Phạm vi nghiên cứu: - Về nội dung: Nghiên cứu hoạt động huy động vốn từ các nguồn lực trong và ngoài ngân sách nhà nước gồm các nội dung về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện huy động
Trang 1LƯƠNG TUẤN ĐỨC
HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG NÔNG THÔN Ở TỈNH BẮC NINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2020
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LƯƠNG TUẤN ĐỨC
HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG NÔNG THÔN Ở TỈNH BẮC NINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62 31 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TS Nguyễn Minh Quang
2 TS Nguyễn Ngọc Tú
HÀ NỘI - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lương Tuấn Đức
Trang 4MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG NÔNG THÔN 7
1.1 Những công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài 7
1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam có liên quan đến huy động vốn cho nông nghiệp, nông thôn và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn 14
1.3 Tổng quan kết quả các công trình liên quan đến đề tài và những vấn đề cần được nghiên cứu trong luận án 25
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG NÔNG THÔN Ở ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 29
2.1 Lý luận về vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn ở địa bàn cấp tỉnh 29
2.2 Huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn ở địa bàn cấp tỉnh 40
2.3 Kinh nghiệm trong và ngoài nước về huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn 55
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG NÔNG THÔN TỈNH BẮC NINH 70
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh - tế xã hội tỉnh Bắc Ninh ảnh hưởng đến huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn 70
3.2 Huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 - 2018 83
3.3 Đánh giá chung về thực trạng huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn tỉnh Bắc Ninh 101
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG NÔNG THÔN TỈNH BẮC NINH 126
4.1 Quan điểm, mục tiêu và phương hướng huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh 126
4.2 Giải pháp huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 134
KẾT LUẬN 148
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 150
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
Trang 5CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GSĐTCCĐ : Giám sát đầu tư của cộng đồng
HĐND : Hội đồng nhân dân
NSĐP Ngân sách địa phương
NSTW : Ngân sách Trung ương
NTM : Nông thôn mới
UBND : Ủy ban nhân dân
UBMTTQ : Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
VietGAP : Vietnamese Good Agricultural Practices - Thực hành sản xuất
nông nghiệp tốt ở Việt Nam
Trang 6Trang
Bảng 2.1 Tổng đầu tư tài sản cố định nông thôn Trung Quốc 59 Bảng 2.2 Tổng vốn đầu tư huy động cho xây dựng nông thôn mới
Bảng 3.1 Tổng sản phẩm (GRDP) và cơ cấu tổng sản phẩm trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh theo giá hiện hành phân theo khu
Bảng 3.2 Lao động, việc làm tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 - 2018 76 Bảng 3.3 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc phân theo
Bảng 3.6 Phân bổ vốn đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn theo
chương trình nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh 89 Bảng 3.7 Vốn huy động từ ngân sách cho xây dựng kết cấu hạ tầng
nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2019 94 Bảng 3.8 Kết quả huy động nguồn lực từ người dân thực hiện Chương
trình xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2019 99 Bảng 3.9: Phân bổ vốn từ ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển
Bảng 3.10 Kết quả huy động nguồn lực thực hiện Chương trình xây
dựng Nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2018 104 Bảng 3.11: Tổng thu các cấp ngân sách trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 7Hình 3.5 Nguồn vốn huy động từ doanh nghiệp cho phát triển kết cấu
hạ tầng nông thôn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2017 101 Hình 3.6 Tổng vốn huy động cho các công trình hạ tầng nông
thôn mới tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2019 104
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với nông thôn, kết cấu hạ tầng có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong
sự phát triển sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân,là tiền đề để phát triển các lĩnh vực khác KCHT nông thôn phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ mở ra khả năng thu hút các dòng vốn đầu tư đa dạng cho phát triển kinh tế- xã hội; là điều kiện để phát triển các vùng kinh tế trọng điểm của khu vực nông thôn, đồng thời tạo ra các tác động lan toả lôi kéo các vùng liền kề phát triển KCHT nông thôn phát triển sẽ trực tiếp tác động đến các vùng nghèo, hộ nghèo, tạo điều kiện nâng cao trình độ kiến thức và cải thiện tình trạng sức khoẻ cho người dân khu vực nông nghiệp, nông thôn; tạo việc làm, giảm thiểu bất bình đẳng về mặt xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn; góp phần vào việc giữ gìn môi trường nông thôn Do đó, đầu tư phát triển KCHT nông thôn đang là ưu tiên của các địa phương trong quá trình xây dựng NTM, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Xây dựng KCHT ở nông thôn theo hướng đồng bộ, hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường, hướng đến sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh
Tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua đã tập trung nguồn lực phát triển KCHT toàn tỉnh và của khu vực nông thôn nói riêng nhằm phát triển nông nghiệp chất lượng cao, xây dựng NTM gắn với phát triển đô thị Giai đoạn 2010 - 2018, tổng sản phẩm trên địa bàn tăng cao, đạt bình quân 15,7%/năm, quy mô kinh tế đứng thứ 6 toàn quốc; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH,
đã đạt và vượt chỉ tiêu 13/15 tiêu chí của tỉnh công nghiệp Ngành nông nghiệp phát triển theo hướng ứng dụng công nghệ cao vào các khâu, công đoạn của quá trình sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn VietGap, GlobalGap với hàng trăm cơ sở sản xuất, kinh doanh hiệu quả Chương trình xây dựng NTM được triển khai tích cực, là một trong 10 tỉnh có số tiêu chí đạt cao nhất cả nước, đến tháng 5/2019 đã có 89/97 xã
Trang 9và 4 đơn vị cấp huyện là: Tiên Du, Gia Bình, Quế Võ và thị xã Từ Sơn được công nhận đạt chuẩn và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM, số tiêu chí trung bình đạt 18,83 tiêu chí/xã
Theo số liệu của UBND tỉnh Bắc Ninh, đến hết năm 2018, cùng với những kết quả tích cực trong phong trào xây dựng NTM, KCHT nông nghiệp, nông thôn
đã được đầu tư đồng bộ và là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước Tuy nhiên, so với hạ tầng đô thị của tỉnh thì hạ tầng nông thôn vẫn còn khoảng cách tương đối lớn, trong khi Bắc Ninh đang phấn đấu xây dựng tỉnh thành thành phố trực thuộc trung ương
Nguyên nhân chủ yếu là việc phân bổ vốn đầu tư vào các công trình hạ tầng nông thôn còn dàn trải; phân cấp quản lý nguồn vốn còn chồng chéo, chưa phù hợp; một số dự án đầu tư phát triển KCHT nông thôn có cùng một nguồn vốn đầu tư là ngân sách nhà nước nhưng có nhiều cơ quan quản lý dẫn đến việc phân tán, chia cắt nguồn vốn, hiệu quả đồng vốn cho đầu tư phát triển không cao Một số tiêu chí về
hạ tầng nông thôn của Bắc Ninh đặt ra cao hơn so với tiêu chí quốc gia về NTM nên các xã, huyện thuần nông khó có thể đáp ứng đủ nguồn vốn, chủ yếu trông chờ từ nguồn ngân sách tỉnh điều tiết về và các chính sách hỗ trợ Công tác tuyên truyền, vận động triển khai thiếu tích cực, nhận thức của một bộ phận cán bộ cơ sở và người dân về chính sách hỗ trợ hạ tầng nông thôn chưa đúng nên đã tạo ra tâm lý trông chờ,
ỷ lại vào Nhà nước Nhiều địa phương không chủ động huy động nguồn lực cộng đồng dân cư và các nguồn vốn khác
Bài toán cấp bách đặt ra là Bắc Ninh phải tiếp tục hoàn thiện KCHT nông thôn hiện đại, đồng bộ với KCHT đô thị tạo thuận lợi cho phát triển KT-XH, phát huy các lợi thế về sản xuất nông nghiệp gắn với phát triển công nghiệp, thương mại
và dịch vụ, hướng tới mục tiêu xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc trung ương vào năm 2022 Do đó, tỉnh cần phải huy động ở mức cao nhất các nguồn lực đầu tư từ ngân sách Trung ương, của các thành phần kinh tế, vốn đầu tư nước ngoài và của toàn xã hội để đầu tư KCHT kinh tế - xã hội nông thôn của tỉnh Đổi mới, nâng cao hiệu quả huy động vốn từ các kênh đầu tư của doanh nghiệp, sự
Trang 10đóng góp của người dân nông thôn và phát triển thị trường tín dụng nông thôn Chính quyền cần hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư đồng bộ, công khai, minh bạch nhằm thu hút vốn cho phát triển KCHT với những hình thức phù hợp; đẩy mạnh cải cách hành chính cải thiện môi trường đầu tư; sắp xếp, bố trí nguồn lực đầu tư hiệu quả, tránh đầu tư dàn trải; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và lợi ích toàn xã hội
Xuất phát từ những lý do nêu trên, vấn đề: “Huy động vốn để phát triển kết
cấu hạ tầng nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh” được lựa chọn làm nội dung nghiên cứu
cho Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng khung lý luận về huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn ở địa bàn cấp tỉnh trong bối cảnh mới Kết hợp với khảo sát thực tiễn tình hình ở tỉnh Bắc Ninh, đánh giá dựa vào các nội dung, tiêu chí, điều kiện và phương thức huy động vốn để làm rõ kết quả đạt được, những khó khăn, bất cập và nguyên nhân
Từ đó, đề ra quan điểm, mục tiêu và các giải pháp đẩy mạnh huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ tiếp theo
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung phân tích, luận giải và làm rõ những vấn đề sau đây:
- Hệ thống hoá, bổ sung để xây dựng khung lý luận về huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn cấp tỉnh trong bối cảnh mới của nền kinh tế hiện đại và hội nhập quốc tế
- Nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài và một số địa phương về huy động vốn
để phát triển KCHT nông thôn, rút ra bài học cho tỉnh Bắc Ninh
- Trên cơ sở khung lý luận đã xây dựng làm căn cứ để đánh giá thực trạng huy động các nguồn vốn để phát triển KCHT nông thôn tỉnh Bắc Ninh những năm qua, chỉ ra kết quả đạt được, những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân
- Trình bày quan điểm, đề xuất những giải pháp cơ bản phù hợp với điều kiện kinh
tế - xã hội của tỉnh trong bối cảnh mới, tăng cường huy động vốn đáp ứng yêu cầu phát triển KCHT nông thôn tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn có rất nhiều ngành và các phân ngành khoa học nghiên cứu như: Khoa học quản lý kinh tế, kinh tế học phát triển, kinh
tế đầu tư, kinh tế tài chính, quản trị doanh nghiệp
Hướng tiếp cận theo đối tượng của kinh tế chính trị: Nghiên cứu quan hệ sản xuất trong mối liên hệ với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là:
Hoạt động huy động vốn từ các chủ thể trong nền kinh tế để phát triển KCHT nông thôn trên địa bàn cấp tỉnh Trong đó, chủ thể cho hoạt động huy động vốn là chính quyền địa phương cấp tỉnh với việc ban hành các chính sách về huy động vốn Đối tượng huy động là: ngân sách Nhà nước, các hình thức tín dụng (ngân hàng; hợp tác xã ), doanh nghiệp và người dân Đối tượng thụ hưởng thành quả trực tiếp và gián tiếp của phát triển KCHT nông thôn: toàn thể hệ thống chính trị - xã hội, nhân dân, doanh nghiệp, các tổ chức đang hoạt động trên địa bàn tỉnh
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu hoạt động huy động vốn từ các nguồn lực trong và ngoài ngân sách nhà nước (gồm các nội dung về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện huy động vốn, kết quả huy động nguồn lực vốn) để phát triển KCHT nông thôn và những tác động của huy động vốn đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cấp tỉnh
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu về huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn giai đoạn 2010-2018 và xây dựng phương án huy động vốn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
- Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu tình hình huy động vốn để phát triển KCHT kinh tế - xã hội nông thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh với 7 đơn vị hành chính bao gồm thị xã Từ Sơn và 6 huyện, là: Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du, Thuận Thành, Lương Tài và Gia Bình
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Kết hợp với đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 12và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về huy động các nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng (KCHT) nông thôn và phát triển thị trường tín dụng cho khu vực nông thôn Tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu liên quan đến huy động vốn
để phát triển KCHT nông thôn của các nhà khoa học trong và ngoài nước
4.2 Cơ sở thực tiễn
Luận án dựa trên thực tiễn phát triển KCHT nông thôn tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Bắc Ninh đến năm 2025; các đề án về phát triển KCHT tỉnh Bắc Ninh trên các lĩnh vực và những báo cáo có liên quan để phục vụ cho nghiên cứu đề tài
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học Kinh tế chính trị là phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp nghiên cứu chuyên ngành kinh tế như: phương pháp thống kê, so sánh, phân tích - tổng hợp, đánh giá thông qua việc sử dụng các sơ đồ, biểu đồ và đồ thị để minh họa bằng số lượng các kết quả nghiên cứu để hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề ra Trong đó:
Chương 1 luận án sử dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học, lôgíc kết hợp
với lịch sử, phân tích, hệ thống, tổng hợp kết quả các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Có phân tích, so sánh, tổng kết thực tiễn về huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn, làm cơ sở để nghiên cứu nội dung của Chương 2 và Chương 4
Chương 2 luận án sử dụng phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử, phương
pháp phân tích tổng hợp, hệ thống hóa để xây dựng khung lý luận về huy động vốn
để phát triển KCHT nông thôn trên địa bàn cấp tỉnh trong bối cảnh mới của nền kinh tế hiện đại và hội nhập quốc tế
Chương 3 luận án sử dụng phương pháp trừu tượng hóa, phân tích tổng hợp, thống
kê, so sánh, đánh giá thông qua việc sử dụng các sơ đồ, biểu đồ và đồ thị để nghiên cứu, đánh giá thực trạng huy động các nguồn vốn để phát triển KCHT nông thôn tỉnh Bắc Ninh những năm qua, chỉ ra kết quả đạt được, những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân
Chương 4 luận án sử dụng phương pháp hệ thống hóa, quy nạp, phân tích
tổng hợp và dự báo về xu hướng, mục tiêu phát triển nhằm xây dựng quan điểm, đề
Trang 13xuất các giải pháp huy động vốn phù hợp có hiệu quả cao để phát triển KCHT nông thôn tỉnh Bắc Ninh trong tình hình mới
5 Những đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa, bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn, đặc điểm, vai trò và phương thức huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn địa bàn cấp tỉnh trong bối cảnh mới của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế
- Phân tích đặc điểm KCHT nông thôn và huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn địa bàn cấp tỉnh Góp phần làm rõ tiềm năng, thế mạnh cũng như những khó khăn, cản trở về vốn ảnh hưởng đến thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của tỉnh
- Phân tích để đánh giá khoa học khách quan dựa trên khung khổ lý thuyết đã được hoàn thiện về thực trạng huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn của tỉnh Bắc Ninh Chỉ ra những điểm nghẽn, nút thắt huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất mục tiêu, quan điểm và các giải pháp thiết thực, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện cụ thể của Bắc Ninh nhằm huy động một cách phù hợp nhất các nguồn vốn để phát triển KCHT nông thôn trong thời kỳ mới hội nhập và phát triển
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án được kết cấu gồm 4 chương 11 tiết
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn
Chương 2: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn trên địa bàn cấp tỉnh
Chương 3: Thực trạng huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn tỉnh Bắc Ninh
Chương 4: Quan điểm, phương hướng và các giải pháp đẩy mạnh huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn tỉnh Bắc Ninh
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG NÔNG THÔN
1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng cho phát triển nông thôn
Gilberto M Llanto, "The Impact of Infrastructure on Agricultural Productivity" -
(Tác động của cơ sở hạ tầng đến năng suất nông nghiệp), Philippine [93]
Các số liệu được phân tích trong báo cáo đã làm rõ vai trò quan trọng của KCHT nông thôn trong việc cải thiện năng suất nông nghiệp, góp phần phát triển khu vực nông thôn các nền kinh tế đang phát triển KCHT nông thôn, giống như các khoản đầu tư công khác, làm tăng năng suất nông nghiệp, từ đó tạo ra sự tăng trưởng
ở khu vực nông thôn, mang lại mức lương cao hơn cho nông nghiệp và cải thiện cơ hội cho lao động phi nông nghiệp Hệ thống điện tạo điều kiện cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất và thu nhập cho các hộ gia đình nông thôn Hệ thống đường giao thông nông thôn cung cấp kết nối quan trọng với các thị trường đang phát triển liền kề với khu vực nông thôn; giảm chi phí đầu vào và chi phí giao dịch của người sản xuất và người tiêu dùng nông thôn Kết quả, năng suất nông nghiệp gia tăng, lương thực giảm giá, mang lại lợi ích cho cả cư dân thành thị và nông thôn, những người tiêu dùng lương thực, thực phẩm, góp phần vào thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững
César Calderón, Luis Servén (2014), "Infrastructure, Growth, and Inequality:
An Overview" - Bức tranh tổng quan về KCHT, tăng trưởng và bất bình đẳng [86]
Các tác giả đã nghiên cứu về những ảnh hưởng của phát triển KCHT đối với tăng trưởng và phân phối thu nhập, đặc biệt chú trọng đến các nước đang phát triển giai đoạn 2000 - 2014 Báo cáo chỉ ra, nếu KCHT giúp nâng cao mức thu nhập và giảm bất bình đẳng về thu nhập, thì sự phát triển của nó có thể là một công cụ hữu hiệu để giảm nghèo Do đó, phát triển KCHT đã trở thành chính sách ưu tiên ở nhiều quốc gia Nguồn vốn cho phát triển KCHT đã chiếm một phần lớn trong các gói kích thích tài chính được triển khai sau cuộc khủng hoảng toàn cầu 2007-2008: trung bình, các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển chi tiêu 40% trong gói kích thích
Trang 15tăng trưởng kinh tế cho KCHT, trong khi các nền kinh tế phát triển chỉ chi tiêu 21% Các tác giả đã phân tích và đưa ra một số đề xuất về huy động nguồn vốn xã hội hóa cho phát triển KCHT sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn
Pradeepta Kumar Samanta (2015), "Development of Rural Road Infrastructure
in India" - (Phát triển KCHT giao thông nông thôn ở Ấn Độ) [101]
Sự phát triển của hệ thống giao thông nông thôn đóng vai trò quan trọng trong liên kết cộng đồng giữa nông nghiệp, nông thôn với các khu vực đô thị, cung cấp một động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của đất nước, đảm bảo người dân nông thôn tiếp cận các dịch vụ và cơ hội quan trọng, thúc đẩy các chương trình giảm nghèo bền vững và tạo việc làm thông qua công nghiệp hóa ở khu vực nông thôn Báo cáo đã phân tích các nguồn vốn được huy động cho phát triển hạ tầng giao thông nông thôn
Ấn Độ, gồm đầu tư công và đầu tư từ khu vực tư nhân Trong đó, sự tham gia của khu vực tư nhân bị giới hạn trong việc phát triển, bảo trì và vận hành các tuyến đường giao thông nông thôn, nhất là những tuyến đường nối các vùng đồi núi xa xôi, lạc hậu do chúng hầu như không mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư tư nhân Gánh nặng đầu tư hệ thống giao thông nông thôn làm gia tăng khó khăn về ngân sách của Chính phủ, đòi hỏi Chính phủ Ấn Độ phải nhanh chóng thực hiện cải cách chính sách lớn về thu hút đầu tư
tư nhân cho phát triển hạ tầng đường giao thông nông thôn, ngăn chặn sự gia tăng chênh lệch về KCHT nông thôn với đô thị trong tăng trưởng và phát triển
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về huy động vốn phát triển nông thôn
Conning, Jonathan H and Udry, Christopher (2005), "Rural Financial Markets
in Developing Countries" - (Thị trường tài chính nông thôn ở các nước đang phát
triển), Yale University [88]
Các tác giả nghiên cứu về sự phát triển của thị trường tài chính nông thôn
ở các nước đang phát triển và nhận thấy, thị trường tài chính ở khu vực nông thôn manh mún và không hoàn hảo Khách hàng tiếp cận các khoản vay theo đặc điểm và hoạt động của họ nên có rất nhiều hình thức hợp đồng, các điều khoản
và mức lãi suất biến động Những năm 1950 đến 1970, chính sách của các chính phủ là đặt các mức lãi suất trần với các hợp đồng chỉ định vay đã dẫn đến những thiệt hại nặng nề cho thị trường tài chính ở khu vực nông thôn Giai đoạn 1980
Trang 16và 1990, nhiều nước đang phát triển đã giảm bớt các chính sách kiềm chế tài chính nhằm tạo ra những đổi mới tài chính, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính vi
mô, tập trung vào các hoạt động nông thôn đô thị hoặc phi nông nghiệp Hoạt động của thị trường tài chính nông thôn đã có sự tham gia của tư nhân với các công cụ tài chính trung gian mạnh mẽ đã mang lại nguồn tài chính hiệu quả cho người dân nông thôn
Guangyu Zhang (2010), "Study on the Construction of the Chinese Rural Credit
System" - (Nghiên cứu về xây dựng các hệ thống tín dụng ở nông thôn Trung Quốc) [108]
Phân tích hệ thống tài chính nông thôn Trung Quốc, tác giả nhận định rằng, tài chính nông thôn là hoạt động chưa hiệu quả trong hệ thống tài chính của nền kinh tế Xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc cần phải huy động tối đa các nguồn lực hiện có, trong đó có sự hỗ trợ rất lớn của các nguồn tài chính Trong những năm gần đây, với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và xã hội, việc xây dựng các dự án tín dụng nông thôn Trung Quốc đã đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, ý thức ỷ lại của người dân vào các khoản tín dụng ưu đãi và việc thiếu các biện pháp kiểm soát tín dụng là một điểm hạn chế tồn tại ở một số tổ chức tài chính nông thôn Trung Quốc, gây ra những tác động tiêu cực cho hoạt động tín dụng nông thôn Sự phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng NTM cần một môi trường tín dụng tốt và hệ thống tín dụng hiệu quả Điều đó đòi hỏi chính phủ Trung Quốc cần xây dựng hệ thống tín dụng nông thôn trong tổng thể kế hoạch xây dựng các làng NTM xã hội chủ nghĩa, và có cơ chế kiểm soát nhằm nâng cao hiệu quả hệ thống tín dụng nông thôn
Awe A.A (Ph.D), "Mobilization of domestic financial resources for
agricultural productivity in Nigeria" - (Huy động các nguồn tài chính trong nước thúc đẩy phát triển nông nghiệp ở Nigeria) [85]
Bài viết xem xét việc huy động các nguồn tài chính trong nước cho năng suất nông nghiệp ở Nigeria nhằm xác định sự đóng góp của các nguồn tài chính khác nhau đến sự phát triển của nền nông nghiệp Nigeria Để đạt được mục tiêu này, bài báo đã sử dụng mô hình hồi quy tự động Vector (VAR) để phân tích chuỗi dữ liệu trong giai đoạn 1980 - 2009 Với các chính sách được chính phủ sử dụng bao gồm
Trang 17các chính sách tín dụng và trợ cấp nông nghiệp được tài trợ thông qua Ngân hàng Tín dụng Nông nghiệp Nigeria (NACB), nguồn tài chính cho phát triển sản xuất nông nghiệp đã được đa dạng hóa, từ tín dụng của Chính phủ đến tín dụng thông qua các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính tư nhân Điều đó giúp cho người nông dân Nigeria dễ dàng tiếp cận với các nguồn tài chính, mua các nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất, bảo đảm cung cấp lương thực cho nền kinh tế, nâng cao đời sống của cư dân nông thôn Do đó, bài báo khuyến nghị chính phủ Nigeria cần đảm bảo nguồn tài chính công cho nông nghiệp và huy động thêm các nguồn lực tư nhân để phát triển tiềm năng nông nghiệp
Biancamaria Torquati, Roberta Illuminati, Lucio Cecchini, Elena Pisani,
Riccardo Da Re (2016), "Social capital and rural innovation process: the evaluation of
the measure 124 “Cooperation for Development of New Products, Processes and Technologies in the Agriculture, Food and Forestry Sector” in the Umbria Region (Italy)" - Vốn xã hội và quá trình đổi mới nông thôn: đánh giá biện pháp Hợp tác phát triển sản phẩm mới, quy trình và công nghệ mới trong ngành nông nghiệp, thực phẩm
và lâm nghiệp ở khu vực Umbria (Ý) [103]
Vốn xã hội cho phát triển nông nghiệp, nông thôn được huy động từ các nguồn lực ngoài ngân sách, gồm các dự án đầu tư của các doanh nghiệp, hiệp hội sản xuất, trường đại học, viện nghiên cứu công cộng, nguồn vốn của người nông dân Nghiên cứu này đã đánh giá vai trò của vốn xã hội trong các dự án đổi mới nông nghiệp được đồng tài trợ bởi Dự luật 124 của Chương trình Phát triển nông thôn (2007-2013) Vùng Umbria (Ý), dựa trên phân tích 5 tiêu chí đánh giá (mức độ phù hợp, đổi mới, hiệu quả, bền vững và vốn xã hội) liên quan đến 8 dự án được lựa chọn; khẳng định việc huy động các nguồn vốn xã hội đã mang lại những kết quả tích cực cho đổi mới các khu vực nông thôn ở Umbria đáp ứng tiêu chí của Chính phủ đề ra Nghiên cứu cũng cung cấp các chỉ dẫn thực tế để hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách thúc đẩy phát triển nguồn vốn xã hội từ các chủ thể lãnh thổ Khả năng đổi mới này về cơ bản dựa trên mối liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa và các chủ thể khác của ngành nông sản, gồm các trang trại, công ty chế biến, hiệp hội sản xuất, trường đại học, viện nghiên cứu công cộng và tư nhân và các nhà sản xuất, sẵn sàng cho việc thực hiện Hiệp định Đối tác Châu Âu trong Nông nghiệp
Trang 18Yongqing Nan, Yanyan Gao, Qin Zhou (2019), "Rural credit cooperatives’
contribution to agricultural growth: evidence from China" - (Vai trò của Hợp tác xã tín dụng nông thôn đến tăng trưởng nông nghiệp: Bằng chứng từ Trung Quốc),
England [97]
Các Hợp tác xã tín dụng nông thôn Trung Quốc (RCCs) đã thống trị thị trường tín dụng nông thôn Trung Quốc và đáp ứng hầu hết nhu cầu tín dụng cho người dân khu vực nông nghiệp, nông thôn Bài viết nghiên cứu hệ thống dữ liệu về RCCs của Trung Quốc trong giai đoạn 1997-2014, phân tích và làm rõ hiệu quả của RCCs đến tăng trưởng nông nghiệp ở Trung Quốc Tín dụng được cung cấp bởi RCCs với 1%
dư nợ tăng dẫn đến tăng trưởng nông nghiệp khoảng 0,08% Bài báo cũng đưa ra những khuyến nghị về việc nới lỏng các hạn chế tín dụng nông thôn, cải thiện hiệu quả quản lý của RCCs và phát triển các sản phẩm tài chính đa dạng để nâng cao hiệu quả và tăng cường sự đóng góp của RCCs vào tăng trưởng nông nghiệp
1.1.3 Các nghiên cứu về huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn
Indira Rajaraman (2005), "Financing rural infrastructure in developing
countries: The case of India " - Tài chính cho KCHT nông thôn ở các nước đang phát triển: Trường hợp Ấn Độ [99]
Kết quả khảo sát thực tế tại Ấn Độ cho thấy, Ấn Độ là quốc gia duy nhất tạo lập nguồn tài chính cho phát triển KCHT nông thôn từ năm 1995-1996 Quỹ phát triển KCHT nông thôn (RIDF) là một chương trình riêng, độc lập với nguồn tài chính của chính quyền các tiểu bang Sự thành công của các chương trình như RIDF
đã giảm sự bất bình đẳng và mất cân đối trong phát triển giữa các bang RIDF được các ngân hàng thương mại Ấn Độ tài trợ đầy đủ từ nguồn vốn cho ngành nông nghiệp (được quy định là 18% tỷ lệ dự trữ của các ngân hàng) Từ năm 1995-1996, các khoản vay của RIDF được gia hạn mỗi năm, thành tám "đợt" từ RIDF-I đến RIDF-VIII, và là trung gian của Ngân hàng Quốc gia về Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NABARD) Các chính phủ địa phương là những đối tượng cho vay chủ yếu, tuy nhiên, gần đây đối tượng tiềm năng đã được mở rộng bao gồm các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tư nhân ở nông thôn và chính quyền các địa phương Mô
Trang 19hình hoạt động của Quỹ phát triển KCHT nông thôn là gợi ý chính sách đối với Việt Nam trong huy động nguồn vốn cho phát triển KCHT khu vực nông nghiệp, nông thôn khi các nguồn lực từ ngân sách còn hạn chế
Vijay Mahajan, Preeti Sahai, and Sandeep Pasrija (2007), "Financing of Rural
Infrastructure" - (Tài chính cho KCHT nông thôn), Oxford University Press [95]
Hệ thống KCHT nông thôn ở Ấn Độ bao gồm: đường giao thông, cung cấp điện, KCHT viễn thông, hệ thống thủy lợi, cấp nước và vệ sinh, bãi bán hàng, trường học và trung tâm y tế Các công trình này gần như hoàn toàn được tài trợ và
có sự ràng buộc về ngân sách rất lớn giữa chính phủ và chính quyền các bang Việc giải ngân cho đầu tư các công trình hạ tầng tại các địa phương phần lớn phụ thuộc vào ngân sách của chính phủ trung ương và tiểu bang nên tại các tiểu bang nghèo hay tại các khu vực nghèo của các bang, đầu tư cho KCHT của cộng đồng chỉ dừng lại ở việc cung cấp nước sạch (piau) và nhà nghỉ (dharamshala) cho người dân Vì thế, huy động vốn tư nhân cho phát triển KCHT nhằm giảm khoảng cách chênh lệch giữa các tiểu bang trở nên rất quan trọng, là yếu tố quyết định cho sự phát triển nông thôn và sự ổn định về kinh tế - xã hội
Các tác giả đã phân tích, đánh giá sơ bộ về khoảng cách cung - cầu tồn tại trong đầu tư cho KCHT nông thôn, hoàn toàn tách biệt với việc cung ứng các dịch vụ nông thôn như: nước và vệ sinh, đường sá, thủy lợi, điện, viễn thông, chế biến nông sản và tiếp thị Cuối cùng, các tác giả đã thảo luận chi tiết về các lựa chọn và các cách tiếp cận nguồn tài chính hiện tại, tính khả thi của các giải pháp mới trong việc tạo ra nguồn lực
Gilberto M Llanto, Adoracion M Navarro and Ma Kristina P Ortiz,
"Infrastructure financing, public-private partnerships and development in the Pacific region" - (Hình thức đầu tư hợp tác công tư và những nguồn tài chính khác cho KCHT ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương) [94]
Asia-Bài viết phân tích số liệu về châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn 2005 -
2014 theo các lĩnh vực chính sau: (1) tình trạng KCHT ở các nền kinh tế châu Thái Bình Dương và các nguồn tài chính cho phát triển KCHT; (2) mối quan hệ giữa KCHT và phát triển bền vững; (3) hợp tác công tư (PPP) như là nguồn tài chính hiệu quả cho phát triển KCHT tại các nền kinh tế đang phát triển; và (4) thành
Trang 20Á-lập các tổ chức tài chính mới để đầu tư phát triển KCHT trong khu vực Mặc dù nhu cầu KCHT của châu Á và Thái Bình Dương rất lớn và ngày càng tăng do sự gia tăng dân số và đô thị hóa nhanh chóng, song sự đáp ứng từ khu vực công và ODA là hạn chế, với khoảng 59% đến 69% được sử dụng để đầu tư cho KCHT Do đó, PPP
có tiềm năng đóng vai trò quan trọng trong việc đầu tư phát triển KCHT và các nền kinh tế đang phát triển cần phải học cách sử dụng nó, bao gồm xây dựng chính sách
và khung pháp lý phù hợp, năng lực thể chế, giảm thiểu rủi ro hiệu quả và tăng cường tín dụng Ngoài ra, việc hình thành những tổ chức tài chính quốc tế mới Trung Quốc tài trợ đã và đang có vai trò quan trọng trong đầu tư các dự án KCHT lớn Song có những lo ngại về hiệu quả của các dự án KCHT, tác động về kinh tế, chính trị, xã hội của Trung Quốc - cường quốc kinh tế và chính trị mới nổi- đang gia tăng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Laura Turley, David Uzsoki (2018), Report "Financing Rural Infrastructure:
Priorities and pathways for ending hunger" (Tài chính cho phát triển KCHT nông thôn:
Những mục tiêu ưu tiên và những cách thức nhằm chấm dứt nạn đói), Canada [105]
Báo cáo đã phân tích tầm quan trọng của KCHT nông thôn đối với tăng trưởng, giải quyết nạn đói và đảm bảo an ninh lương thực trong việc thực hiện các mục tiêu Phát triển bền vững và Xóa đói giảm nghèo Trong đó, tập trung vào một số loại KCHT điển hình có tầm quan trọng trực tiếp đối với sinh kế nông thôn nói chung và đặc biệt là chấm dứt nạn đói, gồm: hệ thống kho/kho lạnh bảo quản nông sản, hệ thống giao thông kết nối các vùng miền,
hệ thống cung cấp năng lượng tái tạo phi tập trung và hệ thống hạ tầng thủy lợi Báo cáo cũng chỉ ra rằng nếu sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn tài trợ thì có thể thu hút nguồn vốn từ khu vực tư nhân vào phát triển KCHT nông thôn (hệ thống lưu trữ, hệ thống cung cấp năng lượng tái tạo phi tập trung, giao thông vận tải
và thủy lợi) Báo cáo cũng hàm ý việc sử dụng một số công cụ tài chính sẽ cho phép các chính phủ tận dụng nguồn vốn hạn chế từ khu vực công và huy động vốn tư nhân
Sarah Kline (2018), "Putting private capital to work in Rural infrastructure"
- (Thu hút vốn tư nhân vào phát triển KCHT nông thôn) [90]
Hệ thống KCHT nông thôn ở nước Mỹ đang xuống cấp, ảnh hưởng xấu đến các cộng đồng nông thôn, nỗ lực tạo việc làm và kích thích tăng trưởng kinh tế, như hệ thống
Trang 21đường giao thông, đường nước, thông tin liên lạc Hiện có 15% các tuyến đường nông thôn chính đang trong tình trạng tồi tệ; 20% các cây cầu nông thôn bị hư hỏng; có 3/5 các quận có dịch vụ vận tải công cộng, song dịch vụ rất hạn chế; hệ thống nước tưới tiêu, sinh hoạt cho khu vực nông thôn dưới 3.300 người đang cần đầu tư vốn với tổng trị giá 64,5 tỷ đô la trong 20 năm tới Trong khi nguồn lực công là có hạn, thu thuế và phí từ sử dụng KCHT nông thôn ngày càng giảm, các khu vực nông thôn nước Mỹ đang phải đối mặt với những thách thức đặc biệt trong việc giải quyết nhu cầu KCHT
Trong các trường hợp cụ thể, một số cộng đồng nông thôn (rural northeast Texas, North Country, Virginia, West Virginia, Pennsylvania, Ohio ) đã có những thành công khi huy động vốn đầu tư từ khu vực tư nhân, trong đó có hình thức hợp tác công tư (PPP), cụ thể là các doanh nghiệp tư nhân sẽ đóng góp cho dự án KCHT,
về mặt tài chính hoặc hiện vật để hưởng lợi từ sự tồn tại của dự án Do đó, bài viết đưa ra khuyến nghị đối với chính quyền cấp liên bang cần cung cấp thông tin, hỗ trợ chính sách để chính quyền tiểu bang và địa phương triển khai huy động vốn theo hình thức PPP để giúp giải quyết các nhu cầu phát triển KCHT
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HUY ĐỘNG VỐN CHO NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG NÔNG THÔN
1.2.1 Các nghiên cứu về huy động vốn để phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trần Thị Ngọc Minh (2012), Vốn để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
ở tỉnh Yên Bái, Luận án Tiến sĩ Kinh tế [38]
Tác giả luận án làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là vốn để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn như: khái niệm
về vốn; vai trò quan trọng của vốn đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn miền núi; những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến huy động và sử dụng vốn để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Tác giả đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và một số địa phương ở Việt Nam và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho tỉnh Yên Bái về huy động và sử dụng vốn để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Từ phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn để phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2001 - 2011, tác giả luận án đã đề xuất 2 nhóm giải pháp chủ yếu là: (1) Nhóm giải pháp về huy động vốn, bao gồm các giải pháp: huy động vốn
Trang 22từ ngân sách Nhà nước; huy động vốn từ các tổ chức tín dụng ngân hàng; huy động vốn
từ các doanh nghiệp; huy động vốn từ dân cư; huy động vốn từ các nguồn vốn nước ngoài để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn (2) Nhóm giải pháp về sử dụng vốn, bao gồm các giải pháp: phân bổ các nguồn vốn đúng hướng; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn; tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng và chống lãng phí các nguồn vốn
Nguyễn Hoàng Hà chủ nhiệm (2014), "Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp
huy động vốn đầu tư cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn đến năm 2020" [26]
Đề tài khoa học này hướng tới ba mục tiêu chính gồm: (1) Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn kinh nghiệm quốc tế về huy động vốn thực hiện Chương trình NTM; (2) Đánh giá thực trạng huy động vốn và các giải pháp thực hiện huy động vốn để thực hiện Chương trình NTM ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2011 cho đến nay; (3) Đề xuất một số giải pháp huy động vốn đầu tư nhằm hoàn thành các mục tiêu của Chương trình nông thông mới cho giai đoạn từ nay đến năm 2020 Nhóm nghiên cứu đề tài đã tổng hợp, đánh giá kinh nghiệm phát triển nông thôn của một số nước như Hàn Quốc, Thái Lan; đã khảo sát về tình hình huy động vốn cho Chương trình NTM, tại một số địa phương ở Việt Nam Từ đó nhóm nghiên cứu đề xuấtmột số giải pháp trước mắt và giải pháp dài hạn trong việc huy động vốn đầu tư cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn đến năm 2020
Hà Thị Thu (2014), “Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) vào phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam: Nghiên cứu tại vùng Duyên hải miền Trung" [62]
Luận án đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn thu hút và sử dụng ODA vào NN
và PTNT ở khu vực Duyên hải Miền Trung giai đoạn 1993 - 2012, làm rõ vai trò của vốn ODA là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển Vùng, góp phần khơi dậy nguồn vốn trong nước và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Vùng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân các tỉnh trong Vùng Tuy nhiên, thu hút và sử dụng vốn ODA vào phát triển nông nghiệp nông thôn vùng Duyên hải miền Trung vẫn còn một số hạn chế trong
Trang 23xây dựng dự án ODA, tổ chức quản lý thực hiện dự án, trong giải ngân và bố trí vốn đối ứng Từ đó, luận án đề xuất một số giải pháp cụ thể và những hàm ý chính sách với Chính phủ Việt Nam và cộng đồng những nhà tài trợ
Trần Viết Nguyên (2015), "Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển nông
nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế" [42]
Tác giả luận án đã hệ thống hoá, làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp, bài học kinh nghiệm và thiết lập khung phân tích hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp Tác giả đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp theo ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường và các nhân tố ảnh hưởng hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp bao gồm: Chủ thể quản lý, huy động và sử dụng vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp, GDP và sản lượng nông nghiệp, vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, quản lý đầu tư phát triển nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, chính sách vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp, định hướng, quy hoạch phát triển nông nghiệp, các yếu tố đặc điểm tự nhiên và văn hoá xã hội vùng nghiên cứu Trên cơ sở phân tích thực trạng hiệu quả vốn đầu tư cho nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế, tác giả luận án đưa ra định hướng, mục tiêu và đề xuất 3 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế: tập trung nguồn lực phát triển kinh tế nông nghiệp Thừa Thiên Huế; huy động và sử dụng vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp Thừa Thiên Huế; quản lý vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp Thừa Thiên Huế
Huỳnh Công Chất (2016), "Giải pháp huy động nguồn lực cộng đồng dân cư
trong xây dựng NTM tỉnh Tiền Giang" [6]
Giải pháp huy động nguồn lực cộng đồng dân cư là yêu cầu đặt ra trong xây dựng NTM ở mỗi xã, mỗi địa phương Nghiên cứu được tiến hành tại 4 xã điểm về xây dựng NTM của tỉnh Tiền Giang Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích các nguồn lực của cộng đồng được huy động cho quá trình xây dựng NTM; tìm hiểu các thuận lợi, khó khăn trong việc huy động nguồn lực cộng đồng; và đề xuất một số giải pháp nhằm huy động tốt hơn nguồn lực cộng đồng dân cư trong xây dựng NTM tỉnh Tiền Giang Các số liệu, quan điểm trình bày trong nghiên cứu dựa trên các tài liệu tổng kết ở các
Trang 24xã chọn điểm nghiên cứu và thông qua phỏng vấn trực tiếp 120 hộ gia đình, 40 cán bộ
cơ sở tại 04 xã nghiên cứu Phương pháp thống kê mô tả và so sánh được sử dụng để đánh giá thực trạng huy động nguồn lực cộng đồng trong thời gian qua Kết quả nghiên cứu cho thấy tiền, tài sản, công lao động và sự tham gia ý kiến là các nhóm nguồn lực chủ yếu của cộng đồng để huy động tham gia đóng góp xây dựng NTM
Đoàn Thị Hân (2017), “Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính thực hiện
chương trình xây dựng NTM tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam” [28]
Luận án đã tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng trung du và miền núi phía Bắc đến công tác huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho thực hiện chương trình xây dựng NTM của vùng Phân tích thực trạng quá trình huy động và tình hình sử dụng nguồn lực tài chính cho thực hiện chương trình xây dựng NTM tại các tỉnh vùng trung du miền núiphía Bắc, luận
án khẳng định: chương trình xây dựng NTM đã huy động được một khối lượng nguồn lực tài chính rất lớn cho phát triển nông thôn gồm ngân sách Nhà nước và sự tham gia đóng góp của nhiều đối tượng khác nhau Tuy nhiên, nguồn lực tài chính tại các địa phương này có hạn chế là phụ thuộc quá nhiều vào nguồn ngân sách nhà nước, việc xây dựng kế hoạch xây dựng NTM chưa phù hợp với khả năng tài chính, còn tư tưởng nóng vội, chủ quan, dẫn đến thiếu hụt nguồn vốn và nợ đọng vốn, khá nhiều công trình đầu tư dở dang Luận án cũng hàm ý những giải pháp cụ thể để tăng cường huy động nguồn lực tài chính cho xây dựng NTM trên địa bàn, bao gồm: (i) Quy hoạch lại các khu dân cư vùng có mật độ dân số thấp, (ii) Tăng cường các nguồn thu cho ngân sách địa phương, trong đó có nguồn thu từ quỹ đất, (iii) Xác định rõ mức độ ưu tiên của các hạng mục trong từng giai đoạn để tập trung đầu tư, (iv) Xây dựng cơ chế linh hoạt để huy động nguồn lực tài chính cho từng đối tượng cụ thể, (v) Nâng cao năng lực công tác của đội ngũ cán bộ cơ sở, (vi) Phát huy vai trò tham gia
từ phía cộng đồng, (vii) Thực hiện các chính sách huy động vốn tổng hợp, (viii) Công khai, minh bạch trong quá trình sử dụng các nguồn lực huy động, (ix) Hoàn thiện cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư cho xây dựng NTM , (x) Chú trọng giải quyết triệt để tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản trong xây dựng NTM, (xi) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng nguồn lực tài chính cho xây dựng NTM
Trang 25Đặng Thị Hoài (2018), “Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho nông nghiệp tỉnh
Thái Bình” [29]
Đầu tư ngân sách nhà nước cho ngành nông nghiệp từ góc độ nghiên cứu của luận án gồm các nội dung: đầu tư ngân sách nhà nước cho phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, phát triển KCHT phục vụ nông nghiệp và hoạt động xúc tiến thương mại nông sản Kết quả nghiên cứu cho thấy, giai đoạn 2006 -
2015, Thái Bình đã quan tâm, ưu tiên ngân sách nhà nước để đầu tư cho nông nghiệp Tuy nhiên, từng nội dung đầu tư còn chưa hợp lý: Đầu tư ngân sách nhà nước cho KCHT mới chỉ đáp ứng được yêu cầu cơ bản cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh; đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp còn ít, nhất là khâu nghiên cứu giống; đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực phục vụ nông nghiệp phù hợp với điều kiện ngân sách nhà nước của địa phương nhưng chưa hiệu quả; đầu tư ngân sách nhà nước cho hoạt động xúc tiến thương mại nông sản chưa được quan tâm, đầu tư chưa tương xứng với vai trò của khâu này đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp trong điều kiện hiện nay Để nâng cao hiệu quả đầu tư ngân sách nhà nước cho nông nghiệp, tăng năng suất lao động, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nông nghiệp công nghệ cao, gia tăng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp, luận án hàm ý những chính sách cụ thể: ưu tiên đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học công nghệ và tăng khả năng áp dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp; duy trì và ổn định nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước để duy tu, cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới KCHT phục vụ sản xuất nông nghiệp; hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho hoạt động xúc tiến thương mại nông sản nhằm mở rộng thị trường, nâng cao giá trị nông sản của địa phương và một số giải pháp khác
TS Hoàng Vũ Quang (2019), "Quỹ phát triển cộng đồng - Bài học cho quỹ xây
dựng NTM, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn" [46]
Quỹ phát triển cộng đồng là một mô hình huy động sự đóng góp và tham gia của cộng đồng, từ nhiều nguồn vốn khác nhau cho phát triển KCHT nông thôn, duy
tu, bảo dưỡng công trình hạ tầng sau đầu tư Hoạt động của Quỹ trên thực tế đã đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cộng đồng về quản lý và sử dụng vốn để phát triển các
Trang 26công trình hạ tầng nông thôn, nâng cao năng lực của cộng đồng dân cư trong phát triển nông thôn Bài viết đã tổng kết kinh nghiệm của các quỹ phát triển cộng đồng dựa trên kết quả khảo sát 15 mô hình quỹ phát triển cộng đồng thuộc các tỉnh Hòa Bình, Hà Giang, Quang Trị và Quảng Ngãi năm 2016 trên các khía cạnh môi trường thể chế, tổ chức bộ máy quản lý, nội dung và cơ chế hoạt động, nguồn vốn của quỹ
và nâng cao năng lực quản lý quỹ Từ đó, tác giả kiến nghị thử nghiệm mô hình quỹ xây dựng NTM cấp xã, cấp thôn dựa trên kinh nghiệm, cách tiếp cận của quỹ phát triển cộng đồng
Nguyễn Thị Thu Hà (2019), "Sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư vào sản xuất
nông nghiệp ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2015 - 2017, Định hướng phát triển tới năm 2020" [27]
Sử dụng hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp có vai trò rất quan trọng nhằm đem lại hiệu quả cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, góp phần thu hút các nguồn vốn từ khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển nông nghiệp, nông thôn Tác giả đã phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp huyện Phú Bình và làm rõ hiệu quả của nguồn vốn theo ba mặt: kinh tế, xã hội
và môi trường Từ đó, tác giả đề xuất những kiến nghị để huy động tổng lực các nguồn vốn và sử dụng một cách hiệu quả với nhiều giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp
1.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến kinh nghiệm, chính sách huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn
CIEM - Trung tâm Thông tin - Tư liệu quốc gia (2008), Chuyên đề nghiên cứu
Phát triển KCHT để bảo đảm và thúc đẩy phát triển bền vững, Hà Nội [8]
Báo cáo phân tích thực trạng phát triển KCHT của Việt Nam giai đoạn 2000
- 2008 và dựa trên những bài học kinh nghiệm của các quốc gia trong khu vực như Hàn Quốc, Indonesia để gợi ý chính sách đối với Chính phủ Việt Nam nhằm phát triển kết cấu hậ tầng để đảm bảo và thúc đẩy phát triển bền vững ở Việt Nam Các giải pháp cụ thể như: Tập trung hình thành hệ thống giao thông dọc và ngang trong lãnh thổ cả nước, nối các vùng khó khăn với các vùng kinh tế trọng điểm và trung tâm đô thị lớn, phát triển hệ thống giao thông giao lưu quốc tế; Phát triển hệ thống
Trang 27sản xuất và mạng cung cấp điện thống nhất; Phát triển mạng lưới bưu chính, viễn thông, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt; Tăng cường và đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư phát triển KCHT
Nguyễn Đức Tuyên (2009), “Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn
tỉnh Bắc Ninh - Kinh nghiệm và giải pháp” [70]
Tác giả luận án đã tập trung nghiên cứu làm rõ hiện trạng hạ tầng nông thôn
và thủy lợi tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2007 ở một số lĩnh vực cụ thể như hệ thống giao thông, cung cấp điện, nước sạch nông thôn, chợ, giáo dục, y tế ở nông thôn Phân tích nhóm nhân tố về cơ chế, chính sách của Nhà nước tác động đến sự phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn nói chung và ở tỉnh Bắc Ninh, tác giả luận án đã đưa ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thúc đẩy phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh thời gian tới và một số kiến nghị nhằm tăng thêm tính khả thi của các giải pháp đó
PGS, TS Phan Thị Bích Nguyệt (2013), “PPP - Lời giải cho bài toán vốn để
phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị Tp Hồ Chí Minh”, Tạp chí Phát triển &
Hội nhập số 10 (20) tháng 5-6 năm 2013 [43]
Là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục giữ vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh với dân số hơn 08 triệu người đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn có dân số và phương tiện cơ giới gia tăng nhanh chóng nhưng tiến độ phát triển cơ sở hạ tầng giao thông lại rất chậm Trong nội đô thành phố, đường xá trở nên quá tải, thường xuyên ùn tắc
Hệ thống giao thông công cộng kém hiệu quả Do đó, nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh là rất cao, đòi hỏi khối lượng vốn lớn Từ thực trạng trên, tác giả phân tích tính hiệu quả của việc áp dụng vào mô hình PPP (Public Private Partnership) để giải quyết bài toán về vốn phát triển cơ sở
hạ tầng giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
Dìu Đức Hà (2015), "Bài học từ huy động nguồn lực tài chính phát triển giao
thông nông thôn ở một số nước" [25]
Xây dựng hệ thống giao thông nông thôn là một trong những vấn đề quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Tuy nhiên để có
Trang 28hệ thống giao thông nông thôn đồng bộ, hiện đại đòi hỏi một nguồn vốn tài chính rất lớn Thiếu nguồn lực tài chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc giao thông nông thôn Việt Nam phát triển chậm Tác giả đã nghiên cứu kinh nghiệm huy động động nguồn lực tài chính cho phát triển giao thông nông thôn của một số quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippine có giá trị tham khảo hữu ích cho Việt Nam trong quá trình xây dựng hệ thống giao thông nông thôn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã và đang tích cực triển khai chương trình xây dựng NTM
TS Nguyễn Thị Mỹ Linh (2016), "Thấy gì từ kinh nghiệm huy động vốn phát
triển cơ sở hạ tầng của một số nước" [34]
Tác giả đã nghiên cứu thực tiễn huy động vốn phát triển KCHT của Chile và
Ấn Độ, bài viết rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất khuyến nghị về chính sách giúp Việt Nam tăng cường huy động các nguồn vốn vào phát triển KCHT như: sử dụng chỉ số lạm phát để hạn chế rủi ro cho các nhà đầu tư tài sản tài chính; cải cách
hệ thống quỹ lương hưu tư nhân trở thành kênh huy động vốn trong nước hiệu quả, dài hạn; phát triển thị trường tài chính; hạn chế dòng vốn nước ngoài đầu cơ ngắn hạn, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư dài hạn và tái đầu tư trong nước; thành lập tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập đối với các doanh nghiệp phát hành trái phiếu, giúp các tổ chức đầu tư có thể lựa chọn được doanh nghiệp phù hợp
để đầu tư; thu hút vốn theo hình thức công - tư
Vũ Đại Thắng (2019), Tham luận đề dẫn, Hội thảo chuyên đề “Quản trị, huy
động vốn và phát triển cơ sở hạ tầng - Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam” [57]
Tham luận đã tóm tắt những thành tựu trong phát triển KCHT Việt Nam những qua, thể hiện ở việc hệ thống KCHT được quan tâm đầu tư, từng bước hoàn thiện theo hướng đồng bộ hiện đại và cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội Để đạt được điều đó, bên cạnh việc ưu tiên sử dụng tối đa các nguồn vốn ngân sách nhà nước khả dụng, Chính phủ luôn quan tâm thúc đẩy việc thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân, đặc biệt thông qua mô hình hợp tác công tư - PPP Chính phủ Việt Nam đánh giá cao Quỹ tiền tệ quốc tế, các tổ chức tài chính quốc tế như WB, ADB, AFD, JBIC, JICA , các tổ chức của Hàn Quốc, Nhật Bản…và các cơ quan
Trang 29nghiên cứu như KDI-PIMAC, các tư vấn, chuyên gia quốc tế đã, đang và tiếp tục
hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong việc nghiên cứu, đánh giá cũng như việc hoàn thiện các quy định pháp luật về đầu tư công và đầu tư theo hình thức PPP nhằm huy động các nguồn vốn mới cho KCHT
1.2.3 Những công trình nghiên cứu về phương thức, nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn
Nguyễn Lương Thành (2009), “Tăng cường huy động vốn đầu tư xây dựng
các công trình KCHT kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ đổi mới - thực trạng
- kinh nghiệm và giải pháp” [58]
Phát triển KCHT kinh tế - xã hội phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn đầu tư và khi đất nước chuyển sang kinh tế thị trường và mở cửa, khả năng huy động vốn cho đầu
tư phát triển kinh tế, cho phát triển KCHT kinh tế - xã hội cũng đa dạng hơn Giai đoạn 1997 - 2005, Bắc Ninh đã đạt được một số kết quả trong huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình KCHT kinh tế - xã hội nhưng mức độ huy động vốn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu Tác giả luận án đã trình bày những vấn đề cơ bản về huy động vốn đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; phân tích thực trạng huy động vốn
để xây dựng KCHT kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997-2005 Từ đó,
đề xuất hệ thống các giải pháp huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình KCHT kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh
Nguyễn Xuân Thành (2010), "Những trở ngại về cơ sở hạ tầng của Việt Nam" [59]
Báo cáo phân tích số liệu giai đoạn 2000 - 2010 và chỉ ra rằng trong thập niên vừa qua, tổng đầu tư hạ tầng ở Việt Nam đã chiếm bình quân hơn 10% GDP, vượt qua khỏi các nền kinh tế Đông Á vốn nổi tiếng về mức đầu tư KCHT cao Kết quả từ
tỉ lệ đầu tư cao của Việt Nam đã nhanh chóng mở rộng khối lượng KCHT và cải thiện tiếp cận, góp phần vào sự thành công về tăng trưởng và phát triển của đất nước Mặt
dù được đầu tư cao song những trở ngại về KCHT của Việt Nam vẫn chưa được giải quyết một cách hiệu quả Việt Nam phải đối mặt với thách thức bảo vệ KCHT trước thiên tai và việc thải khí gây hiệu ứng nhà kính Giải quyết được rào cản KCHT này
có tầm quan trọng rất lớn giúp Việt Nam duy trì tăng trưởng với tốc độ cao và theo hướng bền vững, hiện thực hóa những mục tiêu phát triển tham vọng đã đề ra cho
Trang 30những thập niên sắp tới Tác giả đã xem xét những thách thức KCHT mà Việt Nam đối mặt trong lĩnh vực năng lượng và giao thông vận tải, chất lượng của công tác quy hoạch KCHT chiến lược trong hai khu vực này để xác định những nút thắt quan trọng, nhu cầu ưu tiên, và đưa đến việc hình thành những can thiệp chính sách giải quyết nhiều khó khăn khác nhau mà Việt Nam đang gặp phải trong các lĩnh vực trên
Bùi Văn Khánh (2010), “Huy động nguồn lực tài chính xây dựng KCHT giao
thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hòa Bình” [30]
Luận án tập trung nghiên cứu về KCHT giao thông đường bộ và thực trạng huy động nguồn lực tài chính xây dựng KCHT giao thông đường bộ tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2001-2010 Trên cơ sở đó tác giả luận án đề xuất hệ thống các giải pháp huy động nguồn lực tài chính xây dựng KCHT giao thông đường bộ tỉnh Hòa Bình đến năm 2020, bao gồm nhóm giải pháp huy động nguồn lực tài chính trong nước, nhóm giải pháp huy động nguồn lực tài chính nước ngoài
Đỗ Đức Tú (2012), "Phát triển KCHT giao thông Vùng Đồng bằng sông
Hồng đến năm 2030 theo hướng hiện đại" [69]
Luận án đã xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá tính hiện đại, đồng bộ của KCHT giao thông đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở phân tích, đánh giá sự phát triển hệ thống KCHT giao thông đồng bằng sông Hồng, luận án đưa ra những đánh giá cơ bản: Đầu tư phát triển KCHT giao thông phải có tầm nhìn dài hạn hàng chục năm thậm chí hàng trăm năm để đảm bảo sự đồng bộ của cả hệ thống KCHT và tránh lãng phí nguồn lực; đầu tư có trọng điểm vào những công trình có thể tạo bước phát triển đột phá về năng lực của cả hệ thống KCHT giao thông; Đầu tư phát triển KCHT giao thông phải đi đôi với nâng cao ý thức và văn hoá tham gia giao thông của người dân Để huy động nguồn lực cho phát triển KCHT, Nhà nước phải có những cơ chế chính sách thực sự ưu đãi để khuyến khích đầu tư, không chỉ dừng ở những khẩu hiệu chung chung
Dương Văn Thái (2014), "Huy động vốn đầu tư phát triển KCHT giao thông
đường bộ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang" [56]
Trong các nguồn lực đầu tư phát triển KCHT giao thông đường bộ, nguồn lực tài chính là nguồn lực khởi nguồn cho việc khai thác các nguồn lực khác Tuy nhiên,
Trang 31nguồn lực tài chính từ ngân sách có hạn, mức độ huy động các nguồn tài chính ngoài ngân sách cho phát triển KCHT giao thông đường bộ chưa đáp ứng được yêu cầu đặt
ra Thông qua việc phân tích thực trạng nguồn lực tài chính cho phát triển hệ thống KCHT giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2001 - 2013, tác giả luận án đã đề xuất hệ thống các giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển hệ thống KCHT giao thông đường bộ theo quy hoạch của tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Bộ Giao thông Vận tải (2013), Báo cáo "Đầu tư nước ngoài với phát triển
KCHT tại Việt Nam" [5]
Sau 25 năm thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, vốn đầu tư cho KCHT giao thông của Việt Nam phát triển theo chiều hướng khá tích cực, mở rộng về quy mô, nâng cao về chất lượng Tuy nhiên, số lượng còn rất hạn chế, chưa đồng đều và chủ yếu tập trung vào lĩnh vực xây dựng và khai thác cảng biển Từ thực tế đó, Bộ Giao thông vận tải đã đưa ra khuyến nghị: (1) Sớm hoàn chỉnh thể chế, chính sách nhất là thể chế triển khai các dự án theo hình thức hợp tác đối tác công - tư PPP nhằm khuyến khích đầu tư tư nhân tham gia đầu tư vào phát triển kết hạ tầng giao thông (2) Tăng cường sự phối kết hợp giữa các Bộ, ngành với các nhà tài trợ trong quá trình huy động vốn và triển khai thực hiện các dự án, trong
đó Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tìm kiếm các nguồn vốn để triển khai các dự án theo hình thức hợp tác đối tác công - tư (PPP) - đây là hình thức huy động vốn cơ bản trong giai đoạn tới (3) Trong quá trình tái cơ cấu đầu tư công, Chính phủ cần có phương án vốn đặc biệt tham gia vào các dự án lớn có tính lan tỏa, kịp giải quyết tình trạng ùn tắc và nâng cao năng lực thông qua của hệ thống KCHT giao thông
TS Nguyễn Thị Mỹ Linh (2016), "Giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng tại thành phố Cần Thơ" [35]
Nghiên cứu cho thấy, nguồn vốn đầu tư cho KCHT của thành phố Cần Thơ thời gian qua chủ yếu được phân bổ từ ngân sách nhà nước và vốn ODA, một phần nhỏ được đóng góp bằng nguồn vốn xã hội hóa trong dân cư qua các dự án được triển khai Trong khi đó, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn chưa có hoặc cũng chỉ trên cam kết và thiếu vắng nguồn vốn từ phát hành trái phiếu chính
Trang 32quyền địa phương Từ thực tế trên, bài viết đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư cho phát triển KCHT tại thành phố Cần Thơ
PGS, TS Trần Kim Chung (2017), "Giải pháp vốn cho phát triển cơ sở hạ
tầng gắn với tái cơ cấu đầu tư" [7]
KCHT, phát triển KCHT và vốn đầu tư phát triển KCHT là một vấn đề hết sức quan trọng Có nhiều giải pháp vốn cho phát triển KCHT giai đoạn 2016-2020, tuy nhiên, các giải pháp truyền thống về tăng các yếu tố nguồn đầu tư công hiện đã gặp trở ngại do ngân sách Việt Nam không thể mở rộng đầu tư KCHT Vì vậy, nguồn đầu tư KCHT trong giai đoạn tới phải chủ yếu dựa vào các nguồn vốn trong nước khác với truyền thống Tác giả đã đề xuất khai thác các nguồn vốn cho KCHT ngoài các nguồn vốn truyền thống như: nguồn vốn từ việc thoái vốn từ các doanh nghiệp nhà nước; nguồn vốn từ huy động nguồn lực đất đai bất động sản; nguồn vốn từ hợp tác công tư (PPP), nhất là từ tư nhân trong nước Các nguồn vốn này có tiềm năng rất lớn nếu huy động được vào phát triển KCHT thì giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và sớn hoàn thiện hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại Tuy nhiên, để huy động những nguồn lực này, theo tác giả cần sớm ban hành và thể chế hóa Luật Đầu tư phát triển KCHT để làm cơ sở cho việc thu hút các nguồn vốn mới; đặc biệt là phải xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tăng cường huy động vốn từ thoái vốn từ các doanh nghiệp nhà nước, từ nguồn lực đất đai bất động sản và hợp tác công tư (PPP)
1.3 TỔNG QUAN KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN ĐƯỢC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN
1.3.1 Tổng quan kết quả đã đạt được của các công trình liên quan đến
đề tài luận án
Hệ thống KCHT nông thôn đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, thu nhập và đời sống cho người dân khu vực nông nghiệp, nông thôn Các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài đã bàn rất nhiều về huy động nguồn lực tài chính cho nông nghiệp, nông thôn nói chung và về huy động vốn phát triển KCHT nông thôn Tựu chung lại, những công trình nghiên cứu này đã làm rõ những vấn đề sau:
Trang 331.3.1.1 Về mặt lý luận
Thứ nhất, các công trình đã làm khá rõ những vấn đề lý luận về KCHT nông
thôn, bao gồm: tiếp cận khái niệm theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp; cách phân loại, tiêu chí nhận diện về KCHT nông thôn; đặc trưng của từng loại hình KCHT nông thôn
và những tác động của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn
Thứ hai, những vấn đề lý luận về huy động vốn cho phát triển KCHT nông
thôn được các công trình đề cập chi tiết, cụ thể: đặc trưng của nguồn vốn huy động cho phát triển KCHT nông thôn; những nguồn vốn truyền thống và các hình thức huy động vốn mới cho KCHT nông thôn trong điều kiện nguồn lực công hạn hẹp
Thứ ba, các nghiên cứu đã đặt nền móng cho các lý thuyết về cung cấp các
nguồn tài chính cho phát triển KCHT nông thôn, trong đó nhà nước là người vừa cung cấp nguồn tài chính mục tiêu vừa kiến tạo, thu hút các nguồn tài chính tư nhân cho phát triển KCHT nông thôn Các chủ thể tài chính tư nhân hoạt động theo các quy luật kinh
tế, lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo hoạt động nên các khoản tín dụng được cung cấp
từ những hộ gia đình, tổ chức, doanh nghiệp cho phát triển KCHT nông thôn cần phải thực hiện các cam kết chặt chẽ và được chi trả tối thiểu để bảo đảm lợi ích cho các bên
Thứ tư, một số công trình nghiên cứu về huy động vốn phát triển KCHT nông
thôn đã đề cập đến việc đầu tư KCHT trong điều kiện xây dựng NTM, hiện đại: yêu cầu
về KCHT NTM, các nguồn vốn huy động cho KCHT NTM, những quan điểm, giải pháp
và những mô hình huy động vốn cho phát triển KCHT NTM ở Việt Nam
Thứ năm, mô hình hợp tác công tư trong phát triển KCHT được các công
trình phân tích khá rõ, mang hàm ý chính sách quan trọng đối với thu hút đầu tư phát triển KCHT ở những khu vực nông thôn kém phát triển hơn
1.3.1.2 Về thực tiễn
Một là, dựa trên phân tích các số liệu cụ thể, các công trình nghiên cứu đã làm
rõ ảnh hưởng của phát triển KCHT nông thôn đến năng suất nông nghiệp, thu nhập của người nông dân và việc thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững ở nông thôn
Hai là, các công trình nghiên cứu đã phân tích, đánh giá thực trạng huy động
vốn cho phát triển KCHT nông thôn ở cả hai nhóm nước: nhóm các nước phát triển
và nhóm các nước đang phát triển Qua đó, cho thấy nhu cầu về huy động vốn phát
Trang 34triển KCHT nông thôn vẫn cao hơn khả năng đáp ứng của khu vực công, nhưng do đặc điểm của KCHT nông thôn khó thu hút được sự tham gia của khu vực tư nhân
Ba là, việc nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia về huy động vốn từ khu
vực tư thông qua hợp tác công tư đã cung cấp cho luận án những khuyến nghị, gợi ý chính sách nhằm thực hiện các phương thức huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn đáp ứng các mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững
1.3.2 Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Các công trình nghiên cứu được thống kê ở trên đã đưa ra những khuyến nghị, giải pháp, chính sách huy động vốn cho phát triển KCHT nông thôn Tuy nhiên, song, các giải pháp truyền thống về tăng nguồn đầu tư công hiện đã gặp trở ngại do ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng một phần nhu cầu đầu tư KCHT nông thôn; vốn đầu tư nước ngoài vào KCHT nông thôn là rất thấp; vấn đề cải thiện năng lực, hiệu quả đầu tư các công trình hạ tầng nông thôn đòi hỏi những thay đổi căn bản từ cơ chế, chính sách Đồng thời, chưa có nhiều công trình đề cập đến huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn đồng
bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu của xây dựng NTM, trong đó có tăng cường huy động các nguồn vốn mới (vốn từ quỹ đất, vốn tư nhân, vốn hợp tác công tư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, ) ngoài các nguồn vốn từ khu vực công cho KCHT nông thôn
Đặc biệt, tỉnh Bắc Ninh với mục tiêu phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thì trở ngại lớn nhất là huy động nguồn vốn ngoài nhà nước đầu tư phát triển KCHT nông thôn thích ứng công nghệ cao Vì vậy, huy động vốn để phát triển KCHT nông thôn tỉnh Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển đồng bộ, hiện đại nông nghiệp, nông thôn là mục tiêu cụ thể mà luận án hướng đến Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung phân tích, luận giải và làm rõ những vấn đề sau:
- Hệ thống hoá và bổ sung cơ sở lý luận về huy động vốn cho phát triển KCHT nông thôn địa bàn cấp tỉnh Phân tích vai trò, các yếu tố ảnh hưởng và các phương thức huy động vốn để phát triển hệ thống KCHT nông thôn đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
- Khảo cứu những kinh nghiệm về huy động các nguồn vốn cho phát triển KCHT nông thôn ở một số quốc gia và một số địa phương để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Bắc Ninh trong huy động vốn phát triển KCHT nông thôn
Trang 35- Đánh giá thực trạng huy động các nguồn vốn để phát triển KCHT nông thôn tỉnh Bắc Ninh, từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, các nguồn tín dụng và nguồn vốn huy động từ cộng đồng, dưới góc độ kết quả đạt được, những vấn đề đặt ra và nguyên nhân
- Trình bày quan điểm và những giải pháp cơ bản để đẩy mạnh huy động vốn đáp ứng yêu cầu phát triển KCHT nông thôn tỉnh Bắc Ninh đồng bộ, hiện đại, đáp ứng mục tiêu nông nghiệp công nghệ cao
Trang 362.1.1.1 Quan niệm về kết cấu hạ tầng nông thôn
"Kết cấu hạ tầng - infrastructure" là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latinh - infrastructura - được ghép từ "Infra" (nghĩa là nền móng, nền tảng) và từ "Structura" (nghĩa là kết cấu, kiến trúc, cấu trúc) với hàm ý chỉ hệ thống các công trình vật chất kỹ thuật, xã hội nhằm phục vụ các nhu cầu có tính phổ biến của sản xuất và đời sống xã hội
Theo Raphael Henry Arndt trong tác phẩm Hiệu quả của phân bổ rủi ro trong
các dự án đầu tư tư nhân cho KCHT, KCHT được hiểu là “những nhân tố cấu trúc
nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản cho công nghiệp và tiêu dùng” [84] Nghĩa là,
KCHT là các công trình cung cấp các tiện ích căn bản, thiết yếu, phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất hàng ngày của mọi người dân cũng như các nhà sản xuất, kinh doanh như điện, nước, hệ thống xử lý rác, nước thải, hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, hàng không, cầu cống, kênh đào,
Từ điển Oxford định nghĩa: “KCHT là một thuật ngữ tổng hợp để chỉ những
bộ phận kết cấu, nền tảng cho việc phát triển nền kinh tế” [102]
Ngân hàng thế giới đã chỉ ra những lĩnh vực được xem là KCHT, bao gồm các lĩnh vực cơ bản: (1) Tiện ích công cộng (public utilities): năng lượng, viễn thông, nước sạch cung cấp qua hệ thống ống dẫn, khí đốt truyền tải qua ống, hệ thống thu gom và xử lý các chất thải trong thành phố (2) Công trình công cộng (public works): đường sá, các công trình xây dựng đập, kênh phục vụ tưới tiêu (3) Giao thông (transport): các trục và tuyến đường bộ, đường sắt, cảng cho tàu và máy bay, đường thuỷ (4) Hạ tầng xã hội (social infrastructure): các cơ sở, thiết bị và công
Trang 37trình phục vụ cho giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và triển khai công nghệ; các cơ sở y tế, bảo vệ sức khoẻ, bảo hiểm xã hội và các công trình phục vụ cho hoạt động văn hoá, xã hội, văn nghệ, thể dục thể thao [107]
EPAC (Economic Planning and Advisory Commission - Hội đồng Kế hoạch
và Tư vấn kinh tế) cho rằng KCHT là những tài sản cố định nhằm cung cấp các dịch
vụ cơ bản trong một khoảng thời gian dài và trong thời gian đó Chính phủ đóng vai trò quan trọng và thực hiện một, một vài chức năng hay tất cả các chức năng như kế hoạch, thiết kế, cấp vốn, xây dựng, vận hành và quản lý bằng pháp luật [89]
Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam định nghĩa: KCHT là tổng thể các ngành vật chất - kĩ thuật, các loại hình hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống xã hội KCHT
có hai loại: KCHT sản xuất (hay kĩ thuật) và KCHT xã hội KCHT sản xuất bao gồm đường giao thông vận tải (đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không), hồ chứa nước, cảng, cầu cống, sân bay, kho tàng, phương tiện vận tải, thông tin bưu điện, các cơ sở sản xuất và cung ứng điện, khí, nước bảo đảm điều kiện sản xuất của xã hội KCHT
xã hội bao gồm các cơ sở giáo dục, khoa học, thông tin, bảo vệ sức khoẻ, vv [110]
KCHT, về phương diện hình thái là hệ thống đường xá, cầu cống, bến cảng,
hệ thống thuỷ lợi, các công trình bệnh viện, trường học, bưu chính viễn thông,…; dưới góc độ kinh tế thị trường thì KCHT là một loại hàng hoá công cộng thiết yếu phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội; về phương diện đầu tư, KCHT chính là kết quả, sản phẩm của quá trình đầu tư được tích luỹ, gom góp qua nhiều thế hệ nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của đất nước
Vậy, KCHT chính là tổng thể các điều kiện vật chất, kỹ thuật, kiến trúc có chức
năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng nền kinh tế được diễn ra bình thường, liên tục
Đặc trưng của KCHT là: có tính thống nhất và đồng bộ giữa các bộ phận tạo thành một tổng thể vững chắc đảm bảo cho phép phát huy sức mạnh của cả hệ thống; các công trình KCHT có quy mô lớn và thường chủ yếu ở ngoài trời, bố trí rải rác trên phạm vi cả nước và chịu tác động rất lớn của tự nhiên
Tuy nhiên, hiện nay, thuật ngữ "kết cấu hạ tầng" chưa được sử dụng một cách thống nhất ở Việt Nam, cũng như chưa có một định nghĩa thống nhất cho thuật ngữ
Trang 38Trong nhiều văn bản, công trình nghiên cứu hay bài viết của một số tác giả vẫn còn có
sự nhầm lẫn về khái niệm "kết cấu hạ tầng" với thuật ngữ "cơ sở hạ tầng" Thuật ngữ
"cơ sở hạ tầng" theo chủ nghĩa Mác - Lênin là phạm trù triết học chỉ toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, phản ánh chức năng xã hội của các quan hệ sản xuất với tư cách là cơ sở kinh tế của các hiện tượng xã hội Thuật ngữ này khác biệt hoàn toàn về nội dung, ngữ nghĩa so với thuật ngữ "kết cấu hạ tầng", do đó, cần phải được thống nhất và sử dụng nhất quán trong các văn bản quy phạm pháp luật và các công trình nghiên cứu trong nước
2.1.1.2 Quan niệm về kết cấu hạ tầng nông thôn ở địa bàn cấp tỉnh
Đối với khu vực nông thôn ở địa bàn cấp tỉnh, khi nói đến KCHT cũng bao gồm hệ thống những thiết bị và công trình vật chất - kỹ thuật được tạo lập phân bố, phát triển trong các vùng nông thôn và trong các hệ thống sản xuất nông nghiệp, tạo thành cơ sở, điều kiện chung cho phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
Do đó, kết cấu hạ tầng nông thôn ở địa bàn cấp tỉnh là những cơ sở vật chất
và thiết chế cung cấp dịch vụ cho sinh hoạt kinh tế, xã hội, dân sinh trong cộng đồng làng xã ở phạm vi một tỉnh; nó bao gồm những công trình đặc trưng cho hoạt động của khu vực nông thôn trong giới hạn về địa lý và hành chính cùng với những công trình liên ngành đảm bảo cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống
KCHT nông thôn cấp tỉnh thể hiện bằng những cấu trúc, thiết bị và công trình chủ yếu sau:
- Hệ thống giao thông nông thôn trong phạm vi một tỉnh, phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa, lưu thông sản phẩm và đi lại của nhân dân địa phương đó và các khu vực lân cận Hệ thống này bao gồm hệ thống cầu, các tuyến đường liên huyện, liên xã, liên thôn, liên bản và hệ thống trang thiết bị phụ trợ (thông tin tín hiệu, biển báo, đèn đường ) Hệ thống này được ví như hệ thống “mạch máu” trong cơ thể con người, nó kết nối các quốc lộ, tỉnh lộ cùng với các tuyến đường liên huyện, liên xã, liên thôn
- Hệ thống công trình thủy lợi, thủy nông bao gồm toàn bộ các công trình thủy lợi do chính quyền địa phương cấp tỉnh quản lý như hồ đập giữ nước; hệ thống các trạm bơm tưới, tiêu; hệ thống đê sông, đê biển; hệ thống kênh mương phục vụ
Trang 39cho việc khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước (nước mặt và nước ngầm) và cho việc hạn chế những tác hại do nước gây ra đối với sản xuất, đời sống và môi trường sinh thái khu vực nông thôn
- Hệ thống điện nông thôn là toàn bộ các yếu tố vật chất - kỹ thuật làm nền tảng cho việc cung cấp điện phục vụ các hoạt động sản xuất và sinh hoạt ở địa bàn nông thôn trong tỉnh Hệ thống này bao gồm mạng lưới đường dây tải điện từ nguồn cung cấp, hệ thống các trạm hạ thế, mạng lưới phân phối và dẫn điện tới các dụng
cụ sử dụng điện
- Hệ thống thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông gồm mạng lưới bưu điện, điện thoại, internet, mạng lưới truyền thanh phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống ở địa bàn nông thôn cấp tỉnh KCHT thông tin liên lạc hiện đại bao gồm các mạng viễn thông cơ bản, các tiêu chuẩn về trao đổi dữ liệu và một số phần mềm để đảm bảo sự vận hành liên tục của toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc trong tỉnh, có kết nối ở phạm vi cả nước và quốc tế
- Hệ thống cung cấp nước sạch và xử lý nước thải ở khu vực nông thôn Hệ thống cấp nước là tập hợp các công trình kỹ thuật dùng để thu, xử lý, dự trữ, điều hòa vận chuyển và phân phối nước đến các đối tượng sử dụng Hệ thống thoát nước là tập hợp gồm những công cụ, đường ống, và những công trình thực hiện 3 chức năng thu, vận chuyển, xử lý nước thải trước khi xả ra nguồn
- Hệ thống KCHT xã hội gồm các trường học và cơ sở đào tạo nghề cho người lao động, hệ thống chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn, hệ thống các công trình văn hoá, thể thao ở nông thôn… và các trang, thiết bị đồng bộ với chúng phục
vụ cho hoạt động văn hóa, nâng cao dân trí, văn hoá tinh thần của dân cư địa bàn nông thôn trong tỉnh
2.1.2 Quan niệm về vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn ở địa bàn cấp tỉnh
2.1.2.1 Quan niệm về vốn
Vốn là một phạm trù kinh tế cơ bản, chỉ khối lượng của cải mà lao động của con người tạo ra, được tích lũy lại và đưa vào quá trình sản xuất, lưu thông nhằm mục đích mang lại khối lượng của cải lớn hơn lúc ban đầu Do đó, vốn có thể tồn tại dưới hình
Trang 40thái một khối lượng tiền tệ nào đó; hoặc là toàn bộ các yếu tố đầu vào được bố trí để
sản xuất hàng hoá, dịch vụ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, chất lượng nguồn nhân lực quản lý và sản xuất của doanh nghiệp, thương hiệu của doanh nghiệp Tùy theo nhu cầu quản lý và phân tích khác nhau sẽ dẫn đến các cách hiểu và quan niệm khác nhau về vốn
Theo quan niệm của các nhà kinh tế chính trị Tư sản cổ điển, thì vốn được được hiểu thông qua thuật ngữ "tư bản", đó là số tiền mà nhà tư bản bỏ ra để đầu tư sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận Tư bản được coi là một trong bốn yếu tố sản xuất, ba yếu tố còn lại là đất đai, lao động và doanh nghiệp [80]
Kinh tế chính trị Mác - Lênin cũng gọi phạm trù vốn dưới tên gọi là "tư bản" và cho rằng tư bản được biểu hiện bằng một lượng giá trị nhất định được đưa vào trong
sản xuất và lưu thông để tìm kiếm giá trị thặng dư: "giá trị được ứng ra lúc ban đầu
không những được bảo tồn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn cộng thêm một giá trị thặng dư, hay là đã tự tăng thêm giá trị Chính sự vận động ấy
đã biến giá trị đó thành tư bản" [9, tr.228]
Định nghĩa của Mác về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn Bản chất của vốn là giá trị và mang lại giá trị thặng dư cho người sở hữu nó trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công
Các nhà kinh tế hiện đại như Schiller, Mankiw, Begg [96], vốn đầu tư là những chi tiêu cho (việc sản xuất) xưởng máy, trang thiết bị và những công trình xây dựng mới trong một thời kỳ nhất định cộng với những thay đổi trong hàng hóa lưu kho của các doanh nghiệp được tạo ra cho khu vực kinh doanh
Ở Việt Nam, các quan niệm về vốn có sự kế thừa từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng vào điều kiện thực tiễn Theo PGS.TS Từ Quang
Phương cho rằng, vốn là một trong bốn thành tố của GDP bao gồm: Tiêu dùng, vốn
đầu tư, mua hàng của chính phủ, xuất nhập khẩu ròng, trong đó vốn đầu tư là thành
tố biến động mạnh nhất của GDP Nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển theo nghĩa hẹp là tiền vốn, theo nghĩa rộng, bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên [45, tr.101]