1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ biểu thị vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao người việt

67 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 743,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính những từ ngữ chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ đã góp phần tạo nên những hình tượng thẩm mĩ tiêu biểu, làm nên một bức tranh chân dung đầy sức sống và đậm chất thuần Việt của loại hình t

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -

NGUYỄN THỊ NGÂN

TỪ NGỮ BIỂU THỊ VẺ ĐẸP NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN -

TỪ NGỮ BIỂU THỊ VẺ ĐẸP NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS Lê Đức Luận

Người thực hiện

NGUYỄN THỊ NGÂN

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đức Luận Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của khóa luận này

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến thầy giáo TS Lê Đức Luận - người đã nhiệt tình, chu đáo hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã chỉ bảo giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè

và người thân đã ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Mặc dù có nhiều cố gắng, song do trình độ còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp chân thành của thầy cô, bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngân

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Mục đích nghiên cứu: 5

6 Bố cục khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG MỘT NHỮNG GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI 6

1.1 Khái quát về từ ngữ tiếng Việt 6

1.1.1 Khái niệm về từ 6

1.1.2 Khái niệm về ngữ 7

1.2 Đặc trưng ngôn ngữ ca dao 8

1.2.1 Khái niệm về ca dao 8

1.2.2 Đặc trưng ngôn ngữ ca dao 9

1.2.3 Thế giới biểu tượng trong ca dao 12

1.3 Từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong Tiếng Việt 13

1.3.1.Từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ 13

1.3.2 Tính biểu trưng của từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong văn hóa Việt 15

CHƯƠNG HAI ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ CHỈ VẺ ĐẸP NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 17

2.1 Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ 17

2.1.1 Từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ là từ đơn 18

2.1.2 Từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ là từ ghép 20

2.1.3 Từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ là từ láy 23

Trang 6

2.2.2 Từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong ngữ tự do 27

2.3 Chức năng của từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong câu 29

2.3.1 Từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ làm chủ ngữ 29

2.3.2 Từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ làm vị ngữ 30

2.3.3 Từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ làm bổ ngữ, định ngữ 31

2.4 Cấu trúc ngữ nghĩa của từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ 32

2.4.1 Cấu trúc so sánh 32

2.4.2 Cấu trúc đối lập 35

CHƯƠNG BA Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA TỪ NGỮ CHỈ VẺ ĐẸP NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 38

3.1 Biểu trưng cho vẻ đẹp hình thức của người phụ nữ 38

3.1.1 Vẻ đẹp hình thể 38

3.1.2 Vẻ đẹp trang phục và trang sức 43

3.2 Biểu trưng cho vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn của người phụ nữ 47

3.2.1 Vẻ đẹp từ lời ăn tiếng nói 47

3.2.2 Vẻ đẹp từ nết ăn nết ở 49

3.2.3 Vẻ đẹp trí tuệ 53

3.2.4 Vẻ đẹp trong tình yêu đôi lứa của người phụ nữ 54

KẾT LUẬN 58

TÀI LIÊỤ THAM KHẢO 60

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống của chúng ta hôm nay có muôn vàn cái đẹp, cái đẹp

từ con người, cái đẹp trong đời sống xã hội Và chắc hẵn, ai cũng từng một lần rung cảm trước những vẻ đẹp ấy Người phụ nữ là một hình tượng tiêu biểu khắc họa lên vẻ đẹp trong đời sống thường nhật của con người

Được mệnh danh là “phái đẹp”, người phụ nữ luôn là đề tài thú vị hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm của hầu hết các loại hình nghệ thuật, các văn nghệ sĩ, những ai yêu cái đẹp và biết trân trọng cái đẹp Vẻ đẹp của người phụ

nữ Việt Nam được in đậm dấu ấn trong âm nhạc, hội họa, điêu khắc…và đặc biệt là trong văn chương vẻ đẹp của người phụ nữ càng được miêu tả chân xác

và đa diện Vẻ đẹp của người phụ nữ không chỉ được khắc họa trong văn học viết mà còn ngay trong cả văn học dân gian Và không ở đâu, vẻ đẹp của họ hiện lên một cách rõ nét, chân thật và sống động như trong những bài ca dao

Ở thể loại này, vẻ đẹp của người phụ nữ được hiện lên như một hình tượng trung tâm, chiếm vị trí quan trọng nhất Chính những từ ngữ chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ đã góp phần tạo nên những hình tượng thẩm mĩ tiêu biểu, làm nên một bức tranh chân dung đầy sức sống và đậm chất thuần Việt của

loại hình thơ ca dân gian đặc sắc này Đặc biệt, đi sâu vào nghiên cứu “ Từ

ngữ biểu thị vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao người Việt” sẽ giúp chúng ta

tìm hiểu sâu hơn về đặc điểm cũng như những giá trị biểu đạt mà nó mang lại Đồng thời cũng cho ta thấy được mối quan hệ giữa nghệ thuật ngôn từ dân

gian với tâm thức của người Việt Đó chính là lí do chúng tôi chọn “ Từ ngữ

biểu thị vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao người Việt” làm đề tài nghiên cứu

của mình

Trang 8

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Ca dao được coi là thể loại phong phú nhất trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc Nó đã đi sâu vào đời sống tinh thần và trở thành tiếng nói tâm hồn của mọi người dân đất Việt Có thể nói, ca dao là mảnh đất màu mỡ thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Các nhà nghiên cứu đã đi vào phân tích và đánh giá ca dao trên nhiều bình diện với những mức độ nông, sâu khác nhau

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề này chẳng

hạn như công trình của Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ, ca dao dân ca người Việt (1978); Nguyễn Xuân Kính: Hiện tượng lời và bản khác trong ca dao, dân ca (1979); Thi pháp ca dao (2007); Hoàng Kim Ngọc: So sánh và ẩn dụ trong ca

dao trữ tình; Lê Đức Luận: Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt (2009)

Trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam Vũ Ngọc Phan đã đi sâu

vào nghiên cứu các biểu tượng và tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao để thể hiện những đặc sắc của những hình ảnh và biểu tượng

Tiếp cận ca dao người Việt theo hướng thi pháp, Nguyễn Xuân Kính

trong cuốn Thi Pháp ca dao đã nghiên cứu tương đối kỹ đặc điểm của văn bản

ca dao về phương diện kết cấu, không gian và thời gian nghệ thuật, biểu tượng, thể thơ Về phương diện ngôn ngữ ca dao, tác giả đi sâu nghiên cứu cách sử dụng và tổ chức ngôn ngữ trên các phương diện tạo hình và chuyển nghĩa

Nguyễn Phan Cảnh trong cuốn Ngôn ngữ thơ cũng đã đề cập đến

phương thức biểu hiện, tổ chức kép các lực lượng ngữ nghĩa hay phương thức chuyển nghĩa của ngôn ngữ ca dao Đặc biệt, khi đề cập đến phương thức tổ chức ngôn ngữ ca dao, tác giả nhấn mạnh rằng: “Ca dao lấy việc khai thác các đồng nghĩa lâm thời làm phương tiện biểu hiện cơ bản, nghĩa là làm việc chủ

Trang 9

yếu bằng hệ lựa chọn Vì thế hình tượng ngôn ngữ ca dao trước hết là những hình tượng ẩn dụ tính” [ 1, tr84]

Hoàng Kim Ngọc trong cuốn So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình đã

nghiên cứu một cách tỉ mỉ, có hệ thống về phép so sánh và ẩn dụ được sử dụng trong ca dao trữ tình người Việt, đặc biệt là nghiên cứu ẩn dụ ở cấp độ

phát ngôn câu

Hoàng Tiến Tựu trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam (1999) lại đề

cập đến những phương diện cấu tứ trong ca dao Ông cho rằng: Trong mỗi bài

ca dao không chỉ có ý mà còn có tứ, đó là hai cái khác nhau cần phân biệt rõ

Ý là nội dung tương đối độc lập với hình thức, còn tứ là nội dung được tổ chức, thể hiện một hình nghệ thuật nhất định, tạo ra hiệu quả thẩm mĩ riêng của mỗi bài ca dao [10, tr.177]

Lê Đức Luận trong cuốn Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt đã xem

xét ca dao dưới nhiều góc độ cề cấu trúc Trong đó tác giả đã đi sâu nghiên cứu về cấu trúc ngôn ngữ và đặc trưng của ngôn ngữ ca dao, hệ thống ngôn

liệu tạo lời và phương thức tạo lời trong ca dao trữ tình “ Kho tàng ca dao

người Việt lần đầu tiên được xem xét dưới ánh sáng của lý thuyết hệ thống – cấu trúc ngôn ngữ và nhờ phương pháp này những đặc trưng cơ bản nhất của cấu trúc ca dao trữ tình người Việt đã được phát hiện thêm và phân tích tháo đáo”.[8, tr 306]

Trong cuốn Từ kí hiệu học đến thi pháp học, Hoàng Trinh đã nghiên

cứu việc tiếp cận ca dao theo hướng cấu trúc như: Tính mô thức, tính biến thể, tính liên văn bản, về hệ thống các đơn vị từ, cụm từ, ngữ đoạn có khả năng tạo nghĩa và chuyển nghĩa

Nguyễn Thị Thương trong khóa luận tốt nghiệp Từ ngữ chỉ thân phận

người phụ nữ trong ca dao người Việt cũng đã làm nổi bật lên những giá trị

biểu đạt của từ nghĩ chỉ thân phận người phụ nữ trong cấu trúc ngữ “ Đặc biệt

Trang 10

qua lớp từ ngữ mang tính hàm ẩn, thân phận người phụ nữ càng rõ ràng, sắc nét hơn Đó là những con người mang vẻ đẹp chim sa cá lặn, vẻ đẹp về hình thể chính chu đến từng đường nét.[11, tr.62]

Như vậy, từ trước đến nay, ca dao thường được nghiên cứu, khám phá

ở những bình diện nội dung, thi pháp, ngôn ngữ, hệ thống cấu trúc nhưng có được sức sống biểu cảm và hệ thống biểu tượng phong phú độc đáo thì từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ đóng một phần quan trọng không nhỏ vào việc tạo ra

cái hay cái đẹp trong ca dao Đặc biệt, nghiên cứu về “Từ ngữ biểu thị vẻ đẹp

người phụ nữ trong ca dao người Việt” thì chưa có tác giả nào đề cập đến một

cách cụ thể, chi tiết và sâu sắc Trên cơ sở thừa kế và tiếp thu những ý kiến, nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi xem đó là những định hướng cần thiết để thực hiện đề tài khóa luận của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Từ ngữ biểu thị vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao người Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, phạm vi khảo sát của chúng tôi cũng được xác

định gói gọn trong ba tập Kho tàng ca dao người Việt (Tập I,II,III) do

Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên), NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1995

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: -Phương pháp khảo sát, thống kê

-Phương pháp phân loại

-Phương pháp so sánh đối chiếu

-Phương pháp phân tích, chứng minh

-Phương pháp tổng hợp

Trang 11

Ngoài các phương pháp chung, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ

5 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này là nhằm tìm hiểu một cách cụ thể và rõ nét hơn về đặc điểm của từ ngữ biểu thị vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao người Việt Từ đó, xem xét cách sử dụng từ ngữ biểu thị

vẻ đẹp người phụ nữ của tác giả dân gian để chỉ ra những giá trị về vẻ đẹp người phụ nữ Mặc khác, nghiên cứu đề tài này còn góp phần hữu ích cho việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy của chúng tôi sau này

6 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung chính gồm có ba chương sau:

Chương Một: Những giới thuyết xung quanh đề tài

Chương Hai: Đặc điểm của từ ngữ biểu thị vẻ đẹp của người phụ nữ trong

ca dao người Việt

Chương Ba: Ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ biểu thị vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao người Việt

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT NHỮNG GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI 1.1 Khái quát về từ ngữ tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm về từ

Từ là đơn vị của ngôn ngữ, nó có vai trò quan trọng để cấu thành nên những đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản Trong suốt quá trình lịch sử của ngôn ngữ học khái niệm về từ đã được các nhà nghiên cứu bàn luận Hiện nay có hơn 3000 định nghĩa về khái niệm của từ nói chung, bởi lẽ có nhiều ngôn ngữ khác nhau thì hình thức ngữ âm, ngữ pháp của nó có thể khác nhau Chính vì thế, nhiều khái niệm về từ đã được hình thành, song vẫn có sự thống nhất từ là đơn vị trung tâm, cơ bản của ngôn ngữ Chúng ta có thể thấy các định nghĩa về từ của một số tác giả tiêu biểu như sau:

A.Mây – Yê: Từ là sự kết hợp giữa một số ý nghĩa nhất định với một

số tổ hợp âm nhất định Có khả năng đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất

định [14, tr.36]

Hồ Lê: Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện

thực hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa [14, tr.104]

Nguyễn Thiện Giáp: Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý

nghĩa dùng để cấu tạo câu nói: nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời [12, tr.17]

Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách

khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa và chức năng ngữ pháp [14, tr.38]

Đỗ Hửu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định,

bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu

Trang 13

cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong

Tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [3, tr.139]

Đỗ Thị Kim Liên: Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một

số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do

để cấu tạo nên câu [13, tr.18]

Như vậy, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa về từ tiếng Việt xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau Song cơ bản các định nghĩa đã đưa

ra được những đặc điểm cụ thể của từ, đó là những căn cứ quan trọng cho việc khảo sát về từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ của chúng tôi trong những chương tiếp theo

1.1.2 Khái niệm về ngữ

Khi nói, viết, chúng ta thường sử dụng đơn vị thông báo ở cấp độ câu

Để tạo nên câu cần có từ Các từ thường sắp xếp theo những quan hệ nào đó

để tạo nên đơn vị lớn hơn từ, đó là ngữ

Ngữ được gọi bằng một số tên khác nhau, xuất phát từ những quan niệm và mục đích nghiên cứu không giống nhau: đoản ngữ (Nguyễn Tài Cẩn), cụm từ (Lê Xuân Thại), ngữ đoạn (Lưu Vân Lăng)

Ngữ (hay cụm từ) là những cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết hợp

tự do với nhau theo những kiểu quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định [13, tr.75]

Như vậy, ngữ là đơn vị ngữ pháp ở bậc trung gian giữa từ và câu Loại ngữ do danh từ làm chính tố gọi là ngữ danh từ, loại ngữ do động từ, tính từ làm chính tố gọi là ngữ động từ, ngữ tính từ

Xét về mặt nghĩa, ngữ là một cấu tạo có tác dụng làm cho nghĩa của chính tố được thực tại hóa, tức là có liên hệ với thực tại Trong ngữ danh từ, nghĩa thực tại hóa là nghĩa về tính xác định Trong ngữ động từ, ngữ tính từ, nghĩa thực tại hóa là nghĩa về tính hoạt động và tình thái

Trang 14

Xét về mặt ngữ pháp, ngữ là một cấu tạo theo quan hệ cú pháp chính phụ Phương tiện để biểu thị quan hệ chính phụ là trật tự, kết tứ và ngữ điệu

Theo Đỗ Thị Kim Liên, ngữ cũng là một dạng cụm từ và tác giả cho rằng có các loại cụm từ sau:

Cụm từ đẳng lập: có hai thành phần không phụ thuộc vào nhau, cùng giữ một chức vụ ngữ pháp,…Ví dụ: Cô và chú đều đi làm Cụm từ “cô và chú” cùng làm chức năng chủ ngữ

Cụm từ chủ vị: có hai thành phần c – v tác động qua lại lẫn nhau và cùng mang ý nghĩa tường thuật Ví dụ: Con đau làm mẹ lo Câu này có hai cụm từ: con - đau, mẹ - lo

Cụm chính phụ: gồm một thực từ làm hạt nhân và những thành tố phụ bao quanh hạt nhân [13, tr.77-98]

Theo chúng tôi, thực ra thì cụm danh từ, cụm động từ và cụm tính từ đều là cụm chính phụ Cụm danh từ thì danh từ là từ hat nhân, cụm động từ thì cụm động từ làm hạt nhân và cụm tính từ thì tính từ làm hạt nhân

Tuy nhiên, theo chúng tôi, cụm từ và ngữ có cấu tạo khác nhau, cụm từ thường chỉ có một tổ hợp từ hai từ đến sáu từ còn ngữ có thể có cấu trúc nhiều yếu tố phụ trước và sau Thành ngữ là một loại cụm từ cố định nhưng chức năng ngữ nghĩa như từ

1.2 Đặc trưng ngôn ngữ ca dao

1.2.1 Khái niệm về ca dao

Ca dao là một thể loại trữ tình dân gian Nói đến ca dao người ta thường nghĩ tới những lời thơ dân gian, đó “là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy,… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể bẻ thành những làn điệu dân ca” ( Chu Xuân Diên)

Khái niệm ca dao đã có nhiều người đề cập đến với nhiều cách lí giải khác nhau qua quá trình nghiên cứu và khảo sát các thể loại trữ tình dân gian

Trang 15

Theo Vũ Ngọc Phan nói về ca dao nội dung của ca dao: “Ca dao Việt Nam là những bài thơ tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình Tình yêu của người lao động Việt Nam trong ca dao được thể hiện nhiều mặt: tình yêu nam nữ, yêu đất nước làng xóm, yêu lao động, yêu giai cấp thiên nhiên, yêu hòa bình Không những thế, ca dao còn biểu hiện tư tưởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc sống xã hội, trong những tiếp xúc với thiên nhiên và ca dao còn biểu hiện sự trưởng thành của tư tưởng ấy qua các thời kỳ lịch sử” [23, tr.67]

Lê Đức Luận cho rằng, ca dao được tạo ra từ hai nguồn Nguồn chủ yếu

từ lời của các câu hát dân gian và nguồn thứ hai từ các sáng tác ngâm vịnh trong dân chúng được hòa vào dòng chảy dân gian Điều này thể hiện rõ, ca dao có cuộc sống riêng, giai đoạn đầu là lời từ các làn điệu dân ca và càng về sau nó được sáng tác độc lập Như vậy, “Ca dao là lời của các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vịnh được lưu truyền trong dân gian và được gọi

là lời ca dân gian” [15, tr.26]

Bên cạnh đó Nguyễn Xuân Kính cũng khẳng định rằng: Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bễn vững về phong cách Ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian có nội dung trữ tình và trào phúng

Từ đó, có thể khẳng định rằng: Ca dao được xem là loại thơ trữ tình dân gian có sức truyền cảm rất lớn Và cho đến ngày nay, sức sống trường tồn của những câu ca dao vẫn mạnh mẽ hơn bao giờ hết, chúng đã thể hiện vai trò không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt

1.2.2 Đặc trưng ngôn ngữ ca dao

Nội dung phản ánh của ca dao là rất phong phú, thể hiện bao quát phong tục tập quán, thói quen, cuộc sống và văn hóa của người Việt Ngôn

Trang 16

ngữ trong ca dao được tác giả dân gian sử dụng hết sức điêu luyện, tài tình Trong đó, hệ thống từ ngữ biểu thị vẻ đẹp người phụ nữ cũng được phát huy hết tác dụng trong việc thể hiện đặc trưng biểu cảm và trữ tình của loại thơ dân gian này Theo Mai Ngọc Chừ “ngôn ngữ ca dao đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời của Tiếng Việt Nó có cả những đặc điểm tinh túy của ngôn ngữ văn học (cụ thể là ngôn ngữ thơ), đồng thời nó còn là sự vận dụng linh hoạt tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại và một loạt ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ”

Có thể nói, ngôn ngữ ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường Có những câu ca dao sử dụng ngôn ngữ điêu luyện, tinh tế:

“Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen [8, tr.488]

Hay : Những người con mắt lá răm Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền [10, tr.1675]

Ngôn ngữ ca dao trữ tình mang tính địa phương: nó thân thuộc với nhân dân mỗi vùng miền nhất định

Ví dụ: từ “nỏ” nghĩa là “không” ở Nghệ An đã xuất hiện rất nhiều trong những câu ca dao:

“Nỏ nên duyên phận gì đâu

Em về đan giỏ hái dâu nuôi tằm.” [9, tr.1484]

Hay:

“Không thương nỏ nói khi đầu

Làm chi dan díu giữa cầu mà buông.” [9, tr.1211]

Hay ở miền nam người ta gọi bạn bè là “qua” với “bậu”:

“Không thương nhau nữa thì thôi

Trang 17

Bậu gieo tiếng giữ cho rồi bậu ra Bậu ra cho khỏi tay qua Cái xương bậu nát, cái da bậu mềm” [9, tr.1211]

Nói đến ca dao tức là nói đến thơ, về hình thức phải đặc biệt chú ý đến nhịp điệu Nhịp điệu giữ một vai trò hết sức quan trọng Nó luôn làm tăng tính biểu đạt và tạo nên tính nhạc cho ca dao:

“Trèo lên/ cây bưởi/ hái hoa Bước xuống/ vườn cà/ hái nụ/ tầm xuân

Nụ tầm xuân/ nảy ra/ xanh biếc

Em có chồng/ anh tiếc/ lắm thay.”

Câu mở đầu và câu thứ hai theo nhịp 2/2, hai câu sau theo 3/4 Nhịp điệu của hai câu sau đã thay đổi hẳn, không còn nhip 2/2 dàn trải đều đặn mà

là nhịp 3/4 trắc trở thể hiện nỗi đau đớn, tiếc nuối của chàng trai khi người yêu đã lấy chồng

Điểm đặc biệt hơn làm cho ca dao dễ đi vào lòng người là ở cách hiệp vần Vần và nhịp tạo ra sự hài hòa, biểu hiện được cảm xúc của người nói người nghe:

“Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.”

Một đặc điểm nữa làm cho ca dao mang sức gợi cảm và lôi cuốn chính

Trang 18

ngôn ngữ đời thường đã tạo nên cái hay, cái đẹp cho thể loại ca dao Nó là những ca từ mượt mà, giản dị mang đậm dấu ấn người Việt

Qua đó, chúng ta thấy rằng: ca dao trữ tình là loại lời có nhịp điệu, vần

và hình ảnh Bằng việc kết hợp giữa các hình thức đối đáp, giữa ngôn ngữ thơ mang đậm chất đời thường đã tạo nên điểm nhấn cho ca dao Chính vì thế, ca dao đã trở thành điệu hồn của dân tộc, dễ thấm đượm trong lòng mỗi người dân Việt

1.2.3 Thế giới biểu tượng trong ca dao

Theo Hoàng Phê “Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng Hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu

óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt.[18, tr.67]

Biểu tượng còn là một yếu tố quan trọng trong ca dao, thể hiện quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng của mỗi tác giả Biểu tượng được coi là một loại hình tượng ẩn dụ được tạo nên bằng ngôn ngữ, mang lại giá trị biểu cảm cao, thường mang đậm tính dân tộc

Biểu tượng trong ca dao thường là những hình ảnh mang tính tượng trưng được tạo nên bởi các biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, nhân hóa Ngoài ra, biểu tượng còn là những công thức truyền thống được lặp đi lặp lại đã trở nên quen thuộc trong ca dao

Ca dao Việt Nam rất phong phú và đa dạng Chính vì vậy, thế giới biểu tượng trong ca dao cũng rất nhiều Từ những hình ảnh lớn lao của thiên nhiên như sông, núi, biển cho đến những vật bình thường: đôi đũa, miếng trầu, chiếc khăn Những biểu tượng này làm cho người đọc cảm nhận và hiểu hơn về đời sống tình cảm, tâm tư của người dân thời xưa So với các thể loại khác những hình ảnh mang tính biểu tượng này tạo nên nét đặc sắc riêng cho ca dao Thế giới biểu tượng trong ca dao là thế giới biểu tượng tồn tại trong tâm

Trang 19

thức của con người đã được hình tượng hóa, tạo nên rung động thẩm mĩ sâu sắc

Trong ca dao, một số biểu tượng có nguồn gốc khá phức tạp, là sự đan xen nhiều quan niệm, nhiều ảnh hưởng khác nhau Ví dụ: biểu tượng con cò, bến đò, cây đa, vừa xuất phát từ phong tuc tập quán của dân tộc, vừa là kết quả của sự quan sát thiên nhiên tinh tế Đặc biệt trong ca dao thường xuất hiện những biểu tượng kép Những biểu tượng này thể hiện nhiều quan niệm của người xưa về một hình ảnh mang tính tượng trưng Ví như: “chiếc yếm” vừa là hình ảnh mang ý nghĩa nhân văn trong trang phục truyền thống mang biểu tượng nữ tính, vừa là biểu tượng cho một khát vọng tình yêu may mắn, hạnh phúc

Trong ca dao cũng đặc biệt hình thành nhiều biểu tượng sóng đôi, cho thấy được nhu cầu thể hiện, giãi bày tâm tư, tình cảm lứa đôi trong nhân dân

là vô cùng lớn Đó là những nỗi niềm của nhân dân ta trong hoàn cảnh xã hội phong kiến với nhiều ràng buộc, dị nghị, cấm đoán khắt khe, người dân luôn ước mong tự do yêu đương, tự do bày tỏ tình cảm thông qua những bài ca dao Những hình ảnh như loan phụng, rồng mây đã trở thành những biểu tượng của tình yêu, của hạnh phúc lứa đôi

Như vậy, muốn hiểu được đầy đủ, trọn vẹn ý nghĩa của biểu tượng cần

có vốn văn hóa nhất định Biểu tượng trong ca dao xuất hiện với tầng số khá cao, đã phản ánh được đặc trưng quan trọng của ca dao về thi pháp cũng như

Trang 20

từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ, ca dao đã một phần nào trường tồn trong đời sống tinh thần của người Việt

Trong ca dao, từ ngữ chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ chiếm một phần không nhỏ Đó là những từ biểu thị tính chất, đặc điểm của người phụ nữ:

“ Hai má nàng trắng phau phau Răng đen nhưng nhức như màu hạt dưa

Hỏi nàng đã có chồng chưa Hay nàng chưa có thì vừa đôi ta” [9, tr.1078 -1079] Xét về phương diện cấu tạo, hệ thống từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ được thể hiện qua hai hình thức: từ đơn và từ ghép Từ đơn thường nhấn mạnh hơn cách tả vẻ đẹp người phụ nữ như: xinh, giòn, đen…Nhưng đa phần

là từ ghép vì nó thể hiện được rõ nét đẹp của người phụ nữ như: má hồng, mắt đen, da đỏ, môi son…

Đặc biệt khi xét về ngữ, trong cấu trúc so sánh chúng ta lại thấy rất rõ

vẻ đẹp của người phụ nữ, đó là những nét đẹp bình dị, đậm chất thục nữ qua những lời ví von của người xưa:

“ Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao câu Miệng cười như thể hoa ngâu…”[8, tr.489]

Với những ngữ danh từ như: thắt đáy lưng ong, tóc bỏ đuôi gà chúng

ta lại thấy rõ hơn vẻ đẹp trong sáng của người phụ nữ Đây là những ngữ danh

từ mag ý nghĩa so sánh tượng trưng, tôn thêm nét đẹp mặn mà cho người phụ

Trang 21

lập…Song phần chung, hệ thống từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao

đa phần mang tính so sánh Bởi vẻ đẹp của người phụ nữ là rất đáng trân trọng, đáng được đề cao Những vẻ đẹp ấy là của tạo hóa ban cho họ, họ xứng đáng được nâng niu, được coi trọng

1.3.2 Tính biểu trưng của từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong văn hóa Việt

Hệ thống từ ngữ chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ Việt là rất đa dạng và phong phú Từ ngữ chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ trong Tiếng Việt có mối quan hệ trực tiếp với văn hóa Việt Mỗi một từ chỉ vẻ đẹp được sử dụng đều phản ánh đặc trưng văn hóa Việt sâu sắc, thể hiện tâm thức của con người trong đó

Xuất phát từ quan niêm thẩm mĩ của người xưa: “Cái răng cái tóc là góc con người” cho nên việc thể hiện vẻ đẹp của người phụ nữ, ca dao cũng thường nhắc đến hình ảnh đặc trưng của người phụ nữ Việt là tục nhộm răng đen Răng đen là nét đẹp, nét duyên, nét văn hóa của một thời:

“ Gặp người má đỏ hây hây

Răng đen rưng rức, tóc mây rườm rà” [10, tr 2322]

Trong xã hội phong kiến, người Việt nhộm răng đen và cho rằng là mẫu mực của cái đẹp Những cô gái đến tuổi “cập kề” đều nhộm răng đen và xem

đó là sự lí tưởng của cái đẹp Nhiều từ ngữ cũng góp phần tham gia miêu tả vẻ

đẹp của người phụ nữ qua hàm răng: răng đen nhưng nhức, răng đen nhanh

nhánh, răng đen rưng rức, răng đen lay láy…hay các ngữ mang hình ảnh rất

đặc sắc như: răng đen hạt huyền, răng đen hột đỗ…cho thấy tác giả dân gian

rất trân trọng và tôn vinh vẻ đẹp của hàm răng người thiếu nữ

Hình ảnh răng đen chính là một nét đặc trưng văn hóa về quan niệm thẩm mĩ của người Việt Ngày xưa, răng đen nhanh nhánh nhai trầu môi đỏ là một nét đẹp chính chuyên, nữ tính, bình dị của người phụ nữ Việt

Trang 22

Hay người xưa quan niệm rằng:

“ Những người thắt đáy lưng ong

Vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con” [10, tr.1677]

Hình dáng của người phụ nữ không chỉ mang vẻ đẹp hình thể mà còn mang nét đẹp đạo đức trong lối sống gia đình Cách ví von của người xưa

cũng thật tinh tế , quan niệm “ thắt đáy lưng ong” cũng là tiêu chí để các

chàng trai chọn vợ theo quan niệm của người xưa, điều đó không chỉ đem lại

sự tin tưởng cho các bà, các mẹ mà còn nói lên được tâm thức của con người Việt Nam

Tiểu kết:

Trong chương Một, chúng tôi đã xác lập được toàn bộ những vấn đề mang tính chất cơ sở và khái quát nhất có liên quan trực tiếp tới đề tài, đặc biệt là cho sự triển khai vững chắc ở trong các chương sau Từ những cơ sở lý thuyết của chương này, chúng tôi áp dụng vào phân tích cấu tạo và giá trị biểu đạt của từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao người Việt

Trang 23

CHƯƠNG HAI ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ CHỈ VẺ ĐẸP NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

2.1 Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ

Căn cứ vào tiêu chí nhận diện và nguyên tắc phân loại các kiểu từ tiếng Việt, về đặc điểm cấu tạo của các từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao

người Việt và kết quả khảo sát trong ba tập Kho tàng ca dao người Việt (Tập

I,II,III) do Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên), NXB Văn hóa

Thông tin, Hà Nội, 1995chúng tôi có được bảng thống kê sau:

Bảng 1: Bảng thống kê các kiểu cấu tạo từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong

ca dao người Việt STT Kiểu từ Tần số xuất hiện Tỷ lệ (%)

84 lần chiếm (33,81%) , từ láy chỉ với 52 lần chiếm (20,31%) Từ ghép chiếm

số lượng nhiều hơn với 120 lần chiếm (46,88%) Như vậy, có thể thấy rằng

từ ghép là từ chiếm số lượng nhiều nhất trong từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ

nữ

Trang 24

2.1.1 Từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ là từ đơn

Trong quá trình khảo sát, thống kê từ đơn chỉ vẻ đẹp người phụ nữ

trong ba tập Kho tàng ca dao người Việt (Tập I,II,III) Số lượng và số lần xuất

hiện của các từ đơn được thể hiện qua bảng thống kê sau:

Bảng 2: Bảng thống kê từ đơn chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao

Với tần số xuất hiện chỉ là 84 (lần), từ đơn chiếm tỉ lệ thấp hơn so với

từ ghép Cụ thể ở đây với các từ và số lần xuất hiện như sau: Xinh (12 lần), đen (15 lần), giòn (2 lần), đẹp (7 lần), duyên (3 lần), ngọc (2 lần), hoa (14 lần), trắng (27 lần), tròn (2 lần)

Nhân dân ta thường dùng khái niệm “xinh” để chỉ cái đẹp hình thức Theo Từ điển tiếng Việt , “xinh” nghĩa là có hình dáng và những đường nét rất dễ coi, ưa nhìn Từ “xinh” nhằm chỉ sự khen ngợi đối với phái nữ Trong

Trang 25

cách nói của người con gái thường được biểu trưng bởi vẻ đẹp mộc mạc, thanh tao:

“ Trúc xinh trúc mọc đầu đình

Chị Hai xinh, chị Hai đứng một mình cũng xinh

Trúc xinh trúc mọc bờ ao

Chị Tư xinh chị Tư đứng một mình cũng xinh” [10, 1872]

Khi nói về từ đơn chỉ vẻ đẹp người phụ nữ, trong đó chúng ta thấy số lần xuất hiện của từ “đẹp” là 7 lần Từ “đẹp” cũng dùng để nhấn mạnh nhan sắc của người phụ nữ, chính vì thế các cô gái cũng rất tự hào khi tạo hóa ban cho mình cái duyên, cái sắc:

“ Em khen em đẹp em giòn

Em khôn ngoan cho lắm cũng chịu lòn lưới anh” [9, tr2940]

Ngọc, hoa cũng là những từ đơn chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ Ngọc

được tác giả dân gian ví với đôi mắt, còn hoa được ví với cái miệng nhỏ nhắn, xinh xắn của các cô gái:

“ Khăn satanh đậu con bướm vàng

Bỏ sa mái tóc, cô nàng chiếc khắn moi Liếc trông mơn mởn mày ngài

Mắt trong như ngọc, miệng cười như hoa”[10, tr.2302]

Thời xưa, những người phụ nữ có nước da đen được xem là đẹp và chuẩn Họ là những người phụ nữ chịu thương, chịu khó, tần tảo, vất vả ngoài đồng Họ mang một vẻ đẹp chân chất, mặn mà của người thiếu nữ thôn quê:

“Trắng như bông lòng anh không chuộng

Đen như cục than hầm làm ruộng khá thương” [10, 2183]

Về đặc điểm cấu tạo, từ đơn là từ do một hình vị cấu tạo nên Trong ca dao từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ là từ đơn tuy xuất hiện với tần số không nhiều nhưng cũng góp phần khái quát đặc trưng, tính cách của người phụ nữ Tác

Trang 26

giả dân gian đã rất khéo léo khi đã sử dụng từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ như vậy, góp phần làm nên nét độc đáo, giàu sức biểu đạt cho ca dao người Việt

2.1.2 Từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ là từ ghép

Trong quá trình khảo sát từ ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ, chúng tôi thống kê được 120 từ ghép, chiếm 46,88 % trong tổng số từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ Trong văn bản ca dao, từ ghép đẳng lập xuât hiện không nhiều mà đa

số là từ ghép chính phụ Đối với từ ghép chính phụ, quan hệ giữa các hình vị

là quan hệ chính phụ, trật tự của các hình vị trong từ thường là trật tự cố định Với từ Hán Việt thì thành phần phụ đứng trước thành phần chính, từ thuần Việt thì thành phần chính đứng trước thành phần phụ Trong ca dao người Việt, đa phần các từ ghép chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ tuân thủ theo trật tự trên:

“ Trắng trong giữ giá nhà vàng Răng đen // má đỏ đợi chàng đầu xanh” [10, 2184]

Răng đen là từ ghép thuần Việt có số lần xuất hiện khá nhiềutrong quá trình khảo sát, mang nét đẹp văn hóa cổ xưa của người Việt:

“Răng đen cũng có khi phai Khi thôi má phấn, khi phai má hồng” [10, 1784]

“ Răng đen nhoẻn miệng em cười

Dẫu trời đương nực cũng nguôi cơn nồng” [10, 1784]

“ Mình về mình nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười Năm quan mua lấy miệng cười

Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen Răng đen ai khéo nhộm cho mình

Để duyên mình đẹp cho tình anh mê.” [9, tr.1368]

Trang 27

Đỏ, hồng, đen là các thành tố phụ chỉ màu sắc đứng sau có tác dụng bổ

sung ý nghĩa cho từ ghép Chính những từ ngữ ngữ này góp phần làm phong phú hơn vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao người Việt

Trong ca dao, từ ghép chỉ vẻ đẹp người phụ nữ là từ ghép đẳng lập rất hiếm, đa phần là từ ghép chính phụ Nói về phẩm cách của người phụ nữ, từ

ghép đẳng lập tiêu biểu như: thủy chung (1 lần), khôn ngoan (2 lần):

“Em muốn trọn thủy chung lòng ai chẳng muốn Thấy ghe anh chèo xuống, ghe thiếp trở lên

Hai đàng tuy kế một bên Sao anh ngoảnh mặc giả đò quên em?” [9, tr.954]

“Khôn ngoan cũng thể đàn bà Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông” [10, tr.1201]

Từ ghép chính phụ là những từ chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao người Việt được chia làm hai loại chính, đó là từ ghép chính phụ dị biệt và từ ghép chính phụ sắc thái hóa

Từ ghép chính phụ dị biệt là từ ghép gồm một số hình vị Hình vị chính

có ý nghĩa chung còn hình vị phụ có ý nghĩa chuyên biệt, bổ sung ý nghĩa cho hình vị chính Từ ghép chính phụ dị biệt chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ như:

hoa lí, hoa lài, hoa hồng

Từ ghép chính phụ với cấu trúc Hán Việt thường là yếu tố phụ đứng

trước yếu tố chính: hồng nhan, thục nữ,thuyền quyên…những từ này cũng

mang ý nghĩa sắc thái hóa với thành tố phụ có tác dụng bổ sung một sắc thái

ý nghĩa nào đó cho từ ghép:

“ Hôm qua thơ thẩn vườn đào Thấy người thục nữ vít cành đào hái hoa…” [9, tr.1120]

Quả thật, tài năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc của tác giả dân gian được thể hiện rất rõ qua việc sử dụng các từ ghép sắc thái hóa chỉ vẻ đẹp người phụ

Trang 28

nữ Các thành tố chính là những hình vị chỉ vẻ đẹp, còn các thành tố phụ bổ sung sắc thái, ý nghĩa cho thành tố chính Các thành tố phụ hầu hết là những

từ đơn tiết (môi son, lòng son, gót hoa…) nhưng cũng có một số từ láy (da đỏ

hồng hào,răng đen nhưng nhức, răng đen nhanh nhánh…) Do vậy, kết cấu

của từ ghép chính phụ trong văn bản ca dao luôn là:

Một thành tố chính + Một thành tố phụ

( chủ yếu là từ chỉ vẻ đẹp) ( gồm từ đơn tiết/ từ láy song tiết)

Bảng 3: Bảng thể hiện kết cấu của từ ghép chính phụ chỉ vẻ đẹp người

phụ nữ trong ca dao người Việt

Tần số xuất hiện

Trang 29

2.1.3 Từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ là từ láy

Trong ca dao người Việt, một số từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ là từ láy Tuy nhiên, tần số xuất hiện của từ láy không cao, chỉ có 52 lần, chiếm 20,31% nhưng chúng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành câu, đem đến hiệu quả nhất định cho việc miêu tả vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao của tác giả dân gian Dưới đây là bảng thống kê số liệu về từ láy chỉ vẻ đẹp người phụ nữ:

Bảng 4: Bảng thống kê từ láy chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao

Trang 30

Từ láy hoàn toàn : má đỏ hồng hồng, má đỏ hây hây, răng đen nhanh

nhánh, da trắng phau phau, mắt đen lay láy,…Những từ có hình thức láy này

được gọi là từ láy toàn bộ Đặc điểm của loại này là các từ láy có tác dụng chỉ

vẻ đẹp dịu dàng, nhẹ nhàng của người phụ nữ:

“ Răng em đen nhưng nhức, má em đỏ hồng hồng

Sao em cao số muộn chồng rứa em?” [9, tr.1784]

Tác giả dân gian cũng đã sử dụng những từ láy đi kèm để miêu tả vẻ đẹp về làn da, hàm răng của người con gái:

“ Hỏi người ăn ở có duyên

Má có đồng tiền da trắng phau phau

Trang 31

Hỏi người đứng ở bên sau Răng đen nhanh nhánh ra màu hạt dưa” [10, tr.2203]

Đối với từ láy bộ phận, ta có từ láy phụ âm đầu hoặc từ láy vần Với từ

láy phụ âm đầu gợi những hình ảnh thanh lịch của người phụ nữ: hồng hào,

mặn mà, dịu dàng, nhưng nhức, tủm tỉm, rưng rức, vuông vắn, chúm chím, ngọt ngào,lúng liếng…:

“Răng em đen nhưng nhức như hột dưa Miệng em cười tủm tỉm như chưa có chồng

Chưa chồng anh kiếm chồng cho Chưa con anh kiếm con cho mà bồng” [9, tr 1797]

“ Một thương tóc bỏ đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương má lúm đồng tiền Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thương

Năm thương cổ yếm đeo bùa

Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng

Bảy thương nết ở khôn ngoan Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh” [9, tr 1415 – 1416]

Như vậy , mặc dù từ láy chiếm tỉ lệ không nhiều nhưng đã góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng trong cách khắc họa được vẻ đẹp của hình tượng người phụ nữ của tác giả dân gian

2.2 Đặc điểm cấu tạo của ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ

Khi sảo sát về ngữ chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ chúng tôi xin tổng hợp qua bảng số liệu sau:

Trang 32

2.2.1 Từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong ngữ cố định

Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại, tồn tại với tư cách một đơn vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ

Như vậy, khi sảo sát về từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong cụm từ cố

định, chúng tôi xin khái quát về một số cụm từ với số liệu cụ thể như: Con

mắt bồ câu (2 lần), má lúm đồng tiền (3 lần), con mắt lá răm (2 lần), chân mày lá liễu (1 lần), mặt vuông chữ điền (1 lần), thắt đáy lưng ong (3 lần), đẹp người đẹp nết (2 lần), lưng ong thắt đáy (2 lần)

Như đã giải thích ở chương một, “thắt đáy lưng ong” là một ví dụ điển hình cho cụm từ cố định chỉ vẻ đẹp người phụ nữ Đó là vẻ đẹp từ ngoại hình của họ Ngoài ra ta còn thấy những cụm khác cũng được nhắc đến trong ca dao về vẻ đẹp người phụ nữ như: “con mắt lá răm”, “chân mày lá liễu”:

“Những người con mắt lá răm Chân mày lá liễu đáng trăm quan tiền”

Để miêu tả vẻ đẹp của các cô gái, tác giả dân gian đã rất khéo trong cách dùng từ, những cô gái có “con mắt bồ câu” là mắt đẹp nhưng trái lại làm

Trang 33

cho cuộc đời của họ phải chịu bao đau khổ Đó là quan niệm của tác giả dân gian:

“Cổ tay người trắng Như thể gương tàu

Con mắt bồ câu

Làm cho phải khổ” [10, tr.1937]

Cụm từ cố định hiện diện với tư cách là đơn vị của hệ thống ngôn ngữ,

ổn định và tồn tại dưới dạng làm sẵn Vì tồn tại dưới dạng làm sẵn nên thành

tố cấu tạo cụm từ cố định có số lượng ổn định, không thay đổi Về ý nghĩa, cụm từ cố định có ý nghĩa như một chỉnh thể tương ứng với một chỉnh thể cấu trúc vật chất của nó Có nghĩa là nó có tính thành ngữ, quán ngữ rất cao Ví dụ khi nói về vẻ đẹp người phụ nữ, cụm cố định “đẹp người đẹp nết” sẽ không thể thay đổi được nữa, vì bản thân cụm từ này mang tính ổn định và là một thành ngữ Vì vậy cum từ này đã mang tính cố định:

“ Thấy em đẹp nói đẹp cười

Đẹp người đẹp nết lại tươi răng vàng

Chân em đi dép quai ngang

Mặt vuông chữ điền hiền lành vành cá trôi” [9, tr 2045]

Với chỉ 16 lần xuất hiện nhưng cụm từ cố định đóng vai trò quan trọng trong ngữ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ Những ngữ này không thể thay thế được bởi chúng mang cấu trúc ổn định, chặt chẽ, góp phần làm cho ca dao có tính hình tượng, biểu cảm cao

2.2.2 Từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ trong ngữ tự do

Trái cụm từ cố định, từ chỉ vẻ đẹp người phụ nữ là cụm từ tự do lại chiếm số lượng nhiều hơn và rộng hơn Bởi cụm từ tự do là cụm được đặt ra trong lời nói, chúng không tồn tại dưới dạng một đơn vị làm sẵn, hay nói một

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
2. Nguyễn Phan Cảnh (2000), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hóa Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2000
3. Đỗ Hữu Châu (2007), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2007
4. Nguyễn Thị Dung (2012), Từ ngữ biểu thị màu sắc trong ca dao người Việt, Khóa luận tốt nghiệp ĐHSPĐN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ biểu thị màu sắc trong ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Năm: 2012
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
6. Nguyễn Chí Hòa (2006), Ngữ pháp Tiếng Việt thực hành, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Nguyễn Chí Hòa
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2006
7. Vũ Thị Thu Hương (2009), Ca dao Việt Nam và những lời bình, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam và những lời bình
Tác giả: Vũ Thị Thu Hương
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2009
8. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (Chủ biên), (1995), Kho tàng ca dao người Việt (Tập 1), NXB Văn hóa Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao người Việt (Tập 1)
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1995
9. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên), (1995), Kho tàng ca dao người Việt (Tập 2), NXB Văn hóa Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao người Việt (Tập 2)
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1995
10. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên), (1995), Kho tàng ca dao người Việt (Tập 3), NXB Văn hóa Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao người Việt (Tập 3)
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1995
11. Nguyễn Xuân Kính (2006), Thi pháp ca dao, NXB Đại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2006
12. Đặng Thị Lanh (2001), Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt
Tác giả: Đặng Thị Lanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
13. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1999
14. Hồ Lê (1976), Vấn đề cấu tạo Tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cấu tạo Tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1976
15. Lê Đức Luận (2009), Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt, NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2009
16. Triều Nguyên (2001),Bình giải ca dao, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình giải ca dao
Tác giả: Triều Nguyên
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2001
17. Hoàng Kim Ngọc (2009), So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình
Tác giả: Hoàng Kim Ngọc
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2009
18. Hoàng Phê (Chủ biên), (2009), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2009
19. Hoàng Tiến Tựu (1999), Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Hoàng Tiến Tựu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
20. Nguyễn Thị Thương (2013), Từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao người Việt, Khóa luận tốt nghiệp ĐHSPĐN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Thương
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w