I.Ia.Lecne với “Phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử”, NXB Giáo dục, Mát-xcơ-va, 1982 tài liệu dịch lưu giữ tại thư viện trường Đại học sư phạm Hà Nội đã chỉ ra rằng dạy học
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- -
DƯƠNG THỊ HIỀN
SỬ DỤNG TÀI LIỆU BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ DÂN TỘC TỪ CỘI NGUỒN ĐẾN THẾ KỈ XV Ở LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- -
DƯƠNG THỊ HIỀN
SỬ DỤNG TÀI LIỆU BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ DÂN TỘC TỪ CỘI NGUỒN ĐẾN THẾ KỈ XV Ở LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Thị Côi
HÀ NỘI - 2012
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 0
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 8
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 13
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 14
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 14
6 Giả thuyết khoa học và đóng góp của luận văn 15
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 16
8 Cấu trúc luận văn 16
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÀI LIỆU BẢO TÀNG LỊCH SỬ- CÁCH MẠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 17
1.1 Cơ sở lý luận 17
1.1.1 Khái quát về bảo tàng 17
1.1.2 Khái quát về bảo tàng lịch sử Việt Nam 20
1.1.3 Xuất phát điểm của vấn đề 22
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu ở bảo tàng Lịch sử Việt Nam trong dạy học lịch sử dân tộc nói chung và phần Lịch sử Việt Nam từ cội nguồn đến thế kỉ XV nói riêng 35
1.2 Những yêu cầu đối với việc khai thác và sử dụng tài liệu ở bảo tàng lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường THPT 44
1.3 Thực trạng việc sử dụng tài liệu ở bảo tàng lịch sử - cách mạng nói chung, bảo tàng Lịch sử Việt Nam nói riêng trong dạy học bộ môn lịch sử ở trường THPT Hà Nội 48
Trang 5Chương 2 : HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TÀI LIỆU BẢO
TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ DÂN TỘC
TỪ CỘI NGUỒN ĐẾN THẾ KỶ XV Ở LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 57
2.1 Vị trí, ý nghĩa và nội dung cơ bản của LSVN từ cội nguồn đến thế kỉ XV trong khóa trình LSVN lớp 10 THPT 57
2.1.1 Vị trí 57
2.1.2 Mục tiêu 57
2.1.3 Nội dung kiến thức cơ bản của LSVN từ cội nguồn đến thế kỷ XV 60
2.2 Tài liệu Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cần khai thác, sử dụng trong dạy học LSVN từ cội nguồn đến thế kỉ XV 64
2.2.1 Danh mục những tài liệu có thể và cần sử dụng trong dạy học LSVN từ cội nguồn đến thế kỉ XV ở lớp 10 THPT 64
2.2.2 Nội dung tài liệu bảo tàng cần sử dụng trong dạy học LSVN từ cội nguồn đến thế kỉ XV ở lớp 10 THPT (phụ lục 3) 73
2.3 Hình thức, biện pháp sử dụng tài liệu ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trong dạy học lịch sử dân tộc từ cội nguồn đến thế kỉ XV 73
2.3.1 Một số yêu cầu khi lựa chọn các biện pháp sử dụng tài liệu bảo tàng 73
2.3.2 Một số hình thức, biện pháp sử dụng tài liệu bảo tàng Lịch sử Việt Nam trong dạy học lịch sử dân tộc từ cội nguồn đến thế kỷ XV 78
2.4 Thực nghiệm sư phạm 105
2.4.1 Thực nghiệm sư phạm 1: Sử dụng tài liệu về Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trong bài học lịch sử ở trên lớp 105
2.4.2 Thực nghiệm sư phạm 2: Tiến hành bài học lịch sử dân tộc tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 110
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ hiện nay, và xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đều
hướng đến cải cách nền giáo dục để thích ứng với điều kiện mới Đại hội IX
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của Chiến
lược Phát triển Kinh tế Xã hội 2001 - 2010 là “đưa đất nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hoá theo hướng hiện đại hoá”[6, tr.5] Để có thể đi tắt đón
đầu từ một nước kém phát triển và có thể rút ngắn thời gian so với các nước
đi trước thì vai trò của giáo dục và công nghệ là có tính quyết định, nhu cầu
phát triển giáo dục là rất bức thiết Luật giáo dục 2010 đã quy định rõ: “Mục
tiêu giáo dục của nước ta là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mý và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.[37, tr.12]
Vì vậy, trong chiến lược phát triển giáo dục 2009-2020 của Bộ Giáo dục
dục Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc, làm nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững đất nước, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một xã hội học tập,
có khả năng hội nhập quốc tế; nền giáo dục này phải đào tạo được những con người Việt Nam có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo,có khả năng thích ứng, hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt, có bản lĩnh, trung thực, ý thức làm chủ và tinh thần
Trang 7trách nhiệm công dân, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.”[5, tr.6].
Quán triệt đường lối của Đảng, ngành giáo dục và đào tạo xác định nhiệm vụ trọng tâm là tiến hành đổi mới mục tiêu, nội dung phương pháp dạy học Trong đó, chủ trương đổi mới phương pháp daỵ học được ghi rõ trong
Luật giáo dục năm 2010: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[37, tr.18]
Một trong những vấn đề nhà trường phổ thông hiện nay đang giải quyết
là nâng cao chất lượng dạy-học các bộ môn Thực tiễn dạy và học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay cho thấy, mặc dù chúng ra đã có nhiều cố gắng để nâng cao chất lượng nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới phương pháp giáo dục đặt ra Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó có tình trạng thiếu các điều kiện vật chất cần thiết cho việc dạy học lịch sử là nguyên nhân quan trọng
Việc tăng cường cơ sở vật chất cho dạy, học lịch sử như xây dựng các loại đồ dùng trực quan, phòng học bộ môn, nhà truyền thống lịch sử,…không phải tiến hành dễ dàng vì chúng ra còn có nhiều khó khăn về kinh tế Vì vậy ngoài sự hỗ trợ của nhà nước, giáo viên và học sinh phải tự lo trang bị những điều kiện cần thiết trong phạm vi có thể làm được Việc sử dụng các tài liệu ở bảo tàng, nhà truyền thống đề dạy, học lịch sử dân tộc và địa phương là một công việc quan trọng và có nhiều khả năng thực hiện được
Tuy nhiên, việc sử dụng tài liệu bảo tàng lịch sử - cách mạng trong dạy học lịch sử ở nước ta chưa được tiến hành thường xuyên, hơn nữa việc sử dụng cũng chưa thực hiện theo nguyên tắc thống nhất hiệu quả chưa cao
Trang 8Ở Hà Nội hiện nay có rất nhiều bảo tàng có thể khai thác, sử dụng trong dạy học lịch sử dân tộc, trong đó bảo tàng Lịch sử Việt Nam là có ưu thế trong dạy học lịch sử dân tộc từ cội nguồn đến thế kỷ XV ở lớp 10 THPT (Chương trình chuẩn) Các tài liệu ở bảo tàng không chỉ giúp cho học sinh có được những biểu tượng cụ thể, sinh động về những bước đi chập chững đầu tiên của con người trên đất nước ta, quá trình dựng nước đầu tiên đến sự phát triển của các triều đại phong kiến, mà còn bồi dưỡng cho học sinh có những nhận thức đúng đắn khi đánh giá lịch sử Việt Nam thời kỳ này Từ đó, các em
sẽ ý thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo tồn và giữ gìn những giá trị lịch sử văn hóa mà cha ông ta đã sáng tạo nên Mặc dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề sử dụng tài liệu ở bảo tàng Lịch sử Việt Nam nhưng hiện nay, bảo tàng đã có những thay đổi và bổ sung thêm một số nội dung, một số phòng trưng bày Nên việc tìm hiểu, khai thác các tài liệu mới ở bảo tàng là rất cần thiết Hơn nữa chương trình SGK Lịch sử ở trường phổ thông cũng có nhiều thay đổi so với trước
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “SỬ DỤNG
TÀI LIỆU BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ DÂN TỘC TỪ CỘI NGUỒN ĐẾN THẾ KỈ XV Ở LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)” làm đề tài
2.1 Tài liệu nước ngoài viết về phương tiện trực quan và sử dụng tài liệu bảo tàng
Trang 9Trong cuốn “Các phương pháp sư phạm”, NXB Thế Giới, Hà Nội, 1999,
GuyPalmade đã nhấn mạnh việc dạy học phải bắt đầu từ trực quan nhằm tạo ra trong óc trẻ một biểu tượng bền vững Đặc điểm của phương pháp này là cung cấp cho học sinh, trong phạm vi có thể những dữ kiện dễ quan sát, dễ lĩnh hội
Tiến sĩ giáo dục Liên Xô I.F.Kharlamop trong cuốn “Phát huy tính tích
cực học tập của học sinh như thế nào”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1979, đã
nhấn mạnh “Lời nói sinh động của giáo viên kết hợp với tính trực quan có hiệu
quả to lớn trong việc dạy học… Nó còn góp phần rèn luyện tư duy, phân tích tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng và hiện tượng ẩn sau các hình thức và biểu hiện bề ngoài, kích thích tính ham hiểu biết của các em”
I.Ia.Lecne với “Phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử”, NXB
Giáo dục, Mát-xcơ-va, 1982 (tài liệu dịch lưu giữ tại thư viện trường Đại học
sư phạm Hà Nội) đã chỉ ra rằng dạy học có sử dụng đồ dùng trực quan sẽ là
cơ sở để diễn ra sự tái hiện tri thức và phương pháp hoạt động Ông khẳng định sự cuốn hút của phương tiện tạo hình trực quan có ý nghĩa rất quan
trọng F.K.Kôrovkin khi nghiên cứu về “Phương pháp dạy học lịch sử ở
trường phổ thông” cũng khẳng định vai trò quan trọng của đồ dùng trực quan
Tính trực quan là phương tiện cơ bản để hình thành kiến thức lịch sử Đồng thời ông cũng nêu lên các loại và phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
Trong cuốn “Chuẩn bị cho học sinh lĩnh hội kiến thức”, ĐHSP HN,
1982, Pheđorenkô cũng đã nhấn mạnh vai trò không thể thiếu của việc chuẩn
bị đồ dùng trực quan để đảm bảo cho học sinh lĩnh hội kiến thức tốt
Tymothy Ambrôse và Crispi Paine trong cuốn “Cơ sở bảo tàng” (Bảo
tàng cách mạng Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 2000), tác giả khẳng định ý nghĩa giáo dục của Bảo tàng với học sinh, và đề cập đến một số giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa bảo tàng với nhà trường và một số hình thức giáo dục tại bảo tàng
Trang 10B.P Epixốp trong “Những cơ sở của lý luận dạy học”, NXB Giáo dục,
Hà Nội, 1971, đề cập đến đặc điểm của tham quan trong dạy học lịch sử nói chung và có nhắc đến tham quan bảo tàng nói riêng
2.2 Tài liệu trong nước viết về phương tiện trực quan và sử dụng tài liệu bảo tàng lịch sử-cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường PT
Trong giáo trình “Giáo dục học” tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1987,
Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt đã viết như sau: “Các đồ dùng trực quan nếu
được sử dụng khéo léo… Tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, giảm
độ mệt nhọc, gây được mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát triển năng lực chú ý, óc quan sát tò mò, tạo điều kiện cho học sinh liên hệ học tập với đời sống, sản xuất” Như vậy, các tác giả đã nhấn mạnh con đường
nhận thức của học sinh đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ
tư duy trừu tượng đến thực tiễn Trong đó, đồ dùng trực quan là điểm tựa trong nhận thức của học sinh, từ điểm tựa đó mà học sinh tưởng tượng, tư duy, nắm kiến thức và vận dụng nó vào thực tiễn
GS Phan Ngọc Liên- Phạm Kỳ Tá trong quyển “Đồ dùng trực quan
trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông cấp 2”, NXB Giáo dục, Hà Nội,
1975 đã đi sâu nghiên cứu và chỉ ra ý nghĩa, các nguyên tắc, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan ở trường phổ thông nhằm giúp cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách vững chắc trên cơ sở đó giáo dục và phát triển năng lực tư duy cho học sinh
Các đời giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” do GS Phan Ngọc
Liên chủ biên, xuất bản các năm 1966, 1976, 1980, 1992, 2002, 2010 cũng đã
đề cập đến việc sử dụng bảo tàng lịch sử - cách mạng trong dạy học lịch sử Trong các phần “Hệ thống các phương pháp dạy học”, “Bài học lịch sử”,
“Công tác ngoại khóa lịch sử”… của sách đã phân tích ý nghĩa nhiều mặt của bảo tàng lịch sử - cách mạng trong dạy học lịch sử, coi đó là những tài liệu hiện vật, đồ dùng trực quan hàng đầu trong các tài liệu và đồ dùng dạy học bộ
Trang 11môn Nó có ý nghĩa bổ sung, cụ thể hóa, minh họa sinh động cho các sự kiện lịch sử mà học sinh THPT được cung cấp Các tác giả trên cũng nêu lên những hình thức và biện pháp sử dụng bảo tàng lịch sử - cách mạng có tính khả thi và đạt hiệu quả sư phạm như việc tổ chức bài học tại thực địa, tham quan ngoại khóa,
Ở Việt Nam việc sử dụng tài liệu bảo tàng trong dạy học lịch sử cũng đã được các nhà giáo dục và giáo dục lịch sử quan tâm chú ý Trong cuốn
“Phương pháp dạy học lịch sử” do Giáo sư Phan Ngọc Liên làm chủ biên dã
đề cập đầy đủ đến vị trí, ý nghĩa và các hình thức hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử Trong đó nhấn mạnh việc tổ chức tham quan Bảo tàng, khu di tích lịch sử, văn hóa
Trong cuốn “Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở
trường phổ thông” GS.TS Nguyễn Thị Côi đã đề cập khá toàn diện về mối
quan hệ giữa bảo tàng lịch sử, cách mạng với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông Tác giá khẳng định vai trò của bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử và giới tiệu khá đầy đủ, kĩ lưỡng về nội dung trưng bày của một số bảo tàng lịch sử, cách mạng quốc gia Hà Nội, khả năng sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử Đây là công trình đặt nền móng vững chắc về lí luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu sâu sắc và có hệ thống về mối quan hệ giữa bảo tàng với dạy học lịch sử ở trường phổ thông, cách khai thác, sử dụng cũng như các yêu cầu khi tiến hành khai thác bảo tàng trong dạy học lịch sử
Các tác giả Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Văn Phong trong bài “Bảo tàng
với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học”, Tạp chí nghiên cứu
giáo dục số 12, 1996 đã đưa ra một số lý luận chung về bảo tàng và thực trạng
sử dụng tài liệu bảo tàng vào dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Nguyễn Thị Côi, Sử dụng bảo tàng vào dạy học môn lịch sử ở trường
phổ thông, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Thông báo khoa học số 6, 1997
Trang 12Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Văn Phong, khai thác, sử dụng tài liệu bảo
tàng, nhà truyền thống vào dạy học lịch sử ở trường phổ thông, Nghiên cứu
giáo dục, 1997
Năm 1996, Nguyễn Văn Phong với luận văn “Bảo tàng lịch sử, cách
mạng đối với dạy học lịch sử (dân tộc và địa phương) ở trường THPT” đã
có những đóng góp bước đầu về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng bảo tàng Lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Luận văn đã đưa ra một số hình thức và yêu cầu khi sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu và đề cập có
hệ thống về mối quan hệ giữa bảo tàng với bộ môn lịch sử ở trường THPT Năm 1997, Trần Thị Nhị cán bộ của bảo tàng cách mạng Việt Nam,
trong luận văn sau đại học chuyên ngành văn hóa học với đề tài : “Bảo tàng
Cách mạng Việt Nam với việc dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông” đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng bảo tàng Cách
mạng Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Tác giả cũng đưa
ra yêu cầu và một số hình thức sử dụng bảo tàng Cách mạng Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa bảo tàng với bộ môn lịch sử ở nhà trường THPT
Hoàng Thị Đăng với luận văn “Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt
Nam trong dạy học các sự kiện lịch sử văn hóa ở trung học phổ thông”,
tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng các sự kiện lịch sử văn hóa ở bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam trong dạy học lịch
sử ở trường phổ thông Tác giả cũng đưa ra một số hình thức, biện pháp sử dụng bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam trong dạy học các sự kiện lịch
sử văn hóa ở trường THPT
Nguyễn Thị Nhung với khóa luận tốt nghiệp “Khai thác và sử dụng
những tư liệu ở bảo tàng lịch sử để dạy học chương trình lịch sử Việt Nam lớp XI THPT”, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn việc sử dụng tư
Trang 13liệu ở bảo tàng Lịch sử trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam lớp 11 trường phổ thông Từ đó tác giả đưa ra một số hình thức, biện pháp sử dụng tư liệu bảo tàng vào dạy học chương trình lịch sử lớp 11 trường THPT
Nguyễn Trung Thành với khóa luận tốt nghiệp “Khai thác và sử dụng
tư liệu ở bảo tàng Hồ Chí Minh để dạy học các hoạt động cách mạng của Bác từ 1919-1945 trong chương trình lịch sử lơp 12 THPT” Trên cơ sở tìm
hiểu vai trò, ý nghĩa của tài liệu bảo tàng nói chung, bảo tàng Hồ Chí Minh nói riêng, luận văn đi sâu tìm hiểu nội dung bảo tàng Hồ Chí Minh và khai thác những tài liệu liên quan để dạy học các sự kiện về hoạt động cách mạng của Bác từ 1919-1945 từ đó đề xuất các hình thức phương pháp sử dụng thích hợp
Đó là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá, làm cơ sở lý luận để chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Quá trình sử dụng tài liệu bảo tàng Lịch sử Việt Nam trong dạy học phần lịch sử dân tộc từ cội nguồn đến thế kỉ XV ở lớp 10 THPT(chương trình chuẩn)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Do trình độ và thời gian nghiên cứu hạn chế, luận văn không có tham vọng nghiên cứu về các bảo tàng cũng như các biện pháp sử dụng chúng mà chỉ tập trung đi sâu khai thác tài liệu ở bảo tàng Lịch sử Việt Nam trong dạy học phần lịch sử dân tộc từ cội nguồn đến thế kỉ XV(chương trình chuẩn) ở lớp
10 THPT và để xuất hình thức biện pháp sử dụng chủ yếu có hiệu quả nhất trong giờ học nội khóa cũng như trong hoạt động ngoại khóa
Luận văn tiến hành điều tra một số trường THPT trong nội thành: THPT Nguyễn Siêu, Phạm Hồng Thái; Khu vực ngoại thành: THPT Hồng Thái… và tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Hồng Thái – Đan Phượng
Trang 144 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4.1.Mục đích
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu bảo tàng lịch sử - cách mạng nói chung, bảo tàng Lịch sử Việt Nam nói riêng, đề tài đi sâu khai thác các tài liệu bảo tàng Lịch sử Việt Nam để dạy học phần lịch sử dân tộc từ cội nguồn đến thế kỉ XV(chương trình chuẩn), từ đó đề xuất một số biện pháp sư phạm sử dụng tài liệu bảo tàng lịch sử Việt Nam trong các bài học nội khóa và hoạt động ngoại khóa
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các biện pháp sư phạm đề xuất, trên cơ sở đó rút ra kết luận về tính khả thi của các biện pháp sư phạm được tiến hành trong luận văn
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là những quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhận thức và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước về giáo dục
Trang 155.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu các tác phẩm của các tác gia kinh điển, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng về giáo dục
- Nghiên cứu các công trình của các nhà tâm lý, giáo dục, giáo dục lịch
sử viết về vấn đề sử dụng phương tiện trực quan nói chung, sử dụng tài liệu bảo tàng lịch sử-cách mạng và các tài liệu lịch sử có liên quan đến đề tài
- Điều tra thực tế việc dạy học lịch sử tại một số trường phổ thông ở Hà Nội thông qua việc điều tra cơ bản, quan sát, dự giờ, phát phiếu câu hỏi và trao đổi, phỏng vấn giáo viên và học sinh để có kết quả xác thực về thực trạng
sử dụng tài liệu bảo tàng trong dạy và học lịch sử ở trường phổ thông
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa lịch sử lớp 10 THPT (chương trình chuẩn), xác định những nội dung lịch sử có thể và cần thiết sử dụng tài liệu bảo tàng lịch sử và đề xuất biện pháp sử dụng
- Thực nghiệm sư phạm: soạn một bài học cụ thể trong đó có sử dụng tư liệu bảo tàng một cách hợp lí và tiến hành thực nghiệm sư phạm
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các kết quả thực nghiệm sư phạm
6 Giả thuyết khoa học và đóng góp của luận văn
6.1 Giả thuyết khoa học
Hiện nay yêu cầu sử dụng đồ dùng trực quan để nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường PT là rất cần thiết, nếu vận dụng các biện pháp sử dụng tài liệu ở bảo tàng Lịch sử Việt Nam theo những yêu cầu luận văn đưa ra sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử ở trường PT
6.2 Đóng góp của luận văn
- Tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu bảo tàng lịch sử cách mạng, trong dạy học lịch sử dân tộc nói chung và giai đoạn lịch
sử từ cội nguồn đến thế kỉ XV nói riêng
Trang 16- Tái hiện lại bức tranh về thực trạng việc sử dụng tài liệu bảo tàng lịch
sử - cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay
- Xác định được các tài liệu bảo tàng Lịch sử Việt Nam cần khai thác để dạy học lịch sử VN từ cội nguồn đến thế kỉ X-XV và để xuất một số hình thức, biện pháp sử dụng tài liệu bảo tàng theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn lịch sử ở trường THPT
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 2 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng tài liệu bảo tàng lịch sử - cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Hình thức, biện pháp sử dụng tài liệu bảo tàng lịch sử Việt Nam trong dạy học lịch sử dân tộc từ cội nguồn đến thế kỉ XV ở lớp 10 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
Trang 17
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
TÀI LIỆU BẢO TÀNG LỊCH SỬ- CÁCH MẠNG TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái quát về bảo tàng
Theo các nhà nghiên cứu thì bảo tàng là cơ quan sưu tầm, giám định
và trưng bày các tài liệu, hiện vật có tính chất nguyên gốc đầu tiên của tri thức về lịch sử phát triển của xã hội và tự nhiên, lịch sử của cuộc đấu tranh cách mạng
Thuật ngữ “bảo tàng” xuất phát từ ngôn ngữ cổ Hi Lạp “Musion” Lúc đầu, từ ngày chỉ có nghĩa là những bộ sưu tập có nguồn gốc tôn giáo; sau đó
là do những cuộc xâm lược thời cổ đại, dưới thời hoàng đế Alếchxăng đri đã
mở rộng lãnh thổ của đế quốc La Mã quanh bờ Địa Trung Hải Trong các cuộc chiến tranh xâm lược này, quân La Lã đã cướp vể nhiều báu vật quý hiếm, nhiều tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật… Điều này đặt ra yêu cầu cần phải cất giữ những sáng tạo vô giá của văn minh nhân loại Những báu vật đó
đã hình thành các bộ sưu tập được lưu giữ, trưng bày và hình thành các nhà
“bảo tàng” Sau này trong ngôn ngữ ở tất cả các nước trên thế giới đều dùng chung thuật ngữ có nguồn gốc “Muse” Trung Quốc và Nhật Bản gọi đó là
“bảo vật quán” Ngày nay bảo tàng học trở thành một khoa học phát triển ở các quốc gia trên thế giới Các nhà giáo dục tiên tiến ở các nước đã đi sâu tìm hiểu về bảo tàng, trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Ở nước ta, dưới thời Pháp thuộc, đã xây dựng một số bảo tàng lớn như Lui Phi-nô (Hà Nội), Bảo tàng Hải dương học (Nha trang), Bảo tàng Chàm (trưng bày các hiện vật về văn hóa Chàm ở Đà Nẵng)
Trang 18Sau ngày giải phóng miền Bắc, chúng ra đã xây dựng nhiều Bảo tàng lịch sử, cách mạng quốc gia và các bảo tàng địa phương, bảo tàng chuyên ngành: Bảo tàng cách mạng (1958), Bảo tàng Quân đội nhân dân Việt Nam (1959), Bảo tàng Hồ Chí Minh (1990)… Mỗi bảo tàng có một chủ đề khác nhau, song nhìn chung đều phản ánh các chặng đường phát triển của dân tộc hay truyền thống của một địa phương, một ngành nào đó
Công việc nghiên cứu sử học không giống với công tác bảo tàng Song kết quả nghiên cứu của sử học làm phong phú và phục vụ tốt cho công tác bảo tàng Sử học và bảo tàng học cùng đối tượng nghiên cứu, đó là những hiện vật, những tài liệu có chứ viết, các tác phẩm nghệ thuật tạo hình, phim ảnh gốc phản ánh quá khứ Song lại khác nhau ở nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu Bảo tàng học còn có mối quan hệ chặt chẽ với bảo tàng lịch sử Bản thân bảo tàng là bài học lịch sử sinh động, sâu sắc Việc sử dụng tư liệu bảo tàng trong dạy học lịch sử làm tăng chất lượng bài học
Hệ thống bảo tàng nói chung và bảo tàng lịch sử nói riêng đều là cơ quan sưu tầm, giám định và trưng bày các tài liệu, hiện vật có tính chất nguyên gốc, đàu tiên của tri thức về lịch sử phát triển của tự nhiên và xã hội, về lịch sử của các cuộc đấu tranh cách mạng
Các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh hai chức năng của bảo tàng
- Trước hết, đó là chức năng nghiên cứu khoa học Mọi hoạt động trong công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng đều phải xoay quanh các hiện vật gốc phù hợp với loại hình của bảo tàng Đây là trọng tâm, là cơ sở của mọi công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng
- Thứ hai là chức năng giáo dục Các tư liệu, hiện vật trong bảo tàng được sắp xếp trưng bày có hệ thống để khách tham quan trong, ngoài nước hiểu và hình dung được tiến trình lịch sử Việt Nam, song khác với công tác giáo vụ của các cơ quan, phương tiện thông tin đại chúng ở chỗ công tác này phải dựa trên cơ sở nghiên cứu các hiện vật gốc Bởi vì thông qua các tài liệu
Trang 19và hiện vật gốc được trưng bày ở bảo tàng nhằm gợi dậy những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp cho người xem chứ không phải thông qua sách vở Vì vậy, thông qua các tài liệu, hiện vật trong bảo tàng cần khơi dậy những tư tưởng, tình cảm cho người xem
Với chức năng như vậy, bảo tàng có các nhiệm vụ
- Tiến hành công tác nghiên cứu khoa học
- Tiến hành thu thập các tài liệu và hiện vật gốc phù hợp với loại hình bảo tàng
- Công tác kiểm kê giám định một cách có khoa học các hiện vật của bảo tàng
- Công tác bảo quản hiện vật của bảo tàng
- Công tác trưng bày bảo tàng
- Công tác tuyên truyền giáo dục
Tùy theo nội dung, chức năng mà bảo tàng có nhiều loại:
- Các bảo tàng lịch sử: như Bảo tàng lịch sử, Bảo tàng cách mạng, Bảo
tàng quân đội, Bảo tàng Hồ Chí Minh… Các bảo tàng này chiếm vị trí rất quan trọng trong toàn bộ hệ thống bảo tàng Việt Nam Những hiện vật được trưng bày trong các bảo tàng này phản ảnh về đời sông văn hóa vật chất, tinh
thần của con người Việt Nam từ khi hình thành đến nay
- Các bảo tàng nghệ thuật : nhằm sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu những
tác phẩm nghệ thuật của nhiều thời đại khác nhau vào mục đích khoa học và
giáo dục thẩm mĩ cho quần chúng
- Các bảo tàng chuyên ngành: như Bảo tàng Phụ nữ, Bảo tàng Không
quân, Bảo tàng Văn học…Những bảo tàng này chiếm một số lượng nhất định trong toàn bộ hệ thống bảo tàng Nhiệm vụ của chúng là sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu các hiện vật gốc của một ngành khoa học nhất định để nói lên sự phát triển, phục vụ cho công tác khoa học của chính bản thân ngành đó và
quần chúng nhân dân
Trang 20- Bảo tàng lịch sử tự nhiên: gồm các bảo tàng cùng loại hình với các
ngành khoa học Đối tượng nghiên cứu là các mặt khác nhau của thế giới tự nhiên như Bảo tàng động vật học, Bảo tàng thực vật học, Bảo tàng hải dương
học,…
- Các bảo tàng lưu niệm: nhằm lưu giữ lại trong quần chúng nhân dân
những sự kiện, những nhân vật lịch sử lớn, quan trọng trên mọi mặt của đời sống xã hội, chính trị, quân sự, văn học, nghệ thuật… Loại bảo tàng này giới thiệu một cách hệ thống diễn biến những sự kiện, hoạt động của các nhân vật lịch sử Ví như bảo tàng di tích ở số 5 Hàm Long, 48 Hàng Ngang (Hà Nội),
di tích Kim Liên (Nghệ An), Pắc Pó (Cao Bằng), Tân Trào (Tuyên Quang),…
- Các bảo tàng ở địa phương là cơ quan thực hiện các chức năng nghiên
cứu khoa học và giáo dục ở mức độ nhất định, chủ yếu là sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu và trưng bày những tài liệu, hiện vật về văn hóa vật chất, tinh thần cũng như tự nhiên của địa phương đó Hiện nay loại bảo tàng này vầ các nhà lưu niệm, truyền thống của địa phương phát triển rất mạnh mẽ ở các địa
phương trong nước
Trong các bảo tàng trên, bảo tàng lịch sử- cách mạng, bảo tàng địa phương và các nhà truyền thống, lưu niệm có khả năng phục vụ đắc lực cho việc dạy học lịch sử dân tộc ở trường phổ thông
1.1.2 Khái quát về bảo tàng lịch sử Việt Nam
Trong hệ thống các Bảo tàng Quốc gia Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (BTLSVN) được thành lập sớm nhất
Tiền thân của BTLSVN là Bảo tàng Viễn Đông Bác Cổ Năm 1926, Phủ Toàn quyền Đông Dương đã quyết định trao khu đất nằm bên bờ hữu ngạn sông Hồng cho trường Viễn Đông Bác Cổ để xây dựng ở đó một trung tâm văn hóa Trung tâm đó chính là bảo tàng Viễn Đông Bác Cổ Bảo tàng này xây dựng với chủ đích tàng trữ, trưng bày và giới thiệu về nghệ thuật của một
số quốc gia ở Đông Nam châu Á
Trang 21Người Pháp đã thiết kế nhà bảo tàng mang đậm phong cách Á Đông, một tổng thể kiến trúc đan xen nhiều đặc trưng kiến trúc của các dân tộc Vì vậy tòa nhà phải xây dựng trong 6 năm mới hoàn thành (1932) Bảo tàng
chính thức được khánh thành với tên gọi “Bảo tàng Viễn Đông Bác Cổ” (hay
“bảo tàng Lui Phi no” – tên người Pháp làm giám đốc bảo tàng) Dưới thời Pháp thuộc, bảo tàng này được xem như là một nơi dành riêng cho những nhà trí thức, những người thuộc tầng lớp thượng lưu tới đây thưởng ngoạn cổ vật Sau năm 1954, bảo tàng Viễn Đông Bác Cổ được bàn giao lại cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Từ khi tiếp quản nhà bảo tàng, Chính phủ Việt Nam đã chủ trương xây dựng lại nội dung trưng bày mới nhằm đáp ứng yêu cầu của đất nước Việt Nam sau ngày giải phóng Ngày 3-2-1958, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chính thức ra đời
Qua quá trình xây dựng và phát triển, Bảo tàng lịch sử Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một trong những trung tâm văn hoá - khoa học của cả nước Đây là nơi lưu giữ và trưng bày những di sản văn hoá vật thể quý báu của quốc gia, đồng thời cũng là nơi nghiên cứu khoa học và truyền bá khoa học lịch sử thông qua những bộ sưu tập hiện vật giá trị, quý hiếm và đầy sức truyền cảm, giúp cho người xem thấy được lịch sử văn hoá lâu đời và truyền thống anh dũng, kiên cường chống ngoại xâm trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
Hệ thống trưng bày chính của bảo tàng - cuốn sử sống của dân tộc Việt Nam từ thời Tiền sử (cách ngày nay khoảng 30 - 40 vạn năm) đến Cách mạng
hiện vật, hệ thống trưng bày chính của bảo tàng được thể hiện theo nguyên tắc trưng bày niên biểu, lấy sự phong phú của sưu tập hiện vật làm ngôn ngữ biểu đạt chính, kết hợp giữa trưng bày phản ánh giai đoạn và sự kiện lịch sử với trưng bày sưu tập theo hướng trưng bày mở, tạo điều kiện để có thể cập nhật những tư liệu hiện vật mới do công tác nghiên cứu sưu tầm đem lại, làm cho
Trang 22"diện mạo" trưng bày luôn mới mẻ, hấp dẫn người xem Cùng mục đích ấy, bảo tàng thường xuyên tổ chức các cuộc trưng bày chuyên đề và với hệ thống màn hình ti vi, màn hình cảm ứng hiện đại với hình ảnh phong phú, sống động, những dữ liệu khoa học chân xác ngày càng thỏa mãn nhu cầu khách tham quan, các nhà nghiên cứu khi đến bảo tàng
Toàn bộ hệ thống trưng bày gồm 4 phần trọng tâm:
Phần thứ nhất: Việt Nam - thời tiền sử.Trọng tâm phần trưng bày này
trình bày quá trình hình thành và phát triển xã hội con người sơ khai trên đất nước Việt Nam trong suốt thời đại đồ đá cách ngày nay từ 30 - 40 vạn năm đến 4.000 - 5.000 năm
Phần thứ hai: Từ thời dựng nước đầu tiên đến triều Trần
Phần trưng bày này bao gồm các thời kỳ lịch sử:
- Thời dựng nước đầu tiên
- Mười thế kỷ chống Bắc thuộc
- Triều Ngô - Đinh - Tiền Lê
- Triều Lý
- Triều Trần
Phần thứ ba: Việt Nam - từ triều Hồ đến Cách mạng tháng Tám, 1945
Phần trưng bày này bao gồm các thời kỳ lịch sử sau:
- Triều Hồ
- Triều Lê Sơ - Mạc - Lê Trung Hưng
- Triều Tây Sơn
- Triều Nguyễn
- Các phong trào chống Pháp và Cách mạng tháng Tám - 1945
Phần thứ tư: Sưu tập điêu khắc đá Chămpa
1.1.3 Xuất phát điểm của vấn đề
1.1.3.1 Mục tiêu giáo dục của bộ môn Lịch sử ở trường PT
Bộ môn Lịch sử giống như tất cả các bộ môn khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội khác ở trường PT đều phải thực hiện theo quy định của nhà nước
Trang 23Mục tiêu giáo dục của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn, thể hiện tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, thông qua chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng, nội dung của môn học và tình hình, nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong những điều kiện cụ thể
Mục tiêu giáo dục trường phổ thông quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế-
xã hội của đất nước đối với giáo dục
Luật giáo dục được Quốc hội thông qua năm 2010 đã nêu: “Mục tiêu của
giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[37, tr.14]
Để đạt được mục tiêu giáo dục con người theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta thì giáo dục phổ thông phải nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề, hoặc đi vào cuộc sống lao động Dạy học luôn luôn được coi là con đường hợp lý, thuận lợi nhất giúp cho học sinh với tư cách là chủ thể nhận thức có thể lĩnh hội được một hệ thống tri thức và kỹ năng, kỹ xảo, chuyển thành phẩm chất và năng lực trí tuệ của bản thân, đáp ứng những nhu cầu của tương lai đang xuất hiện Nhiệm vụ của việc dạy học là phải cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học phổ thông cơ bản và hiện đại Thông qua đó để phát triển năng lực trí tuệ, tư duy, hứng thú học tập cho học sinh Đồng thời, từ đó, hình thành thế giới quan khoa học, góp phần phát triển nhân cách cho học sinh
Trang 24Là một bộ môn khoa học xã hội, môn Lịch sử trường THPT phải thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Giáo dưỡng, cung cấp những kiến thức cơ bản của khoa học lịch sử
trên cơ sở củng cố, phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học ở trung học cơ
sở, hợp thành nội dung giáo dục lịch sử ở bậc trung học phổ thông Cụ thể, nhiệm vụ giáo dưỡng trong mục tiêu của môn Lịch sử ở trường THPT là cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản bao gồm: sự kiện lịch sử cơ bản, các khái niệm, thuật ngữ, tên người, tên đất, niên đại, những hiểu biết về quan niệm lí luận đơn giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu và học tập, phù hợp với yêu cầu và trình độ học sinh
- Giáo dục, các bộ môn trong nhà trường PT Việt Nam đều phải có trách
nhiệm góp phần giáo dục đạo đức, tư tưởng, nhân cách cho HS phù hợp mục tiêu đào tạo ở mỗi thời kỳ lịch sử Trong đó, với đặc trưng riêng của bộ môn, lịch sử là môn học rất có ưu thế trong việc giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm cho học sinh
Giáo dục quan điểm tư tưởng, lập trường, phẩm chất đạo đức, nhân cách, tình cảm thông qua học tập lịch sử là một yêu cầu quan trọng cần chú ý thực hiện Tri thức lịch sử không chỉ có tác dụng giáo dục trí tuệ mà cả tình cảm,
tư tưởng, góp phần đào tạo con người Việt Nam toàn diện Trên cơ sở những phẩm chất đạo đức, tư tưởng được giáo dục thông qua việc học tập lịch sử ở trường THCS, học sinh THPT được bồi dưỡng một cách có hệ thống, sâu sắc hơn ở những điểm chủ yếu sau:
Lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa, lòng yêu quê hương- một biểu hiện của lòng yêu nước trong lao động sản xuất cũng như trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc;
Tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòa bình, dân chủ;
Trang 25Niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người và dân tộc,
dù trong tiến trình lịch sử có những bước quanh co, khúc khuỷu, tạm thời thụt lùi hay dừng lại;
Có ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn sang thực hiện nghĩa vụ quốc tế; Những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng
- Về nhiệm vụ phát triển, dạy học lịch sử ở trường THPT phải rèn luyện
năng lực tư duy và thực hành cho HS trên cơ sở hoàn chỉnh và nâng cao những năng lực đã được hình thành ở trường THCS Đó là bồi dưỡng cho HS:
Tư duy biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích, đánh giá, liên hệ;
Rèn luyện cho HS kỹ năng học tập và thực hành bộ môn: sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo khác, khả năng trình bày nói và viết, làm
và sử dụng một số đồ dùng trực quan, nhất là loại đồ dung trực quan quy ước, những hoạt động ngoại khóa của môn học;
Đồng thời cần thiết phải rèn luyện cho HS khả năng biết vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hiện nay
Các nhiệm vụ trên được hình thành và củng cố tạo ra 4 năng lực chủ yếu nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Đây cũng là những năng lực phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế- xã hội của khư vực và toàn cầu khi bước vào thế kỷ XXI Hay nói ngắn gọn thì bốn năng lực trên tương ứng với bốn
trụ cột giáo dục của Hội đồng về “Giáo dục cho thế kỷ XXI” của Tổ chức
Liên hợp quốc về giáo dục, khoa học, văn hóa (UNESCO) là: “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người”
Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của bộ môn, người giáo viên phải vận dụng một cách đa dạng, linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học trong đó có phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan, đặc biệt là sử dụng tài liệu ở bảo tàng lịch sử- cách mạng Đó là điều kiện cần thiết nhằm đạt được
Trang 26mục tiêu giáo dục theo quan điểm của Đảng ta và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
1.1.3.2 Đặc trưng của bộ môn Lịch sử ở trường PT
So với các môn học khác, Lịch sử có những đặc trưng riêng do đặc điểm của hệ thống kiến thức cấu thành nên nó
Kiến thức lịch sử mang tính quá khứ Lịch sử là quá trình phát triển hợp
quy luật của xã hội loài người từ lúc con người và xã hội loài người hình thành đến nay Tất cả những sự kiện và hiện tượng lịch sử được chúng ta nhắc
đến đều là những chuyện đã xảy ra, nó mang tính quá khứ Đây là điều khác
biệt giữa hiện tượng lịch sử với những hiện tượng tự nhiên Bởi vậy, người ta không thể trực tiếp quan sát được lịch sử quá khứ và chỉ nhận thức được chúng một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại, hoặc giả, dựa vào các hiện tượng lịch sử tương tự của cái mới, của các dân tộc khác để phân tích, suy nghĩ những vấn đề lịch sử chúng ta đang nghiên cứu; dùng các loại tài liệu này để tham khảo chứ không thể thay thế hiện tượng lịch sử khách quan mà chúng ta đang nghiên cứu
Không chỉ mang tính quá khứ, kiến thức lịch sử nhìn chung mang tính
không lặp lại về thời gian và cả không gian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử
chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian nhất định, trong những thời gian
và không gian khác nhau Hơn thế nữa, đời sống của xã hội loài người, cũng như của mỗi dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình đã trải qua những thay đổi lớn lao Tất cả mọi lĩnh vực từ trình độ sản xuất, chế độ chính trị, quan hệ xã hội, đến ăn, ở, đi lại, tư tưởng triết lí, đạo đức đều đã trải qua những thay đổi, biến hóa không ngừng Chính điều này buộc những nhà giảng dạy lịch sử khi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó trong lịch sử phải xem xét tính cụ thể cả về thời gian và không gian làm nảy sinh sự kiện, hiện tượng đó Qua đó nhận thấy các sự kiện lịch sử cụ thể, riêng biệt song có mối quan hệ kế thừa
Trang 27Cùng với tính không lặp lại, tính cụ thể cũng là đặc điểm nổi bật của
kiến thức lịch sử Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể của các nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó Lịch sử của mỗi nước, mỗi dân tộc đều có diện mạo riêng do những điều kiện riêng quy định Mặt khác, các quốc gia, các dân tộc khác nhau sống trên những khu vực khác nhau, tuy bị tác động của những quy luật chung, trải qua quá trình phát triển, trình độ sản xuất không ngừng nâng cao, đời sống văn hóa tinh thần của con người ngày càng phong phú, đa dạng nhưng tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc không hoàn toàn giống nhau Chính đặc điểm này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu lại càng hấp dẫn bấy nhiêu
Các tài liệu bảo tàng đều gắn liền với những sự kiện, biến cố lịch sử cụ thể Việc sử dụng những tài liệu này trong dạy học, đặc biệt khi tổ chức cho các em học sinh được học tại thực địa sẽ tạo cho bài học không khí sôi nổi hơn, làm cho HS cảm thấy như đang được chứng kiến sự kiện diễn ra một cách chân thực nhất
Đồng thời, kiến thức lịch sử còn mang tính hệ thống Khoa học lịch sử
vừa bao gồm các sự kiện, hiện tượng về cơ sở kinh tế, đấu tranh xã hội, vừa bao gồm cả nội dung của kiến trúc thượng tầng, tình hình sản xuất và quan hệ sản xuất… Nội dung kiến thức lịch sử như vậy rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người, bao gồm cả chính trị, quân sự, kinh
tế, văn hóa, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật… Những nội dung kiến thức lịch
sử đó lại có mối liên hệ chằng chịt, phức tạp Điều này đòi hỏi người giáo viên phải luôn luôn chú ý đến mối quan hệ ngang dọc, trước sau của các vấn
đề lịch sử cũng như mối quan hệ ngang, nội tại giữa các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa để cung cấp cho học sinh những kiến thức lịch sử khoa học mang tính
hệ thống và hoàn chỉnh, nêu được cái logic (cái bản chất, cái cốt lõi của lịch sử), dễ hiểu (cái logic)
Trang 28Xuất phát từ những đặc trưng này ta thấy, nhiệm vụ của người giáo viên lịch sử là phải khôi phục trong óc học sinh bức tranh quá khứ lịch sử sinh động đúng như nó đã tồn tại Từ đó, học sinh có thể tìm ra mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện để so sánh, đánh giá, nhận xét theo quan điểm và kết quả tư duy của mình Nói một cách khác, học lịch sử không chỉ cần “biết” mà phải “hiểu”, biết nhìn nhận, nắm bắt quy luật vận động và phát triển của xã hội để soi vào cuộc sống, để sử dụng trong cuộc sống
Để thực hiện được yêu cầu này, người giáo viên lịch sử phải vận dụng nhuần nhuyễn nhiều phương pháp dạy học, trong đó sử dụng các phương tiện trực quan nói chung, tài liệu, hiện vật trưng bày trong bảo tàng nói riêng góp phần không nhỏ hình thành kiến thức cho HS
1.1.3.3 Đặc trưng tâm lý và nhận thức của học sinh THPT
* Đặc điểm nhận thức lịch sử của học sinh
Quá trình nhận thức của học sinh cũng tuân theo quá trình nhận thức
chung của loài người được khái quát qua công thức nổi tiếng của Lê-nin: “Từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn; đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực quá khứ” Đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận
thức hiện thực khách quan” Đây là quá trình nhận thức chung trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ việc quan sát những hình ảnh khách thể bằng các giác quan diễn ra dưới các hình thức cơ bản nối tiếp nhau, từ cảm giác, tri giác đến biểu tượng; người ta gọi đó là quá trình nhận thức cảm tính Ở giai đoạn này con người mới chỉ dừng lại ở việc quan sát bề ngoài của những sự vật trực quan mà chưa khám phá được bản chất và quy luật chi phối của sự vận động, phát triển của khách thể Vì vậy, con người phải chuyển sang giai đoạn nhận thức cao hơn, dựa trên cơ sở những tài liệu do trực quan sinh động đem lại, đó là giai đoạn nhận thức lý tính hay tư duy trừu tượng Tư duy trừu tượng cũng phản ánh hiện thực nhưng là sự phản ánh gián tiếp và
Trang 29khái quát; nó sâu sắc hơn, chính xác hơn và đầy đủ hơn giúp con người nhận thức được bản chất của các sự vật và hiện tượng khách quan
Không nằm ngoài quá trình nhận thức chung đó, trong học tập lịch sử, học sinh cũng trải qua các giai đoạn nhận thức từ thấp đến cao, diễn ra theo hai con đường ngược chiều nhau Đó là con đường đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ đơn nhất đến khái quát và con đường đi từ trừu tượng đến cụ thể, từ khái quát đến đơn nhất Hai con đường đó có mối quan hệ nội tại với nhau Theo con đường thứ nhất thì cái cụ thể là điểm xuất phát của trực quan và của trừu tượng Theo con đường thứ hai thì cái trừu tượng dẫn tới tái hiện cái cụ thể bằng những thao tác tư duy Trong dạy học, giáo viên cần vận dụng cả hai con đường này một cách hợp lý, nhằm giúp học sinh thu nhận được kiến thức một cách tối ưu
Đặc trưng của bộ môn lịch sử không cho phép học sinh được quan sát trực tiếp các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà chủ yếu là nhận thức gián tiếp thông qua quan sát, tri giác các tài liệu, hiện vật được lưu lại Vậy, trong
“trực quan sinh động” thì tài liệu đóng vai trò quan trọng nhất đối với sự quan sát, tri giác của học sinh Thông thường, ở trường phổ thông, “tài liệu” giúp học sinh tri giác sự kiện, hiện tượng lịch sử là lời giảng của thầy,
đồ dùng trực quan và sách giáo khoa Đây là các “tài liệu” có tính chất nền tảng cho tri giác của học sinh Học sinh buộc phải thực hiện các thao tác đơn giản như nghe, quan sát, tri giác tài liệu sự kiện lịch sử để từ đó hình dung lại, tưởng tượng, tái tạo các sự kiện đã diễn ra trong quá khứ Tiếp đó,
để hoàn thành quá trình nhận thức lịch sử, học sinh phải chuyển sang giai đoạn nhận thức cao hơn, nhận thức lý tính, với các thao tác của tư duy như
so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, phân tích, tổng hợp… Các em sẽ tìm ra được những dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Cuối cùng, qua quá trình nhận thức, học sinh phải hiểu được các mối liên hệ bên trong của các sự kiện lịch sử, biết đánh giá, nhìn nhận chúng một cách hợp lý
Trang 30Mặt khác, chúng ta cũng thấy rằng nhận thức lịch sử không thể bắt đầu bằng cảm giác trực tiếp về sự kiện mà từ những biểu tượng cụ thể tạo nên trên
cơ sở tri giác tài liệu Do đó, trong dạy học lịch sử, biểu tượng lịch sử có vai trò hết sức quan trọng Đó là những hình ảnh về sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất Đó cũng chính là cơ sở để hình thành các khái niệm lịch sử Không
có biểu tượng thì không có khái niệm hoặc khái niệm được xây dựng trên những biểu tượng nghèo nàn; đó là khái niệm trống rỗng, thiếu nội dung phong phú, hấp dẫn Biểu tượng lịch sử càng cụ thể, chính xác, sinh động bao nhiêu thì học sinh càng có khái niệm đúng, hiểu các sự kiện lịch sử một cách sâu sắc, chính xác bấy nhiêu Để học sinh có những biểu tượng lịch sử cụ thể, sinh động thì cần thiết phải sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với các phương tiện, phương pháp dạy học khác Phương tiện trực quan đóng vai trò rất quan trọng trong dạy học lịch sử Nó là một trong những vấn đề cơ bản của
lý luận dạy học nhằm, tạo cho học sinh các biểu tượng và hình thành khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học, hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật Bài mở đầu của môn lịch sử ở trường trung học cơ sở đã
nhấn mạnh cơ sở khách quan của việc học tập, nghiên cứu lịch sử: “Chúng ta
có thể dựng lại lịch sử tổ tiên ta từ thời nguyên thủy đến nay nhờ chủ yếu vào
3 nguồn tài liệu…
- Tài liệu truyền miệng
- Tài liệu vật chất
- Tài liệu chữ viết”
Tài liệu bảo tàng là một trong những bộ phận của nguồn sử liệu vật chất chân xác nhất Nó là một loại phương tiện trực quan có giá trị góp phần tạo biểu tượng cụ thể, chân thực cho học sinh
Tài liệu bảo tàng được hiểu là những “mảnh vụn”, “dấu vết”, “bằng chứng” của quá khứ còn lưu giữ đến ngày nay, phản ánh những sự kiện lịch
Trang 31sử, những giai đoạn lịch sử tiêu biểu đã xảy ra trong quá khứ Do vậy, nó là phương tiện để nhận thức bức tranh quá khứ lịch sử đã qua
Với tính chất là những vật thật, minh chứng của lịch sử, Tài liệu bảo tàng
là cơ sở để học sinh khôi phục quá khứ Đồng thời, những kiến thức về quá khứ được xây dựng, hình thành trong những giờ lên lớp, các buổi tự học, tự nghiên cứu tài liệu sẽ được bổ sung cụ thể bằng những hiện vật, tranh ảnh, bản đồ, của Tài liệu bảo tàng, làm cơ sở cho việc tạo những biểu tượng cụ thể, sinh động về các sự kiện, các nhân vật lịch sử quá khứ; bổ sung, khắc sâu hơn những tri thức lịch sử mà học sinh đã tiếp nhận Từ đó, các em sẽ hiểu lịch sử diễn ra như thế nào một cách chính xác hơn
Bào tàng là nơi sưu tầm, giám định và trưng bày các tài liệu, hiện vật gắn liền với tiến trình lịch sử dân tộc Khi dạy học lịch sử, dù giáo viên có sử dụng các phương pháp miêu tả, tường thuật… hay như thế nào đi chăng nữa cũng không sống động và thuyết phục bằng việc đưa học sinh đến thăm quan, học tập tại nơi đã lưu giữ các tài liệu lịch sử Đến các bảo tàng lịch sử-cách mạng, học sinh sẽ được tận mắt quan sát những hiện vật, tài liệu lịch sử sinh động, chân thực Chính vì vậy, học sinh nhanh chóng có được biểu tượng chính xác, chân thực về các sự kiện lịch sử, tạo cho các em có được “khung cảnh lịch sử” rộng lớn, sống động hơn, khắc phục tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử của học sinh, giúp các em hứng thú học tập hơn Có thể ví tài liệu bảo tàng như những “hiện vật biết nói”
* Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 10 THPT trong học tập lịch sử
Các thành tựu nghiên cứu khoa học chứng minh rằng việc chuyển từ tâm
lý giai đoạn thiếu niên sang tâm lý của giai đoạn thanh niên đã diễn ra ở học sinh phổ thông Giai đoạn này các em có nhu cầu “khẳng định mình” thích làm việc của người lớn, thích khám phá, hiếu động, ham chơi,…Đây chính là thời kì các em hình thành khả năng nhận thức cao hơn, không thích bị áp đặt, buộc phải thừa nhận mọi điều khi học tập Dó đó, khi dạy học giáo viên cần
Trang 32lưu ý đặc điểm nêu trên, nếu không các em dễ rơi vào trạng thái tâm lý ức chế, chán nản, thậm chí các em có thái độ bực tức, tìm cách phản ứng lại Ở lứa tuổi này các em khao khát được thầy cô, bạn bè tôn trọng mong được đánh giá đúng, mong được khen ngợi, động viên đúng lúc, kịp thời, công bằng Tuy nhiên bản thân học sinh THPT cũng có những mâu thuẫn trong nội tại và chịu áp lực từ nhiều phía như: nhà trường, gia đình, bạn bè, nhu cầu hiểu biết, tự khẳng định mình với năng lực nhận thức có hạn của bản thân Các em luôn có tâm lý tự ti, căng thẳng có dấu hiệu của sự quá tải, khó khăn trong việc hoàn thành nhiệm vụ học tập, cũng như những khó khăn trong cuộc sống xã hội, dẫn đến sự chán nản, thiếu ý chí quyết tâm vươn lên nếu thiếu sự quan tâm của gia đình, nhà trường Cùng với sự phát triển về sinh lý, tư duy của các em ở lứa tuổi này cũng phát triển ở một bước cao hơn Không chỉ dừng lại ở nhận thức cảm tính, các em bắt đầu có nhận thức lí tính và khả năng tư duy trừu tượng, đặc biệt là khả năng tư duy độc lập Các em có khả năng tiếp thu tốt khi có trạng thái tâm lý phấn chấn, tự tin khi có sự động viên, dẫn dắt của giáo viên, có khả năng hoạt động độc lập hoặc hoạt động theo nhóm có tổ chức Tuy vậy, hiện nay, số học sinh THPT đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như trên còn chưa nhiều Đôi khi, các em còn chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân mà kết luận vội vàng theo cảm tính Việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức, phát triển khả năng tư duy độc lập là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên Cách làm tốt nhất mà giáo viên có thể sử dụng để đạt kết quả không
gì hơn là kết hợp các biện pháp sư phạm khác nhau trong dạy học đặc biệt chú ý đến việc sử dụng các phương tiện trực quan, nhất là các tài liệu bào tàng lịch sử cách mạng Cần hướng dẫn học sinh khai thác nội dung của các bảo tàng đó để củng cố những tri thức lịch sử đã tiếp nhận, bồi dưỡng khả năng nhận thức và thực hành cho các em
Trang 33Mặt khác, có thể nói lứa tuổi học sinh THPT, so với lứa tuổi học sinh THCS, đã có những chuyển biến rõ rệt Các em ngày càng trưởng thành hơn,
đã và đang hình thành thế giới quan riêng, đã có được hệ thống tri thức văn hóa phong phú, năng lực trí tuệ phát triển Các em ý thức được rằng, mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời nên thái độ của các em đối với các môn học trở nên có sự lựa chọn hơn Ở các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Từ đó, cũng nảy sinh nhược điểm: một mặt, học sinh rất tích cực học một số môn được cho là quan trọng, hữu ích đối với nghề nghiệp mình đã chọn, đồng thời lại sao nhãng các môn học khác mà các em cho là không cần thiết hoặc chỉ học để đạt điểm trung bình, ít quan tâm kiểm nghiệm các kiến thức thuộc môn mình không thi Lịch
sử không nằm ngoài những sự lựa chọn như vậy Xuất phát từ quan niệm này của học sinh thì giáo viên cần phải làm cho các em hiểu được ý nghĩa, chức năng của bộ môn, phân biệt được cái sai cái đúng Từ đó, điều chỉnh động cơ, thái độ học tập của minh sao cho đúng đắn Đối với bộ môn lịch sử, các phương tiện trực quan sẽ góp phần thực hiện được tất cả các yêu cầu trên Trong đó tài liệu bảo tàng lịch sử-cách mạng có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh
Tìm hiểu đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 10 THPT cho phép người viết
có thể sử dụng những biện pháp thích hợp hướng dẫn học sinh sử dụng những tài liệu, hiện vật trưng bày tại bảo tàng tốt nhất để đạt được mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục và phát triển của bộ môn
1.1.3.4 Sử dụng tài liệu ở bảo tàng lịch sử - cách mạng đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, đổi mới giáo dục là nhiệm vụ tất yếu nhằm mục tiêu đào tạo con người mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về nguồn lực con người Việc nâng cao chất lượng giáo dục đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ các khâu như: đổi mới sách giáo
Trang 34khoa, phương pháp dạy học, tăng cường phương tiện dạy học…Hiện nay việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa lịch sử đòi hỏi phải đổi mới cả
về phương pháp dạy học lịch sử Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ngày càng được chú ý hơn, song nhìn chung vẫn chưa đáp ứng, chưa theo kịp đổi mới nội dung dạy học Để đẩy mạnh đổi mới trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, chúng ra phải kiên quyết loại trừ các sai lầm, thiếu sót:
Thứ nhất, xóa bỏ cách học truyền thống - thầy đọc, trò chép, cách truyền
thụ một chiều, nặng về biết mà không giúp học sinh hiểu lịch sử, ngoại trừ quá trình dạy học, trong đó giáo viên đóng vai trò trung tâm, học sinh thụ động tiếp nhận kiến thức, thầy nhồi nhét kiến thức, trò học thuộc lòng Như vậy, tình trạng “hiện đại hóa lịch sử”, ghi nhớ máy móc, công thức, làm cho học sinh học trước quên sau, kém hứng thú trong học tập
Thứ hai, đổi mới phương pháp dạy học trên lớp- hướng dẫn học sinh tự
học ở nhà, tổ chức hoạt động ngoại khóa thông qua việc phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình nắm kiến thức cơ bản Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nêu và giải quyết vấn đề, biết phân tích, so sánh, nhận đinh, vận dụng kiến thức đã học vào thực hành bộ môn và cuộc sống
Thứ ba, là mở rộng sự hiểu biết, tăng hứng thú, ý thức tìm tòi, khám phá,
khả năng thực hành của học sinh, đồng thời vẫn đảm bảo nội dung, yêu cầu của chương trình, tính vừa sức học sinh và tạo điều kiện cho các em phát triển
Thứ tư, là sử dụng trang thiết bị cần thiết trong dạy học, nhằm đổi mới
phương pháp dạy học lịch sử Xây dựng và sử dụng có hiệu quả hệ thống bản đồ, tranh ảnh, tải liệu tham khảo…tăng cường sử dụng các phương tiện, kĩ thuật hiện đại trong dạy học lịch sử như máy chiếu, các phần mềm hỗ trợ dạy học,
Sử dụng tài liệu ở bảo tàng lịch sử - cách mạng nói chung, Bảo tàng Lịch
sử Việt Nam nói riêng trong dạy học lịch sử là một trong những biện pháp tốt
để đổi mới phương pháp dạy học GV cần dựa vào ưu thế của từng bảo tàng
để sử dụng các tài liệu, hiện vật trưng bày cho phù hợp
Trang 35Như, Bảo tàng Lịch sử quân sự có ưu thế trong khai thác những tài liệu, hiện vật để phục vụ giảng dạy phần lịch sử dân tộc giai đoạn 1946 – 1975
- Bảo tàng Cách Mạng có ưu thế khi giảng dạy lịch sử cách mạng từ khi
có Đảng lãnh đạo
- Bảo tàng Hồ Chí Minh có ưu thế khi sử dụng để giảng dạy về cuộc đời
và sự nghiệp của Người
- Bảo tàng Lịch sử có ưu thế sử dụng chủ yếu để giảng dạy lịch sử dân tộc phần lịch sử cổ trung đại
Đồng thời, khi sử dụng tài liệu, hiện vật của bảo tàng, giáo viên phải nắm vững nội dung trưng bày của các bảo tàng để lựa chọn tài liệu, hiện vật sao cho phù hợp nhất, có hiệu quả nhất với bài học
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu ở bảo tàng Lịch sử Việt Nam trong dạy học lịch sử dân tộc nói chung và phần Lịch sử Việt Nam từ cội nguồn đến thế kỉ XV nói riêng
1.1.4.1.Vai trò
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, quá trình nhận thức của con người bao giờ cũng đi từ hình ảnh cụ thể trực tiếp đến trừu tượng, từ đơn giản tới khái quát Những hình ảnh này thông qua quá trình cảm giác, tri giác của con người phản ánh vào sự nhận thức tư duy Quá trình nhận thức tuân theo các quy luật Một quy luật được phản ánh trong công thức nổi tiếng của
Lênin: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu
tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”
Những kết quả nghiên cứu về tâm lý học của nhiều nhà khoa học trong nước cho thấy quá trình nhận thức của con người diễn ra theo con đường từ nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác, nhớ…) đến nhận thức lý tính (tư duy ), tức là từ các yếu tố trực quan của hiện thức khách quan như các sự vật, hiện tượng, tranh vẽ, lời nói có hình ảnh…Trong nhận thức, con người xây
Trang 36dựng được những biểu tượng về các sự vật, hiện tượng…Đó là những tài liệu cảm tính Từ những tài liệu cảm tính nhờ các thao tác tư duy (phân tích, so sánh, tổng hợp…) sẽ hình thành khái niệm về những điều đã được tri giác trước đó
Quá trình nhận thức lịch sử của hoc sinh cũng diễn ra theo quy luật chung như trên Đặc điểm của học tập lịch sử là học những điều đã qua không tái diễn trởi lại, vì vậy “việc trực quan sinh động” trong nhận thức lịch sử không thể bắt nguồn từ cảm giác trực tiếp về sự kiện, hiện tượng, mà từ những biểu tượng cụ thể được tạo nên trên cơ sở tri giác tài liệu Không có biểu tượng thì không có khái niệm, hoặc khái niệm xây dựng trên những biểu tượng nghèo nàn cũng sẽ là những khái niệm trống rỗng, thiếu nội dung phong phú Cho nên để có cơ sở cho việc nhận thức khái quát, cần thiết phải
sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với các phương pháp dạy học khác, trong
đó có tài liệu ở các bảo tàng vào dạy học lịch sử
Tài liệu ở bảo tàng là phương tiện trực quan quan trọng góp phần tạo biểu tượng lịch sử cụ thể, chân thưc, chính xác cho học sinh Những tài liệu ở bảo tàng không phản ánh các loại kiến thức mang tính lý luận, khái quát nhưng lại thể hiện rất rõ sự kiện, hiện tượng cụ thể như: công cụ lao động bằng đá biểu hiện trình độ sản xuất thời đại kim khí, hay mô hình một căn cứ chiến đấu, sa bàn một trận đánh biểu hiện những sự kiện trong đấu tranh cách mạng Tranh, ảnh chụp ở bảo tàng có thể diễn tả một sự kiện riêng lẻ, cục bộ hay một mặt của quá trình lịch sử như sự hình thành một nền văn minh, sự ra đời của một nhà nước…
Đặc biệt, tài liệu ở bảo tàng còn có thể diễn tả, chứng minh những sự kiện quan trọng nhất của đất nước ở một thời kì lịch sử nhất định, như quá trình xây dựng thành Cổ Loa thể hiện sự tồn tại của nhà nước Âu Lạc, bức ảnh chụp kho mũi tên đồng tìm thấy ở phía Nam thành Cổ Loa phản ánh cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của quân dân Âu Lạc, những chiếc rìu đá, mảnh
Trang 37tước được ghè đẽo phản ánh các nền văn hóa tiêu biểu như văn hóa Óc Eo, văn hóa Hòa Bình…Trên cơ sở tri giác các hiện vật, tài liệu gốc, tranh ảnh
ở bảo tàng thông qua các thao tác tư duy của học sinh, nhận thức được những nét đặc trưng cơ bản, bản chất của sự kiện, hiện tượng để hình thành khái niệm
Như vậy, tài liệu ở bảo tàng phản ánh những kiến thức lịch sử cụ thể, là điểm tựa của nhận thức cảm tính Song trên cơ sở nhận thức cảm tính lí luận
ấy mà học sinh lĩnh hội được kiến thức lí luận, khái quát Tuy vậy, quá trình nhận thức của học sinh cũng cần phải được đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng
Nguyên tắc giáo dục đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh tiếp xúc được trực tiếp với những sự vật, hiện tượng, từ đó hình thành những khái niệm rút ra những quy luật, lý thuyết khái quát, tức là nắm cái trừu tượng Hoặc từ cái trừu tượng đã có soi sáng, xem xét các sự vật, hiện tượng cụ thể Trong quá trình đó phải đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng, cần sử dụng phối hợp nhiều phương tiện trực quan với tư cách là phương tiện nhận thức, trong đó tài liệu ở bảo tàng có vai trò quan trọng Nó giúp học sinh khôi phục bức tranh quá khư như đã tồn tại
và hiểu đúng lịch sử
Đặc biệt đối với học sinh ở THPT, với độ tuổi từ 15-17, đang có những thay đổi quan trọng về mặt tâm lý và sinh lý Ở lứa tuổi này, các em đang trong quá trình “tự khẳng định mình” với những đặc trưng tâm lý như ham hiểu biết, ưa thích cái mới,…Cùng với sự phát triển về sinh lý, ở giai đoạn này tư duy học sinh cũng phát triển lên một bước Nếu như ở cáp trung học cơ
sở, tư duy các em chủ yếu là cụ thể với nhận thức cá tính, thì ở bậc trung học phổ thông nhận thức lý tính và tư duy trừu tượng đã phát triển, đặc biệt là khả năng tư duy độc lập
Trang 38Hiện nay ngoài nguồn thông tin từ sách vở, bài giảng của thầy, cô giáo trên lớp, học sinh còn tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn thông tin khác nhau như sách, báo, tạp chí, internet, các phương tiện thông tin đại chúng,…Do đó, học sinh ngày càng có nhiều kiến thức sâu rộng hơn so với các thế hệ cùng tuổi trước đó Nhưng những nguồn thông tin mà các em thu được ngoài nhà trường không hoàn toàn đúng Chính vì vậy, các em cần phải được hướng dẫn
để có khả năng phân biệt chỗ đúng, chỗ sai của thông tin đó Phương tiện trực quan nói chung, tài liệu bảo tàng nói riêng góp phần bồi dưỡng khả năng này của học sinh
Để nhận thức đúng về các hiện vật trưng bày trong bảo tàng không phải
là chuyện đơn giản, vì những hiện vật đó đã tách khỏi hiện thức lịch sử của thời kỳ sinh ra nó Hiện vật chỉ là “dấu vết”, “những mảnh” của quá khứ còn lại chứ không phải là toàn bộ quá khứ Vì vậy, khai thác và sử dụng tài liệu trưng bày trong bảo tàng giáo viên phải giúp học sinh phát huy các năng lực nhận thức, trong đó đặc biệt là óc tưởng tượng, tư duy để các em hiểu đúng lịch sử
Việc khai thác, sử dụng tài liệu của bảo tàng đảm bảo cho quá trình nhận thức của học sinh diễn ra hợp với quy luật nhận thức và đảm bảo nguyên tắc trực quan trong học tập lịch sử.Vì vậy, đây là công cụ cần thiết quan trọng, là nguồn kiến thức vô giá trong học tập Ở đây không chỉ dùng lời nói để miêu
tả sự kiện lịch sử một cách đầy đủ, nguyên vẹn, mà phải tạo biểu tượng cụ thể sinh động qua hiện vật Dù có miêu tả hay đến mấy thì cũng không đủ sức thuyết phục bằng các hiện vật, tài liệu gốc
Tài liệu ở bảo tàng bao gồm các tài liệu gốc, như tranh ảnh lịch sử, hiện vật, mô hình, bản đồ phục chế, tài liệu thành văn…Tất cả các tài liệu của bảo tàng được sắp xếp có hệ thống theo trình tự thời gian, là các phương tiện trực quan có giá trị trong nhận thức lịch sử đối với học sinh
Trang 391.1.4.2 Ý nghĩa
* Hình thành kiến thức
Trước hết, tài liệu ở bảo tàng có ý nghĩa to lớn đối với việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh Học tập lịch sử thông qua những hiện vật, tài liệu gốc…được trưng bày trong bảo tàng sẽ làm cho học sinh nhanh chóng nắm được nội dung những kiến thức cơ bản của bài học Bời vì nguồn tài liệu này rất phong phú, đa dạng và cụ thể, phản ánh nhiều hoạt động của con người trong lịch sử về đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần, từ đề tài lao động sản xuất đến đề tài chiến tranh…Những tài liệu, hiện vật phong phú dó
là một nguồn cung cấp kiến thức giúp các em có biểu tượng lịch sử chính xác, chân thực Hơn nữa, các tài liệu ở bảo tàng, một nguồn kiến thức được sưu tầm, sắp xếp có hệ thống đã vẽ lên trước mắt học sinh bức tranh tương đối toàn diện về quá khứ, phản ánh phần nào hiện thực lịch sử đã tồn tại, góp phần cụ thể hóa sự kiện và tránh sai lầm “hiện đại hóa lịch sử” của học sinh
Ví nhƣ: Khi dạy bài 16 “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập
dân tộc” ở lớp 10 THPT, giáo viên có thể sử dụng các tài liệu trưng bày trong Bảo tàng Lịch sử Việt Nam như:
- Bản đồ: “Các cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc” từ thế kỉ I đến thế kỉ X
- Ảnh chụp dấu vết thành Mê Linh (Hạ Lôi-Vĩnh Phúc), nơi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa chống ách thống trị nhà Đông Hán năm 40
- Ảnh đền thờ Hai Bà Trưng (Hạ Lôi-Vĩnh Phúc)
- Một số hiện vật : chuỗi tiền đồng, bát đựng tiền đồng, gạch có hoa văn Đông Sơn, mô hình kiến trúc nhà…(từ thế kỉ I đến thế kỉ X)
- Ảnh : Núi Nưa (Nông Cống-Thanh Hóa) căn cứ địa của Bà Triệu khởi nghĩa chống quân Ngô năm 248
- Ảnh : Lăng Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) Hậu Lộc- Thanh Hóa
Trang 40- Ảnh : Đầm Dạ Trạch (Khoái Châu – Hưng Yên) căn cứ địa Triệu Quang Phục chống quân Lương Năm 548 đánh chiếm thành Long Biên, xây dựng chính quyền (năm 548-602)
- Ảnh : Đền thờ Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan), Vạn An, Nam Đàn, Nghệ An
- Ảnh chụp: Lăng Phùng Hưng (Kim Mã – Hà Nội)
- Ảnh : Lăng Ngô Quyền (Cam Lâm – Hà Tây)
- Bản đồ : đại thắng quân Nam Hán (trận Bach Đằng năm 938)
- Mô hình : Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng Những hiện vật này tạo cho học sinh biểu tượng sống động, chân thực về các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu thời Bắc thuộc Từ đó các em thấy được tính liên tục, rộng lớn, quần chúng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta trong các thế kỉ I-X
Thứ hai, khi quan sát các tài liệu ở bảo tàng, học sinh không chỉ dừng lại
ở việc tri giác hiện vạt, mà trên cơ sở biểu tượng cụ thể, chân thực, các em tiến tới nhận thức đúng đắn bản chất của sự vật, hiện tượng, tạo điều kiện cho việc hình thành khái niệm lịch sử Biểu tượng lịch sử càng chân thực, cụ thể bao nhiều thì khái niệm hình thành càng vững chắc bấy nhiêu Vì vậy có thể nói, tài liệu, hiện vật ở bảo tàng là chỗ dựa đáng tin cậy để học sinh hình
thành khái niệm lịch sử Ví nhƣ : Khi dạy bài 13 “Việt Nam thời nguyên
thủy” mục 1 “Những dấu tích Người tối cổ ở Việt Nam”, giáo viên sử dụng
các tư liệu trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam:
- Ảnh : Cảnh sinh hoạt trong hang động (thời đại hậu kì đồ đá cũ cách đây từ 4-10 vạn năm Minh họa của G.Burian, sách “Đời sống người cổ”)
- Ảnh Núi Đọ, xã Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa- nơi tìm được nhiều loại công cụ lao dộng của người nguyên thủy, dấu thời đại đồ đá cũ cách ngày này 30 vạn năm
- Hiện vật: một số công cụ lao động bằng đá: rìu tay, mảnh tước, công cụ chặt ở Núi Đọ- Thanh Hóa cách đây khoảng 30 vạn năm