Cao trào đấu tranh dân chủ diễn ra sâu rộng với nhiềuhình thức đấu tranh phong phú.Cao trào đó đã giáo dục sâurộng chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chủ trương cáchmạng của Đảng trong nhâ
Trang 1TÀI LIỆU ÔN THI LỊCH SỬ VIỆT NAM
QUỐC TẾ HỌC
CHỦ ĐỀ 1: VẤN ĐỀ CHUẨN BỊ CHO CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM
Cách đây hơn 68 năm, mùa thu năm 1945, lần đầu tiên trong lịch
sử, toàn thể nhân dân Việt Nam thực sự được nắm trong tayquyền sống, quyền tự do và quyền mưu cấu hạnh phúc Thắng lợicủa Cách mạng tháng Tám 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới,một bước ngoặt ngoan mục cho lịch sử dân tộc.Tố Hữu, trongnhững lời thơ của mình, đã không thể giấu được niềm sung sướngấy:
“Mặt trời đỏ huyền kỳ mọc lên ôi náo nức
Nhạc dân gian cuồn cuộn bốc hồng trần
Ta đi đây, là trăm vạn thiên thần
Chiều chiến thắng phá tan quân quỷ sứ
Ta đi dưới bốn nghìn năm lịch sử
Đêm nay tràn hoa đỏ nghị vàng tươi
Trang 2Ta đi đây với thế kỉ hai mươi
Mạch suối trẻ trong dòng người vô định”
(Vui bất tuyệt – Tố hữu)
Đây được xem là móc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, một sựkiên mà toàn thể nhân dân Việt Nam và những người nước ngoàiquan tâm đến Việt Nam đều tường tận Dưới gốc nhìn của sinh
viên ngành Quốc tế học, chúng em xin phép được tìm hiểu và
trình bày chủ đề này dựa trên những vấn đề nổi bật như sau:
Vài nét về quá trình chuẩn bị Cách mạng
Vấn đề thời cơ
Diễn biến chính
Vai trò của Đảng và Hồ Chí Minh
Nguyên nhân thắng lợi và gía trị trường tồn của Cách Mạng
I Vài nét về quá trình chuẩn bị Cách mạng
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc khởi nghĩa vũ tranggiành chính quyền, từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa
và đã giành được thắng lợi bằng cuộc tổng khởi nghĩa trong 15ngày (từ ngày 14 đến 18/8/1945) Để có được thắng lợi trong 15ngày, thắng lợi phải giành được một cách nhanh chóng, ít đổmáu, Cách mạng tháng Tám được chuẩn bị trong 15 năm kể từ
Trang 3khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (đầu năm 1930) đến năm
1945 Trong 15 năm đó, sự chuẩn bị cho thắng lợi của Cáchmạng của Đảng Cộng sản thể hiện ở các mặt sau :
1 Sự thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam
Năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930) vàthông qua Cương lĩnh chính trị do Nguyễn Ái Quốc khởithảo Đảng ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của cáchmạng Việt Nam, chấm dứt thời kì khủng hoảng lãnh đạocách mạng Đảng trở thành người duy nhất lãnh đạo cáchmạng Việt Nam, với đường lối cách mạng đúng đắn Sự rađời của Đảng là sự chuẩn bị nhân tố tất yếu đầu tiên chothời kì vùng dậy oanh liệt nhất và bước nhảy vọt vĩ đại nhấttrong lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam
Trang 43 Thoái trào cách mạng 1932 - 1935 :
Đây là thời kì địch đã tiến hành khủng bố và đàn áp dãman.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân tiếp tục đấutranh chống khủng bố, phục hồi trong phong trào cáchmạng, chuẩn bị cho phong trào cách mạng mới.Qua phongtrào, Đảng và nhân dân đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệmthành công cũng như thất bại, khắc phục khó khăn và sailầm để Đảng chuẩn bị cho một cao trào cách mạng mới
4 Cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939 :
Trước sự thay đổi tình hình quốc tế và trong nước, Đảngphát động một cao trào đấu tranh cách mạng của quầnchúng đòi hỏi các quyền tự do dân chủ cơm áo và hoà bình,chống chiến tranh, chống bọn phản động thuộc địa và taysai Cao trào đấu tranh dân chủ diễn ra sâu rộng với nhiềuhình thức đấu tranh phong phú.Cao trào đó đã giáo dục sâurộng chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chủ trương cáchmạng của Đảng trong nhân dân, nâng cao uy tín và ảnhhưởng của Đảng Cộng sản, hướng quần chúng đi theo ngọn
cờ cách mạng của Đảng, hình thành một đạo quân chính trịhùng hậu cho các mạng, tiếp tục rèn luyện Đảng và quầnchúng trong thực tiễn cách mạng, tích luỹ thêm nhiều kinhnghiệm mới Phong trào dân chủ 1936 - 1939 là cuộc diễntập lần thứ hai, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám thắnglợi
Trang 55 Cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945 :
Nội dung:
Nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc lênhàng đầu
Mở rộng mặt trận dân tộc thống nhấtrộng rãi
Nêu khẩu hiệu lập Chính phủ Việt NamDân chủ Cộng hoà
Tích cực chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang,coi đó là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng,toàn dân, đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lênTổng khởi nghĩa khi có thời cơ
b Chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũtrang và xây dựng căn cứ địa cách mạng; phát triểnlực lượng chính trị quần chúng, mở rộng các tổ chức
Trang 6cứu quốc và Việt Minh; đẩy mạnh phong trào đấutranh của quần chúng ở cả nông thôn và đô thị.
c Duy trì đội du kích Bắc Sơn, thành lập các độicứu quốc quân, lập ra Việt Nam tuyên truyền giảiphóng quân, xây dựng căn cứ địa cách mạng ở BắcSơn - Vũ Nhai và Cao Bằng; thực hiện chủ trương
“sửa soạn khởi nghĩa”, và “sắm vũ khí đuổi thùchung”
d Phát động cao trào Kháng Nhật, cứu nước rộngrãi, khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộphận, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ, chuẩn bịthực lực để chuyển sang tổng khởi nghĩa (từ tháng 3đến đầu tháng 8 năm 1945)
Kết luận : Qua 15 năm chuẩn bị và tích luỹ lực lượng, trực tiếp làthời kì 1939 - 1945 đã tạo nên một lực lượng cách mạng hùnghậu bao gồm cả lực lượng quần chúng và lực lượng vũ trang, tạolực và thế cách mạng ở cả vùng nông thôn và đô thị, chờ đợi mộtthời cơ ngàn năm có một
II Vấn đề thời cơ cách mạng
1 Thời cơ là gì?
Thời cơ là một hoàn cảnh thuận lợi đến trong một thời gianngắn, là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định nhất,
Trang 7có lợi nhất cho việc phát huy mọi sức mạnh, đảm bảo chomột việc có thể tiến hành để giành thắng lợi Chủ nghĩaMác - Lênin xem việc nắm vững thời cơ và kiên quyết hành
động khi có thời cơ là “nghệ thuật lãnh đạo cách mạng”
của Đảng và của giai cấp vô sản; nó thể hiện rõ tính chất,phẩm chất, lòng trung thành, chủ nghĩa anh hùng cáchmạng, trình độ, tài nghệ của người cộng sản Thời cơ lànhân tố khách quan, xuất hiện khi tình thế cách mạng đượchình thành, song nhận thức đúng thời cơ là yếu tố chủ quan.Trong mọi hành động của con người, khi nào thống nhấtđược điều kiện khánh quan với nhận thức chủ quan thì sẽđạt được thành công Một cuộc cách mạng muốn thànhcông nhanh chóng và ít phải đổ máu thì ngoài việc chuẩn bịchu đáo cần phải biết chớp thời cơ cách mạng
Thời cơ cách mạng là là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
điều kiện thuận lợi về khách quan và chủ quan; trong đó, điều kiện chủ quan giữ vai trò quan trọng nhất.
Cũng theo Chủ Nghĩa Mác-Lênin, thời cơ bùng nổ và thắnglợi của một cuộc cách mạng thì phải hội đủ 3 điều kiện sauđây:
Kẻ thù đã suy yếu đến mức không thể thống trị như
cũ được nữa
Trang 8 Quần chúng bị thống trị họ không thể sống như cũđược nữa
Đội tiên phong của cách mạng – tức Đảng đã sẵnsàng lãnh đạo cách mạng
2 Thời cơ trong Cách mạng tháng Tám
Về kẻ thù:
Phát xít Nhật ngày càng bại trận.Ngày 6 và ngày 9/8/1945,
Mĩ dội hai quả bom nguyên tử hủy diệt hai thành phốHirosima và Nagaxaki Ngày 9/8/1945, Hồng quân Liên Xôtuyên chiến với Nhật, đánh tan đạo quân Quan Đông củaNhật ở vùng Đông Bắc – Trung Quốc
Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minhkhông điều kiện khiến quân Nhật ở Đông Dương như “rắnmất đầu”, suy yếu rệu rã, chính quyền bù nhìn Trần TrọngKim hoang mang đến cực độ
Quân pháp: vốn đã bị quân Nhật đảo chính vào đêm ngày9/3/1945 Mặc dù, chúng có âm mưu muốn tái chiếm nước
ta nhưng trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình, Phápkhông kịp trở tay
Trang 9Quân Đồng minh: 16 nghìn quân Anh chưa vào miền Nam
và 200 nghìn quân Tưởng chưa vào miền Bắc để giải giápquân Nhật
Về phía ta:
Dưới chinh sách thống trị hà khắc của đế quốc phát xít,Pháp, Nhật đã đẩy nhân dân ta đến cảnh cùng cực, nạn đói1944-1945 làm 2 triệu đồng bào ta bị chết đói và hàng triệungười khác ngắc ngoải.Quần chúng nhân dân không thểsống như cũ được nữa, mâu thuẫn giữa nhân dân ta với phátxít Nhật trở nên gay gắt
Tầng lớp, bộ phận trung gian, những người trí thức yêunước, có tư tưởng dân chủ, tiến bộ, những người có tinhthần dân tộc, kể cả một bộ phận trong giai cấp hữu sảnnhưng gần với quần chúng, nhận thức được xu thế lịch sử,ngả về phía cách mạng Tương quan lực lượng có lợi chophía cách mạng
Thông qua quá trình chuẩn bị lâu dài vềlực lượng chính trị,lực lượng vũ trang; đặc biệt thông qua khởi nghĩa từngphần,các cao trào kháng Nhật cứu nước, quần chúng cáchmạng lúc này đã sẵn sàng nổi dậy giành chính quyền
Đảng CSĐD đã chuẩn bị đầy đủ.Thông qua các Hội nghịBCHTW 11/1939, 11/1940, 5/1941, Đảng giương cao ngọn
Trang 10cờ GPDT lên hàng đầu Đảng có quyết tâm cao, sẵn sànglãnh đạo quần chúng, chủ động chuẩn bị lực lượng cáchmạng chu đáo, xây dựng và mở rộng Mặt trận Việt Minh,tận dụng tốt sự đoàn kết tin tưởng của nhân dân, góp phầnthúc đẩy thời cơ chin muồi
Thời cơ ngàn năm có một là vì:
Thời cơ cho cách mạng tháng Tám chỉ tồn tại trong
một khoảng thời gian rất ngắn (từ khi Nhật đầu hàng Đồngminh (15/8) đến trước khi quân đồng minh kéo vào nước ta(đầu tháng 09/1945)) => Tổng khởi nghĩa diễn ra một cách
nhanh chóng và ít phải đổ máu.Khi thời cơ cách mạng đến,
ta phải nhận thức đúng thời cơ và kiên quyết hành độngcách mạng.Nếu chúng ta không tiến hành khẩn trương thìthời cơ sẽ đi qua
Mặt khác, nếu tổng khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, cáchmạng sẽ gặp khó khăn vì phát xít Nhật tuy yếu và đangtrong cơn giãy chết, nhưng nếu chúng tập hợp quân để phảnkháng thì cách mạng sẽ gặp nhiều tổn thất nặng nề, cáchmạng sẽ đổ nhiều xương máu Nếu Tổng khởi nghĩa nổ ramuộn hơn thì quân đồng minh Anh, Pháp, Trung Hoa dânquốc kéo vào nước ta thì cách mạng sẽ mất đi thế chủ động,chính phủ Trần Trọng Kim bắt tay với đế quốc, thời cơcách mạng sẽ trôi qua
Trang 11Nhận thức đúng thời cơ cách mạng, chủ tịch Hồ ChíMinh nói “Lúc này, thời cơ đã đến, dù có đốt cháy cả dãyTrường Sơn cũng phải giành cho được độc lập!”, “Đây làthời cơ ngàn năm có một, rất hiếm và rất quý, nếu bỏ quathì sẽ không bao giờ có lại nữa”.
Cuộc tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945 là một thờiđiểm có một không hai, thể hiện nghệ thuật dự đoán và tậndụng thời cơ trong nước và quốc tế của Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh Cuộc tổng khởi nghĩa được tiến hành trongmột bối cảnh đặc biệt và vô cùng thuận lợi.Tuy nhiên, xét
về mặt khách quan, lúc bấy giờ, thời cơ thuận lợi nó đếnvới nhiều nước trong khu vực.Song, chỉ có cuộc Tổng khởinghĩa của Việt Nam là giành được thắng lợi nhanh chóng
và triệt để Điểm mấu chốt đó chính là do thực lực củachúng ta, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề rađường lối đấu tranh giải phóng dân tộc một cách đúng đắn,sáng tạo, tạo dựng được cơ sở, nền tảng cách mạng vữngchắc để chờ đợi thời cơ thuận lợi phát động khởi nghĩa.Nếu chúng ta không xây dựng, chuẩn bị tốt lực lượng;không tiến hành các đợt tập dượt từ thấp lên cao, thì dù thời
cơ tới cũng khó có thể tiến hành khởi nghĩa thắng lợi.Mới thấy rằng, trong cách mạng, nhân tố chủ quan là vô cùng quan trọng và đóng vai trò tiên quyết.
Trang 12Cách mạng tháng Tám 1945 là “sự lặp lại” lịch sử ở đỉnh cao với
việc kế thừa và phát triển về nghệ thuật nắm thời cơ và kiên
quyết hành động tận dụng thời cơ của ông cha ta
5 Vì sao nói cao trào 1930-1931 là cuộc diễn tập thứ nhất?
6 Việt Nam có cơ hội và thách thức trong giai đoạn 1929-1933 là gì? Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nắm cơ hội như thế nào? Làm gì?
7 Luận cương tháng 10 có tiến bộ và hạn chế gì so với cách mạng Việt Nam bấy giờ?
8 So sánh Luận cương tháng 10 của Trần Phú và Cương lĩnh chính trị củaNguyễn Ái Quốc?
Trả lời:
1 Qua các thời kỳ cao trào và thoái trào, Đảng đã thể hiện vai trò như sau:
a Cao trào:
Trang 13- Mở đầu cao trào ở Nghệ Tĩnh là cuộc biểu tình ngày 01/05/1930 do Đảng bộ Nghệ An lãnh đạo.
- Tháng 10/1930, bộ máy chính quyền của đế quốc, phong kiến đã tan rã
ở nhiều nơi, tổ chức Đảng ở địa phương đã lãnh đạo nhân dân đứng ra quản lý mọi mặt đời sống, chính trị - xã hội ở nông thôn
- Các cuộc đấu tranh diễn ra liên tục vào ngày 1/8/1930, tháng 9 và 10 năm 1930 ở Nghệ Tĩnh
b Thoái trào:
- Các chi bộ Đảng trong nhà tù lãnh đạo phong trào đấu tranh, biến nhà
tù thành trường học cách mạng và tìm cách liên lạc với cơ sở bên
- Cuối năm 1934 đầu 1935 hệ thống Đảng dần được hồi phục
Tuy Đảng Cộng Sản Đông Dương chịu tổn thất nặng nề nhưng vẫn giữđược gốc rễ trong quần chúng, dần dần khôi phục thế lực và đứng vữngtrên cương vị lãnh đạo
2 So sánh Cương lĩnh chính trị đầu tiên và Luận cương tháng 10:
a Nội dung:
•Cương lĩnh chính trị đầu tiên:
-Chiến lược cách mạng: tiến hành “ tư sản dân quyền cách mạng và thổđịa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”
Trang 14-Nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến và tư sản phản cách mạng, làm cho Việt Nam độc lập tự do, tịch thu sản nghiệp của đế quốc và phản cách mạng chia cho dân cày nghèo, tiến hành cáchmạng ruộng đất.
-Lực lượng cách mạng: công nông, tiểu tư sản, trí thức, lợi dụng hoặc trung lập phú nông, trung tiểu địa chủ, tư sản yêu nước
-Lãnh đạo cách mạng: Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp vô sản
-Quan hệ với thế giới: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận khắng khít của cách mạng thế giới
Tuy còn vắn tắt nhưng đây là cương lĩnh giải phóng dân tộc đầu tiên của Đảng, thể hiện sự đúng đắn, sáng tạo, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp Độc lập tự do là tư tưởng cốt lõi của cương lĩnh
•Luận cương tháng 10/1930:
-Tính chất: Cách mạng Đông Dương lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa
-Nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ phong kiến và đế quốc là hai nhiệm vụ
có quan hệ khắng khít
-Lực lượng cách mạng: giai cấp vô sản và nông dân
-Lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản và đội tiên phong là Đảng cộng sản
-Nêu rõ hình thức, biện pháp đấu tranh, quan hệ giữa cách mạng Đông dương và cách mạng thế giới
Trang 15Hạn chế: chưa nêu rõ được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương,không đưa ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hang đầu, nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất, đánh giá không đúng khả năng cách mạng của tiểu tư sản, tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo bộ phận trung tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc thống nhất.
3 Sỡ dĩ nói phong trào 1936-1939 là cuộc diễn tập thứ 2 cho thành công của CMT8 sau này là vì:
a Về phía Đảng: Có sự trưởng thành trong chỉ đạo sách lược cách mạng
b Về phía Quần chúng: được tập hợp trong nhiều tổ chức, tiêu biểu nhất
là “mặt trận dân chủ Đông Dương”, hiểu rõ hơn về chủ nghĩa Mác- Lenin, được rèn luyện trong những hình thức đấu tranh mới ( đấu tranh chính trị công khai hợp pháp, bán công khai, nửa hợp pháp, bí mật và nửa bí mật) Nhiều cán bộ cách mạng mới được đào tạo cùng với hơn
3000 chiến sĩ cách mạng cũ tạo thành đội ngũ đông đảo
Phong trào 1936-1939 đã để lại nhiều bài học quý, nhất là về công tác vậnđộng tổ chức quần chúng, hình thức đấu tranh và khẩu hiệu đấu tranh
4 Nội dung, mục tiêu, lực lượng tham gia được nêu trong Luận cương tháng 10/1930 (Trần Phú):
•Luận cương tháng 10/1930:
-Tính chất: Cách mạng Đông Dương lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa
-Nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ phong kiến và đế quốc là hai nhiệm vụ
có quan hệ khắng khít
Trang 16-Lực lượng cách mạng: giai cấp vô sản và nông dân.
-Lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản và đội tiên phong là Đảng cộng sản
-Nêu rõ hình thức, biện pháp đấu tranh, quan hệ giữa cách mạng Đông dương và cách mạng thế giới
5 Phong trào 1930-1931 là cuộc diễn tập đầu tiên của cách mạng tháng 8
b Về phía quần chúng: lần đầu tiên được tập dượt đấu tranh dưới sự lãnh đạocủa Đảng Qua đấu tranh, quần chúng đã được tập hợp, giáo dục, giác ngộ và
tổ chức tạo nên sức mạnh Quần chúng thấy rõ hơn bộ mặt dã man của kẻ thù,giác ngộ hơn về chủ nghĩa Mác- Lenin, hiểu hơn về Đảng, về những người cộng sản và được rèn luyện một phương pháp cách mạng mới, đó là phương pháp cách mạng bạo lực của quần chúng theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lenin
Cao trào đào tạo them được nhiều cán bộ cách mạng mới, để lại nhiều bài họckinh nghiệm, kể cả bài học thành công và thất bại
Trang 176 Trong giai đoạn 1929-1933, Việt Nam đương đầu với rất nhiều thách thức và cơ hội.
a Thách thức:
Kinh tế: 1929-1933, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, kinh
tế Việt Nam suy thoái (công nghiệp suy giảm; nông nghiệp: ruộng đất
bỏ hoang, lúa gạo sụt giá; thương nghiệp xuất nhập khẩu đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả đắt đỏ…) Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam rất nặng nề so với các thuộc địa của Pháp cũng như các nước kháctrong khu vực
Xã hội: Mâu thuẩn nảy sinh giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp
do Công nhân thất nghiệp, nông dân bần cùng không lối thoát, tiểu thương tiểu chủ làm ăn khó khăn, phá sản, tư sản dân tộc làm ăn khó khăn, sinh viên ra trường không việc làm,… Chính những biến động trong xã hội đã dẫn đến Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với thực dân Pháp,nông dân và địa chủ phong kiến ngày càng gay gắt
Chính trị: Đầu 1930, khởi nghĩa Yên bái thất bại, Pháp tiến hành khủng
bố dã man những người yêu nước, làm căng thẳng những mâu thuẩn vàtình hình bất ổn trong xã hội dân cao
b Thời cơ: 02/1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời kịp thời lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nông cả nước
Dựa vào tình hình thời cơ và thách thức trên, Đảng Cộng Sản Việt Nam đãkịp thời lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nông trong cả nước
Phong trào trên toàn quốc: 02-04/1930, nhiều cuộc đấu tranh của công nông diễn ra đòi tăng lương giảm giờ làm, giảm sưu thuế (công nhân đồn điền Phú Riềng, Dầu Tiếng,…), nhân ngày quốc tế lao động 01/05 cả nước
Trang 18bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh, lần đầu tiên công nhân Việt Nam biểu tình
kỷ niệm ngày quốc tế lao động, đấu tranh đòi quyền lợi cho nhân dân lao động trong cả nước, thể hiện tình đoàn kết cách mạng với nhân dân lao động thế giới, từ tháng 06-08/1930 nhiều cuộc đấu tranh diễn ra trên toàn quốc Phong trào ở Nghệ Tĩnh: ngày 9/12/1930 cuộc biểu tình của 8000 nông dân Hưng nguyên đòi giảm sưu thuế, quần chúng kéo đến phá nhà lao, đốt huyện đường, vây đồn lính khố xanh Nhiều cấp ủy Đảng ở thôn
xã lãnh đạo nhân dân làm chủ vận mệnh, tự quản lý đời sống kinh tế chínhtrị văn hóa xã hội ở địa phương, làm chức năng của chính quyền Xô Viết.Đảng đã xây dựng mô hình Xô Viết tại Nghệ An và Hà Tĩnh
-Chính trị: thực hiện các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân, quần chúng
tự do hoạt động trong các đoàn thể cách mạng Các đội tự vệ đỏ và tòa án nhân dân được thành lập
-Kinh tế: chia ruộng đất công cho dân cày nghèo, bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thuế muối,….cho người nghèo
-Văn hóa xã hội: mở lớp dạy chữ quốc ngữ, xóa bỏ tệ nạn xã hội, mê tín dịđoan, trật tự trị an được giữ vững
7 Luận cương tháng 10 có những tiến bộ và hạn chế so với cách mạng Việt Nam bấy giờ:
Tiến bộ: xây dựng Liên minh công nông vững mạnh
Hạn chế: Chưa thấy được mâu thuẫn chủ yếu của một xã hội thuộc địa nên không đưa vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu nên nặng về đấu tranh giai
Trang 19cấp Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, tư sản dân tộc và trung tiểu địa chủ yêu nước Những nhược điểm này dần dần được Đảng ta khắc phục qua quá trình đấu tranh thực tiễn của cách mạng.
8 So sánh Cương lĩnh chính trị đầu tiên và Luận cương tháng 10/1930:Nội dung so
sánh
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Luận cương tháng 1930
10-Tính chất xã
hội
Xã hội Việt Nam là xã hộithuộc địa nửa phong kiến, gồm 2 mâu thuẫn:
-Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc VN với đế quốc (cơ bản nhất)
-Mâu thuẫn giữa nông dânvới địa chủ phong kiến
Xã hội Đông Dương gồm
2 mâu thuẫn:
-Mâu thuẫn dân tộc-Mâu thuẫn giai cấp (cơbản)
Tính chất
cách mạng
-Làm cách mạng tư sản dân quyền + cách mạng thổ địa, tiến lên chủ nghĩa cộng sản
-Hai giai đoạn kế tiếp không có bức tường ngăn cách
-Cách mạng Đông Dương
là cách mạng tư sản dân quyền qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa
-Hoàn thành giai đoạn nàymới làm tiếp giai đoạn khác
Kẻ thù của Xác định: đế quốc Pháp, Xác định: đế quốc, phong
Trang 20cách mạng vua quan phong kiến, tư
sản phản cách mạngkẻ thù không phải toàn bộ phong kiến, tư sản
kiếnkhông phân biệt giai cấp phong kiến có bộ phận tiến bộ, không đề cập đến tư sản mại bảnVai trò lãnh
đạo
Giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Đông Dương
Lực lượng
cách mạng
-Giai cấp công nhân, nôngdân là động lực, gốc của cách mạng
-Cần phải liên minh với tiểu tư sản, tư sản dân tộc,trung tiểu địa chủ
-Chỉ gồm công nhân,nông dân
-Không đề cập đến giai cấp khác: tư sản dân tộc, tiểu tư sản, trung tiểu địa chủ
Ý nghĩa Là cương lĩnh cách mạng
giải phóng dân tộc sang tạo, kết hợp đúng đắn vấn
đề dân tộc và vấn đề giai cấp, xác định đúng lực lượng cách mạng
-Tích cực: Nêu rõ hình thức, phương pháp đấu tranh, mối quan hệ giữa cách mạng Đông dương
và cách mạng thế giới-Hạn chế:
+Chưa nêu được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương
+Chưa xác định được kẻ thù chủ yếu
+Nặng nề đấu tranh giai
Trang 21cấp, cách mạng ruộng đất.+Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc, phong kiến của tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo trung tiểu địa chủ tham gia CMPhương pháp
Liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới
CHỦ ĐỀ 2: PHONG TRÀO ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC
1 Bối cảnh ra đời ( Giải thích thêm về tên gọi)
4 Nội dung hoạt động
- Về văn hóa – giáo dục
Trang 22- Về tư tưởng xã hội
- Thời gian hoạt động và tác dụng của ĐKNT
7 Trả lời câu hỏi
1. Bối cảnh ra đời
Đầu thế kỷ 20, Pháp hầu như đã hoàn thành quá trình bình định, dẹp yên các cuộc khởi nghĩa yêu nước bên trong Việt Nam (chỉ còn phong trào Khởi nghĩa Yên Thế của Đề Thám còn đang hoạt động)
Cùng với việc mở rộng quá trình thực dân hoá, tư bản hóa nhằm khai thác thuộc địa một cách hiệu quả nhất, những cơ sở đầu tiên của kinh tế tư sản bắt đầu phát triển trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ.Song song với sự phát triển kinh tế, những tư tưởng tư bản cũng du nhập
và phát triển bên trong Việt Nam Các nhà nho có tư tưởng tiến bộ nhận thức được sự yếu kém của Khổng giáo, chứng kiến nước Nhật Bản duy tân mà thắng đế quốc Nga đã quyết định phải thay đổi tư tưởng, cách thức học tập trong nước nhằm mục đích tự cường hy vọng một cuộc đổi mới Nhật Bản lúc bấy giờ đối với các sĩ phu yêu nước tiến bộ của Việt Nam là một thế giới mới lạ, đầy sức hấp dẫn
Trang 23Đồng thời học tập từ thất bại của cuộc cải cách của nhóm Lương Khải
Siêu và Khang Hữu Vi khởi xướng ở Trung Quốc
Năm 1906, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh tham quan Khánh Ứng nghĩa thục tại Đông Kinh (Tokyo) Cuối năm 1906, qua cuộc họp “trù bị” tại làng Nội Duệ (Bắc Ninh) đã quyết định thành lập Đông Kinh nghĩa thục tại Hà Nội
Tháng 3 năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục bắt đầu được khai giảng ở
phố Hàng Đào, Hà Nội
*Bối cảnh trong nước:
Phong trào này vừa có tính cách chánh trị vừa có tính cách văn hóa, quy tụ được đông đảo sĩ phu và quần chúng Đông Kinh Nghĩa Thục có nguồn gốc
trong sạch hơn là nguồn gốc của Đông Dương tạp chí và Nam Phong, cả hai
đều do Tây sáng lập và được tiền trợ cấp của thực dân
Đông Kinh Nghĩa Thục bắt chước theo Khanh Ứng Nghĩa Thục của Nhật Bản nhằm mục đích cổ động duy tân và xây dựng Tân văn hóa
Đây là một trường tư thục đầu tiên ở nước ta không thâu học phí mà lại còn phát không sách, tập và bút giấy cho học trò Nhà trường chánh ở Hà Nội thành lập chưa được một năm mà đã đặt được chi nhánh ở hầu khắp các tỉnh miền Bắc và có đà tiến triển vào Trung, Nam
Trang 24Đông Kinh nghĩa thục, đúng như tên gọi của nó, trước hết là một trường học, một trường học tư và hoàn toàn bất vụ lợi, được lập ra vì một nghĩa lớn Nghĩa lớn ấy nằm chính trong tôn chỉ sáng láng của phong trào Duy Tân:
“Khai dân trí”, mở mang và nâng cao dân trí, để từ đó đi đến “Chấn dân khí”,tạo nên sinh khí mới cho dân tộc, và “Hậu dân sinh”, đưa đất nước đến phát triển phồn vinh cùng năm châu bốn biển
Nói theo một cách nào đó và về thực chất, Đông Kinh nghĩa thục (và cả một loạt nghĩa thục bắt đầu từ Quảng Nam và lan ra nhiều nơi khác trước đó, mà Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội là điểm hội tụ tinh hoa cuối cùng) chính là một cuộc vận động và thực hành cải cách giáo dục rộng lớn, sâu sắc, cơ bản
và sớm một cách đáng kinh ngạc Có thể tìm thấy ở phong trào này những vấn đề cơ bản và thậm chí còn nóng hổi nhất cho cả sự nghiệp giáo dục của chúng ta ngay ngày hôm nay: từ triết lý giáo dục, mục tiêu đào tạo con người (và từ đó là mục tiêu xây dựng xã hội mới), nội dung giáo dục, chương trình giáo dục, phương pháp giáo dục, các mối quan hệ nội tại và với xã hội của giáo dục…, cả đến cách thức tổ chức nền giáo dục kiểu mới
Đặc biệt chủ trương cải cách giáo dục đó được đặt trong một “hệ thống mẹ” rộng lớn, bao quát hơn, gắn liền và là động lực quan trọng để chuyển động hệthống mẹ ấy: cải tạo có tính cách mạng toàn bộ xã hội Đó quả thật là một hiện tượng đặc sắc, một tỉnh ngộ anh minh và dũng cảm khác thường, một nhận thức mới có tính chất chuyển thời đại, còn mới mẻ và thiết thực cho đếntận ngày nay
*Ý nghĩa tên gọi:
Trang 25Đông Kinh là tên trường Nghĩa thục là trường làm việc nghĩa như việc khai trí cho dân, dạy học không lấy tiền.
2. Mục đích và những người sáng lập Đông Kinh nghĩa thục
Đặc biệt, để đúng với tên gọi nghĩa thục, các lớp học của trường được
mở miễn phí
Người sáng lập
- Sau khi Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh tham quan Khánh Ứng
nghĩa thục (1906) và nhen nhóm ý định thành lập một nghĩa thục – một
trường học kiểu mới, đến tháng 3 năm 1907, các sĩ phu yêu nước cùng chí hướng với Phan Bội Châu như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Lê Đại, Hoàng Tăng Bí, Vũ Hoành, bắt đầu mở trường Đông Kinh nghĩa thục
- Vai trò chính: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can (Thụctrưởng) và Nguyễn Quyền (Giám học) Ngoài ra, trường còn mời
Trang 26Nguyễn Văn Vĩnh – nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà phiên dịch ViệtNam – được Pháp tin cậy để tránh sự dòm ngó của mật thám Pháp.
Phan Bội Châu (1867- 1940)
Phan Châu Trinh (1872-1926)
Lương Văn Can (1854-1927) tự là Hiếu Ôn và Ôn Như, hiệu
Sơn Lão, là một nhà cách mạng Việt Nam
Quê quán tại làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông
Năm 1874, ông đỗ Cử nhân, triều đinh phân là Giáo thụ Phủ Hoài nhưng ông từ chối
Chính phủ Pháp cử ông vào Hội đồng thành phố nhưng ông cũng
không nhận
Năm 1879, ông mở trường dạy học tại nhà ( số 4 Hàng Đào)
Tháng 3.1907, ông liên kết với những người cùng chí hướng lập ra trường Đông Kinh nghĩa thục
Năm 1913, ông bị lưu đày sang Nam Vang
Nguyễn Quyền ( 1869-1941) hiệu là Đông Đường, quê ở làng
Thượng Trì, Thượng Mão, phủ Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh Ông là một chí sĩ yêu nước Việt
Nam thời cận đại
Do ông từng đỗ Tú tài khoa Tân Mão năm 1891, được bổ làm Huấn đạo tỉnh Lạng Sơn, nên người đương thời thường gọi ông là Huấn Quyền
Nguyễn Quyền
Trang 27 Năm 1907, ông từ quan rồi cùng với Lương Văn Can lập trường Đông Kinh nghĩa thục.
Ông làm Giám học của trường này Sau 9 tháng trường đã bị đóng cửa
Nguyễn Quyền cũng là người đứng ra lập hãng Hồng Tân Hưng bán hàng công nghệ nội hoá với mục đích tự cường kinh tế và cạnh tranh với các hãng buôn ngoại quốc
Năm 1908, ông bị bắt giam ở Hỏa Lò (Hà Nội), kết án khổ sai chung thân rồi đem đày ra Côn Đảo
Năm 1910 ông được tha về tại Bến Tre
Năm 1920 ông đến Rạch Giá, Sa Đéc rồi về sống tại Bến Tre với gia đình Ông làm nghề bốc thuốc và mất năm 1941 tại Bến Tre
3. Bốn ban công tác của Đông Kinh nghĩa thục
Ban giáo dục
- Chức năng: lo việc giảng dạy, học tập và chiêu sinh
- Trường dạy chữ Quốc ngữ và chữ Pháp và một số người không trực tiếp giảng dạy ở trường, thỉnh thoảng gửi bài về cộng tác
- Học sinh của trường chia làm 8 lớp, có lớp ban ngày, lớp ban đêm, chialàm hai cấp tiểu học và trung học Những học sinh quá nghèo được nhà trường sắp xếp cho ăn ở ngay trong kí túc xá
- Các môn khoa học tự nhiên thì trường dùng sách giáo khoa của các trường tiểu học Pháp, các môn khoa học xã hội thì nhà trường tự soạn
để dạy viết bằng chữ Hán như: Nam quốc vĩ dân, Nam quốc lịch sử
Trang 28- Nội dung các sách rất chú trọng đề cao truyền thống dựng nước và giữ nước oanh liệt của dân tộc Các sách chữ Hán in đẹp, rõ ràng, trên giấy tốt, có đóng bìa.
- Trường có một thư viện có nhiều sách Tân thư nhập từ Trung Quốc, Nhật Bản để học viên, độc giả mượn về đọc, có hòm thư treo ở cửa
“Hội quán” thu nhập ý kiến phê bình xây dựng cho nhà trường
Ban cổ động
- Chức năng: tuyên truyền ảnh hưởng của trường ra ngoài quần chúng
- Hình thức hoạt động: là các buổi diễn thuyết và bình văn được tổ chức nhiều lần vào tối mồng một và ngày rằm
- Thành phần tham dự: quan lại, binh lính, viên chức, một số nông dân ngoại Hà thành
- Nội dung: các diễn giả bình luận các bài in hoặc nói chuyên về một số
đề tài lịch sử, quá khứ oanh liệt của dân tộc, ca ngợi các nhân vật lịch
sử có công với nước, Cách mạng tư sản Pháp, đấu tranh giành độc lập Mĩ… rồi liên hệ với tình hình của Việt Nam lúc đó, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ hủ tục, hàng hàng nội, cắt tóc ngắn…
- Trong các buổi bình văn, thường giới thiệu những bài thơ văn ái quốc, kêu gọi duy tân do nhà trường sáng tác hoặc của Phan Bội Châu từ Nhật gửi về
- Những diễn giả nổi tiếng thời đó: Dương Bá Trạc, Lương Trúc Đàm, Phan Châu Trinh
Trang 29- Những sách về Tân thư được mua về làm tài liệu tham khảo biên soạn,
nghiên cứu, giảng dạy
Ban tài chính:
- Lo các khoản thu chi của nhà trường
- Trường không thu học phí và giáo viên ban đầu cũng không có lương Ban đầu, nguồn kinh phí của trường dựa vào các khoản "lạc trợ" (ủng hộ) của các hội viên và những người hảo tâm yêu nước, cũng như các khoản đóng góp tự nguyện của học sinh.
Trang 30- Ban Tài chính còn chịu trách nhiệm mở các tiệm buôn bán và kinh doanh nhằm khuếch trương thực nghiệp, cổ động cải cách kinh doanh, đồng thời tăng thêm nguồn thu cho trường.
- Sau này kinh phí dồi dào, trường cấp miễn phí giấy bút cho học sinh vàtrả giáo viên một số lương tượng trưng nhỏ
4. Nội dung hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục
Về văn hóa – giáo dục
Chương trình hoạt động của nhà trường tập trung chống tư tưởng phong kiến thối nát, thực hiện cuộc cải cách tư tưởng văn hoá, xã hội
- Chống cựu học và hủ nho
- Chống chữ Hán và khoa cử
- Đề cao chữ Quốc ngữ và học những kiến thức mới
- Truyền thống lịch sử và lòng yêu nước đặc biệt được chú trọng
Thành quả học chữ Quốc ngữ do trường Đông Kinh nghĩa thục tổ chức tuy còn mới mẻ và rất hạn chế (do nhà trường Đông Kinh nghĩa thục chỉ tồn tại được một thời gian rất ngắn), nhưng thứ chữ vừa dễ
học, dễ đọc, dễ nhớ, vừa tiện lợi, lại chuẩn xác, dần dần trở thành chữ viết chính thống của quốc gia được các tầng lớp trí thức đầu thế kỷ XX như các nhà học giả Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Văn Tố… tiếp tục phát động công cuộc cách mạng chữ viết này
Về mặt tư tưởng – xã hội:
- Đông Kinh nghĩa thục công khai phê phán tư tưởng phong kiến Nho
giáo lỗi thời Thuyết “thiên mệnh” của Nho giáo bị đả phá
Trang 31- Lên án những phong tục tập quán lạc hậu, những nếp suy nghĩ lạc hậu,
những thói cờ bạc, rượu chè… Đông Kinh nghĩa thục đã phê phán rất
sâu cay
- Trong thời gian này cũng có nhiều sách, báo, văn thơ ra đời đã phê phán những hủ tục, những thói hư tật xấu trong giai đoạn bấy giờ
Về mặt kinh tế:
- Đông Kinh nghĩa thục hô hào lập các hội buôn như:
+ Đỗ Chân Thiết có 1 hiệu kim hoàn ở phố hàng Bạc
+ Đồng Lợi Tế ở phố Mã Mây chuyên buôn bán hàng nội hóa
+ Hiệu Tụy Phương ở gần ga Hàng Cỏ chuyên buôn bán thuốc Bắc.+ Hoàng Tăng Bí và Nguyễn Quyền mở côngty Đông Thành Xương ở phố Hàng Gai vừa buôn bán hàng tạp hóa, vừa dệt xuyến hoa đại đóa, ướp chè sen
- Từ năm 1907 – 1908 trở đi, do ảnh hưởng của Đông Kinh nghĩa thục
nhiều công ty đã ra đời như:
+ Quảng Hưng Long buôn bán nội hóa
+ Hồng Tân Hưng buôn bán và sản xuất đồ sơn
+ Nghiêm Xuân Quảng buôn bán the lụa Thái bình
+ Đồng Ích dệt và xuất khẩu lụa
- Các hội buôn lan ra các tỉnh: Phúc Yên, Hưng Yên, Việt Trì, Thanh Hóa, Vinh, Phan Thiết, Sài Gòn
- Đông Kinh nghĩa thục còn chủ trương đi tìm những vùng mỏ ở vùng
núi Tây Bắc để xin Nhà nước được khai mỏ, nhưng do vốn ít, thiếu kinh nghiệm, bị thực dân Pháp và Hoa kiều chèn ép nên không thực hiện được
Trang 32- Khu vực nông nghiệp cũng được chú ý khuếch trương Hội chủ trương lập các đồn điền khai hoang, trồng cây lương thực ở Yên Lập (Hưng Hóa), Mĩ Đức (Hà Đông), nhưng bị thua lỗ nên chương trình phát triển nông nghiệp cũng không tiến hành được.
Với những hoạt đông tuyên truyền chấn hưng thực nghiệm và hành
động kinh doanh cụ thể của Đông Kinh nghĩa thục cũng góp phần thúc đẩy
nền kinh tế tư sản dân tộc non trẻ phát triển
trường lớp mô phỏng Đông Kinh nghĩa thục.
Ở Bắc Kỳ và vùng phụ cận Hà Nội:
- Ở Hà Đông, Vũ Trác, Hoàng Tăng Bí nhiều lần về diễn thuyết và bình văn ở đây Trong năm 1907, ở Hà Đông đã thành lập được 3 phân hiệu nghĩa thục
- Ở Bắc Ninh, tại huyện Gia Lâm cũng có mấy địa điểm mở lớp học kiểu đông kinh nghĩa thục tương đối quy củ
- Ở Hưng Yên, song song với việc mở các nghĩa thục ở các huyện Văn Giang, Yên Mĩ,… còn mở thêm một hiệu buôn hàng nội hóa lấy tên là Hưng Lợi Tế
- Ở Hải Dương, nhiều nhà nho yêu nước đã tuyên truyền, cổ động chochủ trương canh tân đất nước
Trang 33- Ở Thái Bình, các huyện Kiến Xương, Đông Hưng, Hưng Hà, QuỳnhPhụ đều có nghĩa thục hoạt động Các nhà nho đã vận động nhiều nhóm thân sĩ đứng ra mở trường dạy chữ Quốc ngữ với nội dung
giảng dạy như Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội.
- Ở nhiều địa phương khác còn tổ chức ra nhiều hội ái hữu, tương tế như Hội dệt vải, hội hỉ,…
- Ở các tỉnh trung du và miền núi như Vĩnh Phúc, Phúc Yên, Phú Thọ,Yên Bái,… ảnh hưởng của đông kinh nghĩa thục về chấn hưng công thương nghiệp, khai thác sản xuất hàng nội địa
Phong trào nghĩa thục lan rộng vào cả các tỉnh ở Trung Kỳ và Nam Kỳ
- Ở Trung Kỳ:
+ Ở huyện Thanh Chương (Nghệ An), trường Võ Liệt thu hút nhiều thanh niên ở các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Hương Sơn, Đức Thọ đến học Tài liệu giảng dạy, học tập do đông kinh nghĩa thục HàNội cung cấp
+ Huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh), trường Phong Phú được tổ chức, thu hút con em các huyện Can Lộc, Cẩm Xuyên đến học Hoạt đông củatrường cũng giống như các nghĩa thục khác
+ Ở Phan Thiết, trường Dục Thanh là một trung tâm giáo dục theo kiểu đông kinh nghĩa thục Nội dung giảng dạy gần giống như các trường tiểu học trong Nam Kỳ
- Ở Nam Kỳ: Phong trào mở các nghĩa thục không sâu rộng lắm
Những người hưởng ứng phong trào Duy Tân bằng một số bài báo; hay các khách sạn, hiệu buôn ra đời là những cơ sở để liên lạc với
Trang 34những người yêu nước trong Nam Kỳ để hưởng ứng phong trào
Đông Du và phong trào Đông kinh nghĩa thục ở ngoài Bắc Kỳ và
Trung Kỳ
6. Nhận xét chung về Đông Kinh nghĩa thục
Qua gần 9 tháng hoạt động, Đông Kinh nghĩa thục đã nuôi dưỡng được
một phong trào cách mạng công khai, hợp pháp khá sôi nổi, quyết liệt trong lĩnh vực đấu tranh về văn hoá và tư tưởng theo khuynh hướng dân chủ tư sản Đó cũng là một cuộc vận động chính trị, chuẩn bị về tinh thần, về tư tưởng cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng dân tộc, dân chủ trong thời đại mới
- Nâng cao được tinh thần yêu nước, cách mạng ở những nơi có
phong trào, lôi cuốn họ vào cuộc đấu tranh cho độc lập, tự do và giàu mạnh của đất nước
- Đề cao chữ Quốc ngữ, mạnh dạn sử dụng trong giảng dạy, biên soạn, dịch thuật, sáng tác Từ đó, chữ Quốc ngữ nhanh chóng thâm nhập các lĩnh vực xã hội, ngày càng cải tiến trở thành chữ viết của dân tộc
- Thúc đẩy nền kinh tế tư sản dân tộc ngày càng phát triển
- Đi đầu và có những thành tựu lớn trong sáng tác văn học phục vụ các cuộc đấu tranh của quần chúng; khơi dậy tinh thần đoàn kết yêu nước trong nhân dân
Đông Kinh nghĩa thục đã trở thành nguy cơ lớn đối với thực dân
Pháp Tháng 12.1907 chính quyền thực dân Pháp chính thức thu hồi giấy phép đóng cửa Trường.
Trang 35 Đông Kinh nghĩa thục chỉ hoạt động được gần 09 tháng (từ tháng 03.1907 đến tháng 12.1907) Mặc dù thất bại, Đông Kinh nghĩa thục đã
góp phần thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân ta lúc bấy giờ; bước đầu tấn công hệ tư tưởng phong kiến, mở đường cho tư tưởng mới – tức
tư tưởng tư sản – trên cơ sở đó đã góp phần chuẩn bị về mặt tinh thần cho các phong trào đấu tranh rộng lớn hơn sau đó Những kinh nghiệm
hoạt động phong phú đa dạng của Đông Kinh nghĩa thục và của phong
trào ở các tỉnh đã được các phong trào yêu nước ở giai đoạn sau kế thừa
và phát huy, làm phong phú thêm nội dung cũng như phương pháp đấu tranh.
7. Trả lời câu hỏi:
Đánh giá chủ trương của Đông Kinh Nghĩa Thục so với những cải cáchgiáo dục của Việt Nam hiện nay:
- Mục tiêu của Đông Kinh Nghĩa Thục là đào tạo ra những người biết độc lập suy nghĩ và tự hành động " thay vì đào tạo ra các thần dân
bù nhìn chỉ biết làm theo mệnh lệnh" – Nhà giáo Vũ Đình Khôi chia
sẻ khi nói về Đông Kinh Nghĩa Thục
- Đông Kinh Nghĩa Thục có phương hướng nội dung phải thay đổi - nội dung thay đổi thì phương pháp cũng phải thay đổi Học trò phải
có sáng tạo, tư duy chứ không rập khuôn, ỷ lại hay chờ chép
- Đông Kinh Nghĩa Thục phần lớn là làm thay đổi tư duy của con người thời đó Vì vậy, cải cách giáo dục hiện nay cũng nên thay đổi
tư duy vì tư duy sẽ làm thay đổi mục tiêu
Trang 36Tư tưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục cũng tiến bộ hơn rất nhiều so với
hiện nay Như lớp học mở miễn phí, sách được soạn và phát miễn phí
CHỦ ĐỀ 3: CHƯƠNG TRÌNH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ
NHẤT CỦA TƯ BẢN PHÁP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN VỚI
VIỆT NAM
I Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914)
1 Một bộ máy hành chính cai trị chặt chẽ
- Sử dụng chính sách “chia để trị” và “dùng người Việt trị người Việt”
- Việt Nam bị chia cắt thành 3 kì: Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì với ba chế độcai trị khác nhau
- Thủ đoạn “chia để trị” là một trong những nguyên tắc chỉ đạo hành độngcủa chúng
Trang 372 Bộ máy quân sự, cảnh sát, tòa án và nhà tù
- Ngoài quân đội chính quy, còn có lính khố xanh chuyên đàn áp các cuộckhởi nghĩa, canh giữ nhà tù, phục vụ các đạo quan binh
Trang 38Các phủ, huyện, châu còn có lính lệ và lính cơ Các làng xã có tuần phu - lựclượng nửa vũ trang dưới quyền trương tuần và lí trưởng
b Cảnh sát:
- 30/6/1915, lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương được thành lập
- ở cả ba xứ, còn tổ chức quân đội thân binh do bọn Việt gian phản đông,chuyên đàn áp các cuộc nổi dậy
c Hệ thống tòa án – nhà tù:
* Tòa án:
- Từ năm 1881, ở Nam Kì, xét xử theo hai thứ pháp luật, phân biệt công dânPháp và không phải công dân Pháp
- Ở Trung Kì, bộ luật Gia Long vẫn là luật bảo hộ xứ này
- Ở Bắc Kì, có 2 loại tòa án, tòa án Tây và tòa án Nam
- Vụ xét xử của Tòa đề hình “kết án các tên tù phạm việc trái phá Thái Bình
và Hà Nội” ngày 5/9/1913, có 84 người bị kết án
3 Giáo dục
Trang 39Hủy diệt nền Nho học và thay thế bằng một hệ thống giáo dục phục vụ choguồng máy cai trị, thay thế chữ Hán bằng chữ Pháp.
4 Văn hóa
- Báo chí là công cụ tuyên truyền đắc lực
- Các tờ báo đồng loạt được xuất bản với các nội dung về ca ngợi chính sách
“khai hóa”, hô hào mở rộng công thương nghiệp, cổ động bỏ khoa cử…
- Những thói hư tật xấu vẫn được dung dưỡng: cờ bạc, rượu chè, hủ tục machay, cưới xin…
- Chiêu quái nhất trong chính sách “ngu dân” của Pháp chính là thuốc phiện
II Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2
- Diễn ra trong vòng 10 năm (1919 – 1929)
- Chính sách “cải lương hành chính” nhằm can thiệp trực tiếp vào các làngxã
- Tiến hành các cuộc cải cách về chính trị - hành chính để mở rộng cơ sở xãhội của thực dân Pháp nhưng không làm ảnh hưởng đến nền tảng thống trị ởthuộc địa
- Nhân dân Việt Nam phải gánh chịu số tiền thuế ngày càng nặng
- Thực hiện cuộc chia rẽ dân tộc và chủng tộc
- Có những chuyển biến mới trong văn hóa giáo dục
III Sự biến chuyển của cơ cấu kinh tế Việt Nam
Trang 40CUỘC KHAI THÁC LẦN 1 CUỘC KHAI THÁC LẦN II
vùng biên giới quan trọng
- Đường thủy được khai
thông ở các sông lớn như
sông Hồng, Thái Bình, Hậu
Giang, Đồng Nai
- Được tăng cường đầu tư vốn
và các trang thiết bị kĩ thuật
- 1931, Pháp xây dựng được
2389 km đường sắt trên lãnhthổ Việt Nam
- 1930, mở được 15000 kmđường quốc lộ và đường liêntỉnh