1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người nam trong ca dao người việt

88 200 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 783,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểu nhân vật làm vợ Đó là kiểu nhân vật được dùng để thể hiện các quan niệm về làm vợ nhường nhịn, chịu đựng..., tình cảm của người vợ đối với chồng thủy chung, gắn bó, chức năng làm vợ

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -

LÊ THỊ ĐÀI TRANG

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NAM TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN -

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NAM TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 3

Tôi tên là Lê Thị Đài Trang, sinh viên lớp 10SNV - Khoa Ngữ Văn - Trường Đại Học Sư Phạm - Đại Học Đà Nẵng Tôi xin cam đoan rằng công

trình “ Hình tượng người nam trong ca dao người Việt” là kết quả của quá

trình tìm hiểu, nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đức Luận

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính khoa học và trung thực của khóa luận này

Đà Nẵng, ngày 30 tháng 05 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Đài Trang

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Lê Đức Luận, người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình chu đáo tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Và để hoàn thành khóa luận này, chúng tôi rất trân trọng cảm ơn các quý thầy cô trong khoa Ngữ Văn trong suốt quá trình giảng dạy đã cung cấp kiến thức nền tảng để tôi có thể nghiên cứu được đề tài

Đồng thời, tôi cũng muốn gửi lời biết ơn đến tập thể thầy cô giáo thư viện đã hết sức tạo điều kiện để cung cấp những tài liệu cần thiết cho quá trình nghiên cứu của tôi

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô đã dành thời gian quý báu của mình để đọc và góp ý cho khóa luận của tôi

Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình tôi thực hiện khóa luận này

Đà Nẵng, ngày 30 tháng 05 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Đài Trang

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục luận văn 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG 5

1.1 Khát quát về ca dao 5

1.1.1 Khái niệm ca dao 5

1.1.2 Phân biệt ca dao với tục ngữ 7

1.1.3 Đặc trưng ca dao 9

1.2 Hình tượng nghệ thuật và các kiểu nhân vật trong ca dao 11

1.2.1 Khái niệm về hình tượng nghệ thuật 11

1.2.2 Các kiểu nhân vật trong ca dao 13

1.3 Đặc trưng giới tính và xã hội phụ quyền Nho giáo 15

1.3.1 Đặc trưng xã hội phụ quyền Nho giáo 15

1.3.2 Vai trò vị thế của người nam trong xã hội Nho giáo 18

1.3.3 Vai trò vị thế của người phụ nữ trong xã hội Nho giáo 20

Tiểu kết: 23

Chương 2 ĐẶC TRƯNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NAM TRONG CA DAO 24

2.1 Vị thế thể hiện của người nam trong ca dao 24

2.1.1 Người nam với tư cách là người con trong gia đình 24

2.1.2 Người nam với tư cách là người chồng trong gia đình 27

2.1.3 Người nam với tư cách là người cha trong gia đình 30

2.1.4 Người nam với tư cách là công dân trong xã hội phụ quyền 32

Trang 6

2.2.1 Áp lực trọng trách đối với người nam 37

2.2.2 Nhược điểm của người nam 39

2.3 Giá trị phản ánh của hình tượng người nam trong ca dao 43

2.3.1 Phản ánh xã hội phụ quyền 43

2.3.2 Phản ánh đặc tính của người nam 44

Tiểu kết: 47

Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NAM TRONG CA DAO 49

3.1 Điểm nhìn nghệ thuật 49

3.1.1 Điểm nhìn của người phụ nữ đối với người nam 49

3.1.2 Điểm nhìn tự thân của người nam 51

3.1.3 Điểm nhìn của xã hội đối với người nam 53

3.2 Phương thức nghệ thuật 54

3.2.1 So sánh ( trực tiếp và gián tiếp ) 54

3.2.2 Nhân hóa, hoán dụ 57

3.2.3 Đối lập, tăng tiến 61

3.3 Sử dụng môtíp ngôn ngữ 65

3.3.1 Môtíp làm trai 65

3.3.2 Môtip người đàn ông 68

3.4 Không gian và thời gian nghệ thuật 70

3.4.1 Không gian 70

3.4.2 Thời gian 73

Tiểu kết: 76

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xưa ca dao là một phần không thể thiếu đối với đời sống sinh hoạt của người dân Việt, đặc biệt là mảng ca dao cổ truyền Cho đến nay, ca dao cổ truyền người Việt vẫn giữ nguyên giá trị đối với đời sống con người Ở ca dao

cổ truyền, ta có thể thấy cả một kho tài liệu hết sức phong phú, đa dạng về

phong tục, tập quán của nhân dân lao động Nó phản ánh trung thực nhất hiện thực xã hội và cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của con người Và dường như

qua ca dao, đời sống nội tâm của con người cũng được đào sâu với cách diễn

tả vô cùng dung dị, mộc mạc Vì vậy mà bất cứ các thế hệ nào cũng đều yêu quý, trân trọng ca dao cổ truyền Việt Nam

Ca dao cổ truyền không chỉ giúp chúng ta trở về với những giá trị văn hóa xưa, mà nó còn là bức tranh hiện thực sống động của con người và xã hội Việt Nam trước đây Nếu như lịch sử có những cuốn sử biên niên để ghi lại các sự kiện lịch sử của dân tộc, thì văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng là những mảng màu hiện thực sống động Hiện thực về con người và xã hội của một thời kì lịch sử được khắc họa rõ nét Ca dao không chỉ đề cập đến những vấn đề của xã hội, mà nổi bật trong ca dao là vấn đề thân phận con người Phần lớn chúng ta thường quan tâm, chú ý nhiều đến thân phận người phụ nữ dưới xã hội phong kiến mà ít quan tâm nhiều đến thân phận của người đàn ông, con trai Đối lập hoàn toàn với vai trò và vị trí của người phụ nữ, người đàn ông con trai luôn được xã hội coi trọng, đề cao và giành những ưu đãi đặc biệt cho họ Mặc dù người đàn ông con trai có vị thế và vai trò rất quan trọng dưới xã hội phong kiến, nhưng lại chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ nhất về kiểu nhân vật này trong ca dao Nên việc nghiên cứu giá trị của ca dao ở góc độ hình tượng nhân vật sẽ là khía cạnh mới mà người viết

Trang 8

muốn tiếp cận Hình tượng người đàn ông, con trai sẽ là hình tượng mang tính điển hình và khái quát cao trong ca dao Đó là lí do mà người viết chọn đề tài

“Hình tượng người nam trong ca dao người Việt ” làm đề tài để nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu

Ca dao là thể loại văn học dân gian đã được nhiều công trình khoa học sưu tầm và nghiên cứu Lịch sử sưu tầm và nghiên cứu ca dao người Việt trải qua một thời gian khá dài và chia thành các giai đoạn Trước cách mạng tháng

Tám năm 1945 cuốn Nam phong giải trào ( bắt đầu từ 1788-1789 và giãn

cách đến 1827sưu tập tiếp), là cuốn sách biên soạn thơ ca trong một thời gian dài và sớm nhất về thơ ca dân gian Đến vài chục năm đầu của thế kỉ XX có

nhiều nhà nho cũng sử dụng chữ Nôm biên soạn như: Thanh Hóa quan phong (Vương Duy Trinh, 1903); Đại Nam quốc túy (Ngô Giáp Đậu, 1908); Nam

phong giải trào (Nhà in Liễu văn đường khắc in năm 1910) Cuốn sách biên

soạn ca dao bằng chữ quốc ngữ sớm nhất là Câu hát góp của Huỳnh Tịnh (1897) Sau đó là các công trình sưu tầm có giá trị Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1928); Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh (1932)…

Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến 30/4/1975 công việc sưu tầm tiếp

tục thực hiện, các tác giả chủ yếu cung cấp tư liệu ca dao: Tục ngữ dân ca

Việt Nam (Vũ Ngọc Phan - 1956); Ca dao Việt Nam trước cách mạng (Viện

Văn học - 1963); Ca dao sưu tầm Thanh Hóa (nhóm La Sơn - 1963); Văn học

dân gian (1972-1973, của Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên); Ca dao giải luận (Thần Phong - 1957); Thi ca bình dân Việt Nam (Nguyễn Tấn Long,

Phan Canh - 1969 -1971)…

Sau khi đất nước thống nhất đến nay có công trình: Tục ngữ ca dao dân

ca Việt Nam (Vũ Ngọc Phan - 2000), xuất bản lần thứ 12 là cuốn sách có giá

trị ở phương diện nghiên cứu và biên soạn thơ ca dân gian Những công trình

có quy mô lớn phải kể đến công trình của nhóm tác giả do Nguyễn Xuân

Trang 9

Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên, Kho tàng ca dao người Việt (4 tập),NXB

VHTT, H Và một công trình sưu tầm có giá trị do trung tâm khoa học xã hội

và nhân văn quốc gia biên soạn đó là cuốn Tổng tập văn học dân gian người

Việt (Nguyễn Xuân Kính chủ biên - 2002) Công trình này sưu tầm, biên soạn

trong 20 năm gần như đầy đủ nhất về vốn ca dao cổ truyền đa dạng, phong phú của người Việt và được sắp xếp theo nội dung phản ánh

Trên phương diện nghiên cứu, các công trình có giá trị như: Nghệ thuật

ca dao (Minh Hiệu - 1984); Thi pháp ca dao (Nguyễn Xuân Kính - 1992); Những thế giới nghệ thuật thơ (Phạm Thu Yến - 1998); Ba cuốn Tiếp cận ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúc, Ca dao ngụ ngôn người Việt và Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt (Triều Nguyên,

1999-2000)

Công trình có liên quan đến đề tài mà chúng tôi nghiên cứu là của Lê

Đức Luận Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt (2011), NXB Đại học Huế và

Điểm nhìn nghiên cứu văn học (2012), NXB văn học

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi tiến hành đi vào tìm hiểu, phân tích “Hình

tượng người nam trong ca dao người Việt”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi chọn cuốn sách Tổng tập Văn học dân gian người Việt

(2002) (tập 15 và tập 16) của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, để làm căn cứ chính cho quá trình nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: -Phương pháp khảo sát thống kê

Trang 10

-Phương pháp hệ thống - cấu trúc

-Phương pháp phân tích - tổng hợp

-Phương pháp so sánh - đối chiếu

5 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, đề tài “Hình

tượng người nam trong ca dao người Việt ” còn có phần nội dung gồm ba

chương:

Chương 1: Khái quát chung

Chương 2: Đặc trưng hình tượng người nam trong ca dao

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện hình tượng người nam trong ca dao

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG

1.1 Khát quát về ca dao

1.1.1 Khái niệm ca dao

Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Cùng với thời gian và quá trình nghiên cứu sưu tầm văn học dân gian thì thuật ngữ

ca dao mới dần hình thành Mỗi nhà nghiên cứu đều có một quan niệm khác nhau về khái niệm ca dao Với cách hiểu thông thường thì “ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy…hoặc ngược lại,

là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca ” [14, tr.436] Theo

Vũ Ngọc Phan, thuật ngữ “Ca dao” vốn là một thuật ngữ Hán-Việt và theo

nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu; dao là bài hát không có khúc điệu Ca

dao được các nhà nghiên cứu Văn nghệ dân gian Trung Quốc dùng để gọi hai loại dân ca khác nhau, những bài hát có nhạc đệm thì gọi là ca, còn hát trơn thì gọi là dao Đối với người Việt, thuật ngữ ca dao không có trong hệ thống các tên gọi chỉ các thể loại văn học dân gian, mà chỉ có tên gọi câu hát, câu ví, câu hò cho các làn điệu ca hát dân gian

Tên gọi “Ca dao” được dùng rất muộn so với thời gian ra đời những câu ví, câu hát Mặc dù các hình thức ca hát dân gian của người Việt đã có từ thời Hùng Vương, nhưng lời các bài ca với tên gọi ca dao lại được các nhà nho nước ta tiếp thu từ Trung Quốc Vì vậy tên gọi ca dao xuất hiện muộn từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 trong các công trình biên soạn của các nhà nho

nước ta như “Nam phong giải trào” (1990) của Trần Danh Án và Ngô Hạo Phu, đặc biệt được dùng khá rõ trong “Nam giao cổ kim lý hạng ca dao chú

giải” và “Lý hạng ca dao”

Trang 12

Tên gọi “ca dao” và “dân ca” không xuất hiện cùng một lúc mà tên gọi

dân ca xuất hiện muộn hơn, mãi đến sau này trong cuốn “Tục ngữ và dân ca

Việt Nam” (1956) tác giả Vũ Ngọc Phan mới dùng tên gọi dân ca như một thể

loại tương đương với tục ngữ Các nhà nghiên cứu văn học dân gian sử dụng tên gọi dân ca cho các bài hát dân gian để phân biệt với ca dao là lời thơ từ dân ca

Trong cuốn sách “Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình” (2010), theo

tác giả Phạm Việt Long: “ca dao là một thể loại văn học dân gian, có tính trữ tình, có vần điệu (phần lớn là lục bát hoặc lục bát biến thể) do nhân dân sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ, dùng để miêu tả, tự sự, ngụ ý và chủ yếu diễn đạt tình cảm” [17, tr.37]

Tác giả Lê Đức Luận trong cuốn sách “Cấu trúc ca dao trữ tình người

Việt” (2011) đã phân biệt rõ giữa ca dao, dân ca và đi đến kết luận “Ca dao

không còn là thuật ngữ dùng để chỉ những sáng tác dân gian truyền miệng mà còn là những sáng tác bác học bằng chữ viết và không đơn thuần chỉ là lời thơ của dân ca ca dao được tạo ra từ hai nguồn Nguồn chủ yếu từ lời của các câu hát dân gian và nguồn thứ hai từ các sáng tác ngâm vịnh trong dân chúng được hòa vào dòng chảy dân gian” [19, tr.25]

Hiện nay theo tác giả Trần Thúy Anh trong “Ứng xử cổ truyền với tự

nhiên và xã hội của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ” (2011)

thống kê thì có ba cách hiểu về ca dao như sau:

“Ca dao là từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian, có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca

Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)

Không phải chỉ toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó, cứ

Trang 13

tước bớt tiếng đệm, tiếng đưa hơi…thì sẽ đều là ca dao Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Ca dao đã trở thành một thuật ngữ để chỉ một thể thơ dân gian” [1, tr.36]

Như vậy, qua quá tình tìm hiểu chúng tôi thống nhất cách hiểu về ca dao theo quan niệm đó là “ca dao là lời của các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vịnh được lưu truyền trong dân gian và gọi chung là lời ca dân gian” [19, tr.26]

1.1.2 Phân biệt ca dao với tục ngữ

Ca dao và tục ngữ có những điểm giống nhau và khác nhau cơ bản nên chúng ta cần phân biệt rạch ròi để tránh nhầm lẫn Trước hết, xét về hình thức thể hiện ca dao và tục ngữ có điểm rất giống nhau như: một số câu tục ngữ có

14 tiếng phân bố trên hai dòng thơ và những câu ca dao hai dòng thơ giống nhau, vì đều sử dụng hình thức thể thơ lục bát

Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng bay vừa thì râm

(Tục ngữ) Làm trai cho đáng nên trai,

Khi bắn súng trụ khi bơi thuyền rồng

(Ca dao)

Giữa tục ngữ và ca dao có trường hợp xâm nhập lẫn nhau Trong ca dao cũng có xen tục ngữ và có những câu ca dao chỉ có hình thức ca dao, còn nội dung là tục ngữ Và những câu tục ngữ có thêm yếu tố cảm xúc thì nó càng gần hơn với ca dao:

Ai ơi đừng chóng chớ chày

Có công mài sắt có ngày nên kim

(Tục ngữ)

Trang 14

Có những câu ca dao nhận định về con người và việc đời được dùng như tục ngữ:

Đem cực mà đổ lên non Còng lưng mà chạy cực còn theo sau

(Ca dao)

Cũng có những câu khó mà phân biệt cho rạch ròi được đâu là ranh giới giữa hai thể loại như:

Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Hay:

Ở sao cho vừa lòng người

Ở rộng người cười, ở hẹp người chê

Về nội dung phản ánh, tục ngữ và ca dao là hai thể loại văn học dân gian đều phản ánh chân thực và sinh động cuộc sống, các mối quan hệ trong gia đình Đó là một trong những tư liệu đáng tin cậy để nghiên cứu về lịch sử,

xã hội, tâm lý của một đất nước, một dân tộc

Mặc dù có những điểm giống nhau như thế nhưng về cơ bản tục ngữ và

ca dao là hai thể loại khác nhau “Tục ngữ là thể loại tự sự dân gian nhằm phổ biến kiến thức, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn, đưa ra những lời răn dạy, nhận xét, kết luận một vấn đề đã qua kiểm chứng còn ca dao chủ yếu là thể loại trữ tình nhằm bộc lộ tình cảm” [19, tr.27] Vì vậy mà tục ngữ thiên về lý trí, ca dao thiên về tình cảm; tục ngữ mang tính khách quan trong khi ca dao mang tính chủ quan nhiều hơn Tác giả Phạm Việt Long khi so sánh sự phản ánh phong tục tập quán giữa tục ngữ và ca dao đã nhận thấy: “ tuy cùng quan tâm đến gia đình, nhưng tục ngữ và ca dao phản ánh các mối quan hệ trong gia đình từ những góc tiếp cận và hình thức phản ánh khác nhau Do quan hệ vợ chồng có nhiều sắc thái tình cảm, cho nên ca dao phản ánh nhiều hơn, còn

Trang 15

quan hệ anh chị em, sắc thái tình cảm nghèo nàn hơn, cho nên ca dao đề cập tới ít hơn tục ngữ” [17, tr.208]

Tục ngữ thường được dùng trong khi nói, còn ca dao là những lời thơ dân gian dùng để hát và ngâm Bởi vậy trong hoạt động nói năng, mỗi câu tục ngữ là một câu nói đặc biệt được dùng xen vào giữa những câu nói bình thường khác Khi xét về quy mô cấu trúc của ca dao và tục ngữ chúng ta cũng thấy được điểm khác biệt Các câu tục ngữ thường ngắn gọn hơn ca dao Đa

số tục ngữ thường có 4 - 6 tiếng còn ca dao số tiếng lại nhiều hơn Đối với ca dao văn bản ngắn nhất cũng đã 14 tiếng “Số lời tục ngữ có 14 tiếng không nhiều và chỉ có vần lưng, có vần “chờ”, nghĩa là chờ vần chân, nhưng rất ít văn bản tục ngữ trên 14 tiếng, trong khi đó ca dao cũng có vần “chờ” đối với văn bản hai dòng thơ nhưng khả năng biến vần chờ thành vần chân là hiện thực và có khả năng kéo dài trên 14 tiếng” [19, tr.27]

Ngoài ra, “tục ngữ và ca dao có những nét khác biệt trong việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật như đối, tu từ…Ca dao thiên về xây dựng hình ảnh, hình tượng, còn tục ngữ thiên về xử lí từ ngữ” [17, tr.219]

ca dao có hình thức lục bát nhưng có sự co giản nhất định về số âm tiết

(tiếng) Trong đó có các dạng biến thể như: Câu lục biến thể tăng tiếng: “Con

gà rừng tốt mã khoe lông/ Chẳng cho đi chọi, nhốt lồng làm chi”; câu lục biến

thể giảm số tiếng (dưới 6 tiếng): “Mật ngọt chết ruồi/ Ai mà đến đấy thời

Trang 16

người say sưa”; câu bát biến thể tăng tiếng: “Một chờ, hai đợi, ba trông / Bốn thương, năm nhớ, bảy tám chín mong, mười tìm ”; cả câu lục và bát biến thể:

“Em thương anh thầy mẹ ngăm nghe / Cậu, cô, chú, bác đòi đậu bè thả trôi”

Ở ca dao còn có một thể thơ đặc biệt nữa đó là thể song thất: “Áo vá

vai vợ ai không biết / Áo vá quàng chí quyết vợ anh” Bên cạnh đó, ca dao

còn sử dụng phong phú đa dạng các thể thơ như: song thất lục bát “Chim xa

rừng thương cây nhớ cội / Người xa người tội lắm, người ơi!/ Chẳng thà không gặp thì thôi / Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành ”; thể vãn, thể hỗn

hợp

Về cấu trúc ngữ nghĩa, ca dao thường sử dụng cấu trúc lời đơn (cấu trúc chỉ có một vế đơn) Ở dạng cấu trúc lời đơn này có các kiểu cấu trúc: cấu trúc trần thuật, cấu trúc liên tưởng, cấu trúc tăng tiến, cấu trúc đối, cấu trúc thu hẹp dần hình tượng, cấu trúc song hành (sóng đôi), cấu trúc xâu chuỗi, cấu trúc vòng tròn Bên cạnh việc sử dụng cấu trúc lời đơn, ca dao còn sử dụng cấu trúc lời đôi (hai vế) bao gồm: cấu trúc đối giãi (tức là đối đáp để giải bày tâm tình) và cấu trúc đố giải [18, tr 79-83]

Về phương thức chuyển nghĩa, so sánh là biện pháp nghệ thuật tu từ được sử dụng rất phổ biến trong ca dao Kiểu so sánh thường thấy trong ca dao đó là: So sánh trực tiếp (có từ so sánh), so sánh nửa trực tiếp (không có từ

so sánh), so sánh gián tiếp (so sánh hàm ẩn), so sánh vừa trực tiếp vừa gián tiếp [18, tr 83-89]

Về nhân vật, biểu tượng: Nhân vật trong ca dao là nhân vật trữ tình - tâm trạng, và nhân vật trung tâm là nhân vật Nam - Nữ Còn các biểu tượng xuất hiện với tần số dày đặc trong ca dao thường thấy như: biểu tượng con vật (con cò, con bống), biểu tượng cây (cây trúc, cây mai), biểu tượng hoa (hoa nhài, hoa sen), biểu tượng thiên nhiên (rồng - mây, núi, mây)

Về ngôn ngữ, ngôn ngữ ca dao có sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và

Trang 17

ngôn ngữ đời thường Ca dao đã vận dụng linh hoạt tài tình ngôn ngữ thơ mang tính khẩu ngữ Ngôn ngữ trong ca dao phần lớn là ngôn ngữ thuần Việt, rất ít khi có yếu tố Hán hoặc Hán - Việt Bởi vậy ngôn ngữ ca dao rất đậm tính dân tộc Nhiều tiếng địa phương của các vùng miền đều được ca dao sử dụng Có thể nói ca dao chính là nơi lưu giữ một số lượng lớn những lớp từ

cổ, từ địa phương, địa danh, sản vật địa phương Đó chính là nét đặc trưng ngôn ngữ ca dao ít tìm thấy ở các thể loại khác

Về không gian và thời gian nghệ thuật, trong ca dao thường hiện lên không gian động chủ yếu là không gian làng quê, không gian thiên nhiên, không gian sinh hoạt, không gian xã hội, không gian vật lý thường gặp: dòng sông, con thuyền, cái cầu, cây đa, bến nước, mái đình, cánh đồng, con đường…Thời gian nghệ thuật trong ca dao có những nét đặc trưng riêng Đó

là thời gian của hiện tại, thời gian diễn xướng Thường được thể hiện qua các cụm từ như: “bây giờ”, “hôm nay”, “ngày ngày”, “sáng ngày”, “chiều chiều”,

“bữa nay”, “đêm nay”, “đêm đêm”…Thời gian trong ca dao là thời gian của tâm tưởng, thời gian quá khứ gần Đáng chú ý hơn, không gian và thời gian trong ca dao đi liền nhau Đó là không gian và thời gian diễn xướng, sinh hoạt giao tiếp và thời gian tâm trạng gắn liền với không gian tình tự, yêu đương

Như vậy, ca dao có những nét đặc trưng cơ bản mà căn cứ vào đó để chúng tôi nhận diện được ca dao Đồng thời hiểu rõ đặc trưng thi pháp của ca dao để nắm được nội dung mà ca dao truyền tải

1.2 Hình tượng nghệ thuật và các kiểu nhân vật trong ca dao

1.2.1 Khái niệm về hình tượng nghệ thuật

Khái niệm này được lý giải trong cuốn “Lý luận văn học”(2002),

(Phương Lựu chủ biên), đó là hình tượng nghệ thuật như một khách thể tinh thần đặc thù Thế giới tinh thần đã được khách thể hóa thành một hiện tượng

xã hội tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan vào ý muốn

Trang 18

của người sáng tạo hay thưởng thức, cũng không gắn liền với quá trình tâm

lý, thần kinh của tác giả như trong quá trình sáng tạo Hình tượng nghệ thuật

là cái được sáng tạo, được khái quát, không phải là cái sao chép, cái có sẵn

Và khách thể tinh thần này được tạo hình bằng những thể xác, hình hài Bên cạnh đó, hình tượng nghệ thuật vừa là sự phản ánh, nhận thức đời sống, lại vừa là một hiện tượng ký hiệu giao tiếp

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”(2009) (do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi chủ biên) cắt nghĩa “hình tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Gía trị trực quan độc lập là đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật Nó làm cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn Đó

có thể là đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận Nhưng nói tới hình tượng nghệ thuật người ta thường nghĩ tới hình tượng con người, bao gồm tập thể người (như hình tượng người nông dân hoặc hình tượng tổ quốc), với những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú”[7, tr.147]

Khác với các nhà khoa học, nghệ sĩ không diễn đạt trực tiếp ý nghĩa và tình cảm của khái niệm trừu tượng bằng định lý, công thức mà bằng hình tượng, nghĩa là bằng cách làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những sự việc, những hiện tượng đáng làm ta suy nghĩ về tính cách và số phận, về tình đời và tình người

Hiểu một cách đơn giản thì hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng không phải sao chép y nguyên những hiện tượng có thật mà là tái hiện

có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại vừa lại có khả năng khái quát làm bộc lộ bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ

Trang 19

Hình tượng nghệ thuật không phản ánh các khách thể thực tại tự nó mà thể hiện mối quan hệ sống động giữa chủ thể và khách thể Cấu trúc của hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng là sự thống nhất cao độ giữa các mặt đối lập: Chủ quan và khách quan, lý trí và tình cảm, cá biệt và khái quát, hiện thực và

lý tưởng, tạo hình và biểu hiện, hữu hình và vô hình Vì thế, hình tượng còn là mối quan hệ xã hội, thẩm mỹ vô cùng phức tạp, trước hết là quan hệ giữa các yếu tố và chỉnh thể của bức tranh đời sống được tái hiện qua hình tượng Thứ đến là quan hệ giữa thời gian nghệ thuật với thực tại mà nó phản ánh Về phương diện này, hình tượng không chỉ tái hiện đời sống mà còn cải biến nó

để tạo ra một thế giới mới chưa từng có trong hiện thực Đó là quan hệ giữa tác giả với hình tượng, với cuộc sống trong tác phẩm Một mặt hình tượng là hình thức, tình cảm, một nội dung nhất định, một khách thể tinh thần có cuộc sống riêng không phụ thuộc vào ý muốn Và cuối cùng là quan hệ giữa tác giả, tác phẩm với công chúng của nghệ thuật, giữa hiện tượng và ngôn ngữ của nền văn hóa Mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng chất liệu riêng biệt để xây dựng hình tượng, đặc biệt văn học lấy ngôn từ làm chất liệu Vậy nên hình tượng nghệ thuật là hình tượng ngôn từ

1.2.2 Các kiểu nhân vật trong ca dao

Nhân vật trong ca dao cũng giống như các nhân vật trong các thể loại văn học dân gian khác, cũng đều là nhân vật chức năng “Nhân vật trong ca dao không phải là nhân vật cá nhân mà là nhân vật giới tính, nhân vật vai chức năng Có bao nhiêu vai chức năng xã hội thì có bấy nhiêu kiểu nhân vật Các kiểu nhân vật trong ca dao được biểu hiện qua hai cách: hiển ngôn và hàm ngôn Kiểu hiển ngôn là nhân vật nói năng, sinh hoạt với cách xưng hô nhân xưng Kiểu nhân vật hàm ngôn được xưng hô theo các từ ngữ chỉ các hình ảnh tự nhiên”[19, tr.290] Trong ca dao, căn cứ vào các vai chức năng xã hội tác giả Lê Đức Luận trong công trình “Cấu trúc ca dao trữ tình người

Trang 20

Việt” (2011) đã liệt kê thành các kiểu nhân vật sau đây:

1 Kiểu nhân vật tình yêu

Đó là kiểu nhân vật được dùng để thể hiện các trạng thái tình yêu (cảm mến, tỏ tình, trông mong, nhớ nhung, thương yêu, giận hờn, trách móc…)

2 Kiểu nhân vật hôn nhân

Đó là kiểu nhân vật được dùng để thể hiện các quan niệm về hôn nhân, đặc biệt là thái độ của nhân dân đối với hôn nhân phong kiến theo quan niệm của Nho giáo (hôn nhân ép buộc cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy), ngoài ra còn thể hiện ý thức về cuộc sống gia đình trong hôn nhân

3 Kiểu nhân vật làm vợ

Đó là kiểu nhân vật được dùng để thể hiện các quan niệm về làm vợ (nhường nhịn, chịu đựng ), tình cảm của người vợ đối với chồng (thủy chung, gắn bó), chức năng làm vợ trong quan hệ hôn nhân

4 Kiểu nhân vật làm chồng

Đó là kiểu nhân vật được dùng để thể hiện các quan niệm về làm chồng (là người trụ cột, gánh vác trọng trách và những việc lớn trong gia đình), tình cảm của người chồng đối với người vợ (yêu thương, phụ bạc), chức năng làm chồng trong quan hệ hôn nhân

5 Kiểu nhân vật làm cha

Đó là kiểu nhân vật được dùng để thể hiện các quan niệm về làm cha, hay thể hiện tình cảm của người cha đối với con, và chức năng làm cha trong gia đình phụ quyền

Trang 21

7 Kiểu nhân vật làm con

Đó là kiểu nhân vật được dùng để thể hiện vị trí của người con trong gia đình phụ quyền Tình cảm và trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ (yêu thương, nghe lời, phụng dưỡng cha mẹ khi ốm đau và lúc về già…)

8 Kiểu nhân vật làm người

Đó là kiểu nhân vật được dùng để thể hiện đạo đức, tư cách, bản lĩnh làm người, tư cách công dân của mỗi người đối với xã hội

9 Kiểu nhân vật con trai

Đó là kiểu nhân vật được dùng để thể hiện vai trò của người con trai trong gia đình phụ quyền, vị thế của người con trai trong xã hội Đồng thời thể hiện các đặc tính con trai và vai trò của họ trong xã hội phong kiến

10 Kiểu nhân vật con gái

Đó là kiểu nhân vật được dùng để thể hiện vai trò của người con gái trong gia đình phụ quyền, vị thế của người con gái trong xã hội Đồng thời thể hiện các đặc tính của người con gái cũng như thân phận của họ trong xã hội phong kiến

Trên đây là các kiểu nhân vật phổ biến trong ca dao mà tác giả Lê Đức Luận đã thống kê được [19, tr 290 - 291] Để nghiên cứu về hình tượng người nam trong ca dao chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu các kiểu nhân vật chính như: kiểu nhân vật làm chồng, kiểu nhân vật làm cha, kiểu nhân vật làm con, kiểu nhân vật con trai

1.3 Đặc trưng giới tính và xã hội phụ quyền Nho giáo

1.3.1 Đặc trưng xã hội phụ quyền Nho giáo

Xã hội phụ quyền Nho giáo được xem là một hệ thống xã hội trong đó nam giới giữ vai trò quan trọng, là người có uy quyền tuyệt đối trong xã hội; đồng thời trong gia đình người nam có quyền lực đối với vợ, con cái và tài sản Đó là một xã hội mà nam giới nắm quyền lực và phụ nữ phải chịu sự lệ

Trang 22

thuộc Nam giới sở hữu tài sản cũng có nghĩa vị thế của người đàn ông trong

xã hội đã được khẳng định Xã hội phụ quyền lấy tư tưởng Nho giáo làm khuôn mẫu tư tưởng chính để mọi người tuân theo và để nhằm duy trì địa vị cũng như quyền lực của người đàn ông, con trai Chính vì vậy mà tồn tại sự mất bình đẳng giới tính trong xã hội

Để duy trì sự ổn định và tôn ti trật tự trong xã hội phụ quyền, thuyết

“Tam cương ngũ thường” của Nho giáo được sử dụng như là một công cụ để đảm bảo sự ổn định Tam cương ngũ thường trở thành khuôn phép, kỉ cương của lễ giáo phong kiến Đó là mối quan hệ giữa vua tôi, cha con, vợ chồng với quan hệ một chiều duy nhất chỉ đòi hỏi trách nhiệm của kẻ dưới đối với người trên Theo mối quan hệ đó thì bề tôi phải tuyệt đối phục tùng vua, con phải tuyệt đối phục tùng cha, vợ phải tuyệt đối phục tùng chồng

Chế độ xã hội phụ quyền là chế độ xã hội tồn tại sau chế độ mẫu quyền Với đặc trưng cơ bản như người đàn ông có vị trí quyết định trong gia đình và trong xã hội, tính huyết tộc theo dòng cha, vợ cư trú bên chồng Từ đó hình thành nên gia đình phụ quyền đồng thời tạo ra sự bất bình quyền nam nữ

Nho giáo được giai cấp phong kiến Việt Nam sử dụng làm hệ tư tưởng thống trị và có ảnh hưởng to lớn, lâu dài đến mọi mặt đời sống của dân tộc ta Trong đó, quan niệm và khuôn mẫu Nho giáo về gia đình, với những yêu cầu chặt chẽ về đạo đức đã có tác dụng xây dựng, giữ gìn nề nếp của gia đình Hơn nữa, nó góp phần ổn định trật tự xã hội và định hướng lý tưởng cho mỗi

cá nhân, đặc biệt đối với người nam

Xã hội phụ quyền rất đề cao hệ tư tưởng Nho giáo, mặc nhiên thừa nhận những quyền của người đàn ông và nghĩa vụ của người phụ nữ do Nho giáo và tục lệ đặt ra Qua đó, Nho giáo nhằm hướng tới mục đích bảo vệ tuyệt đối quyền lợi của người chồng, bảo vệ quyền lợi của người chồng với tư cách

là người gia trưởng Xã hội phụ quyền Nho giáo hết sức đề cao địa vị và các

Trang 23

quyền lợi của nam giới Theo đó, nam giới luôn là những người lãnh đạo đối với gia đình và quốc gia Và mọi của cải đều truyền cho con trai với ý nghĩa

"quyền huynh thế phụ” Quan niệm Nho giáo ở Việt Nam nhấn mạnh thêm vai trò thống trị tuyệt đối của nam giới, "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" Trong gia đình người Việt người chồng, người cha ở cương vị gia trưởng, điều hành mọi công việc trong gia đình, nhất là công việc lao động kiếm sống của gia đình

Xã hội phong kiến phụ quyền tồn tại rất lâu đời với những quan niệm bất công, khe khắt “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, quan niệm trọng nam khinh nữ “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, đã dành mọi

ưu tiên, ưu đãi đặc biệt cho người đàn ông và đẩy người phụ nữ xuống địa vị thấp kém nhất trong gia đình cũng như ngoài xã hội Quan niệm Nho giáo góp phần làm mất đi sức kháng cự của người phụ nữ khiến họ dần dần chấp nhận

nó như một điều hiển nhiên Mục đích chính danh mà Nho giáo đề cao là sự

ổn định xã hội, và để có được sự ổn định xã hội thì trong gia đình người phụ

nữ phải phục tùng tuyệt đối người đàn ông Chính vì vậy mà sự phân biệt đẳng cấp càng có lý do để duy trì

Hệ tư tưởng Nho giáo đã dần dần tạo ra các quy định nhà nước và các khuôn mẫu xã hội buộc mọi người tuân theo Tư tưởng Nho giáo tồn tại trong

xã hội phụ quyền có nhiều quy định khắt khe về nghĩa vụ của người phụ nữ, đặc biệt là người vợ như: phải tuyệt đối chung thuỷ và phục tùng chồng, phải thực hiện nghĩa vụ đối với gia đình chồng, thậm chí phải cam chịu để gánh những hậu quả mà người chồng gây ra

Có thể nói xã hội phụ quyền Nho giáo mang lại rất nhiều đặc quyền cho người đàn ông, con trai Sự tồn tại của xã hội phụ quyền Nho giáo với những quan niệm bất công khắt khe với người phụ nữ đã trói buộc cuộc đời họ Dần dần, mọi người mặc nhiên chấp nhận rằng nam giới phải là người làm nên

Trang 24

việc lớn, còn phụ nữ chỉ cần làm tốt bổn phận phục tùng của mình

1.3.2 Vai trò vị thế của người nam trong xã hội Nho giáo

Xã hội phụ quyền Nho giáo đã tuyệt đối hóa vị thế và vai trò của người nam Người nam được hưởng những quyền lợi mà người phụ nữ không có

Họ là người nắm quyền uy tuyệt đối, là chỗ dựa, là trụ cột của gia đình Đồng thời người nam cũng là người gánh vác chính trách nhiệm đối với xã hội Người nam họ có oai quyền trong gia đình và ngoài xã hội Trong gia đình họ

là người chồng, người cha, người con trai có vị trí và tầm ảnh hưởng lớn đến gia đình Ngoài xã hội người nam được coi trọng hơn so với người phụ nữ

“Nho giáo chủ trương dưới phải tuyệt đối phục tùng trên Tư tưởng này thể hiện qua các khái niệm: tam cương; cương thường, trung hiếu, tiết nghĩa.” [27, Tr.76-77]

Xã hội Nho giáo trên cơ sở đề cao hệ tư tưởng Nho giáo, một mặt thừa nhận những đặc quyền của người nam và một mặt khắt khe với những quyền lợi dành cho người nữ Trong tư tưởng nổi bật của Khổng giáo mà nước ta chịu ảnh hưởng có tư tưởng khinh thị phụ nữ và đề cao địa vị độc tôn của

người nam “Khinh thị phụ nữ là tư tưởng nổi bật trong Khổng giáo Khổng

Tử cho phụ nữ là người khó dạy (Phụ nhân nan hóa) nên ông buộc người phụ

nữ phải tam tòng, và khuôn theo tứ đức Địa vị người đàn ông phải được tôn trọng tuyệt đối dù người ấy là cha, là chồng hay là con (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) Tam tòng là nhằm biến người đàn bà thành nô

lệ cho đàn ông Vợ con trong gia đình phải phục tùng tuyệt đối người chồng, người cha dù người ấy xấu xa hèn nhát và tàn bạo như thế nào” [9, tr.71]

Vai trò vị thế của người nam trước hết được thể hiện trong gia đình Với vai trò là người trụ cột người nam phải gánh trách nhiệm lớn lao của một người chồng, người cha và người con trong gia đình Người chồng phải làm chỗ dựa cho vợ, cùng với vợ gánh vác công việc quan trọng của gia đình Đặc

Trang 25

quyền của người chồng có được đó chính là sự phục tùng đến tuyệt đối của người vợ với mình Tiếng nói của người chồng mang đầy uy quyền buộc người vợ phải tuân theo Trong lao động sản xuất người chồng cũng là một lực lượng sản xuất chính để tạo ra của cải Nhưng tài sản được tạo ra đó chỉ

có người chồng mới có quyền nắm giữ Vì lẽ đó mà người chồng có quyền định đoạt mọi việc trong gia đình Xã hội Nho giáo đã trao cho người nam quyền điều hành tuyệt đối các vấn đề của gia đình

Tư cách người cha trong gia đình của người nam cũng không kém phần quan trọng Người cha có trách nhiệm quan trọng trong việc nuôi nấng, giáo dục con cái và con cái phải nghe theo lời cha Quyền hành của người cha càng được thể hiện rõ ở việc định đoạt hạnh phúc của con Trong việc dựng vợ gả chồng cho con, quyết định của người cha con cái phải nhất nhất tuân theo Con cái không được cãi lời cha và làm trái với sự sắp đặt, quyết định của người cha

Người nam với tư cách là người con trong gia đình phải tận trung tận hiếu, có vai trò đảm đương gánh vác trách nhiệm thay cha mẹ Luôn làm tròn bổn phận của đạo làm con, đó là có ý thức làm tròn chữ hiếu với cha mẹ Người con trai đặc biệt là trưởng nam có trách nhiệm rất nặng nề đối với gia đình Ngoài việc chăm lo, phụng dưỡng cha mẹ còn lo lắng thờ phụng tổ tiên Chính vì trách nhiệm và nghĩa vụ đó mà người con trai cũng là người có địa

vị quan trọng trong gia đình sau cha mẹ Ngoài cha mẹ người con trai có quyền đảm nhiệm và quyết định mọi việc thay cha mẹ Địa vị của người con trai trong gia đình cũng vì thế mà được đề cao hơn so với người con gái

Ngoài xã hội vai trò vị thế của người nam rất được chú trọng Họ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân của mình Là người có chí hướng làm được những việc lớn lao

“Như vậy, đặc điểm giới tính và vị thế xã hội của nam nữ đã thể hiện sự

Trang 26

khác biệt về thân phận và chí hướng trong cuộc sống Người con gái được nói đến nhiều về duyên phận còn con trai lại nói nhiều đến chí hướng Người con gái chủ yếu hướng nội với hạnh phúc bản thân và gia đình thì người con trai chủ yếu là hướng ngoại để lập thân, tu thân, đua chen với đời” [19, tr 142]

Vị trí của người nam và nữ đã được ấn định trong xã hội Nho giáo, bởi vậy người nam và người nữ chỉ tuân theo “Nho giáo ý thức xây dựng tôn ti trật tự trong xã hội Cho rằng người ta trong xã hội là thuộc những đẳng cấp khác nhau, những vị trí và thứ bậc khác nhau, mỗi người phải tuân thủ trật tự

đó một cách nghiêm ngặt; không ai được quyền ra khỏi vị trí của mình” [27, tr.76]

1.3.3 Vai trò vị thế của người phụ nữ trong xã hội Nho giáo

Trải qua hàng nghìn năm nay dân tộc Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu sắc và nặng nề bởi hệ ý thức tư tưởng Trung Hoa Đặc biệt ý thức hệ tư tưởng Nho giáo đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người phụ nữ Từ xưa ý thức hệ tư tưởng này đã chi phối nặng nề và mang nhiều tính chất cấm đoán đối với người phụ nữ Nho giáo đã được nhân dân ta nuôi dưỡng hàng ngàn năm với tinh thần “trọng nam khinh nữ”, từ chỗ khinh rẻ phụ nữ đến chỗ áp bức, trói buộc họ Vì vậy người phụ nữ bị ràng buộc trong những khuôn mẫu

do Nho giáo quy định mà không thoát ra được Theo quan điểm của Nho giáo, đạo “Tam tòng” đã đặt ra ba trách nhiệm có tính quy định buộc người nữ phải tuân theo và coi đó như là bổn phận mình phải thực hiện Đó là bổn phận của

“Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Để thực hiện các bổn phận này người phụ nữ mất dần đi vai trò và địa vị của mình trong xã hội

“Trong pháp luật phong kiến cũng như lệ tục của làng xã, do ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo nên vị trí và vai trò của người phụ nữ trong xã hội rất mờ nhạt, thậm chí họ phải chấp nhận sự đối xử bất bình đẳng so với nam giới Đạo tam tòng (Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) đã

Trang 27

buộc chặt người phụ nữ vào những khuôn phép khắc nghiệt vô hình” [34] Đạo tam tòng đã trở thành sợi dây ràng buộc tinh thần đẩy phụ nữ vào chỗ bi kịch, đồng thời cũng tước đoạt dần quyền hạn của họ trong đời sống “Thực chất sự ràng buộc tinh thần của “Đạo tam tòng” xuất phát từ cơ sở kinh tế của

nó Cơ sở ấy là quyền thừa kế tài sản Đây cũng là khởi nguồn của quan niệm phu tử tòng tử Bị tước mất quyền thừa kế tài sản, tất cả tài sản đều thuộc sở hữu của người con trai, từ đó người phụ nữ rơi vào cảnh phụ thuộc, nương nhờ vào con trai để sống Không những thế quan niệm tòng tử còn trói buộc

hạnh phúc của nhiều người phụ nữ Trong khi “trai năm thê bảy thiếp” thì

“gái chính chuyên chỉ có một chồng” Đôi khi sức sống, niềm khát khao của

họ bị cái “chính chuyên” kiềm tỏa mà không thể thoát ra được” [33] Người

phụ nữ ý thức được vai trò của mình trong gia đình Ca dao xưa có câu: “Tam

tòng sách hãy còn ghi/ Bé nương cha mẹ, già thì theo con” [10, tr.557] Khi

tại gia thì phải tòng phụ, tức là người con gái phải nghe và làm theo sự sắp xếp của cha, không được làm theo chính kiến riêng của mình Người con gái

tự xem như đó là một nghĩa vụ cần phải thực hiện mà không hề chống đối Ngay cả đến hạnh phúc của mình người con gái cũng phải chờ đợi sự sắp xếp, định đoạt của người cha Tại gia người phụ nữ chịu đựng uy quyền của người cha, nhưng khi về nhà chồng người phụ nữ vẫn không được giải phóng, không thoát khỏi sự trói buộc bởi uy quyền người đàn ông Lấy chồng người phụ nữ phải theo chồng, có trách nhiệm gánh vác gia đình nhà chồng và tuân theo mệnh lệnh của người chồng Mọi công việc trong gia đình chồng từ bếp núc cho tới lao động sản xuất người phụ nữ phải chăm lo Ở gia đình chồng người phụ nữ không có quyền được sống cho mình mà phải sống cho chồng và gia đình bên chồng Bởi vậy thân phận người phụ nữ bị buộc chặt vào người đàn ông, sống dựa dẫm vào đàn ông Tiếng nói của họ không được coi trọng cho nên họ chỉ biết phục tùng người đàn ông vô điều kiện Người phụ nữ nghiễm

Trang 28

nhiên trở thành công cụ của người đàn ông Đến cả lúc chồng chết người phụ

nữ cũng không có quyền tìm hạnh phúc riêng cho mình Ý thức “phu tử tòng tử” buộc họ phải thủy chung thờ phụng chồng không được được thay lòng đổi

dạ Họ sống cam chịu cô đơn đến hết cuộc đời

Ngoài ra, xã hội Nho giáo đã đặt ra chuẩn mực “Tứ đức” là những yêu cầu phẩm hạnh cần phải có của người phụ nữ Công, dung, ngôn, hạnh là thước đo giá trị đối với phụ nữ Theo đó công là sự khéo léo, chu đáo của người phụ nữ trong công việc tại gia đình; dung là sự hòa nhã của phụ nữ; ngôn là lời nói dịu dàng có duyên của người phụ nữ; hạnh là những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của phụ nữ như giàu tình thương, lòng nhân ái, đức hi sinh, sự thủy chung

Có thể khẳng định rằng: “Dưới ách thống trị hàng ngàn năm của chế độ phong kiến, lễ giáo phong kiến ngày một tác động vào đời sống nhân dân, địa

vị người phụ nữ cũng vì thế mà dần dần bị hạ thấp ” [9, tr 72]

Như vậy, những luân lý hà khắc cùng với những những chuẩn mực mà

xã hội Nho giáo đề ra đã hạn chế quyền hạn của người phụ nữ Đối với gia đình người phụ nữ luôn là người lệ thuộc, đối với xã hội họ lại càng không được coi trọng Mặc dù đối với xã hội Nho giáo thì người phụ nữ có địa vị thấp kém, bị khinh rẻ, bị trói buộc bởi những luân lý hà khắc như vậy nhưng trong sinh hoạt xã hội của người Việt từ xưa, người phụ nữ vẫn được tôn trọng, nể vì bởi xuất phát từ vai trò và địa vị thực tế của họ trong gia đình và ngoài xã hội Họ là chỗ dựa cho chồng con, là lực lượng lao động sản xuất chính và cũng là người gánh vác trọng trách của gia đình “Người vợ, người

mẹ của gia đình Việt có vị trí “hai mặt” khá oái oăm Bề ngoài, đấy là một gia đình phụ quyền, được tô đậm bởi nhiều thế kỷ Nho giáo (chủ yếu thế kỷ XV) Phụ nữ lấy chồng phải về nhà chồng, mang tên chồng, con cái mang họ chồng, sự phân biệt mang tên chữ Nội/ Ngoại đủ để thể hiện tính thiên lệch

Trang 29

Nhưng người vợ, người mẹ lại không bao giờ bị tách khỏi nền sản xuất, lại là

“tay hòm chìa khóa của gia đình”, là “nội tướng” nên có một vị trí ẩn tàng nhưng vững chắc” [1, tr.129]

Tiểu kết:

Ca dao là một trong những thể loại phong phú nhất của văn học dân gian Việt Nam Từ kho tàng ca dao Việt Nam mà dân gian để lại chúng ta có thể khám phá được những giá trị to lớn về mặt trí tuệ, tình cảm cũng như nghệ thuật được phản ánh trong đó Và để nghiên cứu sâu về khía cạnh hình tượng người nam mà mảng ca dao phản ánh chúng ta cần nắm được những kiến thức

cơ bản như khái niệm ca dao, phân biệt cho được ca dao và tục ngữ giống, khác nhau ở điểm nào, đặc trưng ca dao Đồng thời để nghiên cứu đề tài này cũng cần phải nắm được những kiến thức mang tính lý luận về hình tượng nghệ thuật, nắm được các kiểu nhân vật thường xuất hiện trong ca dao và yếu

tố xã hội có liên quan Bởi vậy chương 1 là chương lý luận khái quát nhưng

lại là chương tiền đề quan trọng để giúp chúng ta đi vào tìm hiểu “hình tượng

người nam trong ca dao người Việt”

Trang 30

Chương 2 ĐẶC TRƯNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NAM TRONG CA DAO

2.1 Vị thế thể hiện của người nam trong ca dao

2.1.1 Người nam với tư cách là người con trong gia đình

“Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu được xem như một chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con người” [4, tr.56] Hiếu

là đạo ứng xử của con cái đối với cha mẹ, đồng thời là đạo ứng xử đối với các thế hệ bề trên trong gia đình Người Việt thường lấy chữ hiếu làm trọng Đối với người Việt nhất là người nam, đạo đức được họ coi trọng đó là đạo hiếu hay đạo làm con Ngoài chữ trung Nho giáo rất đề cao chữ hiếu:

Nước trên nguồn đổ xuống Cây dưới cội mọc lên

Ai ơi chữ hiếu lo bền Trước đền ơn nước, sau đền mẹ cha

Cha mẹ là cội nguồn sinh thành và nuôi dưỡng bởi vậy đạo làm con phải ghi nhớ công ơn đó để đền đáp xứng đáng

Đạo hiếu là nền tảng đạo đức mà mỗi cá nhân đặc biệt những người đàn ông, con trai dưới xã hội phụ quyền Nho giáo lấy làm trọng Đạo làm con của người nam phải làm tròn việc phụng dưỡng cha mẹ và thờ cúng ông bà tổ tiên Đó chính là điểm đặc sắc trong văn hoá Việt:

Vua tôi sẵn có nghĩa dày, Cha con thân lắm, đấng người nên trông

Khi ấp lạnh, lúc quạt nồng, Bữa dâng ngon ngọt, bữa dùng sớm trưa

Ở cho thoả chí người xưa, Đền ơn trả nghĩa thuở xưa bế bồng

Trang 31

Chữ hiếu của người con trai được biểu hiện bằng hành động cụ thể như chăm sóc cha mẹ từ miếng ăn đến giấc ngủ để đền ơn trả nghĩa cho cha mẹ Công việc thức khuya dậy sớm để chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ không còn

là công việc đơn thuần do người phụ nữ đảm đương, mà đã có bàn tay của người nam gánh vác Đó không hẳn là gánh nặng về trách nhiệm phải làm của người nam, mà đôi lúc đó được xem là một phẩm chất đáng trọng trong chí làm trai của người nam:

Làm trai nết đủ trăm đường Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay Công cha đức mẹ cao dày

Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ Nuôi con khó nhọc đến giờ

Trưởng thành con phải biết thờ hai thân Thức khuya dậy sớm cho cần

Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con

Phụng dưỡng cha mẹ là bổn phận đạo hiếu mà người con trai luôn muốn làm tròn ngay cả lúc vắng nhà:

Anh đi vắng cửa vắng nhà Giường loan gối quế, mẹ già ai nuôi

Cá rô anh chặt bỏ đuôi Tôm càng bóc vỏ, anh nuôi mẹ già

Và vì chữ hiếu, người làm con cũng có thể hi sinh cả những điều nhỏ nhặt về quyền lợi của mình cho cha mẹ để làm tròn đạo nghĩa:

Đói lòng ăn bát cháo môn

Để cơm nuôi mẹ cho tròn hiếu trung

Với tư cách là người trụ cột của gia đình người nam phải là người làm tròn chữ hiếu với cha mẹ của mình Vấn đề giáo dục đạo hiếu trong gia đình

Trang 32

là vấn đề được Nho giáo quan tâm đến Khi bàn về đạo hiếu, các học thuyết của Khổng Tử nói nhiều, và tuy nội dung còn giản dị, mộc mạc, nhưng ý nghĩa rất sâu sắc Đến Mạnh Tử và chính Tăng Tử mới là người phát triển nội dung đạo hiếu một cách cụ thể và cặn kẽ Các học thuyết đó được nhân dân ta chuyển hóa linh hoạt thành tư tưởng chính trong việc giáo dục đạo đức con người, nhất là đạo đức đối với người con trai

Trong quan niệm Nho giáo Việt Nam, đạo hiếu cũng thường đi liền với vấn đề nhớ ơn tổ tiên Người nam ngoài nỗi lo canh cánh về cha mẹ già không

ai chăm sóc còn lo cho hương khói tổ tiên không người thờ cúng:

Anh đi ghe cá cao cờ

Ai nuôi cha mẹ, ai thờ tổ tiên

Để được xem là một người con trai có hiếu thì họ không chỉ biết đối xử đúng mực với ông bà, cha mẹ khi còn sống mà cả khi cha mẹ qua đời họ phải biết lo ma chay chu đáo, trang trọng, giữ gìn trông nom cho mồ yên mả đẹp;

lo tổ chức cúng giỗ tổ tiên đầy đủ, đàng hoàng để ghi nhớ công ơn của ông bà, cha mẹ,…Người nam mà đặc biệt là người con trai trưởng phải lo chu đáo đám giỗ của ông bà, cha mẹ:

Bốn con ngồi bốn chân giường

Mẹ ơi mẹ hỡi, mẹ thương con nào?

Mẹ thương con bé mẹ thay Thương thì thương vậy chẳng tày trưởng nam Trưởng nam nào có gì đâu

Một trăm cái giỗ bổ đầu trưởng nam

Trang 33

mẹ mình, còn làm tốt trách nhiệm và giữ trọn tấm lòng hiếu thảo đối với cha

mẹ vợ:

Phụ mẫu anh như phụ mẫu nàng Mai sau có thác, chạm chữ vàng thờ chung

Hay:

Em đừng đem dạ thương anh

Để thương cha mẹ sanh thành sớm hôm

Có thể nói, ca dao đã phản ánh đúng vị thế của người nam với tư cách

là người con trong gia đình Bởi vì chữ hiếu đối với người nam đã được nhìn một cách thực tế và gắn liền với cuộc sống hằng ngày

2.1.2 Người nam với tư cách là người chồng trong gia đình

Trong gia đình phụ quyền, người nam với tư cách là người chồng có một vị thế quan trọng không ai thay thế Người chồng gánh vác trách nhiệm gia đình, các công việc trọng đại trong gia đình đều được người chồng đảm đương Vì họ là người nắm quyền, là chỗ dựa, là trụ cột của gia đình cho nên

họ ý thức cao về trách nhiệm đối với cuộc sống gia đình Người chồng cùng với người vợ cùng nhau vun vén, xây đắp cho cuộc sống gia đình của mình:

Ở nhà vợ đói con xanh

Đi ra thì khổ thân anh thế vầy

Người chồng tự thấy khổ tâm khi nhìn thấy tình cảnh gia đình đói khổ

“vợ đói con xanh” mà mình không làm gì được Vì ý thức được trách nhiệm

làm chồng của mình mà họ phải chịu cực khổ và chăm lo làm ăn để vợ con được sung túc Người chồng đặt nặng trách nhiệm gánh vác gia đình lên vai mình Bởi vậy đối với người vợ người chồng được họ coi trọng khi người chồng tự giác biết quan tâm đến gia đình, thương vợ thương con, sẻ chia công việc đồng áng với người vợ:

Vai mang chiếc nóp rách

Trang 34

Tay xách cổ quai chèo Thương con nhớ vợ bởi phận nghèo anh phải ra đi

Hình ảnh của một người chồng lo lắng, chịu vất vả, cực nhọc và hi sinh

để cho vợ con sung sướng thật đáng trân trọng:

Ngó lên hòn núi Ba Thê Muốn bỏ mà về sợ cực vợ con

Khi người vợ sinh nở người chồng tất bật lo lắng, cực nhọc để mẹ tròn con vuông:

Ngó lên chợ, dốc triền miên Nắm dây lưng đỏ hỏi tiền mua tiêu Đặt con vào dạ phải lo

Nghệ tiêu, tiêu nghệ anh phải lo cho nàng

Em biểu anh về lên núi đốt than Chặt cây che ổ cho nàng sanh thai Mai sau đặng chút con trai

Đem về báo dưỡng vãng lai từ đường

“Hình tượng người chồng thật bình dị, không giàu sang, oai phong mà gần gũi, đồng cảnh với người vợ Điều đáng quý của người chồng mà ca dao phản ánh là siêng năng, cần mẫn, biết yêu thương vợ con, cảm thông cho hoàn cảnh của nhau, tôn trọng những thành quả do hai người vun đắp nên” [17, tr.121]

Việc đồng áng vất vả người chồng cũng cùng gánh vác với vợ:

Công danh theo đuổi mà chi Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông Sớm khuya có vợ có chồng

Cày sâu bừa kĩ mà mong được mùa

Người chồng nói một cách đầy yêu thương, nhẹ nhàng đối với người vợ:

Trang 35

Mặt trời đã mọc đằng đông

Em ơi! Thức dậy ra đồng kẻo trưa Thế gian kẻ cấy người bừa

Riêng em ngủ sớm dậy trưa sao đành?

Người chồng cố gắng làm tròn trách nhiệm đối với gia đình Có thể thấy “về phía người chồng: không tham giàu mà chuộng tính nết vợ, lao động nuôi con, đón đưa vợ, nhớ vợ, bỏ qua khuyết tật của vợ, không vong vợ, thương yêu mẹ vợ, cùng hưởng vinh hoa, chịu khổ, không chịu chia lìa, chăm sóc vợ” [17, tr.120] đó là người chồng đạo đức:

Làm trai cho đáng nên trai Thảo thân, ngay chúa, vợ hiền chớ vong

Và đây tâm trạng buồn khổ nhớ vợ thương con của người chồng khi xa cách:

Canh ba trống điểm canh lầu Phần thương cho vợ, phần sầu cho con

Ngoài ra, người chồng có lúc tỏ ra rất tôn trọng vợ:

Đói cơm rách áo mà gầy

No cơm ấm áo cũng tày vợ anh Kém ăn, kém mặc mà xanh

No cơm ấm mặc vợ anh nào tày

Người chồng có chỗ đứng quan trọng như vậy trong gia đình, nên không có người chồng thì cuộc sống gia đình sẽ gặp nhiều khốn khó Bởi vậy, với phụ nữ người chồng là một chỗ dựa vững chắc để họ nương tựa Thế nên qua đôi mắt của người vợ người chồng có vai trò quan trọng không thể thiếu:

Không chồng khốn khó trăm chiều

Có chồng thêm thắt ít nhiều càng hay

Chính cái vai trò quan trọng của người chồng trong gia đình đã khẳng

Trang 36

định được vị thế không thể thiếu của họ Người nam gần như giành một vị thế tuyệt đối trong gia đình của mình Chính cái vai trò, trách nhiệm mà người nam gánh vác trong gia đình đã trở thành một tiêu chuẩn để đánh giá về hình mẫu người chồng tốt trong xã hội

2.1.3 Người nam với tư cách là người cha trong gia đình

Trong ca dao nhiều câu ca đề cập đến vai trò quan trọng của người mẹ đối với con cái, tuy nhiên cũng có những câu ca dao đề cao vai trò của người nam với tư cách là người cha trong gia đình “Sống trong chế độ phụ quyền, trong gia đình người Việt, người cha có vai trò quan trọng đối với con trên những khía cạnh quan trọng nhất của cuộc sống…” [17, tr 111]

Trách nhiệm của người cha trong gia đình cũng lớn lao không kém so với người mẹ Cũng giống như vai trò của người mẹ, người cha phải là người chịu trách nhiệm nặng nề với con Đặc biệt người cha còn là chỗ dựa vững chắc cho con cái của mình Vị thế của người cha là chỗ dựa cho đứa con nhờ cậy, nương tựa:

Còn cha gót đỏ như son Đến khi cha chết, gót đen sì sì

Làm chỗ dựa về mặt tinh thần và vật chất là bổn phận và trách nhiệm của người cha:

Bạc bảy đâu sánh vàng mười

Mồ côi đâu sánh bằng người có cha

Con không cha phải chịu nhiều khó khăn, thiệt thòi, cay đắng Bởi vậy người cha có vị trí đặc biệt không thể thay thế trong lòng con cái, không cha cũng có nghĩa người con mất đi chỗ dựa vững chắc trong cuộc sống:

Còn cha nhiều kẻ yêu vì Một mai cha thác, ai thì yêu con

Có cha thì con cái được hưởng sung sướng, hạnh phúc:

Trang 37

Còn cha cơm trắng cá ngon

Ăn rồi lại giở bàn son con ngà

Chính vì tình yêu thương đối với con cái mà người cha thực hiện đầy

đủ và trọn vẹn thiên chức của mình mà không hề có chút miễn cưỡng Chăm

lo cho con, sẵn sàng hi sinh cho con và để dành những gì tốt đẹp nhất cho con:

Anh đi câu lướt quát lướt mành

Cá lang tiêu bạc má để dành cho con

Trách nhiệm của người cha vốn dĩ rất nặng nề không thua kém gì phụ

nữ, họ cũng phải là người có trách nhiệm nuôi nấng và dạy dỗ con cái nên người:

Con ơi nghe lấy lời cha Một năm ăn trộm bằng ba năm làm Cháu ơi nghe lấy lời ông

Một đêm ăn trộm mang gông suốt đời

Không có cha cũng như con thuyền không có bến lái sẽ mất phương hướng, không có cha con cái cũng không được ai can ngăn, dạy dỗ để thành người đức hạnh:

Thuyền không bánh lái thuyền quày Con không cha mẹ, ai bày con nên?

Không những thế người cha có tầm ảnh hưởng rất lớn đến việc khuyên răn, giáo dục con cái:

Cơm cha áo mẹ chữ thầy Khuyên con lo học cho tày người ta

Phẩm chất của con cái được hình thành tốt xấu cũng một phần phụ thuộc vào sự dạy dỗ, bảo ban của người cha Người cha đã đóng vai trò trụ cột, quyết định trong gia đình, đó cũng là lý do mà con cái lấy theo họ cha

Trang 38

Nuôi con là lẽ tất yếu của thiên chức làm cha mà người cha phải làm

Do vậy không dễ gì có thể đếm được công lao dưỡng dục của người cha:

Chim trời ai dễ đếm lông Nuôi con, ai dễ kể công tháng ngày

Người cha là trụ cột vững chắc cho con cái về mọi mặt trong đời sống

Vì vậy đối với gia đình người cha có một vị thế nhất định, người cha vẫn luôn

có một vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng rất lớn đến con cái

2.1.4 Người nam với tư cách là công dân trong xã hội phụ quyền

Dưới xã hội phụ quyền người nam với tư cách là người công dân phải

là người giữ được đạo cương thường và phải là người có chí lập thân Họ phải tạo lập được cuộc sống và sự nghiệp của riêng mình Trong xã hội phụ quyền người nam cần có được chút công danh sự nghiệp để tỏ mặt với đời

Với tư cách là công dân tức là người nam phải làm tròn đạo trung hiếu, đảm bảo có nghĩa vụ đối với nhà nước nhất là nghĩa vụ đối với vua Người đàn ông, con trai phải lấy chữ trung làm đầu, một lòng một dạ với vua Nếu người nam ăn ở hai lòng sẽ bị khép vào tội bất trung với vua và theo đạo nho

đó là tội lớn không thể dung thứ Bởi vậy chữ trung được xem là phẩm chất quan trọng đánh giá người nam:

Làm tôi cứ ở cho trung Đừng ở hai lòng sau hóa dở dang

Việc quan anh phải ra đi

Tử sanh tại mạng quản gì thân anh

Trang 39

Và để thực hiện nghĩa vụ đối với vua với nước người nam cần phải giữ cho được chí làm trai của mình Họ luôn có ý thức phải rèn luyện bản thân để xứng đáng với địa vị của mình:

Làm trai cho đáng nên trai Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan

Đã là người công dân trong xã hội phụ quyền người nam rất có ý thức

và trách nhiệm đối với đất nước Đó là phải giúp vua gánh vác công việc của đất nước để chứng tỏ bản lĩnh của người trượng phu Ngoài ra gánh vác công việc giúp vua giúp nước còn thể hiện đạo đức của kẻ bề tôi Trọng trách lớn

lao đối với vua với nước là trọng trách mà người nam đặt lên hàng đầu:

Làm trai đứng ở trên đời Sao cho xứng đáng giống nòi nhà ta Ghé vai gánh đỡ sơn hà

Sao cho tỏ mặt mới là trượng phu

Họ quyết chí lập thân tạo lập sự nghiệp để chứng tỏ tư cách của mình trong xã hội:

Làm trai quyết chí lập thân Rồi ra gặp hội phong vân kịp người Làm trai đứng ở trên đời

Cho người biết mặt cho đời biết tên

Người nam trong quan niệm của Nho giáo phải là người biết tạo dựng cuộc sống và có được sự nghiệp để hiển danh Bởi thế, sự nghiệp là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với mỗi người đàn ông, con trai Họ luôn coi trọng

và đặt sự nghiệp lên trên yếu tố gia đình Trong tâm khảm và ý chí của mình người nam luôn mong muốn và phấn đấu để đạt được thành công trên con đường sự nghiệp Để trở thành một người quân tử trước hết người nam phải tự đào tạo, phải tự tu thân:

Trang 40

Làm trai quyết chí tu thân Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo Khi nên trời giúp công cho

Làm trai năm liệu, bảy lo mới hào Trời sinh Trời chẳng phụ nào Công danh gặp hội anh hào ra tay Trí khôn sắp để dạ này

Có công mài sắt, có ngày nên kim

Và làm trai thì phải có chí làm nên nghiệp lớn, phải vẫy vùng ngang dọc không chịu gò bó, ràng buộc bởi gia đình:

Làm trai quyết chí tang bồng Sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam

Con đường công danh sự nghiệp của người nam thường làm nên thông qua thi cử Nho giáo khuyến khích mọi người nhất là các phần tử tri thức đi sâu vào việc học hành, thi đỗ, dương danh thiên hạ:

Học trò đèn sách hôm mai Ngày sau thi đỗ nên trai mới hào Làm nên quan thấp quan cao Làm nên lọng tía võng đào nghênh ngang

Chỉ có con đường khoa cử mới làm cho các bậc nam nhi đường đường chính chính lập thân, lập nghiệp để giúp vua giúp nước Cho nên người nam rất coi trọng học hành thi cử, gắng công để thi đỗ ra làm quan

Như vậy, trong ca dao nhiều câu ca dao có nội dung chủ yếu thể hiện chí hướng của người nam, đó là cái chí làm được những việc lớn, những việc kinh bang tế thế và vùng vẫy đua chen với đời

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy Anh (2011), Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
2. Việt Chương (2003- tái bản lần 2), Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam (quyển thượng), NXB Tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam
Nhà XB: NXB Tổng hợp Đồng Nai
3. Việt Chương (2003- tái bản lần 2), Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam (quyển hạ), NXB Tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam
Nhà XB: NXB Tổng hợp Đồng Nai
4. Nguyễn Nghĩa Dân (1977), Ca dao Việt Nam (1945-1975), NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam (1945-1975)
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
Năm: 1977
5. Nguyễn Nghĩa Dân (2011), Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2011
6. Nguyễn Bích Hà (2008), Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bích Hà
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2008
7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên, 2009), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
8. Trần Sĩ Huệ (2011), Thời gian trong ca dao, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian trong ca dao
Tác giả: Trần Sĩ Huệ
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2011
9. Trần Hậu Kiên (1993), Các dạng đạo đức xã hội, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dạng đạo đức xã hội
Tác giả: Trần Hậu Kiên
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1993
10. Nguyễn Xuân Kính (2002), Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 15) , NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 15)
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002
11. Nguyễn Xuân Kính (2002), Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 16 - quyển thượng), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 16 - quyển thượng)
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002
12. Nguyễn Xuân Kính (2002), Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 16 - quyển hạ), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 16 - quyển hạ)
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002
13. Nguyễn Xuân Kính (2006), Thi pháp ca dao, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2006
14. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1997), Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
15. Nguyễn Bách Khoa (2000), Kinh thi Việt Nam, NXB Văn hoá - Thông tin , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh thi Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bách Khoa
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
Năm: 2000
16. Mã Giang Lân (2009), Tục ngữ, ca dao Việt Nam, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, ca dao Việt Nam
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
17. Phạm Việt Long (2010), Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình
Tác giả: Phạm Việt Long
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
18. Lê Đức Luận (2005), Giáo trình Thi pháp văn học dân gian, (Tài liệu lưu hành nội bộ), Đại học Đà Nẵng – Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Lê Đức Luận
Năm: 2005
19. Lê Đức Luận (2011), Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt, NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2011
20. Lê Đức Luận (2012), Điểm nhìn nghiên cứu văn học, NXB văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm nhìn nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: NXB văn học
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w