Trịnh Thị Minh Hương trong luận văn Thạc sĩ Tính biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong Tiếng Việt cũng đã tiến hành khảo sát ý nghĩa biểu trưng của từng nhóm màu trong từ điển và tro
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là đất nước có bề dày văn hiến lâu đời và đời sống tinh thần phong phú Màu sắc từ lâu đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được của nền văn hóa Từ nghệ thuật làm gốm sứ đến các dòng tranh dân gian, từ trang phục dân tộc rực rỡ độc đáo đến những vàng son của cung điện đền đài, đâu đâu cũng hiện diện vai trò của màu sắc, với những ý nghĩa, những biểu tượng văn hóa gắn liền với truyền thống lịch sử của một quốc gia thuần nông, yêu thiên nhiên, trọng nghĩa tình
Màu sắc cũng như ngôn ngữ vậy, nó rất quan trọng nhưng vì hiện hữu trong đời sống quá lâu và quá gần nên dường như chúng ta đã quên đi sự tồn tại của nó như là một yếu tố không thể tách rời trong cuộc sống con người Thật là khó tưởng tượng ra cuộc sống của loài người sẽ đơn điệu như thế nào nếu không có màu sắc Vì thế giới tự nhiên và thế giới do con người tạo ra chính là thế giới màu sắc Màu sắc có tầm quan trọng trong đời sống thường nhật, đồng thời nó cũng thể hiện đặc trưng văn hóa và quan niệm thẩm mĩ
của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc Vì thế, màu sắc được xem là “nguồn khoái
cảm thẩm mĩ đặt ngang hàng với âm nhạc, văn học và nghệ thuật nói chung”
Bức tranh màu sắc đã được khắc họa khá đậm nét trong ca dao người Việt Chính những từ ngữ chỉ màu sắc đã góp phần tạo nên những hình tượng thẩm mĩ tiêu biểu, làm nên vẻ đẹp đầy sức sống và đậm chất thuần Việt của loại hình thơ ca dân gian đặc sắc này Đặc biệt, đi sâu vào nghiên
cứu “Từ ngữ biểu thị màu sắc trong ca dao người Việt” sẽ cho chúng ta có
cái nhìn cụ thể hơn về những đặc điểm, chức năng, cách cấu tạo và cấp độ
Trang 3của các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ tạo nên chỉnh thể màu sắc Đồng thời cũng cho ta thấy được mối quan hệ giữa nghệ thuật ngôn từ dân gian
với tâm thức của người Việt Đó chính là lý do chúng tôi chọn “Từ ngữ biểu
thị màu sắc trong ca dao người Việt” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ca dao là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam Được thử thách qua không gian, thời gian và lòng người, được gọt dũa bởi hàng vạn nhà thơ dân gian vô danh, ca dao đã trở thành những viên ngọc óng ánh trong kho tàng văn học dân gian dân tộc Có thể nói, hàng ngàn thế hệ người Việt Nam không ai không thuộc ít hơn một câu ca dao Điều đó cũng đủ để minh chứng rằng ca dao đã đi sâu vào đời sống tinh thần và tâm hồn mọi người dân đất Việt
Ca dao đã trở thành mảnh đất màu mỡ thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Các nhà nghiên cứu đã đi vào phân tích và đánh giá ca dao trên nhiều bình diện với những mức độ nông, sâu khác nhau
Tiếp cận ca dao người Việt theo hướng thi pháp, Nguyễn Xuân Kính
trong cuốn Thi pháp ca dao đã nghiên cứu tương đối kỹ đặc điểm của văn
bản ca dao về phương diện kết cấu, không gian và thời gian nghệ thuật, một
số biểu tượng, thể thơ Về phương diện ngôn ngữ ca dao, tác giả có đề cập đến cách sử dụng và tổ chức ngôn ngữ với các phương thức biểu hiện, tạo hình, chuyển nghĩa như ẩn dụ, cách dùng tên riêng chỉ địa điểm
Phạm Thu Yến trong cuốn Những thế giới nghệ thuật ca dao đã triển
khai nghiên cứu thi pháp ca dao trên ba phần: ngôn ngữ và kết cấu, những phương tiện diễn tả và biểu hiện trong thơ ca trữ tình dân gian, một vài tiểu loại ca dao và những nguồn mạch ca dao trong văn học hiện đại Về phương
diện ngôn ngữ và kết cấu, Phạm Thu Yến đã đề cập đến vấn đề “tính ngữ”
trong ca dao Theo tác giả, tính ngữ trùng lặp thực chất là một dạng láy từ và
Trang 4nhấn mạnh ý nghĩa của từ cần nói mà trong ca dao nó thiên về tính từ chỉ
màu sắc như: đen nhưng nhức, đen lay láy, trắng nõn nà…Tác giả cũng đặc biệt chú ý đến đại từ nhân xưng trong ca dao: “So với thơ bác học, có lẽ chỉ
ở ca dao mới có cách sử dụng đại từ nhân xưng kèm theo tính từ chỉ rõ đặc điểm của đối tượng được gọi: người thương, người ngoan, người nghĩa ”
[32, tr.225]
Lần đầu tiên trong nghiên cứu ca dao, Đặng Văn Lung đã khảo sát về
Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình trên phương diện hình ảnh, kết
cấu, ngôn ngữ Tuy nhiên những nghiên cứu của tác giả cũng chỉ ở mức giới thiệu bước đầu, dù vậy đây vẫn là một gợi ý tốt cho những nghiên cứu tiếp theo
Hoàng Trinh trong cuốn Từ ký hiệu học đến thi pháp học cũng đã chỉ
ra những đặc điểm liên quan đến việc tiếp cận tác phẩm ca dao theo hướng cấu trúc như: tính mô thức, tính biến thể, tính liên văn bản, về hệ thống các đơn vị từ, cụm từ, ngữ đoạn có khả năng tạo nghĩa và chuyển nghĩa
Còn Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam lại đi
sâu vào nghiên cứu các biểu tượng và tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Tác giả
khẳng định rằng: “Người dân lao động Việt Nam đem hình ảnh con cò và
con bống vào ca dao, dân ca là đưa một nhận thức đặc biệt về khía cạnh của cuộc đời vào văn nghệ, lấy cuộc đời của những con vật trên đây để tượng trưng vài nét đời sống của mình, đồng thời cũng dùng những hình ảnh ấy để khêu gợi hồn thơ” [28, tr.99]
Nguyễn Phan Cảnh trong cuốn Ngôn ngữ thơ cũng đã đề cập đến
phương thức biểu hiện, tổ chức kép các lực lượng ngữ nghĩa hay phương thức chuyển nghĩa của ngôn ngữ ca dao Đặc biệt, khi đề cập đến phương
thức tổ chức ngôn ngữ ca dao, tác giả nhấn mạnh rằng: “Ca dao lấy việc
khai thác các đồng nghĩa lâm thời làm phương tiện biểu hiện cơ bản, nghĩa
Trang 5là làm việc chủ yếu bằng hệ lựa chọn Vì thế hình tượng ngôn ngữ ca dao trước hết là những hình tượng ẩn dụ tính” [2, tr.84]
Hoàng Kim Ngọc trong cuốn So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình
đã nghiên cứu một cách tỉ mỉ, có hệ thống về phép so sánh và ẩn dụ được s ử dụng trong ca dao trữ tình người Việt, đặc biệt là nghiên cứu ẩn dụ ở cấp độ phát ngôn câu Nêu các quy tắc và đặc điểm về hình thái cấu trúc, ngữ nghĩa của so sánh và ẩn dụ Nghiên cứu về trầm tích văn hoá, ngôn ngữ qua so sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình người Việt
Triều Nguyên trong cuốn Bình giải ca dao cũng đã có cách “Tiếp cận
ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúc” Phương pháp
này xem tác phẩm ca dao chỉ có tính chất độc lập tương đối, mỗi tác phẩm vừa có giá trị riêng vừa nằm trong một kiểu dạng, một nhóm nhất định, dùng
ca dao để hiểu ca dao Tuy nhiên đó mới chỉ là những phác họa bước đầu có quy mô thể nghiệm qua một số bài ca dao
Lê Đức Luận trong cuốn Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt đã đi
sâu vào nghiên cứu cấu trúc ca dao trữ tình một cách toàn diện, bao quát và
cụ thể từ hình thức đến nội dung, từ đặc trưng văn bản đến các phương thức tạo nên văn bản, từ ngôn ngữ đến văn hóa, từ hệ thống văn bản đến các đơn
vị ngôn ngữ làm ngôn liệu tạo nên văn bản “Kho tàng ca dao người Việt lần
đầu tiên được xem xét dưới ánh sáng của lý thuyết hệ thống - cấu trúc ngôn ngữ và nhờ phương pháp này những đặc trưng cơ bản nhất của cấu trúc ca dao trữ tình người Việt đã được phát hiện thêm và phân tích thấu đáo”
Trang 6chính cái hình thức tồn tại ấy là một trong những điều kiện để ca dao thấm đượm, thơm lâu trong mỗi con người” [7, tr.50]
Xem xét từ chỉ màu sắc dưới bình diện ngôn ngữ - văn hóa, Nguyễn
Khánh Hà trong luận văn Thạc sĩ Hệ thống từ chỉ màu sắc trong Tiếng Việt
cũng đã thống kê và lập ra một bảng từ ngữ chỉ màu sắc trong Tiếng Việt, phân loại và sắp xếp chúng thành hệ thống Ngoài ra, tác giả cũng đã bước đầu phân tích ý nghĩa từ vựng và bối cảnh sử dụng chúng, qua đó làm sáng
tỏ những liên hệ của chúng đối với văn hóa truyền thống
Trịnh Thị Minh Hương trong luận văn Thạc sĩ Tính biểu trưng của từ
ngữ chỉ màu sắc trong Tiếng Việt cũng đã tiến hành khảo sát ý nghĩa biểu
trưng của từng nhóm màu trong từ điển và trong các văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ văn chương, trong đó có ca dao người Việt Tác giả đã nêu bật được những ý nghĩa biểu trưng của từng nhóm màu, góp phần làm rõ
nghĩa của lớp từ chỉ màu sắc trong Tiếng Việt: “Trong các văn bản thuộc
phong cách ngôn ngữ văn chương, hầu hết những ý nghĩa biểu trưng chung trong ngôn ngữ đều được vận dụng vào văn bản Bên cạnh đó, các tác giả cũng sáng tạo thêm một số ý nghĩa biểu trưng riêng biệt Chẳng hạn như ca dao đã dùng màu sắc để đưa ra những quan niệm thẩm mĩ riêng của ngườ i bình dân như: răng đen, da đen giòn, áo nâu…”.[12, tr.90]
Như vậy, từ trước đến nay, ca dao thường được nghiên cứu, khám phá
ở những bình diện nội dung, thi pháp, ngôn ngữ, hệ thống cấu trúc nhưng có được sức sống biểu cảm và hệ thống biểu tượng phong phú độc đáo thì từ ngữ chỉ màu sắc đóng một phần quan trọng không nhỏ vào việc tạo ra cái
hay cái đẹp trong ca dao Đặc biệt, nghiên cứu về “Từ ngữ biểu thị màu sắc
trong ca dao người Việt” thì chưa có tác giả nào đề cập đến một cách cụ thể,
chi tiết và sâu sắc Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những ý kiến, nhận xét,
Trang 7đánh giá của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi xem đó là những định hướng cần thiết để thực hiện đề tài khóa luận của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Từ ngữ biểu thị màu sắc trong ca dao người Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, phạm vi khảo sát của chúng tôi cũng được xác
định gói gọn trong ba tập Kho tàng ca dao người Việt (Tập I,II,III) do
Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên), NXB Văn hóa Thông tin,
Hà Nội, 1995
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp sưu tầm, đọc tài liệu
Phương pháp khảo sát, thống kê
Phương pháp phân loại
Phương pháp phân tích, chứng minh
Chương Một: Những giới thuyết xung quanh đề tài
Chương Hai: Đặc điểm của từ ngữ biểu thị màu sắc trong ca dao người Việt
Chương Ba: Ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ biểu thị màu sắc trong ca dao người Việt
Trang 8Chương Một NHỮNG GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI
1.1 Khái quát về từ ngữ tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm về từ
Từ là đơn vị của ngôn ngữ, có vai trò hết sức quan trọng, giống như viên gạch để xây dựng nên tòa lâu đài ngôn ngữ Khái niệm về từ đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ bàn luận nhiều trong suốt quá trình lịch sử của ngôn ngữ học Song cho đến nay vẫn chưa có khái niệm nào thỏa mãn đối với các nhà ngôn ngữ Bởi vì hiện nay có khoảng 6000 ngôn ngữ đang được
sử dụng trên thế giới Mỗi ngôn ngữ khác nhau thì hình thức ngữ âm, ngữ pháp của từ có thể khác nhau nên để có một khái niệm chung về từ vẫn chưa
có sự thống nhất Vì vậy, phương châm đúng đắn nhất trong việc đi tìm một khái niệm về từ là một mặt phải chú ý tới những điểm đồng nhất, chú ý tới tính phổ quát, từ đa dạng về thuộc tính nhưng vẫn có thể tìm thấy những thuộc tính bản chất chung cho từ trong mọi ngôn ngữ Mặt khác, cũng cần phải chú ý tới những đặc điểm riêng của từ trong mỗi ngôn ngữ
* Một số định nghĩa về từ:
A.Mây-Yê: Từ là sự kết hợp giữa một ý nghĩa nhất định với một tổ
hợp âm nhất định Có khả năng đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất định [21, tr.36]
V.G.Admoni: Từ là đơn vị ngữ pháp do hình vị cấu tạo nên dùng để
biểu thị đối tượng, quá trình, tính chất và những mối quan hệ trong hiện thực, có tính đặc thù rõ rệt và có khả năng kiến lập nhiều mối quan hệ đa dạng với nhau [21, tr.38]
Trang 9V.M.Solneev: Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: âm và nghĩa
Có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời nói [21, tr.13]
* Định nghĩa về từ tiếng Việt:
Hồ Lê: Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết
hiện thực hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do,
có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa [21, tr.104]
Nguyễn Thiện Giáp: Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có
ý nghĩa dùng để cấu tạo câu nói: nó có hình thức của một âm tiết, một
“chữ” viết rời [20, tr.163]
Đỗ Hữu Châu: Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định ,
bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong Tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [6, tr.16]
Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách
khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa và chức năng ngữ pháp [22, tr.38]
Đỗ Thị Kim Liên: Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một
số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do
để cấu tạo nên câu [22, tr.18]
Như vậy, có thể có nhiều cách định nghĩa khác nhau về từ tiếng Việt, xuất phát từ những góc độ, những quan điểm khác nhau Nhưng tựu trung lại, các nhà nghiên cứu đều đưa ra được những đặc điểm cơ bản của từ Trong bài viết của mình, chúng tôi sử dụng quan niệm của Đỗ Thị kim Liên làm cơ sở để khảo sát từ chỉ màu sắc
1.1.2 Khái niệm về ngữ
Trang 10Khi nói, viết, chúng ta thường sử dụng đơn vị thông báo ở cấp độ câu
Để tạo nên câu cần có từ Các từ thường sắp xếp theo những quan hệ nào
đó để tạo nên đơn vị lớn hơn từ, đó là ngữ
Ngữ được gọi bằng một số tên gọi khác nhau, xuất phát từ những quan niệm và mục đích nghiên cứu không giống nhau: đoản ngữ (Nguyễn Tài Cẩn), cụm từ (Lê Xuân Thại), ngữ đoạn (Lưu Vân Lăng), từ tố (Nguyễn Kim Thản)
Ngữ (hay cụm từ) là những cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết
hợp tự do với nhau theo những kiểu quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định [22, tr.75]
Như vậy, ngữ là đơn vị ngữ pháp ở bậc trung gian giữa từ và câu Loại ngữ do danh từ làm chính tố gọi là ngữ danh từ, loại ngữ do động từ, tính từ làm chính tố gọi là ngữ động từ, ngữ tính từ
Xét về mặt nghĩa, ngữ là một cấu tạo có tác dụng làm cho nghĩa của chính tố được thực tại hóa, tức là có liên hệ với thực tại Trong ngữ danh từ, nghĩa thực tại hóa là nghĩa về tính xác định Trong ngữ động từ, ngữ tính
từ, nghĩa thực tại hóa là nghĩa về tính hoạt động và tình thái
Xét về mặt ngữ pháp, ngữ là một cấu tạo theo quan hệ cú pháp chính phụ Phương tiện để biểu thị quan hệ chính phụ là trật tự, kết từ và ngữ điệu
Theo Đỗ Thị Kim Liên, ngữ cũng là một dạng cụm từ và tác giả cho rằng có các loại cụm từ sau:
Cụm từ đẳng lập: có hai thành phần không phụ thuộc vào nhau, cùng
giữ một chức vụ ngữ pháp Ví dụ: Cha và mẹ / đều đi vắng Cụm từ “cha và
mẹ” cùng làm chức năng chủ ngữ
Trang 11Cụm từ chủ vị: có hai thành phần C - V tác động qua lại lẫn nhau và
cùng mang ý nghĩa tường thuật Ví dụ: Anh đến / làm tôi vui Câu này có hai cụm từ: anh - đến, tôi – vui
Cụm chính phụ: gồm một thực từ làm hạt nhân và những thành tố
phụ bao quanh hạt nhân [22, tr.77-98]
Theo chúng tôi, thực ra thì cụm danh từ, cụm động từ và cụm tính từ đều là cụm chính phụ Cụm danh từ thì danh từ là từ hạt nhân, cụm động từ thì động từ làm hạt nhân và cụm tính từ thì tính từ làm hạt nhân
Tuy nhiên, theo chúng tôi, cụm từ và ngữ có cấu tạo khác nhau, cụm
từ thường chỉ có một tổ hợp từ hai từ đến sáu từ còn ngữ có thể có cấu trúc nhiều yếu tố phụ trước và sau Thành ngữ là một loại cụm từ cố định nhưng chức năng ngữ nghĩa như từ
1.1.3 Các kiểu từ tiếng Việt
Nguyên tắc phân loại từ về mặt cấu tạo ngữ pháp, chúng tôi căn cứ theo nguyên tắc phân loại của Đỗ Thị Kim Liên
Dựa vào số lượng hình vị, có thể chia từ tiếng Việt thành từ đơn và từ phức:
Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên: xanh, đỏ, tím, vàng…
Từ phức là những từ bao gồm hai hình vị trở lên: trắng tinh, xanh lè,
có vai trò tương đương nhau, không phụ thuộc nhau, cùng tạo thành một kết
Trang 12hợp mang nghĩa khái quát, khác nghĩa từng thành tố: đen trắng, đỏ đen, xanh đỏ…Từ ghép chính phụ gồm một hình vị mang nghĩa tổng loại chung (về sự vật, hoạt động, thuộc tính) và một hoặc một số hình vị đứng sau có tác dụng phân hóa nghĩa: trắng bạch, vàng lục, đen xám…
Từ láy là những từ được cấu tạo dựa trên phương thức láy ngữ âm: xanh xanh, tim tím, trăng trắng, vàng vàng…
Chúng tôi căn cứ vào cách phân loại các kiểu từ trên để khảo sát các kiểu từ chỉ màu sắc trong ca dao người Việt
1.1.4 Từ loại Tiếng Việt
Từ loại là một địa hạt quan trọng của ngữ pháp nói chung và ngữ pháp tiếng Việt nói riêng Từ loại là những lớp hạng ngữ pháp cơ bản của từ, trong đó vốn từ của một ngôn ngữ được phân bố căn cứ vào ý nghĩa khái quát và đặc điểm hình thức chung
Việc phân định từ Tiếng Việt dựa vào ba tiêu chí sau:
Thứ nhất, dựa vào ý nghĩa khái quát Ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát của hàng loạt từ trên cơ sở khái quát hóa từ vựng thành khái quát hóa phạm trù ngữ pháp chung
Ví dụ: - sách, vở, sinh viên, giáo viên… mang ý nghĩa sự vật
- đọc, nói, viết, ăn, uống… mang ý nghĩa hoạt động
Thứ hai, dựa vào khả năng kết hợp Với ý nghĩa khái quát, các từ có khả năng tham gia vào một kết hợp có nghĩa Ở mỗi vị trí của kết hợp có thể xuất hiện những từ có khả năng lần lượt thay thế nhau Trong khi đó, ở các
vị trí khác trong kết hợp, các từ còn lại tạo ra bối cảnh cho sự xuất hiện khả năng thay thế của những từ nói trên Những từ cùng xuất hiện trong một bối cảnh có khả năng thay thế cho nhau ở cùng một vị trí, có tính chất thường xuyên, được tập hợp thành một lớp từ loại Các từ tạo ra bối cảnh thường xuyên cho những từ có thể thay thế nhau ở vị trí nhất định được gọi là từ
Trang 13chứng Khả năng kết hợp của từ trong các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập
là sự phân bố trật tự và việc sử dụng các phụ từ để biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp ra bên ngoài
Ví dụ: Những, các, mọi / giáo viên / ấy
lượng từ danh từ chỉ từ Thứ ba, dựa vào chức năng ngữ pháp Tham gia vào cấu tạo câu, từ có thể đứng ở một hay một số vị trí nhất định trong câu, hoặc có thể thay thế nhau ở vị trí nào đó và cùng biểu thị một mối quan hệ về chức năng ngữ pháp với các thành phần khác trong cấu tạo câu thì xếp vào một từ loại Tuy nhiên, vì thường một từ có thể giữ nhiều chức năng cú pháp trong câu nên cần phải xem xét chức năng cú pháp nào của từ là chủ yếu để làm căn cứ phân loại
Trong câu, danh từ thường làm chủ ngữ, động từ, tính từ thường làm
vị ngữ Căn cứ vào những tiêu chí trên, từ tiếng Việt được chia thành hai lớp loại từ: thực từ và hư từ
Thực từ là những từ có ý nghĩa từ vựng cụ thể, chân thực; có khả năng làm trung tâm trong cấu trúc cụm từ và đảm nhận những chức vụ ngữ pháp trong câu Các từ loại thuộc nhóm thực từ: danh từ, động từ, tính từ, đại từ,
số từ
Hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, chỉ biểu thị ý nghĩa ngữ pháp hay ý nghĩa tình thái nào đó; không có khả năng làm trung tâm trong cấu trúc cụm từ, chỉ dùng để đi kèm với thực từ, làm chức năng nối kết để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp nào đó; không có khả năng đảm nhận các chức vụ ngữ pháp trong câu Các từ loại thuộc nhóm hư từ: quan hệ từ, phó từ, chỉ từ, lượng từ, trợ từ, thán từ, tình thái từ
1.2 Từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt
1.2.1 Từ ngữ chỉ màu sắc
Trang 14Màu sắc là một thuộc tính của vật thể, tồn tại một cách khách quan trong thế giới vật chất mà thị giác con người có thể nhận biết được Sự nhận thức và phân biệt màu sắc hoàn toàn có tính chất chủ quan đối với từng cộng đồng người nhất định Trong các ngôn ngữ khác nhau, người ta phân chia dải màu và ghi nhận các sắc độ, sắc thái về màu sắc theo những cách riêng khác nhau Vì thế, hệ thống tên gọi màu sắc của các ngôn ngữ cũng không giống nhau
Từ chỉ màu sắc là một bộ phận của từ tiếng Việt, chiếm một phần không nhỏ trong tiếng Việt Từ chỉ màu sắc là những từ chỉ tính chất, đặc trưng của các sự vật, hiện tượng Chính vì vậy, chúng được xếp vào từ loại tính từ Hầu hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng hệ thống màu sắc trong tiếng Việt được chia thành hai lớp: lớp từ chỉ màu cơ bản và lớp từ chỉ màu phụ
Lớp từ chỉ màu cơ bản gồm có chín (9) màu: xanh, đỏ, tím, vàng, đen,
trắng, xám, nâu, hồng Những màu sắc này tưởng như đơn giản nhưng thực
ra lại mang một nội dung ngữ nghĩa phong phú, trừu tượng với phạm vi biểu vật rộng lớn Chúng được dùng để miêu tả cho hầu hết các sự vật, hiện tượng đang tồn tại trong thế giới hiện thực khách quan, từ hiện tượng thiên nhiên đến sự vật nhân tạo, từ đồ vật cụ thể đến những tư tưởng trừu tượng Đặc biệt, chúng có khả năng tạo ra hàng loạt từ chỉ màu phụ với phạm vi biểu vật hẹp hơn
Lớp từ chỉ màu phụ được tạo ra từ sự pha màu của những màu cơ bản Chúng được định danh theo bốn phương thức: gọi tên theo các từ chỉ màu cơ
bản, tức màu phụ là từ phái sinh từ các từ chỉ màu cơ bản đơn âm tiết (xanh
thắm, đỏ chói, trắng ngần…), gọi tên theo các từ chỉ màu phụ đơn âm tiết
(ghi xám, thâm sì, tái xám…), gọi tên theo tên gọi các đối tượng, vật liệu,
Trang 15chất liệu trong thực tế (tro, gạch, than, mực…) và gọi tên theo tên gọi các từ chỉ màu sắc du nhập từ ngôn ngữ khác (hắc, bạch, hung, ghi, côban…)
1.2.2 Tính biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong văn hóa Việt
Người Việt Nam có tính thẩm mĩ cao và tinh tế nên hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc cũng được cảm nhận vô cùng độc đáo và phong phú Từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt có mối quan hệ trực tiếp với văn hóa Việt Mỗi một
từ chỉ màu sắc được sử dụng đều phản ánh đặc trưng văn hóa Việt sâu sắc, tức là thể hiện tâm thức, tư duy của con người trong đó
Trong tín ngưỡng tứ phủ của văn hóa dân gian, màu sắc chứa đựng cả một hệ ý nghĩa biểu tượng trong tâm thức, tâm linh của người Việt Ở đó, người ta tuân thủ những quy định nghiêm ngặt về màu sắc của trang phục: Phủ Đệ Nhất phải màu đỏ, Phủ Đệ Nhị phải màu xanh, Phủ Đệ Tam phải màu trắng, Phủ Đệ Tứ phải màu vàng
Từ xa xưa, màu sắc mang đặc trưng sắc thái của các tầng lớp xã hội khác nhau: màu vàng là của vua, từ các quan đại thần cho đến thường dân, cấm không ai được mặc quần áo hoặc xây dựng nhà cửa màu vàng Màu tím
là sắc phục của quan đại thần Màu điều, màu đỏ dành riêng để tế thần và
Trang 16làm sắc phục cho các cụ thượng thọ Màu nâu sòng là của cửa Thiền dành cho những kẻ quy y cửa Phật, cũng như màu đen là sắc phục của linh mục đạo Ki-tô Màu xanh là của những người còn theo đòi cửa Khổng sân Trình, của học trò chưa đỗ đạt Màu đen, màu nâu là trang phục bình dị của quần chúng nông dân Màu xanh nhập nội từ nước Trung Hoa sau giải phóng gọi
là màu xanh công nhân Vì thế, màu đỏ, màu vàng, màu hồng dùng trong trướng đối dành để chúc tụng, khao lão, các cuộc vui, còn trong lễ tang chỉ
có thể dùng màu trắng, màu xanh, màu đen, màu tím…
Tuy nhiên, người Việt lại dùng quan tài quàn người chết có màu đỏ vì
họ quan niệm chết là mất đi chỗ này và thác sinh về chỗ khác Các miếng vải tắm tượng trong lễ mộc dục hay phủ bài vị đều có màu đỏ Và tấm vải đỏ này khi thay áo tượng thường được cắt nhỏ ban cho những em bé hay đau
ốm, khó nuôi
Từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt có tính biểu trưng rất cao Nó
được thể hiện ở xu hướng khái quát hóa, ước lệ hóa: má đào, hồng nhan để chỉ cô gái xinh đẹp, tơ hồng để chỉ tình duyên đẹp…Bên cạnh đó, từ chỉ màu
sắc của tiếng Việt cũng rất giàu chất biểu cảm Đây là sản phẩm tất yếu của nền văn hóa trọng tình Bên cạnh màu xanh trung tính, còn có rất nhiều màu
xanh khác: xanh rì, xanh rờn, xanh ngắt, xanh um, xanh lè…Bên cạnh màu
đỏ trung tính còn có: đỏ rực, đỏ au, đỏ lòm, đỏ loét…Ngoài ra, các từ láy chỉ màu mang sắc thái biểu cảm cũng rất phổ biến: đo đỏ, xanh xao, vàng võ…
Như vậy ta có thể thấy rằng, trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ với thực tại khách quan, ngôn ngữ được coi là công cụ để cấu trúc hóa, mô hình hóa thực tại khách quan Cùng một hiện tượng thiên nhiên như quang phổ mặt trời, cùng một khả năng cảm thụ thị giác nhưng ở mỗi cộng đồng người, mỗi ngôn ngữ có một số lượng từ chỉ màu sắc khác nhau Sự khác nhau này
Trang 17là do sự khác biệt về những điều kiện, những nhu cầu về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần ở mỗi cộng đồng người
1.3 Ca dao – loại hình thơ ca dân gian đặc sắc của người Việt 1.3.1 Khái niệm ca dao
“Ca dao là một thuật ngữ Hán - Việt Trong Kinh thi, phần Ngụy
phong, bài Viên hữu đào có câu: “Tâm chi ưu hĩ, ngã ca thả dao” (Lòng ta
buồn, ta ca và dao) Ca dao được các nhà nghiên cứu Văn nghệ dân gian
Trung Quốc dùng để gọi hai loại dân ca khác nhau Sách Mao truyện viết:
“Khúc hợp nhạc viết ca, đồ ca viết dao” Nghĩa là bài hát có nhạc đệm thì
gọi là ca, còn hát trơn thì gọi là dao” [23, tr.23] Tương ứng theo cách gọi trên thì những bài hát nghi lễ là ca và những bài hát giao duyên là dao
Đối với giới nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, thuật ngữ ca dao được hiểu theo các nghĩa rộng hẹp khác nhau Thời trước, người ta còn gọi
ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa
phương, mỗi thời đại Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Và một thời “Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu” [10, tr.31] Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca
Trên thực tế, khái niệm ca dao đã dần dần có sự thu hẹp nội hàm Từ một thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu “dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)” [10, tr.31] Với nghĩa này, ca dao là một bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của thơ dân gian truyền thống
Lê Đức Luận cho rằng, ca dao được tạo ra từ hai nguồn Nguồn chủ yếu từ lời của các câu hát dân gian và nguồn thứ hai từ các sáng tác ngâm vịnh trong dân chúng được hòa vào dòng chảy dân gian Điều này thể hiện
rõ, ca dao có cuộc sống riêng, giai đoạn đầu là lời từ các làn điệu dân ca và
Trang 18càng về sau nó được sáng tác độc lập Như vậy, “Ca dao là lời của các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vịnh được lưu truyền trong dân gian và
gọi chung là lời ca dân gian” [23, tr.26]
Bên cạnh đó, Nguyễn Xuân Kính cũng khẳng định rằng: Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách
Ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian có nội dung trữ tình và trào phúng
Như vậy, ca dao được xem là loại thơ trữ tình dân gian có sức truyền cảm rất lớn Cho đến nay, sức sống trường tồn của những câu ca dao vẫn mạnh mẽ hơn bao giờ hết, chúng đã thể hiện vai trò không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt
1.3.2 Đặc trưng ngôn ngữ ca dao
Ca dao có nội dung phản ánh phong phú, thể hiện bao quát phong tục tập quán, thói quen, cuộc sống và văn hóa của người Việt Ngôn ngữ trong
ca dao được tác giả dân gian sử dụng hết sức điêu luyện, tài tình Trong đó,
hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc cũng được phát huy hết tác dụng trong việc thể hiện đặc trưng biểu cảm và trữ tình của loại hình thơ dân gian này Có thể nói, ngôn ngữ ca dao đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời nhất của tiếng Việt “Nó có cả những đặc điểm tinh túy của ngôn ngữ văn học đồng thời nó còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại vào một loại ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ” [12, tr.122] Đây chính là một trong những “thi pháp” tiên quyết làm nên sự thành công của ca dao
Thật vậy, ngôn ngữ ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường Có những câu ca dao sử dụng ngôn ngữ điêu luyện, tinh tế:
Vì hoa tham sắc lấy vàng
Trang 19Cho nên hoa phải muộn màng tiết thu
Và cũng có những câu ca dao với những lời mộc mạc, đời thường, rất khẩu ngữ:
Gặp em thì gặp cho lâu Đừng gặp một tí cho sầu lòng em
Nói đến ca dao tức là nói đến thơ, về hình thức phải đặc biệt chú ý đến nhịp điệu Nhịp điệu giữ một vai trò hết sức quan trọng Nó luôn luôn có tác dụng nâng đỡ cảm xúc, làm tăng thêm sức biểu đạt Ca dao ngắt nhịp hai là phổ biến, nhưng nhiều trường hợp ca dao ngắt nhịp rất sáng tạo, nhịp điệu biến hóa thích hợp với việc biểu hiện những tâm trạng khác nhau:
Yêu nhau / tam tứ núi / cũng trèo Thất bát sông / cũng lội / tam thập lục đèo / cũng qua
Một trong những đặc điểm làm cho ca dao dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng người là ở cách hiệp vần Vần trong ca dao chặt chẽ đến mức tối đa, ở
đó vần chính được thống trị gần như toàn bộ, do đó hiệu quả hòa âm của vần đạt tới mức lý tưởng
Tác giả Nguyễn Xuân Kính cho rằng: “Đa số những lời ca dao trữ tình
là những văn bản biểu hiện” [18, tr.122] Điều này có nghĩa là khi sáng tác thơ và ca dao, các tác giả đã lựa chọn và kết hợp các đơn vị ngôn ngữ Kết quả của thao tác chọn lựa là những văn bản biểu hiện, là những nghĩa bóng
mà người nghe, người đọc tiếp nhận được Trong hàng loạt lời ca dao, nghĩa đen của các từ, chức năng định danh của các từ bị xóa nhòa:
Công anh chăn nghé đã lâu Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày
Ca dao còn một đặc điểm nữa mang tính khác biệt so với các thể loại khác đó là tính mơ hồ đa nghĩa Đằng sau những cách diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm, có sức hấp dẫn và lôi cuốn thì khi trình bày lại chứa hai, ba hình thức
Trang 20biểu hiện của tính mơ hồ đa nghĩa Cũng bởi nhờ các biện pháp tu từ mà cách diễn đạt vừa mang tính cụ thể do nghĩa đen gợi ra, vừa mang tính khái quát hàm súc do nghĩa bóng chứa đựng Chính vì thế, sự xuất hiện với tần số cao của các biện pháp tu từ, đặc biệt là so sánh và ẩn dụ là điều có thể lý giải được:
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than
Như vậy, ngôn ngữ ca dao với đặc trưng tính chất của thể loại thơ ca dân gian, mang âm sắc của giai điệu lời nói tiếng Việt, với hình thức kết cấu đối đáp, ngôn ngữ diễn tả thời gian, không gian nghệ thuật mang tính gợi hứng và lối sử dụng đại từ nhân xưng đầy biểu cảm là những yếu tố cơ bản tạo nên giá trị thẩm mĩ cho những lời hát dân ca Chính hình thức tồn tại ấy
là điều kiện để ca dao dễ thấm đượm, thơm lâu trong mỗi con người
1.3.3 Thế giới biểu tượng trong ca dao
Biểu tượng là một yếu tố quan trọng trong thi pháp văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng, thể hiện quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng của mỗi tác giả hoặc từng nhóm tác giả Biểu tượng được coi là một loại hình tượng ẩn dụ, được tạo nên bằng ngôn ngữ, phong phú về khả năng biểu cảm
và mang đậm tính dân tộc
Khi xét về mặt kí hiệu học, biểu tượng trong ca dao cũng chính là những kí hiệu Sở dĩ có thể nói như vậy, do toàn bộ hệ thống ngôn ngữ của một dân tộc chính là một hệ thống kí hiệu Mỗi kí hiệu bao gồm cái biểu đạt
và cái được biểu đạt liên hệ với nhau qua một quan hệ võ đoán Và trong hệ thống kí hiệu đó lại có những thành tố được dùng làm kí hiệu lần thứ hai để
chỉ ra một ý nghĩa nào đó ở bên ngoài nó Biểu tượng được xem là “vật môi giới giúp ta tri giác cái bất khả tri giác” Chẳng hạn như biểu tượng con rồng
được người Việt gắn cho ba ý nghĩa: thứ nhất là có mối liên hệ với đất nước
Trang 21của nền văn minh nông nghiệp, thứ hai là chỉ sự hình thành, cội nguồn của
dân tộc (truyền thuyết Con rồng cháu tiên) và ý nghĩa thứ ba là thể hiện
quyền lực của nhà vua
Xét về mặt tu từ học, biểu tượng là những hình ảnh ẩn dụ, so sánh, tượng trưng Trong ca dao, biểu tượng được chủ yếu tạo nên bởi biện pháp
tu từ nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, so sánh…Ngoài ra, biểu tượng còn là những công thức truyền thống được lặp đi lặp lại đã trở nên quen thuộc trong ca dao
Thế giới biểu tượng trong ca dao Việt Nam phong phú và đa dạng Chúng có mặt trong mọi lĩnh vực, từ những vật vô tri bình thường (đôi đũa, ngọn đèn, chiếc gương…) cho đến hình ảnh hùng vĩ của thiên nhiên (sông, núi, biển…), từ những vật tầm thường nhưng quen thuộc (khăn, nón, áo…) cho đến những đồ vật quý giá (vàng, bạc, ngọc…) Và không chỉ những hình ảnh quen thuộc quan sát từ tự nhiên, cuộc sống hàng ngày, người Việt còn
sử dụng chất liệu từ thi ca trong văn chương bình dân cho đến văn chương bác học có nguồn gốc từ văn chương cổ Trung Quốc và Việt Nam Những biểu tượng này liên kết với nhau làm cho người đọc có thể xem và hiểu hơn
về cuộc sống, tâm tư, tình cảm của người dân thời xưa Chính biểu tượng đã tạo nên màu sắc riêng biệt của ca dao Thế giới biểu tượng trong ca dao là thế giới biểu tượng tồn tại trong tâm thức con người đã được hình tượng hóa, tạo nên rung động thẩm mĩ sâu sắc Ví dụ: các loài cây cỏ trong vườn như: tùng, trúc, cúc, mai (tứ quý) đã được chọn làm biểu tượng của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, đồng thời cũng là biểu tượng của một lối sống thanh cao, không bon chen danh lợi
Trong ca dao, một số biểu tượng có nguồn gốc khá phức tạp, là sự đan
xen nhiều quan niệm, nhiều ảnh hưởng khác nhau Ví dụ: biểu tượng trầu
cau, cây đa vừa xuất phát từ phong tục tập quán của dân tộc, vừa là kết quả
Trang 22của sự quan sát thiên nhiên tinh tế Còn biểu tượng rồng vừa có lai lịch từ
các quan niệm thần thoại vừa có lai lịch từ văn học Trung Quốc Đặc biệt, trong ca dao nhiều biểu tượng sóng đôi được hình thành, cho thấy nhu cầu thể hiện, giãi bày tâm tư, tình cảm lứa đôi trong nhân dân là vô cùng lớn Điều này hoàn toàn hợp lý và dễ hiểu vì trong hoàn cảnh xã hội phong kiến thời xưa, với nhiều ràng buộc, cấm đoán khắt khe, người dân luôn vươn cao, khao khát tự do yêu đương, mà trước hết là được tự do bày tỏ tình cảm thông
qua lời ca tiếng hát của mình Những hình ảnh rồng - mây, loan - phụng,
phượng hoàng - cây ngô đồng…đã trở thành biểu tượng của tình yêu đẹp đẽ,
của hạnh phúc lứa đôi
Như vậy, có thể khẳng định rằng, biểu tượng trong ca dao xuất hiện với tần số khá cao, đã phản ánh được một số đặc trưng quan trọng của ca dao
về thi pháp cũng như về nội dung Những biểu tượng này đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành nên cấu tứ mẫu mực của rất nhiều bài ca dao, là nguồn thi liệu quen thuộc, phong phú của người Việt xưa
Tiểu kết:
Trong chương Một, chúng tôi đã xác lập được toàn bộ những vấn đề
lý thuyết mang tính chất cơ sở và khái quát nhất có liên quan trực tiếp tới đề tài, đặc biệt là cho sự triển khai vững chắc ở trong các chương sau (tiếp cận định lượng và tiếp cận văn hóa) Những vấn đề phức tạp và chưa thống nhất
về cụm từ, ngữ trong giới nghiên cứu ngôn ngữ đã được trình bày và chúng tôi theo quan điểm cụm từ và ngữ có những điểm khác nhau Từ những cơ
sở lý thuyết ở chương này, chúng tôi áp dụng vào phân tích cấu tạo và giá trị biểu đạt của từ ngữ chỉ màu sắc trong ca dao người Việt
Trang 23Chương Hai ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ BIỂU THỊ MÀU SẮC
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
2.1 Tần số và đặc điểm cấu tạo của từ chỉ màu sắc
Căn cứ vào các tiêu chí nhận diện từ và nguyên tắc phân loại các kiểu
từ tiếng Việt, về đặc điểm cấu tạo của các từ chỉ màu sắc trong ca dao người Việt được thể hiện cụ thể qua bảng thống kê sau
Bảng 1: Bảng thống kê các kiểu từ chỉ màu sắc
trong ca dao người Việt
STT Kiểu từ Tần số xuất hiện Tỷ lệ (%)
từ đơn và từ ghép chênh lệch nhau không nhiều, tuy nhiên từ chỉ màu sắc là
từ ghép vẫn chiếm số lượng nhiều hơn
2.1.1 Từ chỉ màu sắc là từ đơn
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê từ đơn chỉ màu sắc trong ba
tập Kho tàng ca dao người Việt Số lượng và số lần xuất hiện của các màu
sắc được thể hiện qua bảng thống kê sau:
Trang 24Bảng 2: Bảng thống kê từ đơn chỉ màu sắc
trong ca dao người Việt
Trang 25số 11825 đơn vị ca dao xuất hiện trong ba tập Kho tàng ca dao người Việt
Từ những số liệu trên, chúng tôi có những nhận xét khái quát sau đây:
Trong văn bản ca dao, tác giả dân gian đã sử dụng 31 loại màu sắc khác nhau Tuy nhiên, chúng xuất hiện với tần số không đều nhau Chín màu
cơ bản xuất hiện trong ca dao hầu hết đều có những công năng nhất định
Trong đó, có một số màu được xem là chủ đạo như: vàng, xanh, hồng, trắng,
đen, đỏ Những màu này được sử dụng để miêu tả trường biểu vật rộng lớn,
thể hiện giá trị biểu trưng cao
Với tần số 240 lần xuất hiện (24,84%), màu vàng đứng ở vị trí thứ nhất Màu xanh đứng ở vị trí thứ hai với 175 lần xuất hiện (18,12%) Đứng ở
vị trí thứ ba là màu hồng với 108 lần xuất hiện (11,18%) Màu trắng đứng ở
vị trí thứ tư với 102 lần xuất hiện (10,55%) Màu đen đứng ở vị trí thứ năm với 61 lần xuất hiện (6,31%) Màu đỏ đứng ở vị trí thứ 6 với 49 lần xuất hiện
(5,07%)
Trang 26Một số màu phụ cũng xuất hiện với tần số cao như: màu bạc: 38 lần,
màu đào: 32 lần, màu son: 30, màu thắm: 25 lần, màu thâm: 23 lần… Các
màu phụ này dường như đã trở thành màu chính vì tần số xuất hiện và khả năng tham gia tạo nên các trường ngữ nghĩa biểu tượng là rất lớn
Các màu: điều, tím, bạch, nâu, tía, hường, lục, phấn, xám, ngọc, biếc,
lam, chì…lần lượt có tần số xuất hiện giảm dần Trong đó, các màu: chàm, đinh, đằng, vang, ô, mực, ngại chỉ xuất hiện 1 lần Những màu này xuất hiện
ít dần vì chúng không chiếm vai trò chủ đạo trong thiên nhiên và trong môi trường nhân tạo, tuy nhiên chúng vẫn tạo được cá tính nhất định
Về đặc điểm cấu tạo, từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên Cấu tạo đơn tiết của từ chỉ màu sắc được tìm thấy không chỉ trong nhóm màu cơ
bản: xanh, đỏ, tím, vàng, trắng, hồng, nâu, đen, xám, mà còn xuất hiện trong nhóm màu phụ như: bạc, đào, điều, thâm, thắm, son, tía, biếc, chàm…Nhóm
màu cơ bản có đặc điểm chung là có gốc thuần Việt, có khả năng hoạt động độc lập với tư cách từ đơn và có tiềm năng ghép thêm phụ tố thành các từ ghép chính phụ Nhóm màu phụ thì ngược lại, phần nhiều là từ Hán Việt, khả năng hoạt động độc lập và khả năng ghép thêm phụ tố đều rất hạn chế
Khi các từ chỉ màu sắc là từ đơn thì đặc trưng, tính chất của các sự vật hiện tượng được nói đến thường mang nghĩa khái quát hơn
Từ chỉ màu sắc biểu thị cấu tạo, tính chất của sự vật, hiện tượng:
- Tóc xanh như vẽ [Ơ1, tr.1694]
- Chơi hoa cho biết mùi hoa
Hoa lê thì trắng, hoa cà thì xanh [Ch719, tr.660]
- Ngọn đèn tươi tốt bằng hoa
Mặt anh lại đỏ như hoa mặt trời [C94, tr.340]
- Trời xanh dưới nước cũng xanh
Trên non gió thổi dưới gành sóng xao [Tr676, tr.2278]
Trang 27Từ chỉ màu sắc có ý nghĩa biểu trưng:
- Ai xui anh lấy được mình
Để anh vun xới ruộng tình cho xanh [A214, tr.96]
-Vì sương nên núi bạc đầu
Biển lay bới gió, hoa sầu vì mưa [V179, tr.2329]
Như vậy, với tần số xuất hiện và đặc điểm cấu tạo của từ đơn chỉ màu sắc, chúng ta thấy rằng tác giả dân gian đã sử dụng từ chỉ màu sắc một cách phong phú và đa dạng, góp phần làm nên nét độc đáo, giàu sức biểu đạt cho
ca dao người Việt
2.1.2 Từ chỉ màu sắc là từ ghép
Trong 992 từ ghép mà chúng tôi khảo sát, thống kê, chỉ có 12 từ chỉ màu sắc là thuộc từ ghép đẳng lập, còn lại là từ ghép chính phụ
Đối với từ ghép đẳng lập chỉ màu sắc, các từ này đều là từ song tiết,
cả hai thành tố đều là từ chỉ màu sắc, trực tiếp có quan hệ đẳng lập với nhau Kết cấu này có thể là: một thành tố là từ chỉ màu chính + một thành
tố là từ chỉ màu chính / phụ Do vậy, về tính chất quan hệ, có thể coi chúng
là từ ghép nghĩa Trong văn bản ca dao, từ ghép đẳng lập xuất hiện không
nhiều, đó là: trắng đen, đỏ hồng, đen bạc, đào hồng, tía vàng, tím tía…
Đối với từ ghép chính phụ, quan hệ giữa các hình vị là quan hệ chính phụ, trật tự của các hình vị trong từ thường là trật tự cố định Với từ Hán Việt thì thành phần phụ đứng trước thành phần chính, với từ thuần Việt thì thành phần chính đứng trước thành phần phụ Trong ca dao người Việt, đa phần các từ ghép chỉ màu sắc tuân theo trật tự trên, tuy nhiên cũng có một số trường hợp tác giả dân gian đã thay đổi trật tự của từ:
- Vỡ đường giữa làng Xâm Dương
Nước chảy ngầu đỏ tràn đường hỏa xa
[Tr580,tr.2258]
Trang 28- Trầu say vương vất vân mòng
Nhìn môi em thắm đỏ khiến trong lòng anh say
[Tr280, tr.2190]
- Vén mây thấy núi ngát xanh
Thương ai thao thức năm canh khóc thầm
[V119,tr.2319]
Ngầu, thắm, ngát là các thành tố phụ mang ý nghĩa sắc thái hóa đã
được đảo lên trước hình vị chính, có tác dụng nhấn mạnh thành phần sắc thái hóa Chính cách đảo trật tự này đã góp phần làm phong phú sự thể hiện màu sắc trong ca dao
Từ ghép chính phụ là các từ chỉ màu sắc trong ca dao người Việt được chia làm hai loại chính, đó là từ ghép chính phụ dị biệt và từ ghép chính phụ sắc thái hóa
Từ ghép dị biệt là những từ ghép có từ chỉ màu sắc làm thành tố phụ
sau danh từ: lưới hồng, mâm vàng, chim xanh, vườn hồng, áo trắng, áo đen,
tuổi vàng… Những từ ghép này mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc:
- Chim khôn mắc phải lưới hồng
- Hạt châu nhỏ xuống mâm vàng
- Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng [A47, tr.63]
- Ai làm cho đó bỏ đăng
Cho con áo trắng bỏ thằng áo đen [A81, tr.70]
- Từ khi đá biết tuổi vàng
Lòng càng thắm thiết dạ càng ngẩn ngơ [L433, tr.1300]
Sự phong phú về màu sắc và tài năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc của tác giả dân gian được thể hiện rõ nét qua việc sử dụng các từ ghép sắc thái hóa chỉ màu sắc Các thành tố chính là hình vị chỉ màu sắc, còn các thành tố
Trang 29phụ bổ sung sắc thái, ý nghĩa cho thành tố chính Các thành tố phụ hầu hết là
từ đơn tiết (trắng bóng, đỏ thắm…) nhưng cũng có một số là từ láy (đen
nhưng nhức, bạc phơ phơ, vàng choi chói…) Do vậy, kết cấu của từ ghép
chính phụ trong văn bản ca dao luôn là:
một thành tố chính + một thành tố phụ
(chủ yếu là từ chỉ màu cơ bản) (gồm từ đơn tiết / từ láy song tiết)
Điều này được thể hiện rõ nhất qua cách thể hiện một số màu có tần
số xuất hiện cao như: màu xanh, màu đỏ, màu trắng, màu đen
Bảng 3: Bảng thể hiện kết cấu của từ ghép chính phụ chỉ màu sắc
trong ca dao người Việt Màu sắc Từ ghép
Yếu tố cấu tạo Tần số
xuất hiện
xanh
xanh biếc xanh rờn xanh lét xanh mởn xanh non trong xanh ngát xanh xanh tươi xanh tốt xanh mai mái xanh leo lẻo
xanh xanh xanh xanh xanh xanh xanh xanh xanh xanh xanh
biếc rờn lét mởn non trong ngát tươi tốt mai mái leo lẻo
3
3
3
Trang 30đỏ
thắm đỏ
đỏ lòm
đỏ ối ngầu đỏ
ối ngầu lòm lòm hồng hào hây hây hồng hồng
trắng trắng trắng trắng trắng trắng trắng trắng trắng trắng trắng trắng trắng
bóng ngần
ởn tinh phau ạch xanh bủng phếch xoa lòa xòa lòa lòa phau phau
đen đen đen đen đen
sì thủi nhẵn lay láy lấp lánh
Trang 31đen rưng rức đen thui thủi đen nhanh nhánh đen nhưng nhức
đen đen đen đen
rưng rức thui thủi nhanh nhánh nhưng nhức
6
1
2
9
Có thể thấy rằng, các tác giả dân gian đã sử dụng nhiều thành tố phụ
để bổ sung sắc thái ý nghĩa cho màu sắc, tạo ra nhiều màu sắc khác nhau trong ca dao Với một màu chính là màu xanh, các tác giả dân gian đã tạo
ra 11 màu khác nhau với 22 lần xuất hiện Màu trắng có 13 màu khác nhau với 17 lần xuất hiện Màu đỏ có 11 màu khác nhau với 31 lần xuất hiện Màu đen có 9 màu khác nhau với 23 lần xuất hiện…Đây chính là nghệ thuật phối màu và tạo màu bằng ngôn ngữ của các tác giả dân gian
Từ ghép chính phụ sắc thái hóa có giá trị miêu tả và gợi tả rất cao
- Dải Trường Sơn xanh rờn thăm thẳm [D12, tr.680]
2.1.3 Từ chỉ màu sắc là từ láy
Trang 32Trong ca dao người Việt, một số từ chỉ màu cơ bản và từ chỉ màu phụ đơn âm tiết có khả năng cấu tạo nên những từ chỉ màu phụ theo phương thức láy, gồm hai kiểu: láy hoàn toàn và láy bộ phận Tuy nhiên, tần số xuất hiện của từ láy không cao, chỉ có 32 lần (1,61%) Các từ láy chỉ màu sắc
được thể hiện bằng phương thức hòa phối ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa
Từ láy hoàn toàn: đo đỏ, hồng hồng, son son, tím tím, tia tía, vàng
vàng, xanh xanh, trắng trắng… Những từ có hình thức này được gọi là từ
láy toàn bộ (có thể thay đổi về thanh điệu) Đặc điểm của loại này là các màu sắc thường bị giảm đi mức độ, kèm theo sự loang ra của màu sắc đó nên chúng thường là những màu nhạt Song phạm vi biểu vật của những màu phụ này khá rộng:
- Bao giờ lúa trổ vàng vàng
Cho anh đi gặt cho nàng quảy cơm [B187, tr.233]
- Có đêm ra đứng vườn hoa
Nom lên chỉ thấy sao tà xanh xanh [C428, tr.403]
Đối với từ láy bộ phận, hầu hết là từ láy phụ âm đầu: xanh xao, vàng
võ, võ vàng… Với dạng láy này, phạm vi biểu vật của từ chỉ màu sắc
thường bị thu hẹp lại Chính vì thế, những từ chỉ màu phụ này dễ gợi cho người ta những hình ảnh cụ thể của cái biểu vật đó:
- Ai qua quán cháo Đồng Giao
Má hồng để lại, xanh xao mang về [A132, tr.81]
- Vì ai thiếp chịu võ vàng
Vì ai tư lự để hoa tàn nhụy phai [V143, tr.2322]
Như vậy, mặc dù từ láy chiếm tỉ lệ không nhiều nhưng đã góp phần tạo nên sự phong phú trong cách thể hiện màu sắc của các tác giả dân gian
2.2 Tần số và đặc điểm cấu tạo của ngữ chỉ màu sắc
2.2.1 Từ chỉ màu sắc trong cụm chủ vị (C-V)
Trang 332.2.1.1 Cụm chủ vị đơn
Cấu trúc loại này gồm từ chỉ màu sắc kết hợp với từ ghép hoặc từ láy biểu thị sắc thái Cụm chủ vị đơn được thể hiện qua kết cấu định danh bổ trợ:
Danh từ 1 + tính từ chỉ màu sắc + danh từ 2 (sự vật được so sánh)
Chúng tôi đếm được có 9 cụm chủ vị đơn với tần số 10 lần xuất hiện: răng
đen hột đỗ, răng đen hạt nhót, răng trắng hạt bầu, vải thâm hạt giền … Với
kết cấu này, đối tượng được miêu tả dường như trở nên rõ ràng hơn vì không chỉ có tính từ chỉ màu sắc đi kèm mà còn có một danh từ làm chức năng định tính và tạo cho người tiếp nhận có thể tri nhận được ngay vì tính
cụ thể và khái quát của danh từ này
Bảng 4: Cụm chủ vị đơn chỉ màu sắc được sử dụng
trong ca dao người Việt STT Cụm chủ vị đơn chỉ màu sắc Tần số xuất hiện
7 Vải thâm hạt giền 1
8 Yếm trắng lòa xòa 1
2.2.1.2 Cụm chủ vị kép
Trang 34Trong ca dao người Việt, chúng tôi đã khảo sát và thống kê được 62 cụm chủ vị kép chỉ màu sắc với tần số 92 lần xuất hiện Loại này có hai cụm chủ vị kết hợp song hành tạo thành tổ hợp tương đương như thành ngữ
Bảng 5: Cụm chủ vị kép chỉ màu sắc được sử dụng
trong ca dao người Việt STT Cụm chủ vị kép chỉ màu sắc Tần số xuất hiện
1 Áo nâu kiềng bạc 2
2 Áo trắng khăn điều 2
3 Áo trắng quần thâm 1
4 Áo tía quần hồng 1
5 Áo đà khăn xanh 1
Trang 3525 Gạo trắng nước trong 1
26 Gác tía lầu hoa 1
Trang 3646 Non xanh nước biếc 7
47 Nón bạc quai vàng 2
48 Nước thắm non xanh 1
49 Nước trắng non xanh 1
50 Ngựa thắm võng đào 1
51 Quần vàng áo thâm 2
52 Quần hồng áo tía 1
53 Quần thâm áo trắng 2
54 Ruột bầm gan tím 1
55 Tơ hồng chỉ thắm 2
56 Trời xanh nước biếc 1
57 Trời xanh đất đỏ mây vàng 1
58 Trời xanh muối trắng cát vàng 1
59 Yếm thắm răng đen 1
60 Yếm đỏ răng đen 1
61 Yếm trắng dải điều 1
62 Yếm thắm dải đào 1
Kết cấu cụm chủ vị kép chỉ màu sắc trong ca dao được thể hiện qua kết cấu song hành:
Danh từ 1 + tính từ chỉ màu sắc 1 - Danh từ 2 + tính từ chỉ màu sắc 2
Cụm chủ vị kép chiếm số lượng nhiều hơn cả: lá xanh bông trắng, tơ
hồng chỉ thắm, ruột bầm gan tím, giấy trắng mực đen, trời xanh nước biếc… Đây là kết cấu khá quen thuộc song lại có giá trị tượng trưng và biểu
Trang 37cảm cao Sự đối xứng về cấu trúc và ý nghĩa đã làm cho chúng trở nên có giá trị và dễ vận dụng một cách linh hoạt
2.2.2 Từ chỉ màu sắc trong cấu trúc ngữ
2.2.2.1 Ngữ danh từ
Ngữ danh từ là ngữ trong đó có danh từ làm thành tố trung tâm và có một hoặc nhiều thành tố phụ quây quần xung quanh để bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho danh từ trung tâm đó Ngữ danh từ được thể hiện qua kết cấu định danh hóa:
Danh từ 1 + danh từ 2 (có chức năng như tính từ chỉ màu sắc)
Có 13 ngữ danh từ chỉ màu sắc với thuộc kết cấu này là: áo the hoa,
áo hoa hiên, quần trứng sáo, quần lĩnh hoa chanh, yếm hoa chanh, yếm hoa hiên, yếm hoa tằm… Thực ra, đây là những ngữ chỉ màu sắc tương đối
mang tính trừu tượng cao và được gọi tên nhờ những đặc trưng cụ thể nổi bật của danh từ chỉ màu sắc có chức năng như tính từ Phải là người sống lâu trên đất Việt thì mới hiểu và dễ dàng nhận biết đặc trưng của những màu này vì chúng thực sự mang đậm bản chất Việt thông qua những trường biểu vật sinh động và đặc sắc, đại diện cho nền văn minh nông nghiệp: hoa hiên, hoa tằm, hoa chanh…
này xuất hiện khá nhiều trong ca dao: trổ nhụy vàng, trao gan vàng, tắm
suối vàng, mang giày đỏ, hớt mái tóc xanh, ăn miếng trầu xanh, phơi quần
Trang 38hồng, bận áo xanh xanh… Đây là những ngữ động từ chỉ màu sắc thể hiện
rõ nét trạng thái của sự vật
Ngoài ra, ngữ động từ chỉ màu sắc còn xuất hiện với kết cấu:
Động từ 1 + tính từ chỉ màu sắc 1 - động từ 2 + tính từ chỉ màu sắc 2
Tần số xuất hiện của ngữ động từ thuộc loại kết cấu này rất ít: tham đỏ bỏ
đen, thay đen đổi trắng, đem bạc đổi chì, lấy mực làm đen Đây là dạng ngữ
kép có hai ngữ động từ kết hợp lại tạo thành cấu trúc thành ngữ và tương đương Ngữ động từ này thường mang ý nghĩa hàm ẩn sâu sắc
Như vậy, ngữ động từ chỉ màu sắc trong ca dao đã được tác giả dân gian sử dụng một cách độc đáo Nó làm cho trạng thái của sự vật được tô đậm, làm cho màu sắc có sức lan tỏa, góp phần tạo nên sự hấp dẫn cho ca dao người Việt
2.2.2.3 Ngữ tính từ
Trong ca dao người Việt, chúng tôi khảo sát, thống kê được 40 ngữ tính từ chỉ màu sắc Trong ngữ tính từ chỉ màu sắc thường có một tính từ chỉ màu sắc làm trung tâm và một danh từ đi kèm Chúng tôi đếm được 23
ngữ thuộc loại kết cấu này: đỏ chói bông lau, đỏ hoe con mắt, đỏ lòm con
ngươi, xanh con mắt, trắng phau cánh cò, trắng trắng cổ tay…Kết cấu này
giúp cho chúng ta tri nhận về sắc thái và tính chất của sự vật được cụ thể và
rõ ràng hơn
Bên cạnh đó, ngữ tính từ chỉ màu sắc theo chúng tôi chủ yếu được thể hiện qua kết cấu chính phụ:
Tính từ chỉ màu sắc + như + danh từ được so sánh
Có 15 ngữ xuất hiện ở dạng kết cấu này, đó là: bạc như vôi, bạc như
tơ, bạc như bông, đỏ như son, đỏ như vang, đỏ như hoa mặt trời, đen như than, đen như cục than hầm, xanh như tàu lá, xanh như chàm, xám như chì, trắng như ngà, trắng như bông, trắng như vôi, trắng như thủy tinh … Điểm
Trang 39mấu chốt là kết cấu này có tính cụ thể cao, do các từ chỉ màu sắc (vốn là khá trừu tượng và chỉ được tri giác bằng mắt nhìn) được so sánh với một sự vật khác tồn tại quen thuộc trong đời sống hàng ngày nên chúng có phạm vi
sử dụng lớn
Ngoài ra, ngữ tính từ chỉ màu sắc còn được thể hiện ở kết cấu:
Tính từ chỉ màu sắc 1 + danh từ 1 – tính từ chỉ màu sắc 2 + danh từ 2
Đây là kết cấu chiếm số lượng rất ít trong ca dao: xanh mỏ đỏ lông, đỏ
môi bạc đầu… Sự kết hợp giữa tính từ và danh từ trong trường hợp này là
một đặc điểm độc đáo tạo nên những sắc thái màu sắc rõ rệt trong ca dao Phần lớn, cấu trúc ngữ tính từ cũng có cấu tạo như thành ngữ và tương đương
Như vậy, trong ca dao người Việt, ngữ tính từ chỉ màu sắc cũng được
sử dụng một cách linh hoạt Mỗi sự vật, hiện tượng đều được khoác trên mình những chiếc áo màu sắc rất riêng và độc đáo Việc sử dụng ngữ chỉ màu sắc đã góp phần làm cho ca dao dễ nhớ, dễ thuộc và có sức lan truyền mạnh mẽ
2.3 Chức năng ngữ pháp của từ chỉ màu sắc
2.3.1 Chức năng của từ chỉ màu sắc trong cụm từ
- Đám cỏ xanh
DN VT
- Miếng trầu hồng