Luật giáo dục công bố năm 2005, điều 28.2 có ghi “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp h
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, đổi mới giáo dục phổ thông là một nhu cầu tất yếu nhằm đưa nền giáo dục nước nhà tiến kịp với các nước trong khu vực và từng bước hội nhập với thế giới Cốt lõi của đổi mới giáo dục là đổi mới chương trình SGK đổi mới cách dạy, cách học nhằm phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo của học sinh Luật giáo dục công bố năm 2005, điều 28.2 có ghi “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học làm việc nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Trong thực tế dạy học hiện nay, nhiều giáo viên đã cố gắng tạo điều kiện để học sinh tích cực học tập, được nói nhiều và làm việc nhiều hơn Tuy nhiên đó mới chỉ là những biểu hiện tích cực mang tính hình thức bên ngoài Học sinh đã tích cực thực hiện nhiệm vụ theo sự hướng dẫn, điều khiển của giáo viên nhưng chưa chủ động và thiếu sự sáng tạo còn mang tính dập khuôn, máy móc nên hiệu quả học tập chưa cao
Mặt khác “con người” là đối tượng nghiên cứu của sinh học 8 ở trường phổ
thông, một đối tượng gần gũi với học sinh là bản thân các em và bạn bè xung quanh nên các em có thể có những vốn hiểu biết thực tế, liên quan đến đời sống hoạt động hằng ngày của mình Do đó cần phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học
để học sinh chủ động tìm hiểu kiến thức và khai thác được những vốn hiểu biết có liên quan đến các kiến thức vệ sinh cùng các biện pháp rèn luyện cơ thể, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, phòng chống bệnh tật Từ đó học sinh tiếp thu bài có hiệu quả hơn và giải thích được dễ dàng những hiện tượng thường gặp trong đời sống
Vậy vấn đề đặt ra với giáo viên là làm thế nào để mỗi bài học trở thành sự đam mê, thích thú, sự mong ước được tìm hiểu khám phá của mỗi học sinh Phải làm sao cho mỗi tiết học trên lớp trở thành 45 phút say sưa, sôi nổi, hào hứng Trong tiết học đó, học sinh phải phát huy cao độ tính tích cực vốn có của mình, được bộc lộ mọi năng lực của bản thân và được khẳng định mình trong các hoạt động của nhóm, hoạt động tập thể Bằng suy nghĩ tích cực, học sinh có thể tìm tòi, khám phá các kiến thức sinh học
Như vậy trong quá trình dạy học, đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải thiết kế và lên lớp mỗi giờ dạy đạt hiệu quả là góp phần thực hiện thành công đổi mới giáo dục phổ thông, qua đó tạo nên một lớp người mới, một thế hệ tương lai cho đất nước có tri thức, năng động, sáng tạo
Vì thế qua nhiều năm giảng dạy bản thân tôi suy nghĩ, người giáo viên phải làm như thế nào để có được giờ dạy trên lớp đạt hiệu quả nghĩa là giờ dạy đó phải nhẹ nhàng, kiến thức chính xác, có phương pháp phù hợp, tổ chức sáng tạo hợp lý, học sinh hoạt động tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên, đồng thời học sinh
1
Trang 2hiểu bài và vận dụng kiến thức giải thích được các hiện tượng thực tế Với những lý
do đó đã thôi thúc tôi lựa chọn đề tài “ Một số kinh nghiệm phát huy “tính tích cực”của học sinh để nâng cao hiệu quả giờ dạy sinh học lớp 8 ở trường THCS
&THPT Như Thanh”
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lý luận.
Tính tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong những nhiệm vụ tất yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục
Thuật ngữ “ tích cực học tập” đã nói lên ý nghĩa của nó: đó chính là những gì diễn ra bên trong người học Quá trình học tập tích cực nói đến những hoạt động chủ động của chủ thể - về thực chất là tích cực nhận, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
- Tích cực học tập nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng cao hiệu quả học tập
- Tích cực học tập liên quan trước hết đến động cơ học tập, động cơ đúng tạo hứng thú mà hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực Tính tích cực học tập có quan hệ chặt chẽ với tư duy độc lập Suy nghĩ, tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, học tập, độc lập tích cực, sáng tạo sẽ phát triển tính tự giác, hứng thú và nuôi dưỡng động cơ học tập
Một số biểu hiện cơ bản thể hiện tính tích cực học tập của học sinh:
- Học sinh có hứng thú học tập, tập trung chú ý tới bài học, hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên và bổ sung ý kiến của bạn
- Học sinh thích thú tham gia vào các hoạt động: Suy nghĩ, trao đổi, thảo luận, thao tác với đồ dùng học tập để lĩnh hội kiến thức, giúp đỡ nhau, có sáng tạo trong quá trình học tập
- Học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập được giao, hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình
- Biết vận dụng tri thức thu được vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
Do đó để nâng cao hiệu quả giờ học nói riêng và chất lượng môn sinh học nói chung, tất yếu phải phát huy được “tính tích cực” học tập, để học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức, có kỹ năng giải quyết vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu giáo dục trong giai đoạn mới
2
Trang 3II Thực trạng vấn đề
Trong thực tiễn giảng dạy môn Sinh học ở trường THCS&THPT Như Thanh
hiện nay đã và đang thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo tinh thần đổi mới của Bộ giáo dục - Đào tạo nhưng chưa thực sự rõ nét và đồng bộ Vì giáo viên chưa hiểu sâu sắc bản chất trong việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực thì phương pháp học của học sinh là mối quan tâm hàng đầu, chứ không phải chỉ cần dạy khác trước là được
- Khả năng truyền cảm khi diễn đạt của giáo viên còn có hạn chế nhất định khó lôi cuốn học sinh không gây hứng thú yêu thích học bộ môn
- Giáo viên khi lên lớp nghiên cứu bài dạy chưa kĩ, không hiểu hết thông tin ý đồ của SGK chưa khai thác hết hệ thống kênh chữ và kênh hình Từ đó việc dẫn dắt hình thành kiến thức thiếu tính hệ thống, không khắc sâu kiến thức
- Việc hướng dẫn chưa được định hướng đúng khi khai thác thông tin hệ thống câu hỏi dẫn dắt chưa được chọn lọc
- Một số tiết dạy tổ chức hoạt động nhóm còn mang tính hình thức việc điều hành của nhóm còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao
- Việc sử dụng thiết bị dạy học vẫn còn nhiều sai sót chưa phát huy hết tác dụng của ứng dụng công nghệ thông tin
Mặt khác từ xưa đến nay môn Sinh học vốn luôn được coi là môn học phụ nên ít học sinh quan tâm, không yêu thích môn học dẫn đến ngại học
- Học sinh lớp 8 đang ở độ tuổi 13-14 là độ tuổi đang có sự thay đổi nhiều về tâm sinh lý, các em thích làm người lớn, thích chứng tỏ bản thân mình điều đó cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập
- Việc sử dụng SGK, làm bài tập và chuẩn bị bài ở nhà của học sinh còn hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả giờ học
- Một bộ phận học sinh còn ham chơi, chưa có ý thức tự giác trong học tập
- Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm chất lượng rất thấp tỉ lệ học sinh yếu kém nhiều học sinh khá giỏi ít
Từ những thực trạng trên bản thân tôi xin đưa ra một số biện pháp để khắc phục và hạn chế những tồn tại với mong muốn nâng cao hiệu quả giờ học của môn sinh học nói chung và sinh học 8 nói riêng
III Các giải pháp và tổ chức thực hiện.
1 Các giải pháp
1.1 Chuẩn bị bài tốt cho mỗi giờ lên lớp:
* Chuẩn bị giáo án phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện cơ sở vật chất
Để có một tiết dạy học đem lại hiệu quả thì giáo án là điều kiện cần thiết Nếu giáo án được chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi lên lớp thì nhất định giờ dạy của giáo viên sẽ chủ động, tự tin linh hoạt và phát huy được tính tích cực của học sinh
* Khi soạn bài cần chú ý những vấn đề sau:
3
Trang 4- Xác định mục tiêu bài học: Mục tiêu của bài học phải xác định cho người học, cần
cụ thể mức độ cần đạt được đối với chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ và phát triển
tư duy của học sinh ở ba mức độ cụ thể là: nhận biết, thông hiểu và vận dụng
- Thiết kế các hoạt động dạy học: Dựa vào mục tiêu bài học giáo viên phải hình dung ra bài học gồm những hoạt động nào? Mỗi hoạt động tổ chức như thế nào?
dự kiến cho mỗi hoạt động
- Lựa chọn các kiến thức cơ bản, nâng cao và cập nhật theo một cấu trúc hợp lý không nhất thiết phải thực hiện tuần tự theo SGK
- Lựa chọn các phương pháp, phương tiện gắn với từng nội dung cụ thể giúp học sinh chủ động khai thác tự chiếm lĩnh từng đơn vị kiến thức
- Chuẩn bị nội dung bài giảng theo hệ thống câu hỏi dưới dạng các vấn đề mà giáo viên nêu ra Để thiết kế câu hỏi giáo viên phải xác định được trọng tâm kiến thức của bài học, ý đồ của người viết sách Trong mỗi giáo án phải thể hiện được phương pháp rõ ràng phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh và làm nổi bật được các hoạt động giữa thầy và trò
- Soạn hệ thống câu hỏi và phiếu học tập phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau và mức độ kiến thức
+ Các câu hỏi cần ngắn gọn rõ ràng gây hứng thú, thu hút chú ý lắng nghe của học sinh
+ Về nội dung câu hỏi phải rèn được Trí thông minh, phát huy được tư duy độc lập
và sáng tạo
+ Câu hỏi phải có sự vận dụng tri thức đã học, để giải quyết những vấn đề của thực tế
- Làm việc trên máy tính với các phần mềm tin học tạo ra các thông tin có tính hệ thống trên các slide( thông tin trình chiếu)
- Sưu tầm thu thập các thông tin cần thiết như hình ảnh video hay những tin tức có tính thời sự, phù hợp với nội dung bài học đưa vào bài giảng làm tăng tính hấp dẫn của giờ học Tạo các hiệu ứng trên các “slide” để khi trình chiếu các kiến thức, các câu hỏi hình ảnh lần lượt được hiện ra theo đúng ý tưởng ban đầu
* Chuẩn bị thiết bị dạy học:
Để chuẩn bị tốt thiết bị và phương tiện dạy học cho một tiết học thì giáo viên cần nắm chắc kiểu bài mình đang dạy Từ đó chuẩn bị đúng loại thiết bị theo nội dung bài học
4
Trang 5- Phải nghiên cứu trước các nội dung thông tin có ở tranh ảnh, hình vẽ để hưóng dẫn học sinh tìm hiểu
- Tranh ảnh đồ dùng phải đảm bảo tính chính xác khoa học
- Kết hợp tốt giữa các thiết bị dạy học với các phương tiện dạy học hiện đại (như băng hình, máy chiếu…) nhằm tạo hứng thú trong học tập của học sinh
* Hướng dẫn học sinh chuẩn bị ở nhà
- Để học sinh chủ động khai thác thông tin hình thành kiến thức một cách thực tế đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu và chuẩn bị bài ở nhà chu đáo Do vậy để bài học thành công thì bài học trước đó giáo viên phải hướng dẫn học sinh xem lại những kiến thức có liên quan đã học để phục vụ cho bài học Nếu học sinh làm tốt các yêu cầu của giáo viên chắc chắn các em sẽ có hứng thú trong học tập
Tóm lại công tác soạn giáo án có tầm quan trọng đặc biệt nó quyết định thành công hay thất bại của giờ học trên lớp Nó chính là bản hướng dẫn hành động cho người giáo viên Do vậy không được xem thường qua loa máy móc, xa rời đối tượng học sinh, điều kiện cơ sở vật chất hiện có
1.2 Giáo viên phải có phong cách diễn đạt có tính truyền cảm, gây hứng thú
Để làm được điều này giáo viên phải thường xuyên có ý thức luyện nói, tránh dùng từ địa phương Đặc biệt là lúc giáo viên giảng thì không nên nói nhiều
mà cần nói ngắn gọn, trọng tâm Đồng thời kết hợp tốt với phương pháp hỏi đáp, tạo những điểm nhấn nhất định khi kết hợp giảng với hỏi đáp, để tạo ra sự chú ý và gây hứng thú trong học tập đối với học sinh
- Những cử chỉ của người giáo viên như điệu bộ, nét mặt cử chỉ dáng đi sự di chuyển trên lớp đều phải hợp lý
Như vậy trong khi lên lớp người giáo viên phải biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ nói với cử chỉ để tạo ra một phong thái nhẹ nhàng Đây chính là yếu
tố đầu tiên tác động vào tâm lý người học tạo ra sự hưng phấn trong học tập cuốn hút sự chú ý trong học tập của học sinh
1.3 Giáo viên cần phải có kỹ năng sư phạm vững vàng, có nghệ thuật trong dạy học
- Có kiến thức sư phạm vững vàng là người có năng lực tổ chức các hoạt động học
tập của lớp học một cách khoa học sinh động, không chồng chéo, vòng vo, hoạt động của thầy và trò diễn ra nhịp nhàng tạo tâm lý học tập thoải mái nhưng hiệu quả từ phía người học
5
Trang 6- Có kiến thức sư phạm tốt giúp giáo viên nắm chắc các yêu cầu, nguyên tắc sử dụng thiết bị dạy học, các thao tác biểu diễn trực quan chính xác (không thiếu ,không thừa ) đảm bảo đúng quy trình, có tính mô phạm cao
- Phải thông hiểu được kiến thức của sách giáo khoa, từ đó nắm được ý đồ của SGK
- Lựa chọn các kiến thức cơ bản, nâng cao cập nhật, vận dụng và phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học phù hợp với từng loại kiến thức( Hình thái giải phẫu, sinh lý ) đòi hỏi phải có nghệ thuật dạy học
Ví dụ: Khi biểu diễn các thí nghiệm chứng minh kiến thức sinh lý thì cần phải phối hợp giữa việc quan sát với tư duy lôgic do vậy khi HS quan sát người giáoviên phải đưa ra hệ thống câu hỏi vừa định hướng sự quan sát vừa thúc đẩy tư duy
- Có kỹ năng sư phạm tạo cho người thầy xử lý linh hoạt các tình huống trên lớp một cách uyển chuyển có nghệ thuật, không cứng nhắc, đồng thời tạo ra các tình huống mới hấp dẫn, lôi cuốn học sinh từ đó giúp học sinh tìm hiểu kiến thức
2 Biện pháp tổ chức thực hiện
2.1 Nêu rõ mục tiêu bài học cho học sinh trước khi giảng bài mới.
- Đối với người học: Mục tiêu được xác định rõ ràng sẽ giúp học sinh có khái niệm
rõ ràng về những điều mà học sinh phải đạt được để có cố gắng nỗ lực phấn đấu đạt tới
- Đối với người dạy: Khi mục tiêu được xác định rõ ràng sẽ giúp giáo viên luôn bám sát những điều mà họ phải dạy luôn luôn nhắc nhở họ phải dạy chính xác những điều mà học sinh cần đạt chứ không dạy miên man tuỳ tiện
- Đối với việc đánh giá kết quả học tập của học sinh thì khi mục tiêu học tập được xác định rõ ràng sẽ là chuẩn để học sinh tự đánh giá được mình và giúp giáo viên đánh giá kết quả học tập của học sinh được dễ dàng và chính xác hơn
2.2 Mở đầu bài giảng và chuyển tiếp một cách hấp dẫn
Trong bài giảng điều gây ấn tượng nhất là mở đầu bài giảng trong vài phút ngắn ngủi nếu ta mở đầu bài tốt sẽ thực sự gây chú ý, hứng thú cho học sinh Vậy làm thế nào để mở bài cho tốt? Muốn mở bài tốt giáo viên phải xác định mục tiêu bài học sau đó suy nghĩ để có thể mở bài một cách ngắn gọn nhưng trong đó phải thiết lập được mối quan hệ giữa những điều đã biết qua bài học cũ, qua thực tế với bài mới đồng thời đưa ra mục tiêu bài học nhằm kích thích trí tò mò, khao khát tìm hiểu những điều mới lạ đang sắp mở ra trước mắt
Ngoài ra khi mở bài cần chú ý thiết lập mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh Tạo được không khí thân thiện, cởi mở ngay từ đầu giữa người dạy và người
6
Trang 7học từ đó người học ý thức được vai trò của mình, tham gia vào bài học một cách
tự tin phấn khởi
2.3 Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ các phương pháp dạy học.
Việc sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ các phương pháp dạy học đặc thù môn sinh học mang lại hiệu quả rất cao trong việc tạo sự chú ý học tập, gây hứng thú cho học sinh tự lực tìm tòi phát hiện kiến thức
- Công nghệ thông tin có thể làm động hoá các sơ đồ tranh vẽ vì vậy giúp học sinh
dễ dàng quan sát và tìm tòi kiến thức một cách nhanh chóng
Ví dụ: Bài 6 “ Phản xạ” có hình vẽ 6.2 mô tả cung phản xạ nếu chúng ta sử dụng CNTT để làm động hoá sơ đồ này sẽ giúp học sinh dễ dàng thấy được đường đi của xung thần kinh trong một cung, các thành phần của một cung phản xạ
+ Bài 47: “ Đại não” tìm hiểu cấu tạo của Đại não nhìn từ các phía có thể sử dụng hiệu ứng của phần mềm “Power” để làm xuất hiện dần các khe các rãnh đường liên bán cầu sẽ giúp học sinh dễ dàng thu nhận các thông tin về cấu tạo của Đại não
- Công nghệ thông tin cung cấp thêm những đoạn “Video” về cấu tạo hoạt động của các cơ quan nhằm khắc phục hạn chế của SGK chỉ có thể mô tả được hoạt động của các cơ quan, các quá trình sinh lý của cơ thể bằng kênh chữ và hình ảnh tĩnh
Ví dụ: Khi nghiên cứu các loại khớp xương, giáo viên phải làm cho học sinh thấy được dựa vào khả năng cử động của các loại khớp mà người ta chia thành ba loại khớp
Như vậy nếu sử dụng hình vẽ SGK chỉ mô tả được khả năng cử động của các khớp Khi dùng máy chiếu cho học sinh xem những đoạn “video clip” và mô tả hoạt động của từng loại khớp học sinh sẽ tìm hiểu được những kết luận cần thiết
2.4 Xây dựng phiếu học tập và câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra đánh giá
Đánh giá là một khâu quan trọng trong bài dạy vì nó giúp giáo viên có thông tin phản hồi về mức độ mà học sinh đạt được so với mục tiêu đề ra Mặt khác qua đánh giá giáo viên có thể có được thông tin về phương pháp dạy học của mình có hợp lý hay không để kịp thời điều chỉnh
Có nhiều cách đánh giá khác nhau nhưng sử dụng phiếu học tập và câu hỏi trắc nghiệm có nhiều thuận lợi ít tốn thời gian, đảm bảo tính khách quan công bằng trong đánh giá
Các dạng bài tập sinh học là nội dung chủ yếu của các phiếu học tập Bài tập cần soạn thật cô đọng và nên trình bày dưới dạng bảng thống kê, so sánh, các kiểu bài làm trắc nghiệm, bài so sánh, phân loại, có các khoảng trống dành cho học sinh
7
Trang 8điền tiếp vào Phiếu học tập giúp ích nhiều cho việc thực hiện các yêu cầu đòi hỏi học sinh suy nghĩ nhiều hơn Đồng thời nó cho phép tôi kiểm tra được kết quả và khối lượng công việc của học sinh Để làm được công việc này tôi cũng cần phải chuẩn bị trước nội dung của phiếu học tập để phát đến học sinh
2.5 Tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm nhỏ có hiệu quả
Trong hoạt động nhận thức nỗ lực của mỗi cá nhân là chưa đủ, cần có sự tham
gia của nhiều người do đó cần phải tổ chức cho học sinh hoạt động hợp tác theo nhóm nhỏ
Hình thức dạy học này tạo điều kiện cho nhiều học sinh được trực tiếp tham gia vào hoạt động học tập, có điều kiện được bộc lộ những suy nghĩ, lập luận, lí giải một vấn đề trong thảo luận, tranh luận để tìm ra chân lí Đây là dịp học sinh được tập dượt sử dụng ngôn ngữ khoa học trong lúc giao tiếp, là dịp để nâng cao năng lực tự đánh giá khi đối chiếu ý kiến của mình trong lúc lắng nghe ý kiến phát biểu của bạn, kết luận của thầy từ đó để tự điều chỉnh, để chính xác hoá những hiểu biết của bản thân giúp học sinh phát triển Hình thức học tập theo nhóm được tổ chức tốt sẽ
có ý nghĩa rất tích cực tạo điều kiện cho người tham gia, tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được học hỏi kiến thức từ các bạn, phát triển cho học sinh các kỹ năng cá nhân, kỹ năng xã hội ( như nghe, nói tranh luận ) hiểu thêm về bản thân (tự đánh giá) về bạn bè thông qua việc trao đổi, chia sẻ học hỏi lẫn nhau Biết lắng nghe, làm theo quy định sự phân công của nhóm, tạo điều kiện cho mỗi người có thể tự thích ứng dần với sự phân công lao động hợp tác của cộng đồng trong tương lai
2.6 Vận dụng kiến thức môn học giúp học sinh giải quyết các vấn đề thực tế.
Vận dụng kiến thức môn học giải quyết những vấn đề thực tế tạo điều kiện cho học sinh chủ động tìm hiểu vấn đề, phát huy được tính tích cực, sáng tạo để giải quyết vấn đề Từ đó học sinh khắc sâu kiến thức đã được học trên lớp
3 Ví dụ soạn giảng theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
Ví dụ: Bài 52: : Phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện
Bài phản xạ không điều kiện và phản xạ có đều kiện là bài vừa dài lại vừa khó kiến thức được trình bày dưới dạng kênh chữ và kênh hình Do đó nếu giáo viên không chuẩn bị kỹ về kiến thức, không có phương pháp phù hợp sẽ dẫn đến tình trạng học sinh hiểu bài một cách hời hợt, không thấy được bản chất, cơ sở khoa học của phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện Bởi vậy tôi đưa ra hướng soạn giảng có thể phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học như sau
I Mục tiêu:
Học xong bài này học sinh đạt được
8
Trang 91 Kiến thức:
- Học sinh hiểu và trình bày được khái niệm phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện Phân biệt được phản xạ có điều kiện và phản xạ không điều kiện và mối quan hệ
- Trình bày được quá trình hình thành phản xạ mới và ức chế phản xạ cũ
- Nêu được điều kiện cần để thành lập PXCĐK và ý nghĩa của nó
2 Kỹ năng:
Rèn kỹ năng quan sát, phân tích, so sánh, liên hệ thực tế
3 Thái độ:
Có ý thức học tập, rèn luyện nghiêm túc, chăm chỉ
4 Năng lực:
Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy, năng lực quan sát, năng lực phân loại…
II/ Chuẩn bị:
- Tranh vẽ hình 52.1 – 3, phiếu học tập theo nội dung bài học( Bảng 52.1)
- Máy chiếu, tài liệu có liên quan
III/ Tiến trình bài dạy:
1 Kiểm tra bài cũ: Em hãy nhắc lại phản xạ là gì? Lấy ví dụ về phản xạ
2 Đặt vấn đề: Hằng ngày chúng ta có rất nhiều hoạt động nhằm thích nghi với
môi trường sống Tất cả các hoạt động đó đều là phản xạ của cơ thể Tuy nhiên tất
cả các phản xạ có thể khác nhau về bản chất Vậy có những loại phản xạ nào? Chúng khác nhau ở đặc điểm gì? Có ý nghĩa như thế nào đối với con người? Để hiểu được điều đó hôm nay cô và các em chúng ta cùng nghiên cứu nội dung bài học:
3 Nội dung bài mới:
Hoạt động 1: Khái niệm phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện
Thông thường ở phần này giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thành bảng 52-1 để từ
đó làm cơ sở rút ra khái niệm về PXKĐK và PXCĐK Tôi thấy một sự nghịch lý là học sinh chưa hề có kiến thức về phản xạ không điều kiện cũng như phản xạ có điều kiện thì học sinh lấy cơ sở nào để xác định trong các ví dụ về phản xạ ở bảng 52-1 Dạy như thế là chưa đúng với phương pháp dạy khái niệm sinh học Bởi vì học sinh chưa hề có kiến thức về phản xạ không điều kiện, cũng như phản xạ có điều kiện thì học sinh lấy cơ sở nào để xác định các ví dụ phản xạ ở bảng 52-1 là PXKĐK không điều kiện, hay phản xạ có điều kiện Mặt khác mục đích ý đồ của SGK việc xác định các ví dụ trong bảng 52-1 là để học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức Như vậy nếu giáo viên không đầu tư suy nghĩ dạy theo trình tự SGK học sinh
9
Trang 10sẽ khó hiểu bài ít tham gia xây dựng bài dẫn đến giáo viên phải nói nhiều, không khí tiết học nặng nề, chưa phát huy được tính tích cực
Từ những tồn tại trên tôi thấy ở phần này đề cập tới kiến thức khái niệm nguồn cung cấp thông tin dưới dạng kênh chữ Để dạy phần này giáo viên nên đặt câu hỏi gợi mở nhằm huy động vốn kiến thức sẵn có của học sinh để hình thành khái niệm mới, cho học sinh xác định các ví dụ để khắc sâu kiến thức khái niệm mới được hình thành Cụ thể tôi xây dựng cách dạy phần này theo hướng như sau
Hoạt động của GV- HS
GV: Yêu cầu học sinh ví dụ về phản xạ, gợi ý
để học sinh nêu được các phản xạ có điều kiện
và ghi trên bảng theo 2 nhóm Nhóm thứ nhất
là các PXK ĐK và nhóm thứ 2 là các PXC ĐK
H: Các phản xạ trong nhóm 1 có điểm gì giống
nhau? Các phản xạ thuộc nhóm 2 có điểm gì
giống nhau
HS: Trả lời - Giáo viên dẫn dắt hình thành khái
niệm 2 loại phản xạ
H: Thế nào là phản xạ không điều kiện? Phản
xạ có điều kiện?
- Phát phiếu học tập cho học sinh làm bảng
52-1 khắc sâu kiến thức về 2 loại phản xạ
H: Theo em phản xạ tiết nước bọt khi ăn mơ và
phản xạ tiết nước bọt khi nghe hoặc nhìn thấy
quả mơ khác nhau ở điểm nào?
HS: Trả lời gv nhận xét bổ sung
Nội dung
* Kết luận:
- Phản xạ không điều kiện là phản xạ sinh ra đã có không phải trải qua quá trình học tập
- Phản xạ có điều kiện là phản
xạ được hình thành trong đời sống cá thể, là kết quả của quá trình học tập và rèn luyện
Với cách dạy như trên tôi thấy học sinh học có hứng thú trong học tập hăng say phát biểu xây dựng bài và đặc biệt đã phát huy được tính cực của học sinh trong việc tìm ra kiến thức mới, khắc sâu được khái niệm về phản xạ có điều kiện, phản xạ không điều kiện đồng thời học sinh dễ dàng nhận biết và lấy được các ví
dụ về phản xạ
Giáo viên chuyển mục 2 bằng cách đặt vấn đề: Vậy phản xạ có điều kiện được
hình thành như thế nào? Muốn thành lập phản xạ có điều kiện cần có điều kiện gì?
Hoạt động 2: Tìm hiểu sự hình thành phản xạ có điều kiện
Ở phần này đề cập tới kiến thức quá trình và nguồn cung cấp thông tin của bài chứa đựng trong chủ yếu trong kênh hình Trong ba phần của bài học thì phần
10