua, ghẹ

và 3 loài mực Đây là khu vực sinh sản cuả các loài tôm, cá nên cần được bảo vệchặt chẽ

Trong vùng biển Tây Nam Bộ còn có tiềm năng lớn về dầu khí, theo Dự ánquy hoạch phát triển khí Tây Nam của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam cótiềm năng khoảng 380 triệu m3 dầu quy đổi, trữ lượng đã phát hiện khoảng 230triệu m3; riêng trữ lượng khí đã phát hiện khoảng 212 tỷ m3, sản lượng khai tháckhoảng trên 10 tỷ m3/năm Đây là tiền đề quan trọng để phát triển công nghiệp

và dịch vụ cho khu vực ven biển của tỉnh Cà Mau, trong đó có huyện Năm Căn(khu kinh tế Năm Căn trong tương lai)

Tài nguyên nước:

Do nằm tiếp giáp với biển, toàn bộ nguồn nước mặt (nước sông rạch) lànước mặn, nước lợ Nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, dịch vụ đều sử dụng nguồn nước ngầm Theo kết quả điều tra đánh giá của Liên đoànBản đồ - Địa chất Miền Nam về nước dưới đất ở tỉnh Cà Mau gồm 7 tầng chứanước, có độ sâu từ 36,6 m đến 415 m Trong đó có độ sâu trung bình của đáytầng I từ 32 - 45 m, tầng II từ 89 - 140 m, tầng III từ 146 - 233 m, tầng IV từ 198

Trang 14

- 326 m, tầng V từ 300 - 348 m, tầng VI từ 330 - 355 m, tầng VII từ 372 - 415

m Trong đó nước từ tầng II đến tầng VI là nước có áp

Nguồn nước ngầm đa dạng đang được khai thác, sử dụng trên địa bànhuyện Năm Căn là từ tầng II đến tầng III (có độ sâu từ 89m - 172 m), riêng khuvực xã thị trấn Năm Căn khai thác nước ở 3 tầng II, III, và IV (có độ sâu từ 78m

- 222m)

Về chất lượng nước nhìn chung tốt, không bị nhiễm mặn, thuộc nhómnước mềm, chưa bị ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, đảm bảo cho sinh hoạt Tuynhiên cần chú ý nước có chứa ít canxi và một số tầng nước có hàm lượng tổngsắt trong nước cao (0,25 - 0,5 mg/l) cho nên nước có tính chất phèn, cần chú ý

Nước ngầm là tài nguyên quý hiếm, vì vậy quá trình khai thác sử dụngcần được quản lý chặt chẽ, tránh các hiện tượng gây ô nhiễm và lãng phí nguồnnước ngầm Theo Báo cáo tổng kết của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh càMau (tháng 3/2009) tại huyện Năm Căn có tổng số 5.532 giếng khai thác nướcngầm với lưu lượng khai thác khoảng 24.806 m3 Trong đó có 30 giếng của các

tổ chức doanh nghiệp, nhà máy; còn lại 5.502 giếng lẻ của các hộ dân ở nôngthôn

Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch chủ yếu ở huyện Năm Căn là du lịch sinh thái, hiệnnay đã hình thành một số điểm du lịch có khả năng thu hút khách như khu đadạng sinh thái Lâm ngư trường 184, vườn chim Tư Na, khu vực rừng ngập venbiển thuộc vườn quốc gia Mũi Cà Mau Tài nguyên du lịch sinh thái của huyệnNăm Căn không nhiều nhưng có vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịchcủa tỉnh Cà Mau, đó là vai trò liên kết để khai thác du lịch của vùng Đất Mũi CàMau

Trang 15

1.2 DÂN SỐ VÀ LAO ĐỘNG

1.2.1 Dân số.

- Hiện trạng dân số và phân bố dân cư: Theo số liệu của Phòng Thống kêhuyện Năm Căn, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện những năm qua đã giảmdần từ 1,5% (năm 2005) xuống 1,24% năm 2010 (bình quân khoảng 1,3%/năm),nhưng dân số trung bình hàng năm của huyện tăng không nhiều Dân số năm

2005 của huyện là 68.060 người, năm 2009 là 70.768 người và năm 2010 ướckhoảng 71.440 người Nhưng theo số liệu về dân số 10 năm (2000-2009) và sốliệu tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 01/4/2009 của Cục Thống kê CàMau, dân số của huyện Năm Căn trong 5 năm chỉ tăng tăng trên 100 người; dân

số trung bình năm 2005 của huyện là 66.437 người và năm 2009 là 66.541người, năm 2010 ước đạt 66569 người (phù hợp với kết quả tổng điều tra dân

số và nhà ở thời điểm 1/4/2009) Dân số của huyện tăng không nhiều do có sựdịch chuyển lao động ra ngoài huyện, ngoài tỉnh vì nhiều lý do khác nhau (giảmdân số cơ học), chủ yếu là đi lao động ngoài tỉnh Đây là tình hình chung củatỉnh Cà Mau, vấn đề này cần chú ý trong thời kỳ quy hoạch cần tăng cường giảiquyết việc làm tại chỗ cho lao động của huyện cũng như của tỉnh Cà Mau

Biểu 2 Dân s huy n N m C n th i i m 1/4/2009 theo a b n các xã, thố huyện Năm Căn thời điểm 1/4/2009 theo địa bàn các xã, thị ện Năm Căn thời điểm 1/4/2009 theo địa bàn các xã, thị ăm Căn thời điểm 1/4/2009 theo địa bàn các xã, thị ăm Căn thời điểm 1/4/2009 theo địa bàn các xã, thị ời điểm 1/4/2009 theo địa bàn các xã, thị điểm 1/4/2009 theo địa bàn các xã, thị ểm 1/4/2009 theo địa bàn các xã, thị điểm 1/4/2009 theo địa bàn các xã, thịịa bàn các xã, thị àn các xã, thị ịa bàn các xã, thị

tr n nh sau (ngấn như sau (người): ư sau (người): ư sau (người):ời điểm 1/4/2009 theo địa bàn các xã, thịi):

STT Đơn vị xã, thị trấn Diện tích(km2)

Dân số(Người)

Mật độ dân số(người/km2)

Nguồn: Tổng điều tra dân số huyện Năm Căn tính đến 1/4/2009

Qua số liệu trên cho thấy dân số của huyện phân bố không đều, ở thị trấnNăm Căn, xã Hàng Vịnh và xã Hiệp Tùng có mật độ dân số cao, gấp 3-5 lần mật

độ dân số trung bình toàn huyện; nhưng ở các xã có nhiểu rừng như Tam GiangĐông, Lâm Hải, Đất Mới mật độ dân số rất thấp, riêng xã Tam Giang Đông mật

độ dân số chỉ đạt 49 người/km2, thấp nhất trong tỉnh Cà Mau

Tỷ lệ giới tính dân số tương đối cân bằng nhưng tỷ lệ dân số nữ bắt đầu có

xu hướng thấp hơn dân số nam, tỷ lệ dân số nữ giảm từ 50,6% năm 2005 xuống

Trang 16

còn 49,6% vào năm 2009 (theo số liệu phản hồi số liệu dân số các huyện 10 năm2000-2009 của Cục Thống kê Cà Mau)

Dân số đô thị tăng chậm do quy mô thị trấn Năm Căn phát triển chậm, tỷ lệdân số thành thị năm 2005 là 27%, tăng lên 28% vào năm 2009

So với dự báo về dân số năm 2010 trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế - xã hội huyện Năm Căn được duyệt (tại Quyết định số 445/QĐ-CTUB ngày09/6/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau) thì dân số trung bình năm 2010thực tế của huyện thấp hơn khá nhiều (khoảng 10.000 người), việc dân số thực

tế của huyện thấp hơn mức dự báo có 2 lý do: (1) sự chuyển dịch dân số ra ngoàihuyện (giảm cơ học), (2) là mức độ đô thị hoá, mức đầu đầu tư phát triển khucông nghiệp Năm Căn không đạt được như dự kiến nên gần như dân số tăng cơhọc đến huyện Năm Căn là không đáng kể

1.2.2 Lao động.

Lao động trong độ tuổi của huyện chiếm từ 63-66% dân số của huyện, sốlao động tham gia làm việc trong các ngành kinh tế hàng năm chiếm khoảng 79-80% số lao động trong độ tuổi (còn lại đi học, làm nghĩa vụ quân sự…), cụ thể

số lao động làm việc trong các ngành kinh tế năm 2009 là 35.037 người, tăng6.070 người so với năm 2005 (không kể số lao động đi làm việc ngoài huyện)

Cơ cấu sử dụng lao động của huyện chuyển dịch khá nhanh, tỷ lệ lao động nôngnghiệp đã giảm từ 61,7% năm 2005 xuống còn 57,5 năm 2009 và năm 2010 ướccòn 57%; lao động tham gia kinh doanh các ngành dịch vụ chiếm tỷ lệ khá cao(kể cả kết hợp làm thủy sản, lâm nghiệp và kinh doanh dịch vụ), năm 2005chiếm khoảng 29%, năm 2009 chiếm 32% (số liệu Phòng Thống kê huyện NămCăn)

Trình độ lao động của huyện còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, tỷ lệlao động qua đào tạo bồi dưỡng nghề còn rất thấp (năm 2009 chiếm 8,76%, năm

2010 ước đạt khoảng 10% (thấp tương đương so với huyện U Minh)), là hạn chếrất lớn trong quá trình phát triển của huyện

I.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN CỦA HUYỆN NĂM CĂN TRONG THỜI KỲ QUY HOẠCH

Qua phân tích, đánh giá các điều kiện về vị trí địa lý kinh tế, tài nguyên tựnhiên, nguồn nhân lực của huyện Năm Căn cho thấy các nguồn lực của huyện

Trang 17

hiện nay đã và đang được khai thác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địabàn huyện Trong thời kỳ quy hoạch các điều kiện tự nhiên của huyện sẽ tiếp tụcđược khai thác hợp lý, gắn với bảo vệ để phát triển bền vững Trong đó đặc biệt

là yêu cầu về bảo vệ tài nguyên rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, bảo vệ nguồn lợithuỷ sản sông biển (nhất là vùng bãi bồi) để phát triển ngư lâm nghiệp, kết hợpphát triển du lịch

1 Lợi thế và khả năng phát triển lớn của huyện Năm Căn là ở vị trí địa lýkinh tế, có các trục giao thông quan trọng kết nối như quốc lộ 1A, hệ thốngđường thuỷ nội địa, đường biển Địa bàn huyện Năm Căn là địa bàn kinh tếđộng lực của tỉnh Cà Mau trong thời kỳ quy hoạch đến năm 2020 và sau năm

2020, trong đó cần chú trọng vào các yếu tố:

- Khôi phục, khai thác cảng Năm Căn để phát triển dịch vụ, thu hút luồnghàng về cảng, đây cũng là tiền đề và điều kiện để hình thành, phát triển khu kinh

tế Năm Căn

- Chủ trương xây dựng khu kinh tế Năm Căn là một chương trình lớn, đượctỉnh Cà Mau xác định là giải pháp quyết định để tăng trưởng và chuyển dịchnhanh cơ cấu kinh tế tỉnh, được xem như một “Khí điện đạm” thứ 2 tại tỉnh CàMau Khi khu kinh tế hình thành và thu hút đầu tư sẽ tạo bước phát triển vượtbậc về kinh tế trên địa bàn huyện

- Chủ trương xây dựng, phát triển đô thị Năm Căn trở thành đô thị động lựccủa tỉnh, cũng là điều kiện để tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch nhanh cơ cấukinh tế

2 Tuy nhiên, trong thời kỳ quy hoạch cũng cần thấy được những khó khăn,hạn chế như sau:

- Khi triển khai xây dựng khu kinh tế Năm Căn (diện tích tự nhiên khoảng11.000 ha) sẽ phải giải quyết nhiều vấn đề về kinh tế xã hội, trong đó:

+ Phải di dời, tái định cư, định canh cho một bộ phận lớn số hộ gia đìnhtrong khu vực xây dựng khu kinh tế Đây là thách thức rất lớn của huyện và cảtỉnh Cà Mau;

+ Diện tích đất nông nghiệp bị giảm thiểu, phải chuyển đổi ngành nghề chomột số lượng lớn lao động, làm sao để họ sớm ổn định được thu nhập, đời sống;+ Khi hình thành và quá trình xây dựng khu kinh tế, sẽ phát sinh nhiều vấn

đề phải được quan tâm giải quyết như xã hội, môi trường, an ninh quốc phòng

Trang 18

- Chất lượng nguồn lao động của huyện hiện nay còn rất thấp, rất khó khăncho quá trình chuyển đổi nghề nghiệp và tăng năng suất lao động.

- Những tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng do địa bàn huyệnthấp, chưa có hệ thống đê để phòng hộ, bảo vệ

Như vậy, trong thời kỳ quy hoạch đến năm 2020, huyện Năm Căn đangđứng trước nhiều cơ hội phát triển rất lớn từ những chủ trương phát triển củatỉnh Cà Mau, đặc biệt là khai thác cảng Năm Căn, xây dựng khu kinh tế NămCăn và phát triển đô thị động lực Năm Căn Nhưng cũng có nhiều vấn đề hạnchế tác động cần chú trọng giải quyết để không cản trở sự phát triển của huyệnNăm Căn và của tỉnh Cà Mau

Phần thứ hai ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN NĂM CĂN

Do huyện Năm Căn mới được thành lập, bộ máy chính quyền đi vào hoạtđộng từ năm 2004 trên cơ sở chia tách huyện Ngọc Hiển, nên việc thực trạng

Trang 19

phát triển kinh tế xã hội huyện Năm Căn được phân tích đánh giá trên cơ sở sốliệu từ năm 2005 đến năm 2009 và kế hoạch năm 2010 của huyện Nguồn sốliệu sử dụng được lấy từ nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ X Đảng bộ huyệnNăm Căn, nhiệm kỳ 2010 – 2015, số liệu thống kê của Phòng Thống kê huyệnNăm Căn, số liệu niên giám thống kê của Cục Thống kê Cà Mau, của các Sởngành cấp tỉnh của tỉnh Cà Mau.

2 I ĐÁNH GIÁ QUY MÔ, TĂNG TRƯỞNG VÀ CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU KINH TẾ

2.1.1 Tăng trưởng và quy mô kinh tế huyện Năm Căn trong nền kinh

tế tỉnh Cà Mau

Tổng giá trị tăng thêm (viết tắt là VA) giá so sánh 1994 trên địa bànhuyện năm 2005 đạt khoảng 456,7 tỷ đồng, bằng 5% GDP của toàn tỉnh CàMau; năm 2010 ước đạt khoảng 883,7 tỷ đồng, bằng khoảng 5,5% GDP toàntỉnh, tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2005-2010 là 14,1% Trong đó:

- Các ngành ngư – lâm - nông nghiệp tăng khoảng 5%;

- Công nghiệp - xây dựng tăng 20%;

- Các ngành dịch vụ tăng 18%

Tổng giá trị tăng thêm trên địa bàn huyện tính theo giá thực tế năm 2010ước đạt khoảng 1.508,3 tỷ đồng, bình quân đầu người đạt khoảng 22,66 triệuđồng, tương đương khoảng 1218 USD

Như vậy, trong 5 năm qua kinh tế huyện Năm Căn đạt tốc độ tăng trưởngkhá, mặc dù các dự án lớn trên địa bàn huyện Năm Căn (cụm công nghiệp NămCăn, cảng Năm Căn, các dự án của Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam )triển khai chậm, một số dự án bị ngưng trệ do tác động của suy giảm kinh tế

Trang 20

Đánh giá về quy mô kinh tế huyện: từ khi huyện thành lập đến năm 2010,quy mô kinh tế của huyện Năm Căn còn rất nhỏ bé, nếu so sánh trong nền kinh

tế của tỉnh Cà Mau thì kinh tế của huyện chưa tương xứng với quy mô về diệntích tự nhiện Diện tích tự nhiên huyện Năm Căn chiếm gần 10% diện tích tựnhiên toàn tỉnh Cà Mau, nhưng tổng giá trị tăng thêm (VA) của huyện chỉ chiếm5-6,05% GDP toàn tỉnh Cà Mau; đồng thời so với các huyện khác trong tỉnh CàMau thì huyện Năm Căn là huyện có quy mô giá trị tăng thêm nhỏ (năm 2010,

VA của huyện Năm Căn chỉ bằng khoảng 42% VA của huyện Cái Nước, bằng56,5% VA của huyện Trần Văn Thời, bằng 76% VA của huyện Thới Bình…) Biểu 3.Tỷ lệ đóng góp của một số huyện trong nền kinh tế tỉnh Cà Mau

Đơn vị Năm 2005 Năm 2009 KH năm 2010

Giá trị (tỷ đ) Tỷ lệ% Giá trị tỷđ Tỷ lệ % Giá trị tỷđ Tỷ lệ%

Toàn tỉnh 7.673 100,00 13100 100,00 14600 100,00

Trang 21

2.1.2 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Năm Căn

Cơ cấu kinh tế của huyện Năm Căn trong 5 năm (2005 - 2010) chuyểndịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng của khu vực kinh tếngư lâm nghiệp đã giảm từ 57,5% năm 2005 xuống còn 49,8% vào năm 2010,khu vực công nghiệp, xây dựng tăng từ 30,6% năm 2005 lên 35,15% năm năm2010; các ngành khu vực dịch vụ tăng từ 11,8% năm 2005 lên 15,04% năm năm2010

Như vậy, mặc dù quy mô kinh tế của huyện thấp hơn các huyện khác,nhưng huyện Năm Căn có cơ cấu kinh tế tương đối tiến bộ, tỷ trọng kinh tếchuyển dịch nhanh hơn so với các huyện khác, gần tiến tới tương ứng với cơ cấukinh tế toàn tỉnh (nông nghiệp năm 2010 còn 49,8% so với của tỉnh Cà Mau là39,3%) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu sử dụnglao động của huyện khá tốt (tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 57%)

Biểu 4 Cơ cấu kinh tế huyện Năm Căn giai đoạn 2005-2010 (%):

Trang 22

Mặc dù cơ cấu kinh tế của huyện có chuyển dịch nhưng trong cơ cấu từngkhu vực kinh tế chuyển dịch còn chậm.

+ Trong kinh tế nông nghiệp, thuỷ hải sản vẫn là ngành sản xuất, chiếm tỷtrọng gần như toàn bộ, khoảng trên 90% giá trị sản xuất nông nghiệp, còn giá trịsản xuất trồng trọt chăn nuôi không đáng kể

+ Kinh tế công nghiệp chủ yếu là chế biến thủy hải sản xuất khẩu, mộtphần công nghiệp cơ khí sửa chữa

+ Các ngành dịch vụ truyền thống vẫn chiếm tỷ trọng cao như: thươngnghiệp, bưu chính, viễn thông, sửa chữa, các dịch vụ cơ bản phục vụ nhu cầucủa người dân Còn lại các dịch vụ khác như ngân hàng, bảo hiểm, du lịch… cònđóng góp rất ít

Đối chiếu số liệu ước thực hiện năm 2010 với mục tiêu năm 2010 trongQuy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Năm Căn đến năm 2010 đãđược Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau phê duyệt (tại Quyết định số 445/QĐ-CTUBngày 09/6/2005) cho thấy:

- Về tổng giá trị tăng thêm (VA) đạt hơn dự kiến (883,7 tỷ đồng so với chỉtiêu là 830 tỷ đồng), nên tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giaiđoạn 2005-2010 đạt khoảng 14,1% (so với chỉ tiêu quy hoạch là 12-13%).Trong đó các ngành ngư nông lâm nghiệp có mức tăng trưởng trên 5% (so vớimục tiêu tăng 9%) Các ngành công nghiệp xây dựng đạt khá cao, bằng mức chỉtiêu quy hoạch (mặc dù khu công nghiệp Năm Căn triển khai chậm, nhưng bù lại

Trang 23

các dự án đầu tư xây dựng cơ bản khác được triển khai đồng loạt với khối lượnglớn, nhất là các dự án đường ô tô về trung tâm xã, trường học, bệnh viện, giaothông nông thôn).

- Bình quân giá trị tăng thêm/người đạt khá, năm 2010 ước đạt khoảng1.200 USD so với mục tiêu 890 USD

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh hơn dự kiến, tỷ lệ nông nghiệp năm

2010 ước giảm còn khoảng 49,81% (so với chỉ tiêu quy hoạch còn 44,9%)

2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC 2.2.1 Ngư lâm nông nghiệp

Sản xuất ngư lâm nông nghiệp là thế mạnh của huyện Năm Căn, chủ yếu làthuỷ sản và lâm nghiệp, đóng góp khoảng 50% giá trị tăng thêm và giải quyếtviệc làm

Thuỷ hải sản:

- Nuôi thuỷ sản: nuôi thuỷ sản nước mặn, nước lợ mà chủ yếu là nuôi tôm

đã được tổ chức thực hiện ở huyện Năm Căn ngay từ trước khi tỉnh Cà Mauthực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông ngư nghiệp, vì phần lớn địa bànhuyện từ trước đây là vùng đất ngập triều và rừng ngập mặn, không có đê biển.Tổng diện tích nuôi tôm của huyện đã tăng từ 24.000 ha năm 2005 lên25.677 ha năm 2009-2010, điều này ngược với dự kiến của quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế xã hội huyện trước đây (quy hoạch diện tích nuôi tôm giảmdần còn 20.000 ha để trồng lại rừng) Diện tích nuôi tôm có ở tất cả các xã tronghuyện, nhiều nhất là các xã: xã Đất Mới 5.765 ha, xã Lâm Hải 3.931 ha, xã HàmRồng 3.605 ha, các xã Hiệp Tùng, Tam Giang trên 3.000 ha, thị trấn Năm Căn là1.803 ha Loại hình nuôi tôm ở huyện Năm Căn gồm 2 loại: nuôi tôm chuyêncanh ở các xã Đất Mới, Hiệp Tùng, Hàm Rồng, thị trấn Năm Căn, một phần xãLâm Hải Còn lại các xã khác như Tam Giang, Tam Giang Đông vừa nuôichuyên và nuôi kết hợp trong rừng ngập mặn, một số diện tích nuôi tôm đạt tiêuchuẩn nuôi tôm sinh thái có giá tôm cao hơn khoảng 20% Phần lớn trong cácđầm tôm, nông dân đã thả nuôi xen ghép, kết hợp với một số loài thuỷ hải sảnkhác như cua, cá mang lại hiệu quả khá cao để tăng thu nhập Diện tích nuôi tômcông nghiệp còn thấp, năm 2005-2006 có diện tích nuôi cao nhất là 75,5 ha,nhưng sau bị giảm vì thiếu vốn sản xuất, mức độ rủi ro cao hơn nuôi quảng canh

Trang 24

cải tiến, hạ tầng vùng nuôi công nghiệp chưa được đầu tư, sự gắn kết hỗ trợ đầu

tư giữa các doanh nghiệp chế biến và các hộ nuôi tôm chưa chặt chẽ, hiện nay

có khoảng 30 ha nuôi tôm công nghiệp Sản lượng thuỷ hải sản nuôi trồng củahuyện năm 2005 là 15850 tấn năm 2005 năm 2009 là 16756 tấn, kế hoạch năm

2010 là 22.500 tấn; riêng sản lượng tôm nuôi tăng từ 11.391 tấn năm 2005 lên12.000 tấn

Biểu 4 Diện tích, sản lượng tôm thuỷ sản theo địa bàn xã, thị trấn năm 2010

STT Xã, thị trấn Diện tích (ha) SL (tấn) TĐ: tôm (tấn)

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau năm 2008 và kế hoạch năm 2010

- Khai thác sông biển là nghề lâu đời ở huyện, bao gồm các hàng đáy sông,đáy biển và một số tàu đánh bắt ngoài biển Toàn huyện hiện có khoảng 108hàng đáy sông (xã Hiệp Tùng 15 hàng, xã Hàng Vịnh 9, xã Tam Giang 19, xãTam Giang Đông 23, xã Đất Mới 2, xã Lâm Hải 20, xã Hàm Rồng 17, thị trấnNăm Căn 3) và 11 hàng đáy biển, đây là nghề không được khuyến khích vì gâysát hại nguồn lợi thuỷ sản, tỉnh và huyện đã có chủ trương sắp xếp giải tỏanhưng chưa có kết quả Số phương tiện tàu đánh cá ngoài biển đã giảm từ 123chiếc xuống còn 97 chiếc, phần lớn là tàu nhỏ khai thác gần bờ, có 97/108 chiếc

có công suất dưới 49CV (có 20 chiếc công suất dưới 20CV) Nghề khai thác chủyếu là lưới rê (72 chiếc), câu mồi (17 chiếc) Sản lượng khai thác hàng năm đạtkhoảng 2.500 – 3.500 tấn, trong đó có 500-700 tấn tôm (kế hoạch năm 2010 là3.500 tấn, có 700 tấn tôm)

Trang 25

Tổng sản lượng thuỷ hải sản nuôi trồng, khai thác của huyện đã tăng từ

15850 tấn năm 2005 lên 16.756 tấn năm 2009 và kế hoạch năm 2010 là 22.500tấn, riêng sản lượng tôm tăng từ 11.391 tấn lên 12 000 tấn (tăng bình quân hàngnăm 3%) Như vậy sản lượng tôm hàng năm của huyện Năm Căn chiếm khoảng10-11% tổng sản lượng tôm của toàn tỉnh Cà Mau Giá trị sản xuất thuỷ hải sảncủa huyện hàng năm (giá cố định 1994) đạt khoảng 630-700 tỷ đồng, tăng bìnhquân hàng năm 3 - 4%

Lâm nghiệp:

Giá trị sản xuất lâm nghiệp của huyện Năm Căn (và của cả tỉnh Cà Mau)không lớn, theo số liệu niên giám thống kê tỉnh Cà Mau, giá trị sản xuất lâmnghiệp của huyện hàng năm trong khoảng 13-18 tỷ đồng (giá 1994), giá trị sảnxuất bao gồm trồng rừng, khai thác lâm sản và các hoạt động lâm nghiệp khác,việc kết hợp khai thác du lịch sinh thái từ tài nguyên rừng chưa tốt, ở Phântrường 184 (thuộc Công ty Lâm nghiệp Ngọc Hiển) đã xây dựng mô hình dulịch sinh thái nhưng hiệu quả thấp, không thu hút được du khách vì giao thôngkhó khăn, chi phí cao

Kết quả khôi phục rừng trong 5 năm qua chưa đạt mục tiêu quy hoạch, diệntích rừng tập trung năm 2009 chỉ đạt 15590 ha, diện tích trồng rừng mới hàngnăm của huyện đạt từ 600-700 ha (kế hoạch năm 2010 là 505 ha) Đối với rừngsản xuất, hiện nay vẫn thực hiện nuôi tôm kết hợp, chưa triển khai tách diện tíchnuôi tôm ra khỏi rừng, một số hộ dân không tích cực trồng rừng theo kế hoạch

để đảm bảo diện tích có rừng theo quy định Hiện có gần 1.000 ha đất lâmnghiệp ở xã Tam Giang Đông và xã Lâm Hải là đất cao ven sông trồng rừngkém hiệu quả, đang đề nghị điều chỉnh quy hoạch chuyển sang nuôi tôm côngnghiệp (xã Lâm Hải 434 ha, xã Tam Giang Đông 505 ha)

Nông nghiệp:

Mặc dù là vùng đất bị ngập mặn, nhưng một số diện tích đất rẫy, đất vườnvẫn được tận dụng sản xuất một số cây nông nghiệp, giải quyết nhu cầu tại chỗnhư lúa, bắp, rau thực phẩm: lúa 60 - 70 ha, bắp 20 ha, khoai mì 22 ha, cây ăntrái 36 ha Đàn heo, đàn gia cầm cũng được chăn nuôi quy mô hộ gia đình,trong đó đàn heo duy trì quy mô khoảng 10.000 con, đàn gia cầm khoảng 30-40nghìn con

Trang 26

2.2.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện chủ yếu là chế biến thuỷhải sản, cơ khí đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá và một sốngành công nghiệp gia dụng khác Trên địa bàn huyện hiện có 1 nhà máy chếbiến thuỷ sản của Công ty cổ phần XNK thuỷ sản Năm Căn ở thị trấn Năm CănSENAMICO công suất 4.000 tấn/năm (và một nhà máy của Công ty Cổ phầnSong Hưng đang xây dựng ở xã Hàm Rồng công suất 3.000 tấn/năm), nhà máyđóng tàu của Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam, một số nhà máy sản xuấtnước đá Sản lượng thuỷ hải sản chế biến tăng từ 3.000 tấn lên 3.495 tấn năm

2008, năm 2009 đạt 3.250 tấn, kế hoạch năm 2010 là 3.580 tấn Sản lượng nước

đá cây cũng tăng từ 72.000 tấn năm 2005 lên trên 100 nghìn tấn năm 2009; riêngnhà máy đóng tàu trong cụm công nghiệp Năm Căn bắt đầu hoạt động từ năm

2008 nhưng đang bị ngưng trệ do khó khăn của tập đoàn Nhìn chung sản xuấtcông nghiệp trên địa bàn huyện tăng chậm, không đạt mức dự kiến quy hoạch dotiến độ triển khai đầu tư, thu hút các dự án đầu tư vào khu công nghiệp Năm Cănchậm và gặp khó khăn Về sản xuất tiểu thủ công nghiệp, toàn huyện có 102 cơ

sở cá thể sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu là các hộ chế biến thực phẩm,sửa chữa cơ khí, chế biến đồ gỗ và may mặc (tập trung chủ yếu ở thị trấn NămCăn và các xã: Hàng Vịnh, Lâm Hải, Đất Mới, Tam Giang)

Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 2005 chỉ đạt khoảng

383 tỷ đồng (giá cố định 1994), kế hoạch năm 2010 là 860 tỷ , tăng bình quânhàng năm 20% (so với chỉ tiêu tăng 17%) Giá trị xuất khẩu hàng thuỷ sản chếbiến của doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện năm 2005 đạt 30 triệu USD,năm 2008 đạt 31,4 triệu USD, năm 2009 đạt 27,8 triệu USD, kế hoạch năm 2010

là 28 triệu USD

2.2.3 Các ngành dịch vụ

Các ngành kinh tế dịch vụ của huyện Năm Căn phát triển khá nhanh, đónggóp khoảng 15% vào tổng giá trị tăng thêm của huyện và giải quyết việc làmcho khá nhiều lao động

- Thương mại: Ngoài thị trấn Năm Căn, trên địa bàn huyện đã hình thànhmột số cụm dịch vụ nông thôn như khu vực Cả Nảy (Hàng Vịnh), chợ Thủ kinh

17 xã Tam Giang; đây là các điểm tập trung chủ yếu về dịch vụ thương mại củahuyện Giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ năm 2005 đạt 65,6 tỷ đồng, 2009

Trang 27

đạt khoảng 119 tỷ đồng (giá so sánh 1994), kế hoạch năm 2010 dự kiến 152,2 tỷđồng, tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 là 18%.

Nhìn chung, hạ tầng thương mại nông thôn của huyện còn khó khăn, chưađược đầu tư nhiều Toàn huyện hiện có 5 chợ, trong đó tại thị trấn Năm căn cóchợ nhà lồng và chợ nông sản thực phẩm (đều là chợ loại 3), chợ kinh 17 xãTam Giang, chợ Cả Nảy, chợ Hố Gùi cũng là các chợ loại 3 Các chợ này đượcxây dựng từ năm 2000, 2005-2006, riêng chợ Hố Gùi mới xây dựng năm 2008.Tổng số điểm kinh doanh trong các chợ của huyện là 487 điểm Toàn huyệnhiện có khoảng 2.800 hộ kinh doanh thương mại dịch vụ cá thể, tập trung nhiềunhất ở thị trấn Năm Căn, Hàng Vịnh, Hiệp Tùng (ít nhất là xã Tam Giang chỉ cókhoảng 100 hộ kinh doanh thương mại dịch vụ) Tổng giá trị bán lẻ hàng hóa vàdịch vụ năm 2005 đạt khoảng 146 tỷ đồng, năm 2009 đạt khoảng 340 tỷ đồng và

kế hoạch năm 2010 là 390 tỷ đồng (giá thực tế); bình quân đầu người đạt 5,8triệu đồng/người/năm, thấp hơn khá nhiều so với mức mua sắm bình quân/ngườitoàn tỉnh Cà Mau

Về du lịch: Hiện nay khu du lịch sinh thái Phân trường 184 thuộc Công tyLâm nghiệp Ngọc Hiển đang đón khách du lịch trong tuyến du lịch Cà Mau –Đất Mũi Tuy nhiên số lượng khách còn thấp, hàng năm khoảng trên 2.000 lượtngười Tại huyện hiện có 3 nhà hàng khách sạn với 84 phòng và 11 nhà trọ phục

vụ khách đến du lịch và công tác Nhìn chung hoạt động du lịch của huyện chưaphát triển vì tuyến đường bộ Cà Mau - Năm Căn còn đang đầu tư nâng cấp, vìvậy khách từ Cà Mau đến các khu du lịch Mũi Cà Mau, Khai Long… phần lớn

đi bằng phương tiện thuỷ tới thẳng các khu du lịch, không nghỉ tại thị trấn NămCăn

Vận tải:

Đường thủy là phương tiện vận chuyển chủ yếu cả về vận chuyển hànghóa và hành khách, đường bộ chủ yếu phục vụ đi lại của nhân dân của từng thôn

ấp và trên tuyến Năm Căn đi Cà Mau

Hiện trạng vận tải đường thủy

Trên địa bàn huyện Năm Căn hiện có khoảng 26 phương tiện tàu khách,

vỏ khách đang hoạt động trên 15 tuyến đường sông xuất phát từ bến Năm Căn,với 26 phương tiện và 50 phương tiện cao tốc hoạt động trên 15 tuyến xuất phát

từ bến Năm Căn

Bên cạnh các hoạt động chở khách còn có các hoạt động chở học sinh đihọc hàng ngày Trong đó:

- Tại bến Võ Năm Căn có 7 chủ phương tiện

- Xã Tam Giang có 6 chủ phương tiện

Trang 28

- Xã Hàng Vịnh có 10 chủ phương tiện.

- Xã Lâm Hải có 18 chủ phương tiện

a/ Khối lượng vận chuyển hành khách

Lực lượng vận chuyển hiện nay chủ yếu là tư nhân, do vậy, thống kê củahuyện không đầy đủ, bằng phương pháp ngoại suy từ số liệu thống kê toàn tỉnh

Cà Mau để xác định khối lượng vận chuyển hành khách của huyện Năm Căn Từcác thông tin trên, căn cứ vào điều kiện cụ thể của huyện Năm Căn, ước tínhkhối lượng vận chuyển và luân chuyển trên địa bàn huyện như sau:

Biểu 5 Ước tính khối lượng vận chuyển và luân chuyển hành khách trên

địa bàn huyện Năm Căn

Biểu 6.Ước tính lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển

trên địa bàn huyện Năm Căn

Trang 29

- Vật liệu xây dựng

- Lương thực, thực phẩm

Các luồng vận chuyển chủ yếu gồm:

Đường bộ:

- Tuyến Năm Căn - Cà Mau, bao gồm cả hàng tiếp chuyển từ Ngọc Hiển –

TP Cà Mau và ngược lại

- Tuyến Năm Căn - Hàng Vịnh - Hiệp Tùng

Đường thủy:

- Tuyến Rạch Gốc - TP Cà Mau

- Tuyến Rạch Tàu - TP.Cà Mau

- Tuyến Cái Mòi - TP Cà Mau

An toàn giao thông chưa đảm bảo, số vụ tai nạn giao thông xảy ra còncao, nguyên nhân do trên một số tuyến giao thông đường thuỷ có nhiều chướngngại vật (đáy, nò đó, chà bắt tôm cá) chậm được giải toả một cách kiên quyết,một số hộ mở bến đò ngang, đò dọc chưa đúng thủ tục và các điều kiện an toàn,

do người điều khiển vi phạm luật giao thông

Tài chính ngân hàng:

Kết quả thu ngân sách trên địa bàn huyện hàng năm đạt khoảng 50 tỷđồng (năm 2005 thu ngân sách 32,44 tỷ đồng, năm 2009 thu 48,4 tỷ đồng, dựtoán năm 2010 thu 60 tỷ đồng) Nguồn thu ngân sách chủ yếu là thuế côngthương nghiệp (bao gồm thuế môn bài, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trịgia tăng, thuế tài nguyên) chiếm trên 77% tổng thu ngân sách huyện Thu cấpquyền sử dụng đất chiếm 7,6%, các nguồn khác như thuế sử dụng đất nôngnghiệp, thuế nhà đất, thu phí, lệ phí chiếm 15% tổng thu ngân sách

Tổng chi ngân sách huyện năm 2005 là 50,78 tỷ đồng, năm 2008 là 72,88

tỷ, kế hoạch năm 2010 là 104,39 tỷ đồng, chi tập trung chủ yếu cho các lĩnh vực:đầu tư – xây dựng, văn hoá - xã hội

Ngân hàng: Các chi nhánh ngân hàng thương mại và ngân hàng chínhsách xã hội của huyện đã thực hiện tốt cho vay phát triển sản xuất kinh doanh,quản lý và thu hồi vốn vay tốt

Trong những năm gần đây, mức huy động vốn đạt tương đối khá, năm

2009 đạt 70 tỷ đồng, năm 2010 kế hoạch đạt 88,4 tỷ đồng Tổng số dư nợ năm

2008 đạt 218,5 tỷ đồng, năm 2009 đạt 243 tỷ đồng, kế hoạch năm 2010 đạt 422

tỷ đồng

Tổng số hộ nông nghiệp được vay vốn hàng năm đạt khoảng trên dưới

4000 hộ

2.2.4 Thực trạng phát triển các ngành văn hoá xã hội:

Giáo dục đào tạo:

Trang 30

- Mạng lưới trường học và cơ sở vật chất: Do đặc thù của địa bàn vùngsông nước, nên trước đây mạng lưới điểm trường học của huyện phân tán (mộttrường gồm nhiều điểm trường, mỗi điểm trường chỉ có 2 – 3 phòng học).Những năm gần đây điều kiện kinh tế xã hội phát triển, giao thông nông thônđược đầu tư nên mạng lưới trường học đã được quy hoạch lại theo hướng tậptrung hơn.

+ Trường mẫu giáo: trong huyện hiện có 6 trường Mẫu giáo với tổng số

50 lớp và nhóm trẻ ở thị trấn Năm Căn, xã Đất Mới và xã Hàng Vịnh, với gần

1500 cháu

- Trường học phổ thông: toàn huyện có 27 trường, trong đó 17 trường tiểuhọc, 9 trường trung học cơ sở và 1 trung học phổ thông

+ Trường tiểu học: Có 17 trường tiểu học với 71 điểm trường, hầu hết các

xã đều có 2 trường tiểu học với 5 - 10 điểm trường, riêng xã Đất Mới có 5trường với 26 điểm trường Việc xây dựng các điểm trường phân tán cho cấptiểu học là phù hợp với điều kiện địa hình vùng sông nước, giao thông đường bộchưa phát triển

+ Trường trung học cơ sở: Toàn huyện có 9 trường THCS, trong đó thịtrấn Năm Căn có 2 trường , Các trường trung học cơ sở đều đóng ở trung tâmxã

+ Trường phổ thông trung học Phan Ngọc Hiển huyện Năm Căn ở thị trấnNăm Căn với quy mô 32 lớp, hiện nay phục vụ cho cả học sinh của huyện NgọcHiển theo học

- Tổng số phòng học trong huyện hiện có 352 phòng học, trong đó:

+ Tiểu học: 235 phòng với 5994 học sinh

+ Trung học cơ sở 84 phòng với 3194 học sinh

+ Trường trung học phổ thông có 33 phòng với 1334 học sinh

Các thiết bị thí nghiệm, đồ dùng dạy học, tủ sách và thư viện trong trườnghọc mặc dù đã được đầu tư mua sắm tích cực (nhất là các khối lớp đã thực hiệncải cách sách giáo khoa) nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, hiệu quả không cao dokhông có phòng thực hành, không có nơi để đồ dụng cụ học tập (phần lớn cácphòng học đều sử dụng cho 2 lớp/phòng)

Tổng số giáo viên trong toàn huyện đầu năm 2007-2008 là 579 người(không kể cán bộ quản lý và nhân viên phục vụ), trong đó:

+ Giáo viên tiểu học: 300 người

+ Giáo viên THCS: 204 người

+ Giáo viên PTTH: 75 người

Tỷ lệ giáo viên tiểu học đạt chuẩn mới đạt 83,3%, bậc trung học cơ sở đạt66%

Công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục được quan tâm vận động thựchiện, nhất là trong đợt chuẩn bị mặt bằng, san lấp nền xây dựng các trường họctheo chương trình kiên cố hoá trường lớp học Vai trò của Hội đồng giáo dục ở

Trang 31

các địa phương và hội cha mẹ học sinh đã có đóng góp và tác động lớn đối vớicông tác giáo dục thời gian qua.

Y tế:

Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được quan tâm, hệthống y tế từ huyện đến xã từng bước được đầu tư xây dựng và bổ sung trangthiết bị cần thiết Trên địa bàn huyện hiện có 1 bệnh viện đa khoa khu vực tại thịtrấn Năm Căn, 1 phòng khám đa khoa khu vực ở xã Hàng Vịnh, các xã khác vàthị trấn Năm Căn đều có trạm y tế

Tổng số giường bệnh là 140 giường, trong đó:

Bệnh viện khu vực huyện 140 giường

Phòng khám đa khoa khu vực không có

Trạm y tế các xã không có

Tổ chức bộ máy y tế từng bước được củng cố, đến cuối năm 2008 toànhuyện có 166 cán bộ y tế, trong đó có 38 bác sĩ, 86 y sỹ và dược sỹ trung cấp.Bình quân 1 vạn dân có 2,56 bác sĩ (bình quân toàn tỉnh Cà Mau hiện nay có 3,8bác sĩ/1 vạn dân) Các cơ sở khám chữa bệnh, quầy thuốc tư nhân cơ bản đượcquản lý đúng quy định

Các chương trình y tế quốc gia, phòng chống các bệnh xã hội nguy hiểm,công tác truyền thông dân số và kế hoạch hoá gia đình được coi trọng Số lượtngười khám và điều trị bệnh hàng năm khoảng trên 200 ngàn lượt người, tỷ lệbệnh nhân nặng phải chuyển lên tuyến trên chiếm 4,9% Chính sách bảo hiểm y

tế và thu một phần viện phí đã góp phần khắc phục khó khăn về kinh phí hoạtđộng Chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, mua sổ bảo hiểm

y tế cho người nghèo… đã giúp cho những người có hoàn cảnh khó khăn cóđiều kiện được chăm sóc sức khoẻ tốt hơn

Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng mở rộng hàng năm tăng khá, năm 2005 đạt96,9%, năm 2009 đạt 99,2% Ngành y tế đã phối hợp tích cực trong thực hiệncông tác dân số và kế hoạch hoá gia đình góp phần giảm tỷ lệ tăng dân số tựnhiên khá nhanh (bình quân giảm 0,05%/năm)

Mặc dù có nhiều tiến bộ nhưng lĩnh vực y tế cũng còn nhiều khó khăn,bệnh viện huyện bị xuống cấp, nhiều khoa cần phải đầu tư xây mới và nâng cấp,trang thiết bị y tế cũ lạc hậu Hầu hết các cơ sở y tế chưa có hệ thống xử lý nướcthải Vừa qua, Trung tâm y tế huyện được giao làm chủ đầu tư các dự án nângcấp bệnh viện huyện nhưng tiến độ thực hiện rất chậm, nhất là khâu thủ tục hồ

sơ Đến cuối năm 2008 đã có 5/7 trạm y tế xã, thị trấn đạt “chuẩn quốc gia” về y

tế xã, bao gồm các xã:

+ Trạm y tế xã Hàm Rồng, xã Tam Giang đạt chuẩn

+ Trạm y tế xã Hàng Vịnh, Hiệp Tùng, Tam Giang Đông đạt chuẩn

Đến năm 2010, toàn bộ trạm y tế các xã đạt chuẩn quốc gia, nhưng đang

bị xuống cấp nhanh do mức độ đầu tư còn thấp

Trang 32

Văn hoá thông tin, thể dục thể thao.

Các hoạt động văn hoá thông tin được tổ chức thường xuyên, hình thứcngày càng đa dạng, một số hoạt động đạt kết quả khá như tuyên truyền phục vụnhiệm vụ chính trị của địa phương, phổ biến pháp luật chính sách, kế hoạch hoágia đình… góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hoá cho nhân dân

Về thiết chế văn hoá: Toàn bộ 8/8 đơn vị xã thị trấn trong huyện đã có sânvăn hoá thể thao ở xã và sân thể thao ở các ấp với quy mô đầu tư đơn giản, phục

vụ tập luyện thi đấu thể thao phong trào; có 8/8 xã thị trấn có đài truyền thanhvới tổng số 46 loa truyền thanh Ngoài thư viện huyện tại thị trấn Năm Căn, toàn

bộ các xã đều có thư viện với tổng số đầu sách gần 10.000 cuốn 100% các xã cóbáo đọc trong ngày

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá cơ sở có nhiều

cố gắn, đến năm 2009 có 92 % số hộ gia đình, 87% số ấp khóm và 62% số xãđạt chuẩn văn hoá

Về nguyên nhân tỷ lệ khóm ấp và nhất là số xã đạt chuẩn văn hoá cònthấp là do những khó khăn về cơ sở hạ tầng (nhất là về đường giao thông), về vệsinh môi trường

Tỷ lệ dân số tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đạt khoảng12% (toàn tỉnh Cà Mau ước đạt khoảng 20%)

Quốc phòng an ninh.

Nhìn chung an ninh chính trị cơ bản ổn định, phong trào quần chúng bảo

vệ an ninh tổ quốc được phát huy Hội đồng an ninh trật tự ở cơ sở hoạt động cóhiệu quả, nhiều tổ nhân dân tự quản an ninh trật tự ở cơ sở được thành lập đãgóp phần bài trừ tệ nạn xã hội, bảo vệ trật tự trị an và an toàn xã hội

Đối với vùng biển và ven biển, công tác xây dựng thế trận quốc phòngtoàn dân, an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân từng bước phát triển vữngchắc, tạo điều kiện và phối hợp với Bộ đội Biên phòng, Kiểm lâm thực hiện tốtviệc quản lý bảo vệ chủ quyền, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên toàntuyến biên phòng biển đảo Lực lượng tự vệ biển, ven biển, kiểm lâm đã phốihợp với Bộ đội Biên phòng tiến hành tuần tra kiểm soát, đảm bảo an ninh trênbiển, ven biển, kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ chủ quyền vùng biển

Một số chương trình kinh tế xã hội như đầu tư kết cấu hạ tầng, khôi phụcbảo vệ rừng ven biển là những chương trình đã có sự gắn kết giữa nhiệm vụ kinh

tế và quốc phòng

Khu vực thị trấn Năm Căn là trung tâm của cả khu vực rừng ngập mặnnam Cà Mau, có kinh tế khá phát triển, nhất là các loại hình dịch vụ như nhà trọ,quán nhậu, dịch vụ cho thuê băng đĩa hình phát triển nhanh, số lượng kháchvãng lai khá đông vì vậy mặc dù công tác phòng chống tệ nạn xã hội, đấu tranhngăn ngừa tội phạm được thực hiện khá đồng bộ nhưng vẫn tồn tại một số tệ nạn

xã hội như ma tuý, mại dâm, trộm cắp làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội

và đời sống nhân dân

Trang 33

2.2.5 Hệ thống kết cấu hạ tầng của huyện.

Ngoài hai tuyến giới hạn địa danh huyện về phía Bắc và phía nam còn cócác tuyến nội địa nối các xã trong huyện tạo thành mạng đường sông đều khắptrên lãnh thổ huyện và nối với hệ thống đường sông toàn tỉnh

Biểu 7 Các tuyến đường sông chính do tỉnh và TW quản lý

trên địa bàn huyện Năm Căn

1 S Bảy Háp Ngã ba Đầm cùng Cửa Gò Công

17

Năm Căn Phú Tân

-2 S Năm Căn - Rạch Tàu Năm Căn Cửa Rạch Tàu

40

Năm Căn, Ngọc Hiển

3 S Đầm Dơi Ngã 3 Mương Điều Cửa Hố Guối

47

Đầm Dơi - Năm Căn

5 S Cái Ngay Ngã 3 Hiệp Tùng Thanh Tùng

16,5

Năm Căn Đầm Dơi

6 Kênh 17 Đầu sông Ông Đơn Ngã 3 Tam Giang

11

Đầm Dơi - Năm Căn

Ngã 3 Gành

9 Kênh tắt Năm Căn Ngã 3 bảy Hap Năm Căn 11,5 Năm Căn

Trang 34

Bên cạnh các tuyến đường sông do tỉnh quản lý, hệ thống giao thông đườngsông do huyện quản lý còn được phân bố đều khắp các xã trong huyện, đảm bảo

sự giao lưu từ các xóm ấp với nhau và nối liền tới các tuyến do tỉnh và trungương quản lý

b Mạng đường bộ:

Tổng độ dài các tuyến đường bộ trên địa bàn huyện Năm Căn là 159,5 km.Trong đó: lộ giao thông nông thôn với tổng độ dài 115,7 km, đường quốc lộ dài12,312 km, đường huyện 31,5km Các tuyến trục chính trên địa bàn huyện gồm:

- Quốc lộ 1A chạy qua xã Hàm Rồng đến TT Năm Căn, dọc theo kênh TắcNăm Căn Độ dài tuyến trên địa bàn huyện là 12,3 km với 6 cầu Hiện tại đangthực hiện dự án nâng cấp đường đến đất mũi, đoạn trên địa bàn huyện đang nângcấp các cầu Chiều rộng nền đường là 13 m, mặt là 9m, 2 bên lề đường mỗi bên

2 m

- Tuyến Năm Căn - Hàng Vịnh bắt đầu từ thị trấn Năm Căn chạy dọc theosông Cửa Lớn qua trung tâm xã Hàng Vịnh sang xã Hiệp Tùng, độ dài trên địabàn xã Hàng Vịnh là 8,914 km, trong đó có 9 cầu bê tông xi măng với tổng độdài trên 300 m Chiều rộng nền đường 5,5 m, chiều rộng mặt 3,5 m

- Hàm Rồng - Cây Dương dài 3,799 km đường bê tông xi măng nền đườngrộng 5 m, mặt đường 3 m

Ngoài 3 tuyến chính là các tuyến nằm trên địa bàn trung tâm và các xã, cụthể là:

1 Thị trấn Năm Căn

Bao gồm 24 tuyến với tổng độ dài là 19,5 km, bình quân mỗi tuyến dài810,5 m, tuyến dài nhất là từ Liên doanh đến ngọn Xẻo Nạn, dài 3233m, ngắnnhất là tuyến từ Quốc lộ 1 A đến Bệnh viện, dài 95 m

Phần lớn các tuyến đều có chiều rộng mặt đường là 1,5m, nền đường 3,5 m

2 Xã Lâm Hải

Tổng độ dài là 4,6km, bao gồm 3 tuyến:

- Tuyến từ UBND xã đến ông Hoàng, dài 1,5km, nền đường rộng 3,5 km,mặt đường 1,5m

- Tuyến ông Nhỏ đến ông Thông, dài 1km, nền đường rộng 3,5 m, mặtđường 1,5m

- Tuyến Ông Tân đi trường Trung học, dài 2 km, nền đường rộng 3,5 m,mặt đường rộng 1m5 m

3 Xã Đất Mới

Tổng độ dài 22,585 km, bao gồm 16 tuyến, độ dài bình quân mỗi tuyến là1411,5m Tuyến dài nhất từ Vàm ông Do đến ngọn ông Do dài 3500m Tuyếnngắn nhất có 3 tuyến, mỗi tuyến dài 200m

Trang 35

Đại đa số các tuyến đều có chiều rộng mặt đường 1,5 m, nền đường 3,5m.

4 Xã Hàm Rồng

Bao gồm 19 tuyến, với tổng độ dài các tuyến là 34,972 km, bình quân mỗituyến dài 1840,6 m Tuyến dài nhất từ Vàm Kinh 3 đến Ngọn kinh 3, dài3300m, tuyến ngắn nhất từ UBND xã đến bến phà Cù Đầm Cùng dài 152m Phần lớn các tuyến đều có nền đường 3,5m, mặt đường bê tông nhựa 1,5m, Tổng số cầu là 16 cầu, trọng tải cho phép là 2,5 tấn, mặt cầu là 2 m

5 Xã Hàng Vịnh

Bao gồm 8 tuyến, tổng độ dài 15,475 km, độ dài bình quân là 1934 m.Tuyến dài nhất từ Vàm Xì Tẹc đến vàm Ông Do, dài 3200m, tuyến ngắn nhất từÔng Cảnh đến Ông Chiến, dài 870m

Chiều rộng mặt đường là 1,5m, chiều rộng nền đường là 3,5m, xã có 4 cầu,

độ dài trung bình các cầu là 30m, trọng tải cho phép là 2,5 tấn

6 Xã Hiệp Tùng

Bao gồm 8 tuyến, tổng độ dài là 13,536 km, chiều dài bình quân mỗi tuyến

là 1692m Tuyến dài nhất từ Ông Công đến Ông Việt là 3600m Tuyến ngắnnhất từ Ông Ngà đến trường TH1 là 650m

Trên địa bàn xã có 6 cầu, độ dài mỗi cầu là 35 m, mặt cầu phần lớn là 1,2m,trọng tải cho phép là 2,5 tấn

7 Xã Tam Giang

Tổng độ dài 13 tuyến trên địa bàn xã là 14,779 km, độ dài bình quân mộttuyến là 1136,8 m Tuyến dài nhất từ Cà Đuốc đi Cà Nhám Nhỏ, dài 5,650 km.Tuyến ngắn nhất từ Ông Hùng đến Ông Khẩn và Ông Khôi ra Chợ dài 100m.Chiều rộng nền đường từ 3,5m đến 4 m, mặt đường rộng từ 1,5 m đến 2m.Địa bàn xã có 15 cầu, độ dài trung bình mỗi cầu 30 m, cầu dài nhất là BỏBầu, dài 70m Trọng tải tối đa 2,5 tấn

8 Xã Tam Giang Đông

Có 4 tuyến, với tổng độ dài 9,031m, độ dài trung bình mỗi tuyến là 2258m Tuyến dài nhất từ Ông Đức đến Ông Định, dài 4173m, tuyến ngắn nhất từ Khu tái định cư đến Bỏ Hủ, dài 1200m

Các tuyến có chiều rộng nền đường 3,5 m, mặt đường 1,5m.Toàn xã có 4cầu, tổng độ dài các cầu là 163m Có 3 cầu chiều rộng cầu là 1,5 m, một cầuchiều rộng 3,5m

Trang 36

lợi vùng Bắc Ngọc Hiển, hầu hết các kênh đã được nạo vét, hiện nay đang triểnkhai thi công tuyến đê bao toàn vùng dự án.

d.Lưới điện:

Lưới điện quốc gia đã về đến 100% số trung tâm xã Theo số liệu thống

kê năm 2008 tỉnh Cà Mau, đến cuối tháng 12 năm 2008, toàn huyện Năm Căn

có 14013 hộ được sử dụng điện lưới, đạt tỷ lệ 91,96%, cao hơn trung bình toàntỉnh (91,04%) Thị trấn Năm Căn, xã Hàng Vịnh và xã Tam Giang đạt trên gần99% Riêng xã Lâm Hải mới đạt tỷ lệ 39%

Tình trạng sử dụng điện kế phụ hiện còn trên 600 hộ trong tổng số 14622

hộ đang sử dụng điện Việc sử dụng điện qua chia hơi dẫn đến các hộ phải chịutrả tiền điện giá cao đồng thời không đảm bảo an toàn về điện ở nông thôn

Biểu 8 Số hộ sử dụng điện huyện Năm Căn đến tháng 12 năm 2008

Nguồn số liệu: Sở Công Thương tỉnh Cà Mau

e.Bưu chính viễn thông

Mạng lưới bưu chính viễn thông đã cơ bản đảm bảo phục vụ nhu cầu pháttriển kinh tế xã hội Toàn huyện hiện có 3 bưu cục:

+ Bưu cục Năm Căn

+ Bưu cục Hàng Vịnh

+ Bưu cục Tam Giang

Có 3 điểm bưu điện văn hoá xã ở xã Đất Mới, Hiệp Tùng và xã TamGiang Đông Ngoài ra ở huyện Năm Căn còn có 2 đại lý bưu điện đa dịch vụ ởthị trấn Năm Căn, đây là các bưu cục dân lập

Mạng viễn thông hiện có 5 tổng đài (gồm các loại tổng đài: R-DLU, RSS,SRX144 và tổng đài VX500)

Tính đến cuối tháng 9/2009 đã có tất cả các ấp trong huyện có điện thoại,tổng số máy điện thoại trong huyện trên 4000 máy, Năm 2007 toàn huyện có

226 thuê bao internet năm 2008 tăng lên 530 thuê bao, tăng gấp 2,3 lần so với

Ngày đăng: 19/03/2020, 13:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w