1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tập nhóm môn Asean

10 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 27,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước tiên cần đi khái quát về dịch vụ và thương mại dịch vụ để có thể hiểu rõ hơn về các đặc điểm của dịch vụ và thương mại dịch vụ. Cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Ngay cả Hiệp định GATS về thương mại dịch vụ của WTO cũng không đưa ra khái niệm cụ thể về dịch vụ mà chỉ liệt kê 12 ngành lớn và 155 phân ngành dịch vụ khác nhau nằm trong phạm vi điều chỉnh của Hiệp định. Tuy nhiên có thể hiểu dịch vụ là hoạt động lao động mang tính xã hội tạo ra các sản phẩm không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn tới việc chuyển quyền sở hữu, nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người.

Trang 1

I Khái quát về dịch vụ và thương mại dịch vụ

Trước tiên cần đi khái quát về dịch vụ và thương mại dịch vụ để có thể hiểu rõ hơn

về các đặc điểm của dịch vụ và thương mại dịch vụ

Cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ Ngay cả Hiệp định GATS về thương mại dịch vụ của WTO cũng không đưa ra khái niệm cụ thể về dịch vụ mà chỉ liệt kê 12 ngành lớn và 155 phân ngành dịch vụ khác nhau nằm trong phạm vi điều chỉnh của Hiệp định Tuy nhiên có thể hiểu dịch vụ là hoạt động lao động mang tính xã hội tạo ra các sản phẩm không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn tới việc chuyển quyền sở hữu, nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người

Dịch vụ có các đặc tính sau:

- Tính đồng thời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời;

- Tính không thể tách rời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia;

- Tính chất không đồng nhất: không có chất lượng đồng nhất;

- Vô hình: không có hình hài rõ rệt Không thể thấy trước khi tiêu dùng;

- Không lưu trữ được: không lập kho để lưu trữ như hàng hóa được

Thương mại dịch vụ là khái niệm chỉ các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch

vụ Hoạt động sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận Hoặc là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất, cung ứng đến tiêu thụ dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời

Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Hiệp định GATS, các hoạt động thương mại dịch vụ trong phạm vi quốc tế được thực hiện theo 4 phương thức:

- Phương thức 1 (Mode 1) - Cung cấp dịch vụ qua biên giới: Dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của quốc gia thành viên này sang lãnh thổ của quốc gia thành viên khác Trong phương thức này, chỉ có bản thân dịch vụ dịch chuyển qua biên giới còn nhà cung cấp không có mặt tại quốc gia tiếp nhận dịch vụ

Trang 2

- Phương thức 2 (Mode 2)- Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài: Người tiêu dùng dịch

vụ là công dân của quốc gia thành viên sử dụng dịch vụ tại lãnh thổ quốc gia thành viên khác

- Phương thức 3 (Mode 3)- Hiện diện thương mại: Người cung cấp dịch vụ thiết lập sự hiện diện thương mại của mình ở nước ngoài dưới hình thức như văn phòng đại diện, chi nhánh nhằm cung cấp dịch vụ tại quốc gia đó Phương thức này liên quan trực tiếp đến việc đầu tư tại thị trường quốc gia khác để thiết lập công việc kinh doanh

- Phương thức 4 (Mode 4) - Hiện diện thể nhân: Công dân của một quốc gia thành viên trực tiếp có mặt và cung cấp dịch vụ tại quốc gia thành viên khác

Xuất phát từ đặc điểm dịch vụ có tính vô hình, không thể sử dụng các giác quan để cảm nhận được dịch vụ, không cầm, nắm được, phải trực tiếp tiêu dùng mới cảm nhận được dịch vụ nên các quy định để điều chỉnh hoạt động thương mại dịch vụ cũng khác biệt so với thương mại hàng hoá và việc xóa bỏ các rào cản dịch vụ cũng gặp nhiều khó khăn hơn Nếu như trong thương mại hàng hoá, thuế quan được coi như rào cản chủ yếu mà các quốc gia thường dùng để bảo hộ hàng hoá và nền sản xuất trong nước thì đối với thương mại dịch vụ, rào cản thuế quan gần như không có ý nghĩa Để hạn chế hoạt động của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài

và bảo hộ các nhà cung cấp dịch vụ trong nước, các quốc gia thường sử dụng biện

pháp để hạn chế các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tại hai thời điểm: Thứ nhất,

khi nhà cung cấp dịch vụ muốn được phép cung cấpdịch vụ và/hoặc muốn có mặt

tại nước chủ nhà để cung cấp dịch vụ Thứ hai, sau khi nhà cung cấp dịch vụ nước

ngoài đã được phép cung cấp dịch vụ và/hoặc đã có mặt tạinước tiếp nhận dịch vụ Tương ứng với hai thời điểm nói trên, các quốc gia thường áp dụng hai loại biện pháp để bảo hộ các nhà cung cấp dịch vụ trong nước: các biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường và các biện pháp phân biệt đối xử Các rào cản về mở cửa thị

trường, hạn chế khả năng tiếp cận thị trường được WTO quy định rõ ràng trong Khoản 2 Điều XVI Hiệp định GATS:

"Trong những lĩnh vực đã cam kết mở cửa thị trường, các Thành viên không

đượcduy trì hoặc ban hành những biện pháp sau đây, dù là ở quy mô vùng hoặc trên toànlãnh thổ, trừ trường hợp có quy định khác trong Danh mục cam kết: (a) hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ dù dưới hình thức hạn ngạch theo sốlượng,

Trang 3

độc quyền, toàn quyền cung cấp dịch vụ hoặc yêu cầu đáp ứng nhu cầu kinh tế;(b) hạn chế tổng trị giá các giao dịch về dịch vụ hoặc tài sản dưới hình thức hạnngạch theo số lượng, hoặc yêu cầu phải đáp ứng nhu cầu kinh tế;(c) hạn chế tổng số các hoạt động dịch vụ hoặc tổng số lượng dịch vụ đầu ra tínhtheo số lượng đơn vị dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu về nhu cầu kinh tế;(d) hạn chế về tổng số thể nhân có thể được tuyển dụng trong một lĩnh vực dịch vụcụ thể hoặc một nhà cung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng cần thiết hoặc trực tiếp liên quan tới việc cung cấp một dịch vụ cụ thể dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầuvề nhu cầu kinh tế;(e) các biện pháp hạn chế hoặc yêu cầu các hình thức pháp nhân cụ thể hoặc liêndoanh thông qua đó người cung cấp dịch vụ có thể cung cấp dịch vụ; (f) hạn chế về tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài bằng việc quy định tỷ lệ phần trămtối

đa cổ phần của bên nước ngoài hoặc tổng trị giá đầu tư nước ngoài tính đơn hoặctính gộp."

Để thực hiện tự do hóa thương mại dịch vụ sẽ phải hạn chế hoặc tiến tới xóa bỏ hai loại rào cản này Năm 1995, Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) ra đời nhằm bổ sung tự do hóa thương mại dịch vụ cho AFTA, đẩy nhanh sự gia tăng và hòa nhập nội khối ASEAN đối với lĩnh vực dịch vụ AFAS dựa trên những nguyên tắc của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của tổ chức thương mại thế giới (WTO), song so với GATS, AFAS loại bỏ nhiều hơn các hạn chế đối với thương mại dịch vụ, qua đó tăng cường mức độ cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ trong khu vực Mục tiêu hướng tới của AFAS là:

- Đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ ngay tại các quốc gia thành viên

ASEAN để nâng cao tính hiệu quả và khả năng cạnh tranh ngành dịch vụ ASEAN,

đa dạng hóa năng lực sản xuất, nguồn cung và phân phối dịch vụ;

- Xóa bỏ rào cản thương mại trong lĩnh vực dịch vụ;

- Tự do hóa thương mại dịch vụ bằng việc tự do hóa sâu và rộng hơn, không chỉ dừng lại ở những dịch vụ được đề cập tới trong hiệp định thương mại chung về dịch vụ của tổ chức thương mại thế giới

Năm 2003, Nghị định thư sửa đổi Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ đã đượckí kết, tạo cơ sở cho việc áp dụng công thức –X trong việc thực hiện các cam kết về dịchvụ của các quốc gia ASEAN Theo đó, các quốc gia sẵn sàng tiến hành tự do

Trang 4

hóa đối với những ngành dịch vụ xác định và có thể thực hiện quá trình này mà không phải mở rộng các nhượng bộ đối với các quốc gia chưa tiến hành

II Bình luận về phương thức thực hiện tự do hóa thương mại của ASEAN theo quy định tại Điều 3, Điều 4 Điều 4 bis Hiệp định khung ASEAN về

thương mại dịch vụ (AFAS) năm 1995 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định thư năm 2003)

Xuất phát từ đặc trưng trong đối tượng của thương mại dịch vụ so với thương mại hàng hoá, đó là tính vô hình của dịch vụ Nên các quy định điều chỉnh hoạt động thương mại dịch vụ cũng khác biệt so với thương mại hàng hoá Nếu như trong thương mại hàng hoá, thuế quan được coi như rào cản chủ yếu mà các quốc gia thường sử dụng để bảo hộ hàng hóa và nên sản xuất trong nước thì đối với thương mại dịch vụ, rào cản thuế quan gần như không có ý nghĩa

Vì vậy, muốn hạn chế hoạt động của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và bảo

hộ các nhà cung cấp dịch vụ trong nước, các quốc gia thường sử dụng các biện

pháp để hạn chế các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tại hai thời điểm: thứ nhất,

khi nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài muốn được phép cung cấp dịch vụ và/ hoặc

muốn được có mặt tại quốc gia chủ nhà để cung cấp dịch vụ; thứ hai, sau khi nhà

cung cấp dịch vụ nước ngoài đã được phép cung cấp dịch vụ và/hoặc đã có mặt tại quốc gia chủ nhà Đối với thời điểm thứ nhất, quốc gia thường đưa ra các điều kiện

mà nếu không đáp ứng được thì nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sẽ không được phép cung cấp dịch vụ tại quốc gia chủ nhà Đây chính là các rào cản về mở cửa thị trường, hạn chế khả năng tiếp cận thị trường của các nhà cung cấp dịch vụ hoặc sản phẩm dịch vụ nước ngoài như: Các hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ, hạn chế về tổng giá trị của các giao dịch dịch vụ Đối với thời điểm thứ hai, các điều kiện được nêu ra thường là những biện pháp phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp hoặc các sản phẩm dịch vụ của quốc gia sở tại với các nhà cung cấp hoặc sản phẩm dịch vụ nước ngoài Nói cách khác, rào cản thương mại dịch vụ bao gồm

2 loại: Các biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường và các biện pháp phân biệt đối xử Như đã nói trên đây, các biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường được đưa ra và áp dụng tại thời điểm thứ nhất, khi mà các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài muốn được phép cung cấp hoặc vào nước chủ nhà để cung cấp dịch vụ Đây chính là rào cản về mở cửa thị trường đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài Bởi, theo

Trang 5

đó, chỉ khi đáp ứng được các điều kiện mà quốc gia chủ nhà quy định, các nhà cung cấp dịch vụ mới được phép vào cung cấp dịch vụ tại quốc gia này Có thể kể đến một số biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường tiêu biểu như: hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ, hạn chế về tổng giá trị giao dịch của các giao dịch dịch vụ, hạn chế hình thức hoạt động… Như nhiều quốc gia khác trên thế giới và trong khu vực, Việt Nam cũng thực hiện nhiều biện pháp để hạn chế sự có mặt của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, bảo hộ các nhà cung cấp dịch vụ trong nước Theo cách hiểu thông thường thì phân biệt đối xử là cách xử sự đối với một cá nhân hay một nhóm nhất định dựa vào sự phân loại tầng lớp hay đẳng cấp Nó bao gồm việc loại bỏ hoặc hạn chế các thành viên trong một nhóm khỏi những cơ hội

mà những nhóm khác được tiếp cận Liên Hiệp Quốc giải thích như sau: "Những hành vi phân biệt đối xử có nhiều hình thức, nhưng tất cả chúng đều có liên quan đến một số hình thức loại trừ và từ chối".

Trong thương mại dịch vụ, biện pháp phân biệt đối xử được áp dụng tại thời điểm sau khi nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đã được phép cung cấp dịch vụ và/hoặc

đã có mặt tại nước tiếp nhận dịch vụ, tức là sau khi nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đã vượtqua rào cản hạn chế khả năng tiếp cận thị trường của nước tiếp nhận dịch vụ Nếu như tại thời điểm thứ nhất, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện về số lượng các nhà cung cấp dịch vụ, giới hạn về tổng giá trị của các giao dịch dịch vụ …thì tại thời điểm này, các điều kiện được nêu ra thường

là những biện pháp phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp hoặc các sản phẩm dịch

vụ của quốc gia sở tại với các nhà cung cấp hoặc sản phẩm dịch vụ nước ngoài Sự phân biệt đối xử này thường là dành cho các nhà cung cấp hoặc sản phẩm dịch vụ nội tại những ưu tiên nhất định giới hạn một số phạm vi mà nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài không được quyền cung ứng

Do đó, để thực hiện tự do hóa thương mại dịch vụ sẽ phải hạn chế hoặc tiến tới xóa

bỏ hai loại rào cản này Cơ chế hạn chế và xóa bỏ các rào cản thương mại dịch vụ được thực hiện như sau:

- AFAS đưa ra khung pháp lý chung cho tiến trình hạn chế và xóa bỏ các rào cản thương mại

- Các văn bản pháp lý về hội nhập các ngành yêu tiên đưa ra phạm vi và lộ trình cụ thể cho các lĩnh vực dịch vụ được ưu tiên hội nhập

Trang 6

- Trên cơ sở và để triển khai cụ thể AFAS , các quốc gia thành viên sẽ tiến hành các phòng đàm phán để đưa ra các gói cam kết theo hướng ngày càng mở rộng phạm vi các lĩnh vực dịch vụ được tự do hóa đồng thời mức độ tự do hóa của từng lĩnh vực dịch vụ sẽ ngày càng được nâng cao

Theo quy định tại Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ, các quốc gia thành viên sẽ thực hiện tự do hóa thương mại dịch vụ một số đáng kể các lĩnh vực trong khoảng thời gian hợp lý bằng cách:

- Xóa bỏ đáng kể các biện pháp phân biệt đối xử và các hạn chế tiếp cận thị trường hiện tại giữa các quốc gia thành viên

- Cấm các biện pháp phân biệt đối xử và các hạn chế tiếp cận thị trường mới hoặc

có tính chất thậm chí và phân biệt đối xử hơn

- Đồng thời các quốc gia sẽ tiến hành đàm phán về các biện pháp gây ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ trong các lĩnh vực cụ thể

Đối với những ngành dịch vụ thuộc lĩnh vực ưu tiên, việc xóa bỏ các rào cản sẽ được tiến hành nhanh hơn vỡi mức độ tự do hóa cao hơn nhữn ngành dịch vụ còn lại

Các Quốc gia Thành viên sẽ tiến hành đàm phán về các biện pháp gây ảnh hưởng đến thương mại trong các lĩnh vực cụ thể Các cuộc đàm phán như vậy sẽ hướng tới đạt được các cam kết vượt trên các cam kết đã được đưa vào danh mục cam kết

cụ thể theo GATS của mỗi Quốc gia Thành viên, và các Quốc gia Thành viên sẽ dành cho nhau đối xử ưu đãi đối với các cam kết đó trên cơ sở MFN

Trải qua 5 vòng đàm phán, đến nay ASEAN đã đạt được những thỏa thuận đáng kể trong việc xóa bỏ các rào cản đối với tự do hóa thương mại dịch vụ:

- Với việc bổ xung thêm 10 phân ngành dịch vụ được mở cửa tại Vòng đàm phán thứ 5 (2007 – 2009), phạm vi các ngành dịch vụ được tự do hóa trong ASEAN đã lên 65 phân ngành như dịch vụ kiến trúc, xây dựng, dịch vụ tin học và các dịch vụ

Trang 7

khác có liên quan, nghiên cứu thị trường, quảng cáo, sản xuất phim, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ nhượng quyền thương mại …

- Đối với hai phương thức cung cấp dịch vụ đầu tiên (Mode 1 và Mode 2), ASEAN

đã đạt được thỏa thuận xóa bỏ các hạn chế về tiếp cận thị trường cũng như các biện pháp phân biệt đối xử, trừ những ngoại lệ được áp dụng hợp pháp theo những nội dung đã cam kết Nói cách khác, ngoại trừ những ngoại lệ được chấp nhận, các quốc gia ASEAN không được áp dụng các biện pháp hạn chế thị trường và phân biệt đối xử trong hai phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới và tiêu thụ dịch

vụ ở nước ngoài

- Đối với phương thức cung cấp dịch vụ thứ ba (Mode 3), hiện nay các nhà cung cấp dịch vụ của các quốc gia ASEAN được góp vốn với tỉ lệ tối thiểu 51% trong các ngành dịch vị ưu tiên và phân ngành xây dựng; 49% trong dịch vụ logistics và các ngành dịch vụ khác tại quốc gia thành viên khác trong ASEAN

Phù hợp với Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC, ASEAN sẽ tiếp tục xỏa bỏ những rào cản đối với tự do hóa thương mại dịch vụ trên cơ sở những vòng đàm phán tiếp theo với lộ trình như sau:

- Từ 2010 – 2011: Xóa bỏ về cơ bản tất cả hạn chế trong thương mại dịch vụ đối với 4 ngành dịch vụ ưu tiên hội nhập (2010); mở cửa thêm ít nhất 15 phân ngành mới; cho phép nhà cung cấp nước ngoài góp ít nhất 70% vốn trong 4 ngành ưu tiên hội nhập, 51% vốn trong dịch vụ logistics và các ngành dịch vụ khác;

- Từ 2012 – 2013: Xóa bỏ về căn bản tất cả các hạn chế thương mại dịch vụ đối với dịch vụ logistics trước 2013; mở cửa thêm ít nhất 20 phân ngành mới; cho phép nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài góp ít nhất 70% vốn trong dịch vụ logistics;

Trang 8

- Từ 2014 – 2015: Xóa bỏ về căn bản tất cả hạn chế trong thương mại dịch vụ đối với tất cả các ngành dịch vụ khác trước 2015; mở cửa thêm ít nhất 20 và 7 phân ngành mới lần lượt vào 2014 và 2015 đồng thời cho phép nhà cung cấp nước ngoài nước ngoài góp ít nhất 70% vốn trong tất cả ngành dịch vụ

Năm 2003, Nghị định thư sửa đổi Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ đã được kí kết, tạo cơ sở cho việc áp dụng công thức –X trong việc thực hiện các cam kết về dịch vụ của các quốc gia ASEAN Điều IV bis được thêm vào ngay sau Điều IV của Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ

-Điều 1 khoản 1 : “Bất kể nội dung quy định tại Điều IV của Hiệp định khung này, hai nước thành viên trở lên có thể đàm phán và nhất trí tự do hóa thương mại dịch

vụ đối với các ngành hoặc phân ngành cụ thể (sau đây gọi là “các nước thành viên tham gia”) Các ưu đãi được mở rộng cho các nước thành viên còn lại trên cơ

sở Tối huệ quốc phải được thực hiện một cách tự nguyện bởi các nước thành viên tham gia.”

Phương pháp này được dùng để mở rộng và tăng cường tự do hóa các ngành hoặc phân ngành dịch vụ, kể cả các ngành hoặc phân ngành được thỏa thuận trong khuôn khổ phương pháp phân ngành chung Các đối xử ưu đãi phải được mở rộng

áp dụng đối với các nước thành viên còn lại trên cơ sở tự nguyện một cách vô điều kiện, không phân biệt đối xử và không yêu cầu có qua có lại

- Điều 1 khoản 2 : “Các nước thành viên tham gia phải đảm bảo các nước thành

viên còn lại được thông báo thông qua Thư ký ASEAN về diễn biến và kết quả đàm phán, kể cả quá trình sắp xếp các cam kết đối với các ngành hoặc phân ngành cụ thể có liên quan Các nước thành viên muốn tham gia các đàm phán đang diễn ra giữa các nước thành viên có thể tham gia dưới sự tham vấn của các nước thành viên tham gia”.

Trang 9

Tham vấn của các nước thành viên tham gia được thực hiện nhằm mục đích tạo điều kiện và khuyến khích các nước thành viên còn lại tham gia

-Điều 1 khoản 3: “Nước thành viên không phải thành viên của bất cứ thỏa thuận nào đạt được theo quy định tại khoản 1 có thể trở thành thành viên của thỏa thuận

đó theo đúng trình tự bằng cách đưa ra đề nghị với các nước thành viên tham gia

ở mức độ tương tự hoặc mức độ có thể chấp nhận.”

Tham chiếu đến “mức độ có thể chấp nhận” ở đây chỉ áp dụng đối với các đề nghị được đưa ra bởi các nước thành viên muốn tham gia các thỏa thuận đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị định thư này mà tất cả các nước thành viên tham gia cho là có thể chấp nhận, có tính đến sự chênh lệch về phát triển cả về kinh

tế lẫn giai đoạn phát triển của một ngành cụ thể

Các nước thành viên tham gia không được yêu cầu các nước thành viên còn lại đưa

ra các cam kết ở mức độ cao hơn các cam kết tương ứng của mình trong khuôn khổ các thỏa thuận

Tại Điều 1 khoản 4 quy định các nước thành viên tham gia có thể cải biến các tham

số đối với các ngành hoặc phân ngành cụ thể được nhất trí cam kết bởi tất cả các nước thành viên tham gia nhằm mục đích tiếp tục tự do hóa thương mại dịch vụ Cuối cùng Điều 1 khoản 5 quy định tất cả các thỏa thuận đạt được theo quy định tại khoản 1 được nộp lưu chiểu cho Tổng Thư ký ASEAN, Tổng Thư ký ASEAN

có trách nhiệm nhanh chóng gửi bản sau của các thỏa thuận này cho các nước thành viên

https://123doc.org//document/5259490-binh-luan-ve-phuong-thuc-thuc-hien-tu-do-hoa-thuong-mai-dich-vu-cua-asean

http://aecvcci.vn/tin-tuc-n1634/van-kien-hiep-dinh-khung-asean-ve-dich-vu-afas-va-tom-tat.htm

Trang 10

https://asean.thuvienphapluat.vn/cong-dong-asean/cong-dong-kinh-te/Van-kien-phap-ly/dich-vu/325/330?title=vi

Ngày đăng: 29/06/2021, 20:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w