1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cơ sở văn hóa VN

20 126 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 918,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lí do chọn đề tài: Tín ngưỡng thờ cúng các vị thần thánh của người dân rất phổ biến thể hiện niềm tin thiêng liêng, là một chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng từ bao đời nay.Thờ thần mang đậm dấu ấn tâm linh là một biểu hiện rất đặc sắc của đời sống văn hóa của người dân bản địa. Hằng năm,các hoạt động lễ hội thờ Thần được tổ chức vào dịp đầu xuân vừa để cầu xin thần linh phù hộ cho cuộc sống tốt lành, vừa là một đạo lí thể hiện ý thức hướng về cội nguồn cũng là tôn vinh các bậc tiền bối luôn gắn kết và che chở cho dân phát huy truyền thống dân tộc “uống nước nhớ nguồn”. Ngày 32 âm lịch hằng năm, tại khu di tích đền Của Ông thuộc thành phố Cẩm Phả thường tổ chức lễ hội kỉ niệm tưởng nhớ công lao to lớn của vị anh hùng Trần Quốc Tảng trong công cuộc đánh phá quân Mông Nguyên. Đây là hoạt động mang giá trị lịch sử, văn hóa sâu sắc nhằm khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc.

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

~~~~~~*~~~~~~

ĐỀ TÀI:

LỄ HỘI ĐỀN CỬA ÔNG THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

Trang 2

PHỤ LỤC:

I, PHẦN MỞ ĐẦU………

1.Lí do chọn đề tài

2.Mục đích nghiên cứu

3.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

II, NỘI DUNG………

1 Khái quát về đặc điểm Tự nhiên- Xã hội, lịch sử của tỉnh Quảng Ninh 2 Khái quát về đặc điểm văn hóa tỉnh Quảng Ninh 3 Một số khái niệm chung 3.1:Khái niệm về văn hóa………

3.2: Khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng………

3.3: Khái niệm lễ hội và cấu trúc lễ hội………

4 Khái quát về nhân vật lịch sử Trần Quốc Tảng 4.1: Cuộc đời và sự nghiệp của Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng………

5 Thực trạng di tích và lễ hội đền Cửa Ông 5.1: Thực trạng di tích lịch sử đền Cửa Ông………

5.1.1: Khái quát vị trí………

5.1.2: Giá trị lịch sử văn hóa………

5.2: Lễ hội đền Cửa Ông………

5.2.1: Cấu trúc lễ hội cụ thể………

5.2.2: Tổ chức trò chơi………

5.3: Biện pháp và phương hướng giữ gìn, bảo vệ di tích lịch sử và lễ hội đền Cửa Ông………

6 Đánh giá, nhận xét………

III, KẾT LUẬN……… TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

I, PHẦN MỞ ĐẦU:

1 Lí do chọn đề tài:

Tín ngưỡng thờ cúng các vị thần thánh của người dân rất phổ biến thể hiện niềm tin thiêng liêng, là một chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng từ bao đời nay.Thờ thần mang đậm dấu ấn tâm linh là một biểu hiện rất đặc sắc của đời sống văn hóa của người dân bản địa Hằng năm,các hoạt động lễ hội thờ Thần được tổ chức vào dịp đầu xuân vừa để cầu xin thần linh phù hộ cho cuộc sống tốt lành, vừa là một đạo lí thể hiện ý thức hướng về cội nguồn cũng là tôn vinh các bậc tiền bối luôn gắn kết và che chở cho dân phát huy truyền thống dân tộc “uống nước nhớ nguồn” Ngày 3/2 âm lịch hằng năm, tại khu di tích đền Của Ông thuộc thành phố Cẩm Phả thường tổ chức lễ hội kỉ niệm tưởng nhớ công lao to lớn của vị anh hùng Trần Quốc Tảng trong công cuộc đánh phá quân Mông - Nguyên Đây là hoạt động mang giá trị lịch sử, văn hóa sâu sắc nhằm khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc

2 Mục đích chọn vấn đề:

- Tổng kết cơ sở lí luận và thực tiễn về tín ngưỡng thờ cúng, văn hóa, du lịch văn hóa và lễ hội, du lịch lễ hội

- Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng di tích lịch sử văn hóa và lễ hội đền Cửa Ông

- Làm sáng tỏ thêm tục lệ, vị trí, vai trò thờ cúng các tướng lĩnh nhà Trần ngoài ra còn thờ thêm Thiên Trung Long Mẫu, Tam tòa thánh Mẫu, Phật…, đặc biệt là vấn

đề đáp ứng nhu cầu tinh thần ngày càng cao

- Đề ra các giải pháp khai thác giá trị di tích và lễ hội đền Cửa Ông nhằm quảng

bá, giới thiệu và phát triển du lịch văn hóa của địa phương, của thành phố

- Giúp tăng thêm hiểu biết về nếp sống, phong tục tập quán cũng như tiếp xúc gần gũi với dân làng sống quanh vùng đền, củng cố tình yêu văn hóa truyền thống, niềm tự hào về bản sắc văn hóa quê mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Tìm hiểu những nét đặc trưng trong tín ngưỡng thờ cúng Thần, ý nghĩa tinh thần trong đời sống nhân dân của di tích lịch sử văn hóa và lễ hội đền Cửa Ông ở TP Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Nhằm phục vụ cho đời sống cộng đồng, phát triển du lịch và lưu giữ bản sắc văn hóa

Trang 4

II, PHẦN NỘI DUNG:

1: Khái quát về đặc điểm tự nhiên- xã hội, lịch sử của tỉnh Quảng Ninh.

1.1: Đặc điểm tự nhiên

- Vị trí địa lý: Quảng Ninh có vị trí ở địa đầu đông bắc Việt Nam, lãnh thổ trải theo hướng đông bắc tây nam

Quảng Ninh tiếp giáp:

 Phía bắc giáp Khu tự trị Quảng Tây, Trung Quốc

 Phía đông và nam giáp Vịnh Bắc Bộ

 Phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng

 Phía tây bắc giáp tỉnh Bắc Giang và tỉnh Lạng Sơn

Quảng Ninh là tỉnh miền núi, trung du nằm ở vùng duyên hải.Trong đó, có hơn hai nghìn hòn đảo núi đá vôi nổi trên mặt biển, phần lớn chưa được đặt tên

- Khí hậu: Quảng Ninh nằm ở vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm đặc trưng cho các tỉnh miền bắc, có nét riêng của một tỉnh vùng núi ven biển có một mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, một mùa đông lạnh khô, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất Do ảnh hưởng của vị trí địa lí và địa hình nên Quảng Ninh chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc và ảnh hưởng yếu của gió mùa Tây Nam so với các tỉnh phía bắc

- Khoáng sản:

 Than đá: Có trữ lượng khoảng 3,6 tỷ tấn (43,8%); phần lớn tập trung tại 3 khu vực: Hạ Long, Cẩm Phả và Uông Bí – Đông Triều

 Các mỏ đá vôi, đất sét, cao lanh: Trữ lượng lớn, phân bố rộng khắp các địa

phương trong tỉnh như: Mỏ đá vôi ( Hạ Long, Cẩm Phả); Các mỏ cao lanh ( Hải Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, Móng Cái); các mỏ đất sét (Đông Triều và Hạ Long) là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất vật liệu xây dựng cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu

 Các mỏ nước khoáng: Có nhiều điểm nước khoáng uống được ở Quang Hanh (Cẩm Phả), Khe Lạc (Tiên Yên), Đồng Long (Bình Liêu)

1.2 Đặc điểm xã hội:

- Dân cư: Dân số tỉnh Quảng Ninh đạt 1.324.800 người (2019) Trong đó dân số sống tại thành thị chiếm 64,4% dân số toàn tỉnh Quảng Ninh hiện là một trong số các địa phương

có mức độ đô thị hóa cao nhất Việt Nam, vượt xa cả thủ đô Hà Nội

1.3: Đặc điểm lịch sử:

Trang 5

Quàng Ninh - vùng đất của cư dân Việt cổ sinh sống, lập nghiệp và xây dựng nên các nền văn hóa hậu kỳ đá mới cách đây từ 3.500 năm đến 5.000 năm

- Dưới thời Bắc thuộc, Quảng Ninh có lúc là quận, có lúc là huyện, với các tên gọi khác nhau Thời kỳ Nhà Triệu cai trị, vùng Quảng Ninh thuộc bộ Ninh Hải Thời kỳ nhà Ngô - Tấn cai trị, vùng Quảng Ninh thuộc quận Giao Chỉ; giai đoạn nhà Lương cai trị, vùng Quảng Ninh thuộc châu Hoàng, quận Ninh Hải; từ năm 603 (nhà Tuỳ cai trị) cho đến năm 939,vùng đất Quảng Ninh chủ yếu thuộc châu Lục

- Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê (939 - 1009) vùng Quảng Ninh thuộc trấn Triều Dương

- Thời nhà Lý (1010 - 1025), đời Lý Thái Tổ năm Thuận Thiên 14, 1023 đổi trấn Triều Dương thành châu Vĩnh An

- Thời nhà Trần (1225 - 1400), đời Trần Thái Tông, năm Nhâm Dần 1242, đồi châu Vĩnh An thành lộ Hải Đông

- Thời nhà Hồ (1400 - 1407), Đời vua Hồ Hán Thương, năm Đinh Hợi 1407, Khai Đại năm thứ 4, đổi lộ phủ Tân An thành Châu Tĩnh An

- Thời nhà Lê, năm Mậu Thân 1428, cả nước chia thành 5 đạo, vùng Quảng Ninh thuộc Đông Đạo, Đời Lê Thánh Tông, năm Bính Tuất 1466, Quang Thuận năm thứ 7, vùng Quàng Ninh là đạo thừa tuyên An Bang

- Thời kỳ nhà Nguyễn :

+ Năm 1884, sau khi thực dân Pháp thiết lập chế độ cai trị trên đất nước ta, tỉnh Quảng Yên có hai phủ là phủ Sơn Định, gồm 3 huyện: Hoành Bồ, Yên Hưng, Nghiêu Phong và phủ Hải Ninh, gồm hai châu: Tiên Yên và Vạn Ninh

+ Ngày 10/12/1906, Phủ Toàn quyền Pháp ra Nghị định tách phủ Móng Cái gồm 3 châu: Móng Cái, Hà Cối, Tiên Yên của tỉnh Quảng Yên, thành lập tỉnh mới là tỉnh Hải Ninh

- CMT8 năm 1945 thắng lợi Quảng Ninh gồm 2 tỉnh Quảng Yên và Hải Ninh

- Sau ngày toàn quốc kháng chiến, tháng 3/1947, Bộ Nội vụ ra Nghị quyết sáp nhập Hòn Gai vào tỉnh Quảng Yên thành liên tỉnh Quảng Hồng

- Miền Bắc được giải phóng, 22/02/1955, Chủ tịch Hô Chí Minh ra sắc lệnh Thành lập khu Hồng - Quảng gồm Đặc khu Hồng Gai và tỉnh Quảng Yên

- Tháng 02/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh kỷ sắc lệnh thành lập khu Hồng Quàng, sáp nhập Đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên

- Theo nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ngày 30/10/1963, hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh

Về sự kiện này, Bác Hồ đã gợi ý gọi là Quảng Ninh, do ghép chữ Quảng (của Hồng

Trang 6

Quàng) và chữ Ninh (của Hải Ninh) mà thành; Bác bảo “Quảng Ninh còn có nghĩa là một vùng đất lớn an bình

2 Khái quát về đặc điểm văn hóa:

Tỉnh Quảng Ninh là nơi có nền văn hóa rất đặc sắc, không chỉ được biết đến là vùng công nghiệp than lớn nhất của cả nước, mà còn bởi những di sản thiên nhiên, văn hoá quý báu,

cả do thiên nhiên ban tặng và do con người sáng tạo nên Nói đến Quảng Ninh, người ta không thể không nói đến kho tàng văn hoá khổng lồ mà hiện nay tỉnh đang bảo tồn và phát triển Đó là hơn 600 di sản văn hoá vật thể gồm những đình, chùa, đền, miếu, danh lam thắng cảnh và hơn 2.800 hồ sơ di sản văn hoá phi vật thể là những phong tục, tập quán, trò chơi dân gian

* Văn hóa vật chất:

- Trang phục: Áo dài: Thời phong kiến, trang phục của phụ nữ là váy đen, yếm trắng,

áo tứ thân, đầu chít khăn mỏ quạ, thắt lưng hoa lý Bộ lễ phục gồm ba chiếc áo, ngoài cùng là áo dài tứ thân bằng the thâm hay màu nâu non, kế đến là chiếc áo màu mỡ gà và trong cùng là chiếc áo màu cánh sen Khi mặc, cả ba chiếc áo chỉ cài khuy bên sườn, phần từ ngực đến cổ lật chéo để lộ ba màu áo Bên trong là chiếc yếm thắm Ðầu đội nón trông rất duyên dáng và kín đáo Tới nay, trang phục truyền thống của người Việt đã thay đổi Bộ âu phục dần thay thế cho bộ đồ truyền thống của đàn ông Chiếc áo dài của phụ

nữ ngày càng được cải tiến và hoàn thiện hơn như ngày nay, mặt khác do yêu cầu của lao động, công việc, không phải lúc nào phụ nữ cũng mặc áo dài mà chỉ những ngày trang trọng, ngày vui thì mới có dịp để "thể hiện mình" Ðó là chiếc áo dài có thân áo tương đối bó sát thân người, làm cho thân thể phụ nữ hiện lên được đường cong mềm mại, phù hợp với vóc người nhỏ nhắn của phụ nữ Việt Nam Hai tà áo thả xuống ngang nửa ống chân, thướt tha bay trong gió, quấn quýt từng bước đi Thân áo xẻ hơi cao, hơn cả quần

để lộ một chút phần mình phía trên Tay áo nới rộng vừa phải, có thể hơi loe, tay chỉ dài đến 3/4 cánh tay, nếu muốn tạo dáng khoẻ, trẻ trung.Gần đây, các mốt thời trang của nước ngoài được du nhập vào Việt Nam, nhưng bộ trang phục áo dài truyền thống vẫn được phụ nữ Việt Nam ưa chuộng

- Ẩm thực: Quảng Ninh nổi bật với các món chế biến từ hải sản như tôm, cua, ghẹ, cù

kỳ, tù hài, hàu, móng tay, giun biển, sam, sò, ngán Nhưng đặc biệt không thể không kể đến Chả mực giã tay của Hạ Long, cá thu một nắng, sá sùng, Ngoài ra còn có miến dong Bình Liêu, rượu Ba Kích, gà đồi Tiên Yên, khâu nhục, cà sáy, chè Ba chẽ, chè Hà Cối, bánh gật gù Tiên Yên, rượu nếp Hoành Bồ, canh hà Quảng Yên, rượu chua Bằng Cả, măng trúc Yên Tử, sái sùng Quan Lạn, cá sáy Tiên Yên, chả mực bánh cuốn Bạch Đằng,

ốc xào tương ớt, rượu ngán Hạ Long, bánh tro Phong Cốc, nem chua Quảng Yên, bánh bạc đầu, bánh ngải, bánh tài lồng ệp

- Nơi ở:Trong điều kiện xã hội hiện đại, xu hướng phổ biến đã chuyển dần từ phương thức ở kiểu đại gia đình theo huyết thống sang căn hộ độc lập – tiểu gia đình Đến nay,

Trang 7

tỉnh Quảng Ninh đang tồn tại 3 dạng nhà ở phổ biến là: Nhà Biệt thự, không gian vườn rộng và biệt lập bao quanh hoặc trước sau; nhà phố – liền kề có mặt tiền bám sát đường giao thông và nhà ở dạng căn hộ chung cư Cả ba loại hình nhà ở này tùy theo diện tích, tiện nghi, vật liệu xây dựng, vị trí mà có giá trị được phân thành nhiều hạng khác nhau Trong đó, loại hình nhà ở dạng phố – liền kề, bám trục giao thông vẫn là xu hướng chính của quá trình chỉnh trang, quy hoạch đô thị

*Văn hóa tinh thần:

- Phong tục tập quán:

+ Tết nguyên đán, Rằm tháng giêng, tết Đoan Ngọ, tết Trung thu…

+ Hôn nhân theo chế độ một vợ một chồng

+ Tục ăn trầu, hút thuốc lào

+ Tang ma gồm các nghi thức chính kể từ khi có người qua đời như : Lập bàn thờ vong, khâm liệm, phục hồn, phát tang,… cất đám, hạ huyệt

- Tín ngưỡng:

+ Tôn giáo: Quảng Ninh là một vùng đất có nền văn hoá lâu đời Văn hoá Hạ Long đã được ghi vào lịch sử như một mốc tiến hoá của người Việt Cũng như các địa phương khác, cư dân sống ở Quảng Ninh cũng có những tôn giáo, tín ngưỡng để tôn thờ:

Ðạo Phật đến với vùng đất này rất sớm Trước khi vua Trần Thái Tông (1225-1258) đến với đạo Phật ở núi Yên Tử thì đã có nhiều các bậc chân tu nối tiếp tu hành ở đó Vua Trần Nhân Tông (1279-1293) chọn Yên Tử là nơi xuất gia tu hành và lập nên dòng Thiền trúc Lâm ở Việt Nam Thế kỷ XIV, khu Yên Tử và Quỳnh Lâm (Ðông Triều) là trung tâm của Phật giáo Việt Nam, đào tạo tăng ni cho cả nước Nhiều thế kỷ sau đó, Ðạo Phật vẫn tiếp tục duy trì với hàng trăm ngôi chùa ở Quảng Ninh, trong đó có những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Lôi Âm, chùa Long Tiên (Hạ Long), chùa Cái Bầu (Vân Đồn), Linh Khánh (Trà Cổ - Móng Cái), Ba Vàng (Uông Bí), Hồ Thiên (Ðông Triều), Linh Quang (Quan Lạn)

Những người tôn thờ các tôn giáo khác cũng có nhưng không đông như tín đồ Ðạo

Phật.Toàn tỉnh Quảng Ninh có 6 tôn giáo khác Trong đó, nhiều nhất là Công giáo, Phật giáo, Đạo Tin Lành , Đạo Cao Đài , Hồi Giáo, ít nhất là Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam + Tâm linh: Tín ngưỡng phổ biến nhất đối với cư dân sống ở Quảng Ninh là thờ cúng tổ tiên, thờ các vị tướng lĩnh nhà Trần có công với dân với nước, các vị Thành

Hoàng, các vị thần (sơn thần, thuỷ thần), thờ các mẫu (Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải)

1 Một số khái niệm chung:

3.1: Khái niện văn hóa:

Trang 8

Văn hóa xuất hiện từ rất sớm, có thể nói văn hóa xuất hiện đồng thời với con người Trong giai đoạn đầu tiên của lịch sử phát triển – xã hội nguyên thủy, loài người đã hình thành tập tính sống thành bầy đàn trong các hang động, biết hái lượm, săn bắn để phục vụ nhu cầu sống Đến thời Vua Hùng dựng nước, khi xuất hiện hệ thống nhà nước con người

đã phải tuân theo một quy tắc, luật lệ do chính họ đặt ra bắt buộc bản thân phải thực hiện

để duy trì sự sống, ổn định trật tự xã hội tất cả vì đáp ứng yêu cầu cuộc sống hiện tại và thế hệ tương lai Văn hóa chính là sự phát triển từ một tập tính bản năng qua quá trình vận động biến đổi cùng với thời gian nó trở thành những kinh nghiệm được truyền lại mà đời sau áp dụng vào thực tiễn cuộc sống hằng ngày

Như vậy, văn hóa đơn giản là thói quen được lặp đi lặp lại của một nhóm, một số nhóm hay đông đảo gồm một tập thể người chung sống với nhau nhằm tạo ra lợi ích, phục vụ hoạt động sinh hoạt của con người Khát quát hơn, văn hóa là hoạt động hằng ngày trong cuộc sống do con người thực hiện tạo ra lợi ích, có lợi cho sự phát chiển của

xã hội, mang dấu ấn đặc trưng của từng thời đại Bên cạnh đó, văn hóa cũng có sự chọn lựa chỉ lưu giữ lại những vẻ đẹp tinh túy để người đời sau học hỏi, vận dụng và tôn vinh nó; những “thói hư tật xấu” sẽ bị xóa bỏ, đào thải thay đổi theo thời gian hoặc cải tiến hướng đến vẻ đẹp hoàn mỹ nhất

Có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi cách định nghĩa đều

có nhiều khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào quan điểm vào góc độ nhìn nhận của mỗi người Tuy nhiên, nội dung hay nhận định nào cũng thể hiện ý nghĩ nhất định của văn hóa

PGS Phan Ngọc trong công trình Văn hóa Việt Nan và cách tiếp cận mới, khẳng định: “Văn hóa là một quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá

nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác” Trên nền ấy, ông cho rằng: “Bản sắc văn hóa, do đó, không phải – là một vật mà là một kiểu quan hệ Kiểu quan hệ kết hợp, chẳng nói từ nhiều góc rất khác nhau, nhưng tạo nên một thể thống nhất hữu cơ kì diệu”.

Trang 9

Năm 2002, UNESO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được

đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng cả cách sống, ngoài văn học, và nghệ thuật thửơng thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh

thần: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoại hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

Tóm lại, văn hóa là một phạm trù rất lớn, rất khó để tìm ra một thuật ngữ bao quát được hết tất cả các khía cạnh các nội dung, đặc điểm ẩn chứa trong nó Từ trước đến nay

có rất nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa đưa ra hằng trăm khái niệm nhưng chưa có khái niệm nào thâu tóm hết toàn bộ nội hàm của hai từ “văn hóa” Vậy nên, chúng ta ngầm hiểu “văn hóa” là tất cả những gì liên quan đến con người, vận động xảy ra xung quanh cuộc sống con người đó là tất cả các lĩnh vực trong đời sống như : truyền thống, lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng Văn hóa chính là con người, con người vừa là chủ thể tạo ra văn hóa, vừa là đối tượng để văn hóa tác động vào tạo ra quy tắc, chuẩn mực trong xã hội Giữa văn hóa và con người có mối quan hệ mật thiết, gắn bó khăng khít không thể tách rời cùng tồn tại và phát triển

3.2: Khái niệm về tín ngưỡng, tín ngưỡng thờ Thành Hoành Làng:

Khái niệm về tín ngưỡng

Ở Việt Nam có những hiện tượng xã hội - văn hóa, thực ra nếu xét theo tiêu chí của tôn giáo thì chúng không đáp ứng đầy đủ nhưng không thể bỏ qua Có nhà nghiên cứu không thừa nhận thuật ngữ này mà gọi là các tôn giáo nguyên thuỷ, hay các tôn giáo sơ khai Tuy nhiên, sự phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng chỉ có tính chất tương đối

Trang 10

Giải thích từ tín ngưỡng, GS Đào Duy Anh viết là: “Lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” Trong khi đó, giải thích từ tôn giáo, ông lại viết:

“Một thứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nên giới ước để khiến người ta tín ngưỡng.”

Trong đời sống ngôn ngữ, xã hội, cả hai thuật ngữ tôn giáo, tín ngưỡng đều tồn tại Sự phân biệt giữa hai thuật ngữ chủ yếu ở mức độ niềm tin và cơ cấu tổ chức của hai hiện tượng xã hội Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hóa một nhân vật được gửi gắm vào niềm tin tưởng của con người Quá trình ấy có thể là quá trình huyền thoại hóa, lịch sử hóa nhân vật phụng thờ Mặt khác, giữa các tín ngưỡng đều có những đan xen và trong từng tín ngưỡng đều có nhiều lớp văn hóa lắng đọng

Thực chất của tín ngưỡng là khát vọng cầu mong sự sinh sôi nảy nở của con người và tạo vật, lấy các biểu tượng về sinh thực khí và hành vi giao phối làm đối tượng Tín ngưỡng này có mặt rất sớm trong cơ tầng văn hóa Đông Nam Á cổ đại nhưng có sự biến thiên khác nhau giữa các vùng, do sự ảnh hưởng của văn hóa Hán nhiều hay ít

Tín ngưỡng cũng thể hiện một khía cạnh của văn hóa, tín ngưỡng mang tính dân tộc dân gian xuất phát từ trong cuộc sống đời thực được gìn giữ lưu truyền từ đời này sang đời khác.Nó biểu hiện rõ nét trong các loại hình nghệ thuật dân gian và trong các nghi lễ thờ cúng, và trong các lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian

Một số nhà thần học: xem tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin vào cái thiêng, cái huyền bí, ở đó chứa đựng những yếu tố siêu nhiên, nó có một sức mạnh, một quyền lực to lớn có thể cứu giúp con người khỏi khổ đau và có được hạnh phúc và sự bình yên

Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.

Tín ngưỡng là sự phản ánh hư ảo của ý thức xã hội về tồn tại xã hội, chịu sự quy định của các tồn tại xã hội, đều có chức năng bù đắp hư ảo, xoa dịu nỗi đau hiện thực của con người, hướng con người tới sự giải thoát về mặt tinh thần

Ngày đăng: 05/07/2021, 09:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w