Tình hình trong nước Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủquyền nhưng chế độ phong kiến đã bộc lộ những dấu hiệu của sự khủng hoảng vàsuy yếu nghi
Trang 1TIỂU LUẬNLịch sử Việt Nam
Trang 2I.2 Sự du nhập của khuynh hướng dân chủ tư sản vào Việt Nam 14
2.1 Nguồn gốc của tư tưởng dân chủ tư sản 14
2.2 Các con đường du nhập vào Việt Nam 15
2.3 Cơ sở hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam 17
II Những phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ 21 II.1 Phong trào đấu tranh trước chiến tranh thế giới thứ nhất 21
1.2 Các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ … 23
II.2 Phong trào cách mạng sau chiến tranh thế giới thứ nhất 37
2.1 Điều kiện ra đời và phát triển của các phong trào 37
2.2 Nội dung của các phong trào yêu nước dân chủ sau chiến tranh … 42
2.2.a Phong trào ở nước ngoài 2.2.b Phong trào đấu tranh trong nước
2.3 Đặc điểm của các phong trào dân chủ sau chiến tranh thế giới … 49
II.4 Nguyên nhân thất bại của các phong trào theo khuynh… 50 II.5 Vị trí của khuynh hướng dân chủ tư sản trong cuộc … 55
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong giai đoạn cận đại, một trong những vấn đềquan trọng là việc nhìn nhận, đánh giá vị trí và vai trò của khuynh hướng dân chủ tưsản ở Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Sự tồn tại của khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam nằm trong quy luật vậnđộng của lịch sử Nó tồn tại là tất yếu và sự thất bại của nó là do đặc điểm lịch sử, đặcđiểm xã hội Việt Nam quy định Tất cả đều chịu sự chi phối của quy luật vận độngphát triển và có kế thừa, không thể phủ định sạch trơn Bên cạnh mặt hạn chế hẳn cònnhững mặt tích cực khác Do đó, khi nhận định khuynh hướng dân chủ tư sản ở ViệtNam nên có sự đánh giá khách quan, có tính đến hoàn cảnh cụ thể và phải đặt nó trongtính biện chứng lịch sử
Cũng như bên cạnh sự thất bại, không đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợicuối cùng nhưng cũng không vì thế mà phủ nhận vai trò tích cực, tính tiến bộ củakhuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam trong phong trào giải phóng dân tộc Vì nóđặt cơ sở xã hội cho sự tiếp thu tư tưởng mới-tư tưởng vô sản tiếp thu từ chủ nghĩaMác-Lênin, một tư tưởng tiến bộ của thời đại để thay đổi vận mệnh đất nước Nhờ có
sự tồn tại khuynh hướng dân chủ tư sản mới chuẩn bị được tiền đề cho sự vận độngsang một khuynh hướng mới, khuynh hướng vô sản Dân chủ bấy giờ được xác định làmột trong hai nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam
Trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, dân chủ càngđược xem là mục tiêu, là động lực cho sự công bằng, đoàn kết tạo nên sức mạnh dân
tộc, thành công cho công cuộc đổi mới Tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân muốn thực hiệnđược nhất định phải chú ý đến vấn đề dân chủ Điều đó cũng có nghĩa là một tiềmnăng kinh tế hôm nay, một môi trường chính trị ổn định hôm nay là thành quả của sự
kế thừa, phát triển tư tưởng dân chủ trong khuynh hướng dân chủ tư sản cuối thế kỉXIX đầu thế kỉ XX
Giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến trước năm 1930, có nhiều phong trào đấu tranhchống Pháp nổ ra mang khuynh hướng dân chủ tư sản biểu hiện dưới nhiều hình thức
Trang 4phong phú, đa dạng Các phong trào diễn ra sôi nổi thể hiện sự khao khát giải phóngdân tộc thay đổi số phận hiện tại của đất nước Đồng thời là sự biểu hiện cụ thể củatinh thần yêu nước Việt Nam.
Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn nuôi dưỡng âm mưu chống phá hòng tiêu diệtchế độ xã hội chủ nghĩa nước ta Do đó, vấn đề khẳng định, phát huy chủ nghĩa yêunước hơn bao giờ hết càng giữ một vị trí quan trọng
Tìm hiểu khuynh hướng dân chủ tư sản ở nước ta để thấy sự chuyển biến của conđường giải phóng dân tộc, thấy được sự hy sinh, đóng góp của các bậc tiền bối trongquá trình mày mò tìm giải pháp cứu nước Đó là một chặng đường dài để thấy rằng giátrị của nền độc lập hôm nay cao quý biết nhường nào, góp phần thức tỉnh ý thức dântộc, dân chủ trong việc góp công giữ gìn độc lập, phát huy những thành tựu đã dàycông đạt được
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
I Quá trình hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam I.1 Hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
1.1 Tác động của hoàn cảnh quốc tế đến Việt Nam
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thế giới có nhiều sự kiện quan trọng tác độngmạnh mẽ đến sự chuyển biến của cách mạng Việt Nam
Thời gian này, hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới chuyển từ tự docạnh tranh sang giai đoạn cao hơn của nó, đó là chủ nghĩa đế quốc Vì vậy nhu cầu
về thị trường, nguyên liệu và nhân công ngày càng trở nên bức thiết Do đó, chúng
đẩy mạnh quá trình xâm lược thuộc địa sang các nước phương Đông Công việc “săn
tìm” thuộc địa lúc bấy giờ không còn là công việc của giai cấp tư sản hay võ quan
hiếu chiến nữa mà đã trở thành đường lối chung của nhà nước tư sản Việt Nam cũngkhông nằm ngoài quỹ đạo xâm lược thuộc địa của các nước đế quốc
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX còn có một số biến cố lớn ảnh hưởng sâu sắcđến cuộc vận động cách mạng và đấu tranh tư tưởng ở Việt Nam Đặc biệt là phongtrào Duy Tân Minh Trị ở Nhật Bản năm 1868, và cuộc vận động biến pháp ở TrungQuốc dẫn đến cách mạng Tân Hợi năm 1911
Nhật Bản trước khi cải cách Minh Trị là một nước phong kiến quân chủ “bế
quan tỏa cảng” như Việt Nam Bước sang thế kỉ XVIII, sự phát triển nội tại của Nhật
Bản đã làm cho những mầm mống chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng Đó lànhững hải cảng, công trường thủ công xuất hiện ngày càng nhiều ở thành thị, kinh tếhàng hóa phát triển Tầng lớp Samurai (võ sĩ) thuộc thế giới quý tộc hạng trung vàhạng nhỏ, không có ruộng đất chỉ phục vụ các Đaimiô bằng việc huấn luyện và chỉhuy các đội vũ trang để hưởng bổng lộc Do một thời gian dài không có chiến tranh,địa vị của Samurai bị suy giảm, lương bổng thất thường, đời sống khó khăn, nhiềungười đã ra khỏi lãnh địa, tham gia hoạt động thương nghiệp, mở xưởng thủ công,…dần dần tư sản hoá Họ có thế lực về kinh tế nhưng không có quyền lực về chính trị,địa vị xã hội tương xứng Vì vậy tầng lớp này trở thành lực lượng đấu tranh mạnh mẽchống chế độ phong kiến lỗi thời
Trang 6Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nhu cầu thị trường đòi hỏiban đầu là xâm nhập vào các nước khác, đặc biệt là những nước phong kiến lạc hậu.Chính vì thế, Nhật Bản bị các nước phương Tây đòi mở cửa Nhật Bản đến giữa thế
kỉ XIX đã lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, với mâu thuẫn gay gắt giữa lựclượng sản xuất tư bản chủ nghĩa và quan hệ sản xuất phong kiến, giờ đây đứng trước
sự lựa chọn: hoặc duy trì chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ để các nước đế quốc sâuxé; hoặc tiến hành duy tân, đưa Nhật Bản phát triển theo con đường của các nước tưbản phương Tây Cuối cùng, nhờ có một số nhà lãnh đạo thức thời sớm tỉnh ngộtrước họa xâm lăng, đã chiến thắng các lực lượng bảo thủ trong nước, theo hướng tưbản chủ nghĩa, mặc dù còn nhiều tàn tích phong kiến Nhờ có duy tân, đổi mới, Nhật
đã trở thành nước độc lập, không những thế mà còn sớm cường thịnh và có chínhsách bành trướng thực dân
Trong thời gian này, Việt Nam đang lúng túng trước cuộc chiến tranh xâm lượccủa Pháp Đặc biệt, khi phong trào Cần Vương thất bại (1896), những người ViệtNam yêu nước đang lo tìm con đường cứu nước mới thì chiến tranh Nga-Nhật nổ ra.Nhật đại thắng, sự kiện này vang dội khắp năm châu, tác động mạnh mẽ đến các nhàyêu nước Việt Nam cũng như nhiều nhà yêu nước khác trong khu vực Châu Á Họ bỏqua bản chất đế quốc của Nhật chỉ chú ý đến việc một cường quốc da vàng đánh bạimột cường quốc da trắng Chỉ những điều đó thôi, Nhật cũng đã được tôn làm anh cả,làm đầu đàn cho Châu Á vùng lên Nhật Bản được xem là vị cứu tinh của dân tộc davàng Xu hướng thân Nhật đã phát triển ở nhiều nước châu Á như: Trung Quốc, TháiLan, Miến Điện, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam,… Bằng chứng là khi sang Nhật,Phan Bội Châu đã gặp Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu cũng đang hoạt động ởđây
Bên cạnh sự tác động của Nhật Bản thì những sự kiện ở Trung Quốc lúc bấy giờcũng tác động tới cách mạng Việt Nam
Sau chiến tranh Trung-Nhật (1895), uy thế của triều đình phong kiến MãnThanh xuống thấp Phong trào đấu tranh của nhân dân lên cao Nhiều sĩ phu tiến bộ
và trí thức tư sản Trung Quốc đã mạnh dạn đòi cải cách Họ thành lập nhiều học hội,học đường, nhà xuất bản, toà soạn,… truyền bá học thuyết mới mẻ Tiêu biểu là họchội của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (ảnh hưởng của tư tưởng quân chủ lập hiến
Trang 7trực tiếp từ Nhật Bản), Hưng Trung hội của phái trí thức Tây học do Tôn Dật Tiênđứng đầu.
Trong khuôn khổ một nước phong kiến thì đề nghị của Lương-Khang, tức cảicách đưa đất nước phát triển nhưng sự thống trị của phong kiến vẫn còn thì dễ dàngchấp nhận hơn Tháng 6 năm 1897, vua Quang Tự nghe theo Khang Hữu Vi ban bốhiến pháp Chương trình gồm 11 điểm nhưng bị phái bảo thủ do Thái hậu Từ Hyđứng đầu quyết liệt chống đối Cuộc vận động cải cách của Trung Quốc bị thất bại.Tuy nhiên những tư tưởng tiến bộ của Lương-Khang đã gây được tiếng vang lớn, ảnhhưởng sâu rộng vào nhân dân, đặc biệt là nhận thức tư tưởng thời đại Từ đây, nhữngtrào lưu tư tưởng của phương Tây dễ dàng thâm nhập vào Trung Quốc, cũng như dễdàng được tiếp nhận, và bắt đầu tấn công hệ tư tưởng phong kiến quan liêu, hủ bại,
mở đường cho tư tưởng dân chủ tư sản phát triển trong xã hội Trung Quốc Nó thứctỉnh phong trào yêu nước của nhân dân, nâng cao ý thức độc lập dân tộc chống ngoạixâm và ý thức dân chủ chống chuyên chế Cuộc đấu tranh đó dần phát triển lên caodẫn đến cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, tiến bộ ngay từ
chủ trương của Hội “đánh đổ Mãn thanh, khôi phục Trung Hoa, lập chính phủ liên
hiệp” trong khi chủ trương trước đó của Lương-Khang là áp dụng các biện pháp duy
tân nhưng còn duy trì và cải tiến chế độ phong kiến nhà Thanh
Đối với nước ta, Trung Quốc là nước láng giềng có ảnh hưởng rất sâu sắc TrungQuốc không chỉ là nước đồng văn, đồng chủng mà còn là nước cùng cảnh ngộ: chế
độ phong kiến quân chủ chuyên chế, Nho giáo là thiết chế tư tưởng, chính trị-xã hộilâu đời, và lúc bấy giờ đều bị đế quốc xâm lược,… Những biến cố về chính trị, tưtưởng ở Trung Quốc nhanh chóng dội vào Việt Nam theo từng thời kì chuyển biến rõnét Điển hình nhất là hoạt động của nhà yêu nước Phan Bội Châu Lúc Cường họchội của Lương-Khang đang có vai trò mạnh ở Trung Quốc thì ở Việt Nam là hoạt
động của Duy Tân hội tôn Ngoại hầu Cường Để lên làm hội trưởng để “thu phục
nhân tâm” Và khi cách mạng Tân Hợi nổ ra thì năm 1912, Duy Tân hội ở Việt Nam
cũng giải tán chuyển sang thành lập Việt Nam Quang phục hội với tôn chỉ “đánh
đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập cộng hòa dân quốc Việt Nam”.
Trên thế giới lúc bấy giờ còn có một sự kiện mà sự tác động của nó cũng khôngnhỏ đến cách mạng Việt Nam Đó là cao trào Châu Á thức tỉnh
Trang 8Các nước tư bản phương Tây đi xâm lược vô tình mang theo tư tưởng dân chủ,
Tự do-Bình đẳng-Bác ái (thành quả tiến bộ của các cuộc cách mạng tư sản) sang cácnước phụ thuộc và thuộc địa Chính nó là một trong những nguyên nhân lớn thúc đẩyphong trào giải phóng dân tộc, đặc biệt lúc bấy giờ ở Châu Á như: Thổ Nhĩ Kỳ,Trung Quốc, Miến Điện,…
Cao trào Châu Á thức tỉnh càng làm cho khao khát giải phóng dân tộc giành độclập dân tộc trước hết của Việt Nam thêm cháy bỏng Nó góp phần nâng cao chí quyếttâm trong quá trình chống thực dân, đế quốc
1.2 Tình hình trong nước
Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủquyền nhưng chế độ phong kiến đã bộc lộ những dấu hiệu của sự khủng hoảng vàsuy yếu nghiêm trọng Kinh tế ngày càng sa sút, tài chính khó khăn Đúng nhưNguyễn Tri Phương nhận xét năm 1960 về tình hình Việt Nam, khi thực dân Pháp
xâm lược thì nước ta “của đã hết, sức đã thiếu” Đã thế nhà Nguyễn còn đưa ra một
số chủ trương chính sách gây bất lợi cho sự phát triển nền kinh tế Đường lối đối
ngoại sai lầm “bế quan toả cảng” đã khiến cho Việt Nam bị cô lập Việc hạn chế
ngoại thương không xuất phát từ bảo vệ thị trường trong nước mà xuất phát từ ý địnhngăn chặn sự xâm nhập của đạo Thiên chúa, cho nên dã dẫn đến chính sách đàn ápgiáo sĩ và giáo dân một cách mù quáng Việc cấm đạo, sát đạo gay gắt càng tạo thêm
cớ cho kẻ thù bên ngoài lợi dụng triển khai mưu đồ xâm lược Các vua kế tiếp nhaucàng ra sức củng cố chế độ quân chủ chuyên chế, quyền lực tập trung trong tay vua.Chỗ dựa của nhà nước là giai cấp địa chủ Ruộng đất tư lúc bấy giờ phát triển mạnhhơn lúc nào hết với 83%, còn lại là 17% là đất công Chính vì vậy, đời sống của nhândân ngày càng cực khổ, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nổ ra làm cho đất nước luônkhông ổn định Mười tám năm cai trị của Gia Long (1802-1820) với 73 cuộc khởinghĩa của nông dân, 7 năm ở ngôi của Thiệu Trị (1940-1947) có 56 cuộc khởi nghĩacủa nông dân… Bên cạnh đó, khả năng quốc phòng yếu kém Điều này đã ảnh hưởngtrực tiếp đến việc chống xâm lược của các nước đế quốc thực dân
Trong cuộc chạy đua giành giật thuộc địa giữa các nước tư bản phương Tây,cuối cùng tư bản Pháp bám sâu được vào Việt Nam qua hội truyền giáo thừa sai Pari.Đồng thời thông qua các mối quan hệ đã có từ trước cùng với lợi dụng sự suy yếu
Trang 9của chế độ phong kiến Việt Nam, chính phủ Pháp ráo riết xúc tiến thực hiện âm mưuxâm lược.
Triều đình phong kiến Việt Nam vì những toan tính riêng tư bảo vệ quyền lợigiai cấp nên từ chống cự yếu ớt rồi dần chuyển sang chịu chia sẻ quyền lực với Pháp,ngày càng bộc lộ sự bất lực của mình trượt dài qua các hiệp ước nhượng đất NhâmTuất (1862), Giáp Tuất (1874) Triều đình thực sự thừa nhận quyền cai trị của Pháp ởNam Kì, kết hợp với Pháp trong việc chống lại phong trào của nhân dân và sau cùng
là hai bản hiệp ước Hác-măng (1883) và Pa-tơ-nốt (1884) chấm dứt quá trình xâmlược của Pháp ở Việt Nam
Như thế từ sau năm 1884, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phongkiến Năm 1897, Việt Nam trở thành bộ phận của Liên bang Đông Dương Thực dânPháp thiết lập bộ máy cai trị Liên bang để tiến hành quá trình khai thác và bóc lộtthuộc địa Các chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và lần thứhai (1919-1929) của Pháp chủ yếu phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của chínhquốc Hai cuộc khai thác thuộc địa trước và sau chiến tranh thế giới thứ nhất đã tạo ranhững biến đổi sâu sắc về nhiều mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở Việt Nam
+ Về chính trị: Thực dân Pháp đặc biệt coi trọng chính sách về chính trị để cai
trị thuộc địa vừa chiếm được Chúng tiến hành xây dựng bộ máy nhà nước hoànchỉnh, thống nhất có tính chất chặt chẽ từ trên xuống Để đảm bảo thu được lợi nhuậnthuộc địa tối đa, thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế về chính trị Mọiquyền hành đều nằm trong tay Pháp, vua quan triều Nguyễn chỉ là bù nhìn Chúng caitrị trực tiếp và thẳng tay đàn áp, không cho dân ta một chút quyền tự do dân chủ nào,
kể cả chủ nghĩa cải lương cũng không được phép
“Chia để trị” là chính sách cai trị điển hình của Pháp ở Việt Nam Mục đích của
chúng là làm suy yếu lực lượng dân tộc Việt Nam Chúng chia cắt nước ta thành 3 xứvới 3 chế độ khác nhau Nam Kì là xứ thuộc địa do Pháp nắm nên được gọi là chế độtrực trị do một viên Thống đốc của Pháp đứng đầu Bắc Kì và Trung Kì là 2 xứ bảo
hộ vẫn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức Bắc Kì do Thống sứ đứng đầu,Trung Kì do Khâm sứ đứng đầu, cả hai cũng đều là người Pháp Người Việt Nammuốn đi lại giữa các kì phải xin giấy phép như ra nước ngoài Với thủ đoạn này, thựcdân Pháp muốn xoá tên Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới, vì bấy giờ
Trang 10chỉ còn là Liên bang Đông Dương, chia rẽ nhân dân thuộc địa với nhân dân Pháp,chia rẽ nhân dân các nước thuộc địa với nhau.
Riêng ở Việt Nam, thực dân Pháp đã phá hoại tính thống nhất dân tộc, dựng nênhàng rào chia cắt về chế độ, kéo theo các cơ quan cai trị riêng biệt, ngăn cản sự giaolưu qua lại, ngăn cản sự phát triển chung, đặc biệt là nhằm phá vỡ khối đoàn kết dântộc của ta, giảm sức mạnh trong việc chống lại chúng
Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn ra đạo luật về tổ chức quân đội thuộc địa(7/1/1900) bao gồm lính Pháp và lính bản xứ Quân đội đặt dưới quyền chỉ huy trựctiếp của viên Tổng chỉ huy người Pháp Mục đích là nhằm đàn áp các cuộc khởinghĩa, canh giữ các nhà tù, đàn áp chống đối, ổn định thuộc địa
Cùng với quân đội chính quy ngày 30 tháng 6 năm 1915, Tổng thống Pháp rasắc lệnh thành lập lực lượng cảnh sát đặc biệt Nhiệm vụ là đảm bảo trật tự, an ninhtrong tỉnh, canh giữ các công sở, các tuyến đường giao thông Để tăng cường đàn áp,ngày 28 tháng 6 năm 1917, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập Sở tìnhbáo và an ninh trung ương (Sở mật thám Đông Dương) Mỗi xứ có một cơ quanmang tên cảnh sát an ninh
Đi đôi với bộ máy quân sự, cảnh sát to lớn là hệ thống pháp luật khắc nghiệtcùng hệ thống toà án nhà tù dày đặc khắp Việt Nam Từ huyện, phủ, châu trở lên đều
có nhà tù và trại giam
Như vậy, rõ ràng bộ máy chính quyền của thực dân Pháp được thiết lập trên cơ
sở của sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân Pháp với giai cấp phong kiến phản động dothực dân Pháp chi phối nhằm thực hiện chính sách khai thác bóc lột vô cùng tàn bạocủa chúng Nhân dân Đông Dương nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng cuốithế kỉ XIX đầu thế kỉ XX sống trong cảnh ngột ngạt, không có một quyền tự do dânchủ nào Hơn nữa, nhân dân còn bị áp bức bóc lột tàn nhẫn vô hạn của chính quyềnthuộc địa
+ Về kinh tế: Các nước đế quốc đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa nhằm thoả mãn
nhu cầu phát triển kinh tế và nâng cao nguồn lợi nhuận Do đó, sau khi hoàn thànhxâm lược thuộc địa thì chúng bắt tay ngay vào quá trình khai thác các nguồn lợi ởthuộc địa một cách triệt để
Trang 11Việt Nam là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí thuận lợi và sẵnnhân công nhưng phương thức sản xuất lạc hậu Do tư tưởng khép kín, không thứcthời nhạy bén tiếp cận thành tựu hiện đại, tiến bộ của phương Tây, nên không thể khaithác hết tiềm năng nội sinh để phát triển đất nước Vì vậy, để bóc lột tối đa lợi nhuận
ở thuộc địa, Pháp đã thi hành một chính sách thực dân rất phản động, bóc lột nặng nề
về kinh tế ở nước ta
Trong chương trình hành động gởi bộ trưởng Bộ thuộc địa (22/3/1897), Đume
nêu rõ “xây dựng cho Đông Dương một thiết bị kinh tế to lớn, một hệ thống đường
sắt, đường bộ, sông hào, bến cảng những cái cần thiết cho sự khai thác xứ Đông Dương”1
Đường bộ được mở rộng đến những khu vực hầm mỏ, đồn điền, và các vùngbiên giới quan trọng: trục đường xuyên Đông Dương, đường Sài Gòn-Tây Ninh tớibiên giới Campuchia, đường Vinh-Sầm Nứa, Hà Nội-Cao Bằng,… lưu thông mộtcách xuyên suốt Tổng số chiều dài xây dựng thời kì này là 20.000 km, cùng với14.000 km đường dây điện thoại
Mở mang đường sắt được giới tư bản ưu tiên để phục vụ chuyên chở hàng hoá,nguyên liệu và tạo ra phương tiện để đưa quân đội đến những nơi cần thiết nhằm đàn
áp các cuộc khởi nghĩa Các đường xe lửa lần lượt được hoàn thành Hà Nội-LạngSơn (1902), Hà Nội-Vinh (1905), Đà Nẵng-Huế (1906), Sài Gòn-Nha Trang, HảiPhòng-Vân Nam (1910),…Tính đến năm 1912, tổng số chiều dài đường sắt đã xâydựng ở Việt Nam là 2099 km Tất cả những tuyến đường sắt trừ tuyến Hải Phòng-Vân Nam đều do nhà nước thực dân Pháp thu lãi
Đường thuỷ cũng được khai thông ở các con sông lớn như: Sông Hồng, TháiBình, Đồng Nai, sông Hậu Giang và các kênh rạch Các cảng Hải Phòng, Đà Nẵng,Sài Gòn cũng được xây dựng Riêng ở Nam Kì đến năm 1914 có 1745 km đườngthủy và tàu chạy bằng hơi nước
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn (hơn 10 năm đầu thế kỉ XX), thực dânPháp đã đầu tư làm thay đổi hẵn cơ sở hạ tầng Việt Nam Đó là sự đầu tư có dụng ý,nhằm phục vụ cho quyền lợi thực dân, phục vụ cho mưu đồ thống trị, khai thác vàbóc lột của chúng
1Ngọc Cơ (chủ biên) (2005), Lịch sử Việt Nam từ năm 1858-1918, Nxb Đại học sư phạm, 128
Trang 12Trái với tinh thần của cuộc Đại cách mạng Pháp (1789) là diệt trừ tận gốc chế độphong kiến, mở đường cho nước Pháp hướng mạnh vào con đường phát triển tư bản.Chính sách kinh tế của Pháp ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng lại duytrì phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu kết hợp với thiết lập rất hạn chế phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong nông nghiệp, Pháp cướp đoạt ruộng đất của nông dân một cách trắng trợn,
được che đậy bằng sự hợp thức hoá của Điều ước, Nghị định: “Năm 1897, thực dân
Pháp bắt triều đình Huế kí điều ước cho thực dân Pháp quyền khai khẩn đất hoang Tiếp đó, ngày 1/5/1900 Thực dân Pháp ra Nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất trong luật pháp phong kiến”2 Chúng lập ra hàng loạt các đồn điền kinh doanhtheo phương thức tư bản chủ nghĩa nhưng lại bóc lột bằng cách phát canh thu tô kiểuphong kiến Những chính sách trong nông nghiệp của Pháp đã kiềm hãm nền nôngnghiệp Việt Nam trong vòng lạc hậu Nông dân bị mất đất, bần cùng đói khổ, lựclượng sản xuất bị hao mòn, kinh tế nông nghiệp ngày trở nên sa sút
Trong công nghiệp, Pháp chỉ chú trọng một số ngành công nghiệp phục vụ choquá trình khai thác và vơ vét tài nguyên khoáng sản Việt Nam Công nghiệp nhẹ chỉđược phép phát triển trong một số lĩnh vực phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùngcủa Pháp ở thuộc địa Công nghiệp Việt Nam không được cạnh tranh với côngnghiệp Pháp Một nền công nghiệp đã xuất hiện ở Việt Nam nhưng đó chỉ là một nềncông nghiệp phiến diện, què quặt, không có công nghiệp nặng Điều đó thể hiện rõtính chất thuộc địa của nền kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ
Về thương nghiệp, Pháp độc chiếm thị trường Việt Nam Hàng hoá Pháp thâmnhập vào hoàn toàn miễn thuế còn hàng hoá nước khác thì phải chịu thuế cao nên hầuhết ít vào được thị trường Việt Nam Chính sách độc quyền về thương mại của Pháp
đã bần cùng hoá nhân dân lao động và bóp chết ngành tiểu thủ công nghiệp ViệtNam Hình thức bót lột nặng nề về kinh tế của thực dân Pháp còn thể hiện ở việcchúng lập ra Ngân sách chung cho 5 xứ Đông Dương dưới hình thức Ngân hàngĐông Dương Ngân hàng này là một tập đoàn tư bản tài chính lớn, chi phối mọingành kinh tế ở Đông Dương Nguồn thu của Ngân sách chủ yếu là thuế Thuế cũ thìtăng vọt, nhiều thuế mới thật vô lí được đặt ra: thuế thân, thuế chợ, thuế vỉa hè, thuế
2Ngọc Cơ (chủ biên) (2005), Lịch sử Việt Nam từ năm 1858-1918, Nxb Đại học sư phạm, 130
Trang 13xe… “Trên chiếc lưng cao su của người An Nam, nhà nước tha hồ kéo dài mức thuế
co dãn”3
Nhìn chung, chính sách về kinh tế của thực dân Pháp đã làm cho kinh tế ViệtNam có những thay đổi căn bản, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đan xen cùng tồntại với quan hệ sản xuất phong kiến vốn có Công, nông, thương nghiệp có bước pháttriển nhưng không cân đối về cơ cấu, què quặt và phụ thuộc nặng nề vào đế quốcPháp
Pháp là nước tư bản già lạc hậu so với các nước tư bản trẻ phát triển mạnh lúcbấy giờ: Mĩ, Đức,… Pháp có nền kỉ thuật đã lỗi thời, hàng hoá không thể cạnh tranhnổi với các nước tư bản đang lên nên Pháp phải giải quyết khủng hoảng của mìnhbằng cách độc chiếm thị trường thuộc địa, hạn chế cạnh tranh, đồng thời là khai tháctriệt để nguồn lợi thuộc địa đem về chính quốc sản xuất rồi lại mang hàng hóa sangtiêu thụ ở thuộc địa Đây là phương thức kinh doanh khác cơ bản so với Mĩ, Đức.Chính vì vậy, thuộc địa của Pháp có nền kinh tế bị què quặt, không tiếp nhận đượcthành tựu mới, không được giao lưu Đó cũng chính là nguyên nhân cho sự trì trệ kéodài, khó khắc phục, cải tạo của Việt Nam sau cách mạng giải phóng dân tộc
+ Về xã hội: Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX dưới sự tác động
của công cuộc khai thác của Pháp đã phân hoá sâu sắc
Giai cấp địa chủ phong kiến vốn thuộc giai cấp thống trị nay đầu hàng đế quốc,dựa vào đế quốc để áp bức bóc lột nhân dân ta Vì vậy, đây là đối tượng của cáchmạng Song, do chính sách cai trị của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hoá,một bộ phận làm tay sai cho thực dân Pháp, một bộ phận địa chủ nhỏ và vừa ít nhiều
có tinh thần dân tộc đứng lên chống Pháp khi có cơ hội
Giai cấp nông dân là giai cấp đông đảo nhất trong xã hội, chiếm 90% dân số bị
đế quốc, địa chủ bóc lột nặng nề Vì vậy, họ căm thù thực dân phong kiến, khao khátđộc lập và ruộng đất, họ tích cực tham gia và là nguồn động lực chính trong các cuộcđấu tranh chống đế quốc, phong kiến Nhưng trong cách mạng dân tộc, dân chủ, họkhông thể đóng vai trò lãnh đạo vì không đại diện cho một phương thức sản xuất tiêntiến
3Ngọc Cơ (chủ biên) (2005), Lịch sử Việt Nam từ năm 1858-1918, Nxb Đại học sư phạm, 129
Trang 14Bên cạnh các giai cấp phong kiến cũ thì thời kì này xuất hiện các giai tầng mới.
Đó là công nhân và tư sản
Giai cấp công nhân ra đời là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộcđịa của thực dân Pháp Mặc dù mới ra đời số lượng còn ít, trình độ văn hoá còn thấpnhưng giai cấp công nhân Việt Nam đã nhanh chóng trưởng thành về số lượng vàchất lượng, có khả năng lãnh đạo cách mạng sau này
Còn tư sản thì thật sự trở thành một giai cấp từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất
Bị tư bản Pháp chèn ép nên giai cấp tư sản Việt Nam phân hoá thành hai bộ phận: tưsản mại bản và tư sản dân tộc Giai cấp tư sản mại bản gắn chặt quyền lợi với Pháp.Giai cấp tư sản dân tộc tuy có tinh thần yêu nước chống đế quốc, phong kiến nhưng
ra đời muộn, thế lực yếu kém về kinh tế lẫn chính trị nên thường cải lương trong quátrình đấu tranh và không có khả năng lãnh đạo và đưa cách mạng Việt Nam đếnthắng lợi
Các chính sách cai trị của Pháp ở các nước thuộc địa còn làm cho tầng lớp tríthức tiểu tư sản ngày càng đông Đây là những người được chế độ phong kiến vàthực dân đào tạo Họ ít nhiều bị chèn ép và do truyền thống yêu nước chi phối nên họcũng khát khao độc lập tự do Khi có điều kiện thì đây là lực lượng nhạy bén tiếp thu
và truyền bá tư tưởng mới và là “ngòi pháo” của các cuộc đấu tranh chống thực dân,
phong kiến
Như vậy, sự ra đời của những lực lượng xã hội mới đã tạo điều kiện bên trongcho cuộc vận động giải phóng dân tộc theo những khuynh hướng mới với động lực lànhững giai tầng có thái độ chính trị và khả năng cách mạng khác nhau
+ Về văn hoá giáo dục: Thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân triệt để,
giam hãm, đầu độc nhân dân ta trong vùng tăm tối Chúng xây dựng nhà tù nhiều hơntrường học và bệnh viện Chính sách văn hoá của Pháp ở Việt Nam chỉ nhằm thực
hiện mục đích thực dân “làm cho dân ta ngu để dễ trị” Pháp chỉ mở trường dạy tiếng
Pháp nhằm đào tạo đội ngũ tay sai thuộc địa Chúng bưng bít, ngăn cản ảnh hưởngvăn hoá tiến bộ trên thế giới, truyền bá văn hoá đồi trị và mê tín dị đoan Hậu quả làtrường học thiếu một cách trầm trọng, hàng ngàn trẻ em Việt Nam không biết chữ,thanh niên thì bị ngăn cản không cho du học phương Tây để tiếp thu tư tưởng tiến bộ
Trang 15của thế giới Đồng thời chúng còn tìm cách trấn áp, loại trừ những nhà trí thức yêu
nước “đòi bỏ rọ lăn sông các sĩ phu”.
Tuy nhiên ngoài ý muốn chủ quan của Pháp, trong khi cố tạo ra những điều kiệnthuận lợi phục vụ cho bộ máy cai trị trực tiếp ở Việt Nam, chúng đã tạo ra một môitrường văn hoá mới ngoài mục đích văn hoá thực dân Trong thành phần những trithức do các trường học mới đào tạo có không ít người có nguồn gốc là con em của
chúng những nhà có thù với đế quốc Pháp “Họ tất nhớ lại cha anh họ bị đày, bị giết
vì nước, người trước gnười sau sớm muộn gì cũng theo dấu cha anh, đứng lên đỡ lấy cái gánh nặng non sông mà cha anh họ còn để lại giữa đường,…”4
Dưới ách cai trị của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam đang khao khát tìmkiếm một con đường giải phóng dân tộc khi tư tưởng phong kiến đang suy tàn, mấthết vai trò lãnh đạo, tư tưởng dân chủ-tư tưởng mới được tiếp thu một cách nhanhchóng Thực dân Pháp cố gắng tìm mọi cách ngăn chặn nhưng có một thứ mà chúngkhông thể nào ngăn chặn nổi đó là tinh thần tìm hiểu, nghiên cứu về giải phóng dântộc của nhiều người yêu nước Việt Nam
Như vậy, những chính sách cai trị của Pháp ở Việt Nam mang đậm tính chấtthực dân: chuyên chính về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế, nô dịch tàn bạo vềvăn hoá giáo dục
Khi mà hệ tư tưởng phong kiến không còn giữ vai trò chủ đạo nữa, phong tràoyêu nước theo lập trường phong kiến dần tàn lụi, thất bại, thì những biến đổi về chínhtrị-kinh tế-văn hoá trong chế độ thực dân là tiền đề cho sự xuất hiện những luồng tưtưởng khác nhau Đồng thời là cơ sở cho sự tiếp nhận, hấp thụ những nguyên lí cứunước mới đối với Việt Nam lúc bấy giờ Đó là khuynh hướng dân chủ tư sản
I.2 Sự du nhập của khuynh hướng dân chủ tư sản vào Việt Nam
2.1 Nguồn gốc của tư tưởng dân chủ tư sản
Dân chủ ngày nay được hiểu là một chính quyền mà trong đó nhân dân là ngườilàm chủ, là người quyết định mọi việc Dân chủ bao hàm ý nghĩa thừa nhận quyền tự
do bình đẳng của mọi công dân Nguyên tắc đặc trưng của chế độ dân chủ là thiểu sốphải phục tùng đa số trong quá trình tham gia bàn bạc và định đoạt công việc chung
4 Đinh Trần Dương (2002), Sự chuyển biến của phong trào yêu nước trong ba mươi năm đầu thế kỉ
XX, Nxb Đại học quốc gia Hà Nộ, 22
Trang 16Tư tưởng dân chủ tư sản là thành quả của các cuộc cách mạng tư sản thời cậnđại Tuy nhiên không phải khi cách mạng thắng lợi, chính quyền cách mạng đượcthiết lập thì tư tưởng dân chủ tư sản mới ra đời, mà tư tưởng này đã xuất hiện từtrước Tư tưởng dân chủ tư sản là tiền đề tư tưởng (cùng với tiền đề kinh tế, chính trị-
xã hội) xuất hiện trước mỗi cuộc cách mạng tư sản, chuẩn bị cho các cuộc cách mạng
tư sản bùng nổ
Ở Anh, hệ tư tưởng dân chủ tư sản thể hiện qua cuộc đấu tranh của Thanh giáochống Anh giáo để xác lập một tôn giáo rẻ tiền, ít tốn kém thời gian và phù hợp vớiviệc kinh doanh của nhà tư bản Thanh giáo ra đời nhằm hạn chế sự chuyên quyềncủa nhà nước phong kiến, phản đối giáo hội Anh Vì thế, nhà nước phong kiến đã sửdụng bạo lực để đàn áp các tín đồ Thanh giáo Giai cấp tư sản nấp dưới tà áo tôn giáomới để lôi kéo lực lượng thực hiện mục đích của mình Ở Pháp, từ đầu thế kỉ XVIII
đã xuất hiện trào lưu tư tưởng “ánh sáng”, với nhiều quan điểm tốt đẹp-chống chế độ
phong kiến, tôn giáo xây dựng một mô hình xã hội lý tưởng với ba đại biểu xuất sắc:Mông-xte-ki-ơ, Rut-xô, Vôn-te Ở Nhật, trước Duy Tân Minh Trị đã xuất hiện trào
lưu “Hà Lan học”, đề xướng tư tưởng “trọng thương”, tiếp thu nhiều thành tựu tiến
bộ của phương Tây…
Tư tưởng dân chủ tư sản xuất hiện từ sự khao khát một cuộc sống tự do; muốnthoát khỏi sự chuyên chế của nhà nước phong kiến, sự hà khắc của giáo hội Kitô;thoát khỏi sự áp bức bóc lột nặng nề của xã hội hiện tại, mơ ước một xã hội mới côngbằng
2.2 Các con đường du nhập vào Việt Nam
Luồng tư tưởng dân chủ tư sản tràn vào Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ
XX chủ yếu qua 3 con đường chính: từ Pháp, từ Nhật Bản và từ Trung Quốc
Con đường du nhập tư tưởng này đến Việt Nam qua quá trình xâm lược và khaithác thuộc địa của Pháp ở Việt Nam là chủ yếu Người Pháp đến Việt Nam, bên cạnh
bộ phận những người trong chính quyền thực dân, còn có những trí thức, hay các nhàkhoa học tới Việt Nam với mục đích nghiên cứu, dạy học… Và đặc biệt trong đókhông thể không kể tới, đó chính là các giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa, họ ít nhiềucũng đã mang tư tưởng bình đẳng của Chúa đến với giáo dân và ảnh hưởng sâu rộng
tỉ lệ thuận với quá trình phát triển của đạo Thiên Chúa đối với nhân dân Việt Nam
Trang 17Lê-nin viết “Thế kỉ XIX là thế kỉ đem lại văn minh và văn hoá cho toàn thể nhân loại
đã tiếp diễn dưới dấu hiệu của đại cách mạng Pháp” [3; 191] Hơn thế nữa, nền giáodục Pháp ở Việt Nam mặc dù với mục đích chính là đào tạo những người làm việccho bộ máy cai trị chính quyền thực dân nhưng ít hay nhiều cũng mang đến cho
những người Việt Nam theo Pháp học có những hiểu biết về tư tưởng “ánh sáng” với
Milê, người đã có quan niệm về chủ nghĩa cộng sản không tưởng; Mông-te-xki-ơ với
tư tưởng xây dựng hệ thống nhà nước “tam quyền phân lập, kiềm chế đối trọng”;
Vôn-te có tư tưởng chống độc tài phong kiến và nhà thờ Thiên Chúa; hay Đi-đơ-rôvới quan điểm triết học duy vật và Rut-xô với tư tưởng dân chủ cách mạng và nhànước dân chủ,… Vì vậy, nền giáo dục Pháp ở Việt Nam không tránh khỏi đem những
tư tưởng này vào giới trí thức của nước ta
Tư tưởng dân chủ tư sản ở Pháp đến Việt Nam không chỉ thâm nhập qua nhữngngười Việt Nam làm việc cho Pháp, các trí thức Tây học trong nước, mà còn qua mộtlực lượng quan trọng là những người Việt Nam xuất ngoại sang Pháp Những ngườiViệt tới Pháp gồm những nhà tư sản hay trí thức, bằng cách này hay cách khác sangPháp học tập, làm ăn Do Pháp ra sức ngăn cản việc người Việt Nam đi du học nướcngoài, đặc biệt là qua Pháp vì sợ họ tiếp thu những thu tưởng mới nên số lượng này
là không nhiều ở nước ta lúc bấy giờ Chiếm số lượng khá đông là người Việt Namlàm việc trên những chuyến tàu của Pháp (Bác Hồ cũng từng làm việc như thế) hay
bị đưa sang Pháp tham chiến trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất
Đây là con đường tiếp cận tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây trực tiếp chínhbằng trình độ nhận thức của người Việt Tuy nhiên, trong buổi đầu tư tưởng dân chủ
tư sản du nhập vào, thành phần tiếp nhận có nhiều hạn chế giai cấp, lịch sử cùng vớikhông gian tiếp cận không đầy đủ nên phong trào yêu nước Việt Nam gắn với tưtưởng mới này chưa có sự chuyển biến rõ nét và phát triển cao
Con đường thứ hai truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản tới Việt Nam là thông quaNhật Bản Cuộc Duy Tân Minh Trị ở Nhật Bản và việc nước Nhật chiến thắng trongchiến tranh Nga-Nhật (1895) trong khi các nước Châu Á đều bị biến thành thuộc địahay phụ thuộc của các nước đế quốc thực dân Điều đó khiến cho Nhật Bản trở thành
tấm gương, một “anh cả da vàng” để các nước khác học tập Cuộc Duy Tân Minh Trị
có ảnh hưởng rất lớn đến các nước Châu Á, trước hết là đối với Trung Quốc Sau
Trang 18cuộc Duy Tân Minh Trị 30 năm, một phong trào Duy Tân đã bùng nổ ở Trung Quốc.Người chủ xướng phong trào duy tân ở Trung Quốc là Khang Hữu Vi Ông muốn bắtchước Nhật Bản, cũng tiến hành một cuộc cải cách dưới trướng của một đấng minhquân Nhưng do hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước Trung Quốc không cho phépnên phong trào duy tân của Khang Hữu Vi bị thất bại Cuộc Minh Trị Duy Tân ởNhật Bản cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ
XX các sĩ phu yêu nước Việt Nam như cụ Phan Bội Châu đã hướng về Nhật Bản vớilòng ngưỡng mộ và đã bỏ nhiều công sức để tìm con đường cứu nước tại đất nướccủa Thiên hoàng Minh Trị này Thậm chí, ở Trung Quốc cũng diễn ra một phong tràoĐông du sang Nhật để học tập, và sau Đông du ở Trung Quốc là phong trào Đông du
ở Việt Nam Nhật Bản cũng có những nhân vật ảnh hưởng đến các trào lưu tư sản ởNhật Bản mà cả với phong trào đấu tranh ở Việt Nam, như nhà tư tưởng dân chủFukuzawa Yukichi
Khuynh hướng dân chủ tư sản cũng đến với Việt Nam nhờ rất nhiều vào mộtcon đường khác là Trung Quốc Đối với nước ta, Trung Quốc không chỉ là nướcđồng văn, đồng chủng mà còn là nước cùng cảnh ngộ, ảnh hưởng Nho giáo TrungQuốc ở Việt Nam hết sức sâu đậm Đầu thế kỉ XX cho đến chiến tranh thế giới thứnhất, hầu hết các sĩ phu yêu nước, cách mạng đều xuất thân từ tầng lớp sĩ phu Nhohọc Số theo Tây học hồi đó còn rất hiếm do nhiều nguyên nhân khác nhau Chưa cócác nhà lãnh đạo cách mạng xuất thân từ tầng lớp trí thức Tây học Việc người Việthọc tập những tư tưởng này qua Trung Quốc phần nào cũng vì tác động từ nhữngcuộc đấu tranh của trí thức tư sản Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu,Tôn Trung Sơn,… qua cuộc vận động biến pháp, qua cách mạng Tân Hợi,… Hơn thếnữa, cả hai nước đều sử dụng Hán tự Chính vì những lí do đó mà tư tưởng dân chủ
tư sản qua Trung Quốc vào Việt Nam có vai trò rất lớn của Tân thư, Tân văn TrungQuốc bấy giờ Và theo Tân thư, Tân văn từ Trung Quốc, tư tưởng của những nhà
“khai sáng” Pháp cũng được dịch truyền vào Việt Nam một cách phổ biến.
Tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây vào Việt Nam thông qua Nhật Bản vàTrung Quốc rõ ràng đã có sự biến dạng nhất định Bởi vì đó là cách vận dụng, cáchnhìn của phần lớn những nhà theo tư tưởng quân chủ lập hiến
Trang 19Cùng với sự thất bại của khuynh hướng cứu nước theo phong kiến, chính sáchcai trị của chính quyền thực dân, sự khao khát độc lập, tự do mãnh liệt của nhân dânViệt Nam càng tạo điều kiện cho những nhà yêu nước nhanh chóng tiếp thu tư tưởngdân chủ tư sản, một tư tưởng mới và tiến bộ so với Việt Nam lúc bấy giờ.
2.3 Cơ sở hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam
Sự thất bại của các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến
Sau khi buộc triều đình Huế kí Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884), thực dân Pháp về cơbản đã hoàn thành quá trình xâm lược toàn bộ Việt Nam Nhưng chúng còn mất thêmhơn mười năm liên tục, hao người, tốn của để tiến hành cuộc bình định bằng quân sựnhằm đối phó với cuộc chiến tranh quyết liệt của ta Đó là cuộc nổi dậy của phái chủchiến ở kinh thành Huế (1884), phong trào yêu nước của văn thân, sĩ phu hưởng ứngChiếu Cần Vương (1885-1896) Và phong trào nông dân tự phát, tiêu biểu là khởinghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1884-1913) Và đó cũngchính là những phong trào thể hiện sự nổ lực cuối cùng của khuynh hướng cứu nướctheo tư tưởng phong kiến
Cuối thế kỉ XIX, phong trào vũ trang chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương doHàm Nghi và Tôn Thất Thuyết đứng đầu với hy vọng khôi phục lại chủ quyền TônThất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi hai lần ban Chiếu Cần Vương (13/7/1885
và 20/9/1885) nhằm kêu gọi nhân sĩ khắp nơi giúp vua cứu nước Tầng lớp văn thân,
sĩ phu yêu nước tiến bộ hưởng ứng sôi nổi, đứng ra chiêu mộ nghĩa sĩ lập đồn trạikháng chiến Văn thân, sĩ phu là những người không có đặc lợi ở triều đình, cũngkhông có tư gia điền sản lớn ở nông thôn nhưng họ có hệ tư tưởng yêu nước gắn với
hệ tư tưởng phong kiến Do đó, yêu nước phải trung quân Đó là lập trường của Nhogiáo truyền thống của phong kiến Nhưng kể từ khi Pháp xâm lược, cùng với thái độcủa triều đình, họ đã chống lại triều đình, không còn trung với vua nữa Họ chống lạimệnh lệnh của vua để cùng nhân dân kháng Pháp Khi Chiếu Cần Vương ban ra, tư
tưởng “trung quân ái quốc” của họ đã trở lại Văn thân, sĩ phu là những người hăng hái nhất, đứng ra lãnh đạo phong trào nhân dân “giúp vua cứu nước”.
Năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt thì đâu là động lực đấu tranh? Quá trình đấutranh chưa chấm dứt Có những cuộc khởi nghĩa quy mô lớn trình độ cao như: Bãi
Sậy, Ba Đình, Hùng Lĩnh, Hương Khê Và như vậy, động lực “giúp vua cứu nước”
Trang 20đã chuyển sang “giúp dân cứu nước” Hay quan điểm lập trường sĩ phu, văn thân thay đổi từ “trung quân ái quốc” sang “trung dân ái quốc”, từ lập trường giai cấp
sang lập trường dân tộc Đây là bước chuẩn bị đầu tiên cho sự tiếp nhận tư tưởng mớiphù hợp-tư tưởng dân chủ tư sản sau này
Phong trào vũ trang chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương đã tàn lụi với sự thấtbại hoàn toàn của cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1896) Một số thổ hào địa phươngnổi dậy ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta tuy lúc này vẫn còn,nhưng đã phải duy trì cuộc chiến đấu trong những điều kiện hết sức khó khăn, phảithủ hiểm trong những vùng rừng núi hẻo lánh và suy yếu dần trên con đường đi tớitan rã Duy chỉ có cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo vẫn hiênngang đương đầu với địch Nhưng trước âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, phong tràodần đi vào thất bại
Khác với phong trào Cần Vương-diễn ra và thất bại khi chưa chịu tác động của
tư tưởng dân chủ tư sản, nên khi kết thúc không có mầm mống chuyển sang dân chủ
tư sản Còn đối với phong trào nhân dân Yên Thế, thời gian tồn tại có ảnh hưởng củadân chủ tư sản Vì thế giai đoạn sau, phong trào này có sự dao động khi mà ngườilãnh đạo Hoàng Hoa Thám có tiếp xúc với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và TônTrung Sơn (khi Tôn Trung Sơn sang tuyên truyền tư tưởng cách mạng cho Hoa kiều,
ẩn náo tạm thời vì mục đích cách mạng…) Phong trào nông dân Yên Thế cuối cùngcũng thất bại Song đặc điểm của nó là sự dao động, mang hơi hướng của lập trườngdân chủ tư sản Đây là bước quá độ chuyển biến tư tưởng đầu tiên trong cách mạngViệt Nam
Như vậy, tất cả những phong trào chống Pháp nổ ra cuối thế kỉ XIX đều lần lượtthất bại Thất bại không phải vì người lãnh đạo kém nhiệt huyết, nhân dân kém anhdũng mà do nguyên nhân chủ quan, khách quan chi phối Đặc biệt, thất bại là do hệ
tư tưởng phong kiến lúc bấy giờ đã lạc hậu, lỗi thời, mất vai trò trong lãnh đạo cáchmạng Việt Nam trong tình tình mới Điều đó chỉ ra yêu cầu bức thiết của phong tràoyêu nước Việt Nam thời điểm này cần nhanh chóng thoát khỏi những bế tắc của thờiđại Và quan trọng là mau chóng tìm ra một hệ tư tưởng mới chỉ đạo cho con đườngcứu nước giành độc lập tự do
Trang 21Những chuyển biến kinh tế-xã hội Việt Nam sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp
Chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam đã gây ra nhiều hậu quả: kinh
tế tàn tạ, chính trị ngột ngạt, các giai cấp trong xã hội phân hoá sâu sắc, đời sốngnhân dân hết sức khó khăn,… Những cơ sở kinh tế-xã hội lúc bấy giờ là nguồn gốctất nhiên của chế độ thực dân nửa phong kiến Được sống độc lập, tự do là nguyệnvọng thiết tha của mọi người Đó là những tiền đề cho cuộc cách mạng dân tộc, dânchủ ở nước ta
Trong những năm đầu thế kỉ XX, chính sách cai trị của thực dân Pháp đã tướcđoạt hết quyền tự do của nhân dân ta Chính sách khai thác của thực dân đã làm chonền kinh tế nước ta phụ thuộc hoàn toàn vào nền kinh tế nước Pháp Những nhà máy
xí nghiệp, hãng buôn, hệ thống giao thông, hải cảng, thành thị ra đời hợp thành bộphận kinh tế tư bản thực dân, chỉ có tác dụng tiêu thụ hàng công nghiệp của tư bản
Pháp; vơ vét các mặt hàng nông-lâm-nghiệp để xuất khẩu và “ăn cướp có tổ chức”
tài nguyên thiên nhiên nước ta Tính chất độc quyền của nền kinh tế thực dân đã dẫntới hậu quả là: quan hệ sản xuất phong kiến trong nông nghiệp được duy trì gần nhưnguyên vẹn, các ngành thủ công cổ truyền đang phát triển theo hướng tích cực thì bịbóp nghẹt, kinh tế tư bản dân tộc bị kìm hãm không sao phát triển được Kinh tếnước ta do đó bị kiệt quệ Công nhân, nông dân lâm vào cảnh đói rách, bần cùng Đờisống của các tầng lớp khác như tiểu tư sản, dân nghèo thành thị luôn bị đe dọa
Đó là những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế nước ta đầu thế kỉ XX, gọi là nềnkinh tế thực dân nửa phong kiến
Sự áp bức tàn bạo về chính trị và sự bóc lột nặng nề về kinh tế của thực dânPháp đã gây nên phản ứng mạnh mẽ trong nhân dân ta, nhất là công nhân và dânnghèo thành thị, một bộ phận trí thức yêu nước Độc lập, tự do bấy giờ là niềm khaokhát cháy bỏng, là động lực to lớn thúc đẩy họ đấu tranh chống thực dân, phong kiếnkhi có thời cơ
Mặt khác, đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XXchưa sản sinh được một giai cấp có đủ sức lãnh đạo thành công cuộc cách mạng dântộc, dân chủ, nhưng không vì thế mà nó bị đình đốn Xã hội Việt Nam bấy giờ đã sảnsinh ra một lớp người thay thế ban đầu, đó là lớp văn thân, sĩ phu yêu nước tiến bộ
Trang 22đang trên con đường tư sản hoá Họ phần nào nắm bắt được nguyện vọng của quầnchúng nhân dân, đứng ra đảm nhiệm vai trò của giai cấp lãnh đạo, tạo tiền đề pháttriển cho cách mạng Việt Nam.
Chính những chuyển biến về kinh tế-xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế
kỉ XX là tiền đề cho sự tiếp thu khuynh hướng mới vào Việt Nam-khuynh hướng dânchủ tư sản, tạo sự chuyển biến tư tưởng cách mạng Việt Nam
II Những phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến trước năm 1930
II.1 Phong trào đấu tranh trước chiến tranh thế giới thứ nhất
1.1. Điều kiện ra đời của phong trào
Việt Nam đầu thế kỉ XX đang trong tình trạng một nước thuộc địa nửa phongkiến Do vậy, các khuynh hướng chính trị-tư tưởng lúc bấy giờ có gắn bó chặt chẽ vớinhững phong trào đấu tranh, hoặc đòi hỏi quyền dân tộc hoặc đòi quyền dân chủ Đầuthế kỉ XX cũng là thời gian mà khuynh hướng dân chủ tư sản chính thức đóng vai trò
to lớn trong cuộc đấu tranh đó Các cuộc khởi nghĩa nông dân cho đến đầu thế kỉ XIX
đã hầu như bị Pháp “bình định” cơ bản, chỉ còn cuộc khởi nghĩa Yên Thế vẫn còn
hoạt động, nhưng cũng không gây ra nhiều đe dọa cho chính quyền thuộc địa Đứngtrước sự bế tắc của con đường cứu nước cũ và sự du nhập của con đường cứu nướcmới, những trí thức Nho học đã có sự nhìn nhận lại phương pháp cách mạng củamình Đó là những cơ sở cho sự chuyển biến tư tưởng cứu nước của Việt Nam đầuthế kỉ XX
Quá trình cai trị của thực dân Pháp làm cho tình hình Việt Nam có nhiều biếnđổi, đặc biệt xã hội ngày càng phân hóa Do đó, phong trào cách mạng Việt Nam theokhuynh hướng tư sản theo thời gian cũng có sự khác nhau về đặc điểm
Trước hết phải thấy rằng, giai cấp tư sản Việt Nam hình thành về cơ bản khôngphải do sự phát triển của sức sản xuất xã hội trong sự vận động tự thân của lịch sửViệt Nam mà do chính quá trình xâm lược và thống trị của Pháp Ngay từ đầu các yếu
tố tư bản ở Việt Nam đã mang tính “ngoại nhập” Những xí nghiệp, hầm mỏ, đồn
điền, các hoạt động công-thương nghiệp ở Việt Nam, phần lớn đều bị tư sản Pháp thaotúng Hơn thế nữa, với tính cách tư bản tài chính là ít chú trọng đầu tư hạ tầng mà chủ
Trang 23yếu là sử dụng hình thức đổ vốn vào việc khai thác và bóc lột thuộc địa với phương
châm “một vốn bốn lời”, thì nền kinh tế tư bản ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ
XX què cụt hơn nhiều ở các nước tư bản công nghiệp
Việc thực dân Pháp gán ghép chủ nghĩa tư bản một cách không đầy đủ vào ViệtNam đã khiến cho giai cấp tư sản Việt Nam hình thành có những đặc điểm khác với tưsản các nước phương Tây Một đặc điểm đầu tiên là giai cấp tư sản Việt Nam hìnhthành rất muộn: sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp (1897-1914).Trước đó, tư sản Việt Nam đã xuất hiện nhưng chưa đủ điều kiện để hình thành mộtgiai cấp Do đó có thể nói giai cấp tư sản ra đời thậm chí còn sau cả sự ra đời của giaicấp công nhân, và giai cấp công nhân Việt Nam dường như ra đời gắn với tư sảnngười Pháp nhiều hơn là với tư sản người Việt Và như vậy, giai cấp làm tiền đề quantrọng cho sự xuất hiện, tiếp thu hệ tư tưởng tư sản tràn vào Việt Nam giai đoạn trướcchiến tranh thế giới thứ nhất chưa có Nhưng điều đó cũng không quyết định sựchuyển biến tư tưởng trong cách mạng Việt Nam Cụ thể là Phan Bội châu, Phan ChâuTrinh,… bản thân không phải là tư sản mà vẫn tiếp thu được tư tưởng dân chủ tư sản,thành lập các tổ chức lãnh đạo và phát động phong trào đấu tranh theo tư tưởng tưởngmới
Bên cạnh đó, quá trình cai trị của Pháp làm thay đổi hẳn bộ mặt kinh tế xã hộiViệt Nam Hàng loạt các thành phố theo kiểu phương Tây ra đời Cùng với nó đã tạo
ra một bộ phận thị dân Thị dân là những người sống ở các thành thị, gồm không phảichỉ là một giai cấp nhất định, mà có thể là giới thương nhân, công nhân, học sinh,viên chức,… Những thị dân này, một mặt có nhu cầu và điều kiện về sinh hoạt vănhóa, tư tưởng; mặt khác họ được tiếp xúc với các luồng tư tưởng mới Họ cũng là lớpngười có tư tưởng cởi mở nhất, có thể thường xuyên giao tiếp với nhau và giao tiếpvới những người đến từ các nước khác nên rất nhanh chóng tiếp thu với những thôngtin, tri thức mới…Vậy nên, bộ phận thị dân chính là nơi du nhập đầu tiên các luồng tưtưởng tiến bộ nói chung, trong đó có tư tưởng dân chủ tư sản Họ là lực lượng quantrọng cho khuynh hướng đấu tranh mới và là thành phần có thể giác ngộ đông đảoquần chúng nhân dân trong buổi giao thời
Thị dân cũng có mâu thuẫn với chính quyền thuộc địa về chính trị Tuy nhiên, họ
đa phần tư tưởng còn phân tán, chưa qua trải nghiệm đấu tranh Thế nên, họ chưa thể
Trang 24đóng vai trò lãnh đạo Lãnh đạo phong trào bấy giờ là các sĩ phu Nho học, những trithức đang trong quá trình tư sản hóa Lực lượng này có gắn bó thiết tha với sự nghiệpcách mạng trước đó, những người tiếp nối trực tiếp phong trào vũ trang kháng Phápcuối thế kỉ XIX, mà lúc bấy giờ không có lực lượng nào khác đủ điều kiện thay thế.
Họ hình thành nên các nhóm chính trị, đề ra tôn chỉ, mục đích để vận động cách mạngvới nhiều hình thức phong phú lôi kéo quần chúng tham gia
Những điều kiện nói trên, đặc biệt về giai cấp lãnh đạo sẽ quyết định rất nhiều tớiđặc điểm của khuynh hướng chính trị-tư tưởng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉXX
1.2 Các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ tư sản trước chiến tranh thế giới thứ nhất
1.2.a Phong trào Đông Du
Đây là cuộc vận động giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản doPhan Bội Châu khởi xướng
Phan Bội Châu xuất thân là một tri thức Nho học Ông lớn lên có sự gắn bó mậtthiết với các phong trào yêu nước theo tư tưởng phong kiến trước đó Lúc nhỏ, ông
thường cùng bạn bè chơi trò “bình Tây” Khi Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất (1883), ông thảo hịch “Bình Tây thu bắc” để kêu gọi nhân dân chống Pháp Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông lập “Đội Thí sinh quân” “Tiếp đó là mười năm dạy học,
mở rộng giao du, tìm những người đồng tâm, đồng chí bí mật liên lạc với các dư đảng Cần Vương …” 5
Trong buổi giao thời, tư tưởng dân chủ tư sản bên ngoài dội vào ngày càngnhiều Trong đó, gương tự cường của Nhật Bản theo chủ nghĩa dân chủ tư sản có sứchấp dẫn lớn đối với các sĩ phu yêu nước tiến bộ Nó giúp cho các sĩ phu khắc phụcnhanh chóng sự luyến tiếc chế độ phong kiến, cung cấp cho họ nhiều kiến thức mới về
tư tưởng chính trị và truyền cho họ ngọn lửa nhiệt tình cách mạng Cả châu Á xuất
hiện phong trào “Châu Á bừng tỉnh” Lúc này bất luận là cách mạng Ba Tư, Thổ Nhĩ
Kỳ, Trung Quốc hay là cuộc đấu tranh chống Anh của Ấn Độ do Tilak lãnh đạo đều
5 Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên) (2005), Lịch sử Việt Nam từ năm 1858-1918, Nxb Đại học sưphạm., 151
Trang 25mang tính quần chúng rộng rãi và thêm vào đó tính chất mới-tính chất tư sản Điều
đáng nói ở đây là sự vùng lên của phong trào “Châu Á bừng tỉnh” đều có ảnh hưởng ít
nhiều từ phong trào Minh Trị Duy Tân (1868) Thành công của nước Nhật trên conđường cải cách và công nghiệp hóa sau Minh Trị Duy Tân, rồi chiến thắng trong cuộcchiến tranh Nga-Nhật (1904-1905), đã cổ vũ các dân tộc phương Đông về khả năngkhắc phục tình trạng lạc hậu và khả năng phục hưng của mỗi nước Phan Bội Châu vàmột số sĩ phu cấp tiến Việt Nam mở đường Đông Du bởi sự thôi thúc và hấp dẫn của
tấm gương phục hưng tự cường từ nước “đồng chủng, đồng văn” này.
Tháng 1 năm 1905, một số sĩ phu Việt Nam do Phan Bội Châu đứng đầu sangNhật cầu viện Nhưng Nhật từ chối giúp đỡ viện trợ quân sự cho Việt Nam Điều nàycũng dễ hiểu Muốn có độc lập tự do thì không thể trông chờ vào người khác được,huống chi bản thân Nhật là một nước đế quốc Luận thuyết đồng chủng, đồng văn của
chúng chẳng qua là một trò bịp bợm Chủ nghĩa đế quốc “hút máu người” thì không
kể đó là cùng màu da hay chủng tộc Đế quốc làm gì đều có sự tính toán Nếu họ cóđem quân giúp đỡ nước ta thì nhất định sẽ mang theo âm mưu nào đó, thậm chí đó làmột mối hiểm họa mới mà chính ta rước vào Từ đó, Phan Bội Châu nhận ra vấn đềquan trọng muốn giải phóng dân tộc là phải xây dựng thực lực của chính mình Việccầu viện quân sự từ đây đã biến thành xuất dương du học
Mặc dù Nhật không giúp Việt Nam quân sự nhưng hứa giúp du học sinh ViệtNam ăn học Từ năm 1906, phong trào Đông Du đi vào hoạt động ngày càng rầm rộtrên cả ba miền đất nước Hàng loạt tác phẩm của Phan Bội Châu được dịch từ chữHán ra chữ Quốc ngữ, gửi về nước Những năm 1907 - 1908 là thời kì phong trào
Đông Du phát triển mạnh nhất “Năm 1908, số du học sinh lên tới 200 người, trong
đó có hơn 100 người quê ở Nam Kì, 50 người quê ở Bắc Kì, và 40 người quê ở Trung kì” 6
Chương trình học tập ở đây khá đa dạng, chủ yếu là học tri thức phổ thông và trithức quân sự Phan Bội Châu cùng các đồng chí của ông lập ra Hội Việt Nam CôngHiến (10/1907) Hội chú trọng tổ chức những buổi sinh hoạt chính trị giúp học sinhrèn luyện tư tưởng, đạo đức cách mạng Hệ thống tổ chức bố trí nhân sự và điều hànhhoạt động ở đây giống như một chính phủ lâm thời
6 Nguyễn Khánh Toàn (2004), Lịch sử Việt Nam, tập II (1958-1945), Nxb Khoa học xã hội, 144
Trang 26Cũng chính vào lúc này, Pháp nhận thấy sự phát triển của phong trào Đông Dungày càng gây bất lợi cho chúng Pháp-Nhật câu kết nhau đàn áp cách mạng ViệtNam Tháng 9 năm 1908, Bộ Nội vụ Nhật hạ lệnh giải tán tổ chức học sinh Việt Nam,đuổi học sinh ra ngoài nước Nhật Phía Pháp ở Việt Nam bắt buộc các phụ huynh cócon em du học tại Nhật phải viết thư gọi về, nhiều người còn bị bắt giam Tháng 2năm 1909, Phan Bội Châu và Cường Để cũng bị trục xuất khỏi Nhật.
Có thể khẳng định, Đông Du là hoạt động đầu tiên chống chủ nghĩa thực dân trênnền tảng duy tân, đổi mới Đây là một cuộc đổi mới từ tư duy yêu nước, cứu nướctruyền thống là bạo động để khôi phục độc lập dân tộc đã chuyển sang tư duy cảicách, đề cao việc học tập tiến bộ Xuất dương cầu học là một quyết định mang tính độtphá, thay đổi hướng đi và phương pháp đấu tranh, mở cửa hướng ra bên ngoài để họchỏi, tiếp nhận những cái mới cho phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam Phan BộiChâu, chính là con người với hoài bão cách tân, đứng trước bế tắc của lịch sử dân tộc
đã cố gắng đi tìm lời giải đáp: tự cường để cứu nước Xuất phát điểm của Phan BộiChâu chính là lòng yêu nước, thương dân-nền tảng vĩ đại đưa ông suốt cuộc đời phấn
đấu cho sự nghiệp cách mạng Tư tưởng “vọng ngoại” của Phan Bội Châu cũng là
một hình thức thể hiện của chủ nghĩa yêu nước chân chính và của tư tưởng duy tân tựcường
Mục tiêu của phong trào là muốn tìm một thế lực mạnh bên ngoài có thể giúpViệt Nam chống lại Pháp để giành độc lập và sau đó phát triển đất nước giàu mạnh.Chủ trương Đông Du từ cầu viện quân sự chuyển thành xuất dương cầu học Đây làmột sự chuyển đổi hợp lý, có sức thuyết phục và có thể chuyển thành một phong tràoyêu nước được nhiều người hưởng ứng So với phong trào duy tân ở Nhật Bản, conđường canh tân ở Việt Nam có cả những điểm tương đồng và khác biệt Cả hai nướcđều nhận thức được tầm quan trọng của việc học tập khoa học kĩ thuật từ bên ngoài Ở
Nhật có phong trào “Hà Lan học” thì ở Việt Nam có trào lưu canh tân đất nước của
Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… vào cuối thế kỷ XIX và phong trào Đông
Du, Duy Tân đầu thế kỷ XX Chỉ có điều phong trào duy tân ở Nhật Bản được tiếnhành sau khi đã xóa bỏ sự tồn tại của chính quyền phong kiến Mạc Phủ, còn phongtrào duy tân ở Việt Nam được thực thi trong điều kiện chế độ phong kiến đang còn tồntại và đất nước đang nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp Kết quả khác nhau là
Trang 27điều dễ thấy Tuy vậy, sự thức tỉnh ở Việt Nam được xem là khởi đểm cho nhữngchuyển biến mạnh mẽ trong thời gian tiếp theo.
Sự thực, hiện tượng Đông Du trên đất Nhật Bản đầu thế kỉ XX đã tác động sâusắc đến tư tưởng và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam Thông qua hoạtđộng của phong trào đã hình thành một nguồn lực quan trọng, làm phong phú nội lựccho đất nước, tạo tiền đề phát huy nội lực trong tương lai Không chỉ là một phongtrào xuất dương cầu học đơn thuần, đây còn là một phong trào chính trị, cách mạng, làmột trường rèn luyện cách mạng cho thanh niên Việt Nam Thực tế lịch sử cho thấy,phong trào đã đào tạo được một số cán bộ cách mạng cung cấp cho phong trào yêunước ở Việt Nam trong thế kỉ XX như Đặng Tử Mẫn, Lương Ngọc Quyến, Lương NhịKhanh, … và nhiều gương mặt thanh niên ưu tú khác
Phong trào Đông Du đã góp phần làm phá sản chính sách ngu dân của thực dânPháp Đông Du cùng những hoạt động sôi nổi, những tác phẩm tràn đầy nhiệt huyếtcủa Phan Bội Châu kết hợp với phong trào Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục ở trongnước đã tạo ra những chuyển biến mới trong nhận thức tư tưởng và hình thái đấu tranhgiải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam từ hệ tư tưởng phong kiến sang tư tưởngdân chủ tư sản Như vậy, tầm nhìn của phong trào Đông Du rất xa và rộng, chỉ có điềuhoàn cảnh chính trị-xã hội đương thời không cho phép phong trào đến cái đích thànhcông Hoạt động của phong trào đã kích động, mở đường cho những người có tưtưởng canh tân thực hiện chấn hưng đất nước sau này
Những bài học lịch sử của phong trào Đông Du để lại rất có ý nghĩa Đông Du
chỉ ra rằng không thể trông chờ vào đế quốc để chống đế quốc, mà phải biết tự “đem
sức ta mà giải phóng cho ta” Điều đáng ghi nhận và đánh giá cao là Phan Bội Châu
cùng các đồng chí của ông đã thấy rõ không có bạo lực cách mạng thì không thể thắngđược kẻ thù Dù chọn con đường bạo động vũ trang để giành độc lập dân tộc, nhữngnhà cách mạng Đông Du không hề coi nhẹ việc nâng cao dân trí, tuyên truyền giáodục và thức tỉnh quốc dân đồng bào
Phong trào Đông Du đầu thế kỉ XX còn cho thấy, trong thời cận-hiện đại của lịch
sử Việt Nam để cứu nước, để phát triển xã hội, những nhà ái quốc không thể tự giammình trong phạm vi quốc gia mà phải tiếp cận với thế giới, phải tiếp xúc và giao lưu
Trang 28bên ngoài Từ đó có thể hiểu mình, hiểu người, hiểu rõ thực trạng đất nước, tìm ra giảipháp đúng cho quá trình giải phóng dân tộc
1.2.b Phong trào Duy Tân
Phong trào Duy Tân diễn ra vào khoảng những năm 1906-1908 do một số sĩ phutiến bộ khởi xướng như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng,…Phong trào Duy Tân là một biện pháp cách mạng điển hình đầu thế kỉ XX song songtồn tại cùng tư tưởng bạo động vũ trang của Phan Bội Châu Đại diện tiêu biểu cho xuhướng cải cách lúc bấy giờ là Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh (1872-1926) là một sĩ phu tư sản hóa Ông đỗ Phó bảng năm
1901, không ra làm quan, lại sống ở một vùng giao thương với nước ngoài phát triển
là Quảng Nam-Đà Nẵng Phan Châu Trinh không những chịu ảnh hưởng của tư tưởngNguyễn Lộ Trạch mà còn sớm tiếp xúc Tân thư, Tân văn nói về tư tưởng của nhiềunhà dân chủ tư sản Pháp, Trung Quốc Tháng 8 năm 1906, Phan Châu Trinh viết thưgửi Toàn quyền Pôn Bô thể hiện tư tưởng của mình và lập tức trở thành thủ lĩnh của
xu hướng cải cách trong cả nước
Phong trào Duy Tân nhằm vào cải cách đất nước về văn hóa, xã hội gắn liền vớiviệc động viên lòng yêu nước, đấu tranh cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị thực dân
Nếu như Phan Bội Châu chủ trương cầu viện để “bài Pháp” thì Phan Châu Trinh lại
“ỷ Pháp cầu tiến bộ” Về đường lối cứu nước, Phan Châu Trinh chưa đặt việc khôi
phục chủ quyền quốc gia thành nhiệm vụ trước mắt Mặt khác, Phan Châu Trinh cònphản đối việc dùng vũ lực để giành lại độc lập cũng như cầu viện bên ngoài: bất bạođộng, bạo động tắc tử, bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu Ông chủ trương yêu cầuchính quyền thuộc địa sửa đổi chính sách cai trị để có thể giúp nhân dân Việt Namtừng bước tiến đến văn minh Ông kịch liệt lên án bọn vua quan phong kiến hủ bại và
đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản với yêu cầu: “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân
sinh” Phan Châu Trinh cho đây chính là những điều kiện để tiến tới giải phóng dân
tộc Nhưng Phan Châu Trinh cũng như các sĩ phu cải cách không ai nghĩ tới một đảngchính trị trong quá trình hoạt động Điều này đã phần nào quyết định tính cách vàbước đi của xu hướng này
Để thực hiện tư tưởng của mình, Phan Châu Trinh hô hào mở mang trường học,phát triển công thương, cải cách phong tục lạc hậu, chống lề lối phong kiến cổ hủ,…
Trang 29Chủ trương của ông được nhiều sĩ phu yêu nước hưởng ứng, phát triển nhanh chóngrộng khắp cả nước trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… với nhiều hoạtđộng rất đa dạng.
Trước hết ở Trung Kì từ 1906 đến 1908, Phan Châu Trinh trực tiếp lãnh đạophong trào Duy Tân và phong trào chống thuế Để cổ vũ cho lối học thực nghiệp, từnăm 1906, Phan Châu Trinh cho thành lập nhiều trường dạy chữ Quốc ngữ, chữ Pháp,văn hóa kĩ thuật Các sĩ phu cải cách cũng rất chú trọng phát triển kinh tế, lập ra cáchội buôn lớn như: Hội An, Phan Thiết, Liên Thanh thương quán,… kinh doanh hàngdệt vải, lâm sản, nông sản, hải sản,… giao thương với cả nước ngoài Hoạt động sôinổi hơn cả là trên lĩnh vực tư tưởng, sinh hoạt với khẩu hiệu để răng trắng, cắt tócngắn, ăn mặc theo kiểu mới,… Ở nông thôn nổi lên phong trào chống thuế của nôngdân Đến đây phong trào đã vượt khỏi sự kiểm soát của các sĩ phu cải cách Thực dânPháp lợi dụng sự kiện này thẳng tay đàn áp phong trào Duy Tân Một số sĩ phu bịchém như Trần Quý Cáp, Lê Khiết và hàng chục người bị án lưu đày ở Côn Đảo nhưPhan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế,…
Ở Bắc Kì, đáng chú là sự ra đời của Đông Kinh nghĩa thục tại Hà Nội Ở đây,Lương Văn Can, Nguyễn Quyền được sự ủng hộ của nhiều trí thức tiến bộ, đã mởtrường tư thục năm 1907 học theo kinh nghiệm của Nhật Bản Nội dung dạy học theolối mới, chú trọng khoa học tự nhiên, học bằng chữ Quốc ngữ, Hán và Pháp văn Thầydạy là những nhân vật nổi tiếng như Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Dương
Bá Trạc,… Số học sinh lên tới hàng ngàn người Nhà trường thường cho học sinh đingoại khóa, tham gia các cuộc bình giảng thơ văn, nói chuyện với dân chúng Trườngngay từ lúc đầu đã dịch và biên soạn nhiều sách Có những cuốn đã trở thành nhữngtác phẩm đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ in ở Hà Nội như Nam Quốc Giai Sử, Việt NamQuốc Sử Lược, Nam Quốc Địa Cư,… đặc biệt đã xuất hiện một số tác phẩm tảkhuynh như Tiếng cuốc kêu, Bài ca vận động lính tập,… Vì lo sợ, tháng 11 năm 1907,thực dân Pháp đã cho đóng cửa trường này
Phong trào Duy Tân ở Nam Kì diễn ra có vẻ ít rầm rộ hơn với cái tên cuộc MinhTân, tập trung vào những hoạt động kinh tế Cùng với Sài Gòn, nhiều tỉnh đồng bằngsông Cửu Long như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Thơ,… đã mọc lên các kháchsạn (Nam Trung ở Sài Gòn, Minh Tân ở Mỹ Tho…), các cơ sở công nghệ (dệt, xà
Trang 30phòng, may mặc…), các hội tương tế và đặc biệt một số công ty như Minh Tân côngnghệ xã, Nam Kì thương cuộc,… Phong trào Duy Tân ở đây cũng lắng xuống từ cuốinăm 1908, sau phong trào chống thuế do Pháp tiến hành đàn áp.
Phong trào Duy Tân cuối cùng đã thất bại Đó cũng là sự thất bại chung của xuhướng cải cách đầu thế kỉ XX Nguyên nhân thất bại lớn nhất là tách rời hay đúng hơn
là đã chống lại biện pháp bạo động cứu nước Phan Châu Trinh cũng không tán thànhcầu viện nước ngoài Bài xích phương pháp đấu tranh vũ trang, Phan Châu Trinh đã tựtách mình ra khỏi sức mạnh truyền thống lâu đời của ông cha trong đấu tranh chốngngoại xâm đó là vũ trang khởi nghĩa Tư tưởng cải cách đơn thuần không đặt vấn đềbạo động của Phan Châu Trinh đã dẫn ông tới chỗ hoàn toàn loại trừ vấn đề đánh đuổingười Pháp, ngược lại còn đặt vấn đề dựa vào Pháp để chống phong kiến Nhưngchống phong kiến chỉ dừng lại ở việc lên án quan lại hủ bại chứ chưa đụng đến toàn
bộ cơ cấu của nó Như vậy chủ trương chống phong kiến của Phan Châu Trinh về cơbản còn đứng trên lập trường Nho giáo
Do hạn chế nhãn quan chính trị, coi chủ nghĩa đế quốc cũng là chủ nghĩa tư bản,
mà chủ nghĩa tư bản thì tiến bộ hơn phương thức sản xuất phong kiến, nên Phan ChâuTrinh chủ trương tạm thời dựa vào đế quốc để chống phong kiến, giành lại chủ quyền,sau đó sẽ đánh đổ đế quốc giành lại độc lập dân tộc Điểm xuất phát trên đây của PhanChâu Trinh là nhận thức sai lầm về bản chất của các cường quốc tư bản Âu, Mĩ, doquá tin vào truyền thống tốt đẹp của nền dân chủ tư sản phương Tây Mặt khác, PhanChâu Trinh còn phê phán, đánh giá trình độ của nhân dân ta quá kém để từ đó khôngtin vào khả năng cách mạng của nhân dân
Thực dân và phong kiến đã câu kết chặt chẽ với nhau thì chủ trương dựa vàoPháp để chống phong kiến của Phan Châu Trinh không chỉ là một ảo tưởng, mà còn làmột sai lầm nghiêm trọng, làm chệch mục tiêu đấu tranh của quần chúng lúc này, đó
là phải mũi nhọn vào kẻ thù chính là thực dân Pháp
Mặc dù chủ trương cứu nước của Phan Châu Trinh còn nhiều hạn chế về mặt lịch
sử, nhưng ông vẫn là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất ở Việt Nam trong nhữngnăm đầu thế kỉ XX Phan Châu Trinh là một nhà yêu nước nhiệt thành, đã có nhữngđóng góp tích cực vào việc khơi dậy tư tưởng dân chủ, mở ra cách nhìn mới về vấn đềdân tộc, dân chủ Trong hoàn cảnh một xứ thuộc địa, xu hướng cải cách khi có điều
Trang 31kiện thâm nhập vào quần chúng sẽ nhanh chóng biến thành bạo động, hoặc khôngtránh khỏi dẫn tới vũ trang bạo động Việc cổ động thực nghiệp, bài trừ hủ tục phongkiến đã xen lẫn vận động binh lính chống Pháp Đó là tiền đề dẫn đến các cuộc đấutranh chống đi phu, chống thuế điển hình là phong trào năm 1908.
1.2.c Phong trào Đông Kinh nghĩa thục
Nhật Bản cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là “điểm sáng” thu hút nhiều chí sĩ
nhiều nước Châu Á đến học tập để duy tân đất nước Đặc biệt mở trường học kiểu Tâynhư Khánh Ứng nghĩa thục của Nhật Bản là hình thức rất được nhiều nước chú ý họchỏi Năm 1906, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh tham quan Khánh Ứng nghĩa thụctại Đông Kinh Cuối năm 1906, trong một cuộc họp tại Bắc Ninh đã quyết định thànhlập tại Hà Nội Đông Kinh nghĩa thục Tháng 3 năm 1907, một nhóm sĩ phu cùng chíhướng đứng đầu là Lương Văn Can, Nguyễn Quyền đứng ra thành lập Đông Kinhnghĩa thục ở Hà Nội Mục đích của trường là :
- Nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc và chí tiến thủ cho quần chúng.
- Truyền bá một nền tư tưởng học thuật mới và một nếp sống văn minh tiến bộ.
- Phối hợp hành động với các sĩ phu đã xuất dương và hỗ trợ cho phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và phong trào Duy Tân đang phát triển trong cả nước 7
Thực chất, Đông Kinh nghĩa thục là một tổ chức cách mạng dùng hình thức mởtrường học, tuyên truyền văn hóa để đào tạo nhân tài, tập hợp lực lượng yêu nước và
là trung tâm của phong trào vận động văn hóa mang tính chất dân tộc, dân chủ Dotính chất vận động của văn hóa nên hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục phổ biến ởthành thị là chủ yếu
Nội dung hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục rất phong phú trên các lĩnh vựcvăn hóa-giáo dục, tư tưởng, xã hội, kinh tế Đông Kinh nghĩa thục đả kích nền giáodục phong kiến cũng như hậu quả của nền giáo dục ngu dân của chính quyền thực dânkhông có ý nghĩa mở mang văn hóa, văn minh cho dân tộc Đông Kinh nghĩa thục phêphán nền giáo dục phong kiến xa rời thực tế, xem sách thánh hiền là đỉnh cao của trítuệ Mẫu người của nền giáo dục phong kiến hướng tới là kẻ sĩ, là người quân tử, làbậc trượng phu, hoàn toàn khác với những người bình dân, là thành phần đông đảo
7 Đinh Xuân Lâm (chủ biên) (2005), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập II, Nxb Giáo dục, 160