1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố dân gian trong ca khúc đương đại việt nam

126 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 20,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhiều thể loại của dòng nhạc trẻ, có một nhánh vẫn nối tiếp được với truyền thống văn hóa, văn hóa dân tộc, đó là những ca khúc đương đại mang yếu tố dân gian.. - Luận văn thạc sĩ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

*******&******

PHẠM NGỌC KHUÊ

YẾU TỐ DÂN GIAN TRONG CA KHÚC

ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

Mã số : 60310642

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là luận văn nghiên cứu riêng của tôi Các trích dẫn trong luận văn là trung thực Những ý kiến trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Hà Nội, tháng 4 năm 2014

Tác giả luận văn

Phạm Ngọc Khuê

Trang 3

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 6

Chương 1: CA KHÚC MỚI, CA KHÚC MANG PHONG CÁCH DÂN GIAN VÀ CA KHÚC DÂN GIAN ĐƯƠNG ĐẠI 12

1.1 Sơ lược sự hình thành ca khúc mới Việt Nam 12

1.1.1 Mấy nét bối cảnh xã hội những năm đầu thế kỷ XX 12

1.1.2 Tiếp biến văn hóa âm nhạc những năm đầu thế kỷ XX 14

1.1.3 Sự ra đời của âm nhạc mới 17

1.2 Mấy nét về quá trình phát triển của ca khúc mới Việt Nam 18

1.2.1 1930 đến 1954 19

1.2.2 1954 đến nay 24

1.3 Nhận diện về ca khúc mang phong cách dân gian và ca khúc dân gian đương đại 30

1.3.1 Ca khúc mang phong cách dân gian 30

1.3.2 Ca khúc dân gian đương đại 35

Chương 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ DÂN GIAN TRONG CA KHÚC ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM 42

2.1 Vận dụng ý thơ và hình tượng trong các loại hình nghệ thuật dân gian làm lời của ca khúc 42

2.1.1 Dựa vào ý thơ dân gian 42

2.1.2 Từ hình tượng trong các loại hình nghệ thuật dân gian 47

2.2 Khai thác các yếu tố từ âm nhạc dân gian 49

2.2.1 Sử dụng câu dân ca hay âm hưởng của dân ca 49

2.2.2 Vận dụng thang âm, tiết tấu trong âm nhạc dân gian 53

2.2.3 Yếu tố dân gian thể hiện qua tên bài hát và lời ca 62

Trang 5

2.2.4 Một số yếu tố dân gian khác 65

Chương 3: GIÁ TRỊ CỦA NHỮNG CA KHÚC ĐƯƠNG ĐẠI MANG YẾU TỐ DÂN GIAN 73

3.1 Giữ lại sự cân bằng và đảm bảo tính đa dạng của ca khúc Việt 73

3.1.1 Bức tranh ca khúc Việt Nam nhiều sắc màu 73

3.1.2 Hạn chế nhạc ngoại, ca khúc đương đại mang yếu tố dân gian lên ngôi 77

3.2 Giữ lại những giá trị văn hóa dân gian xưa trong cuộc sống đương đại 83

3.2.1 Hình ảnh làng quê và tri thức dân gian hiện về trong đời sống đương đại 84

3.3 Gợi mở về phương thức sáng tác 88

3.3.1 Ý thức tiếp nhận văn hóa âm nhạc 88

3.3.2 Về phương thức sáng tác 90

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dòng ca khúc cách mạng Việt Nam có một vai trò vô cùng quan trọng,

nó được coi như thứ vũ khí tinh thần trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc ta ở thế kỷ XX Bám sát và phần nào chịu chi phối bởi đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng Sản Việt Nam nên dòng ca khúc này luôn phản ánh cuộc sống hiện thực của cách mạng Và cũng trên diễn trình lịch sử ấy, nó phát sinh, phát triển để trở nên hoàn thiện hơn, xứng đáng với vai trò tiên phong trong việc cổ vũ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước

Sau chiến tranh, những âm hưởng của ca khúc cách mạng Việt Nam vẫn đồng hành cùng nhân dân ta bước vào giai đoạn mới và âm hưởng ấy không hề giảm đi giá trị vốn có của nó

Bước vào thời kỳ đổi mới, sự giao thoa văn hóa mang tính toàn cầu đã phần nào ảnh hưởng tới dòng ca khúc này Trong cuộc sống âm nhạc, riêng lĩnh vực thanh nhạc, nhiều thể loại ca khúc mới của các nước đã tràn vào nước ta một cách ồ ạt, đôi khi vượt khỏi tầm tay của các nhà quản lý Một dòng gọi là nhạc trẻ đã tái sinh phát triển mạnh mẽ, thậm chí chi phối mạnh

mẽ tới nền âm nhạc nước nhà Trong sự phát triển của dòng nhạc này, ngoài thành tựu đạt được là trẻ trung sôi nổi thì nhìn chung nó vẫn có sự lệch chuẩn

so với văn hóa truyền thống

Trong nhiều thể loại của dòng nhạc trẻ, có một nhánh vẫn nối tiếp được với truyền thống văn hóa, văn hóa dân tộc, đó là những ca khúc đương đại

mang yếu tố dân gian Những ca khúc này được gọi với tên là ca khúc dân

gian đương đại Sự hiện diện của ca khúc đương đại mang yếu tố dân gian

trong thời kỳ đổi mới, có thể coi đó là một sự điều chỉnh để hướng công

Trang 7

chúng tìm lại những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống Cao hơn, đó là giữ được bản sắc Việt Nam trong quá trình giao lưu văn hóa mang tính toàn cầu như hiện nay

Đánh giá đúng tầm ca khúc đương đại mang yếu tố dân gian trong giai đoạn hiện nay, đó là việc làm vô cùng cần thiết Với những lý do ấy đã hướng

chúng tôi làm luận văn với tiêu đề: Yếu tố dân gian trong ca khúc đương đại

Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề

Đã có nhiều cuộc hội thảo, bài luận và công trình có liên quan ít nhiều đến ca khúc dân gian đương đại, tiêu biểu là:

- Hội thảo khoa học Âm nhạc Việt Nam thách thức và đổi mới, do Hội

Nhạc sĩ Việt Nam và Viện Âm nhạc tổ chức vào tháng 7 năm 2000 đã được in

thành kỷ yếu Hội thảo khoa học Phát triển âm nhạc truyền thống ý nghĩa văn

hóa và thành tựu, do Bộ Văn hóa - Thông tin Hà Nội tổ chức tháng 6 năm 2004

Nội dung hai cuộc hội thảo chủ yếu nêu ra thực trạng ca khúc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới là ít tính ta nhiều tính Tây và những hiện tượng cầm nhầm bản quyền của các tác giả Việt Nam không còn là hiếm gặp Bên cạnh

đó là những giải pháp làm thế nào để tăng cường chất Việt trong ca khúc Việt trong giai đoạn hiện nay

- Luận văn thạc sĩ Văn hóa học của Trần Bảo Lân (2007) với tiêu đề

Những yếu tố dân gian trong ca khúc Việt Nam thời kỳ đổi mới, Viện nghiên

cứu Văn hóa, tác giả đã chỉ ra một số yếu tố dân gian mà các nhạc sĩ hiện nay hay sử dụng trong ca khúc của họ

- Nhiều bài báo của không ít các tác giả chủ yếu đánh giá về những mặt

được và chưa được của chương trình Bài hát Việt trên phương diện: âm nhạc, trang phục, phối khí, phong cách biểu diễn… Đặc biệt bài Ca khúc dân gian

Trang 8

đương đại của Dương Anh, trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, tác giả chỉ rõ về

thực chất thế nào là ca khúc dân gian đương đại

- Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học của Bùi Đức Nghĩa (2012) với tiêu đề

Ca khúc dân gian đương đại trong chương trình Bài hát Việt (2005 - 2011),

Viện Nghiên cứu Văn hóa Luận văn này mới chỉ tiếp cận với một số lượng

rất ít ca khúc trong chương trình Bài hát Việt Cũng giống như luận văn của

Trần Bảo Lân, luận văn của Trần Đức Nghĩa mặc dù có chỉ ra một số yếu tố dân gian trong ca khúc, nhưng chưa giải thích được nguyên nhân xuất hiện của các yếu tố dân gian đó Nói cách khác, các hiện tượng biểu hiện trong ca khúc chưa được tác giải tiếp cận dưới phương diện của văn hóa học

Như vậy, có thể nói những bài hội thảo, công trình, bài báo trên, dẫu có nhìn ở góc độ rộng hay ở góc độ hẹp đã có không ít vấn đề được đề cập đến

ca khúc đương đại Việt Nam

Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có công trình nào tiếp cận dưới lăng kính của văn hóa học về yếu tố dân gian trong ca khúc đương đại Việt Nam Dẫu sao, những công trình nghiên cứu, những bài luận của các tác giả đi trước vẫn là cơ sở tầng nền, là nguồn tài liệu vô cùng quý báu giúp chúng tôi thực hiện luận văn này

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu chính của luận văn là tìm ra một số biểu hiện của văn hóa truyền thống Việt Nam trong ca khúc đương đại Việt Nam Nhìn sâu hơn, đó là việc lý giải sự nối tiếp ấy chỉ có thể xây dựng trên cơ sở tầng nền của truyền thống văn hóa Việt Nam Bên cạnh đó, để làm rõ hơn, luận văn sẽ chỉ ra sự tác động của lịch sử, xã hội… là các yếu tố đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự hình thành những nét riêng có của những ca khúc đương đại mang yếu tố dân gian

Trang 9

Thông qua loại ca khúc này, tác giả luận văn muốn nêu bật những giá trị văn hóa cũng như vai trò của nó đói với sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay Qua đó, luận văn sẽ gợi mở một cách nhìn về bước đường tiếp theo của

ca khúc Việt Nam trên dòng chảy của nền văn hoaa âm nhạc mang bản sắc dân tộc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là những yếu tố dân gian thể hiện trong ca khúc đương đại Việt Nam Chúng tôi xin được nói thêm, chính yếu tố dân gian được các nhạc sĩ đưa vào ca khúc đã tạo nên một loại mới đó

là ca khúc dân gian đương đại Và trong luận văn này, từ đây chúng tôi lấy tên

Ca khúc dân gian đương đại để gọi thay cho ca khúc đương đại mang yếu tố dân gian

Vì vậy, đối tượng để khảo sát sẽ là ca khúc dân gian đương đại Những

ca khúc mang âm hưởng hay màu sắc của âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam Những ca khúc khác không nằm trong đối tượng nghiên cứu chính của luận văn này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn này chỉ nghiên cứu những yếu tố dân gian trong ca khúc đương đại Việt Nam từ 1990 đến nay Ca khúc đương đại Việt Nam, về số lượng ca khúc có thể lên tới hàng nghìn tác phẩm Do việc thu thập tư liệu khó khăn, mặt khác yếu tố dân gian cũng xuất hiện trong thể loại nhạc trẻ nhưng không đậm nét Do đó, trong luận văn này, để vấn đề không bị loãng, không trùng với các đề tài khác đã thực hiện, nên chúng tôi chỉ nghiên cứu

(chủ yếu trên phương diện văn bản) những ca khúc dân gian đương đại tiêu

Trang 10

biểu Cụ thể, đó là những bài hát được sáng tác, xuất bản trong khoảng 15

năm gần đây, chẳng hạn: Thơ tình của Núi (2003) của Đào Ngọc Dung; Bài

hát Việt từ 2005 đến 2011, sách của nhà xuất bản Âm nhạc; đĩa CD của một

số nhạc sĩ…

Do tính chất, yêu cầu của nội dung nghiên cứu nên những làn điệu dân

ca, dân nhạc, ca khúc cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, dù không nằm trong phạm vi của luận văn, nhưng nó sẽ được nhắc đến với vai trò là tài liệu tham khảo, coi như yếu tố đối sánh nhằm làm sáng tỏ phần nghiên cứu

Các tác phẩm khí nhạc, ca khúc thiếu nhi, hợp xướng, thanh xướng kịch, không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Ca khúc dân gian đương đại là sản phẩm văn hóa của các nhạc sĩ Việt Nam được phát triển trong thời kỳ mới và nó cũng là một trong những thành

tố của văn hóa Việt Nam

Vậy nên, luận văn tất yếu phải dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Cụ thể hơn, là trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng trong luận văn này là phương pháp nghiên cứu văn hóa học Trong đó, có sử dụng cả phương pháp nghiên cứu liên ngành với âm nhạc học, lịch sử học, xã hội học, tâm lý học, tiểu sử học, mỹ học…

Trang 11

6 Đóng góp của luận văn

Từ cách phân tích, khái quát rồi đánh giá, chúng tôi hy vọng luận văn

sẽ đưa ra một số nhận xét có cơ sở về sự tiếp nối của ca khúc dân gian đương đại với văn hóa truyền thống Việt Nam Nhận xét đúng hay sai luôn là việc diễn ra trong nghiên cứu khoa học, nhưng có lẽ đây cũng là những kiến giải mới mà rất ít công trình đề cập tới

Thông qua việc đánh giá đó, chúng tôi sẽ chỉ ra và khẳng định ca khúc dân gian đương đại là một hiện tượng văn hóa, không phải ngẫu nhiên xuất hiện Sự hiện diện của nó là hệ quả tất yếu của cả một quá trình tiếp biến văn hóa dựa trên cơ sở tầng nền truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam

Dưới góc độ hẹp, luận văn có thể gợi mở một cách tư duy sáng tác trong lĩnh vực ca khúc ở giai đoạn tiếp theo Đó là cách điều tiết về liều lượng giữa yếu tố nội, ngoại sao cho vừa có tính dân tộc, vừa phù hợp với nhịp điệu cuộc sống đương đại Đó cũng là cơ sở, gợi mở cho một số nhạc sĩ trẻ tìm về với mạch nguồn văn hóa dân tộc, để có những sáng tác vừa mang hơi thở của thời đại, vừa đậm đà bản sắc Việt Nam

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn có bố cục 3 chương:

Chương 1: Ca khúc mới, ca khúc mang phong cách dân gian và ca

khúc dân gian đương đại

Chương 2: Những biểu hiện của yếu tố dân gian trong ca khúc dân

gian đương đại Việt Nam

Chương 3: Những giá trị của ca khúc dân gian đương đại

Trang 12

Chương 1

CA KHÚC MỚI, CA KHÚC MANG PHONG CÁCH DÂN GIAN

VÀ CA KHÚC DÂN GIAN ĐƯƠNG ĐẠI

Ca khúc mới mang phong cách dân gian và ca khúc dân gian đương đại (mục Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu chúng tôi đã giới thuyết),

đó là hai loại được sáng tác ở hai thời điểm khác nhau Nó không phải là những bài hát dân ca trong dân gian, mà hai loại này đều được các nhạc sĩ sáng tác theo kiểu khúc thức và kết cấu của phương Tây Hai loại này đều nằm trong dòng chảy của dòng ca khúc Việt Nam nói chung Bởi thế, muốn biết được chúng có cội nguồn từ đâu và trong nội dung bao chứa những gì thì điều tất yếu phải khảo sát chúng thông qua một tầng nền là dòng ca khúc mới Việt Nam

1.1 Sơ lược sự hình thành ca khúc mới Việt Nam

1.1.1 Mấy nét bối cảnh xã hội những năm đầu thế kỷ XX

Những năm đầu thế kỷ XX, khi cơ bản hoàn thành cuộc xâm lược và bình định bằng quân sự, thực dân Pháp tiếp tục thực hiện chính sách khai thác khoáng sản ở Việt Nam cũng như các nước thuộc địa ở Đông Dương để đưa

về chính quốc Bên cạnh khai thác về kinh tế, thực dân Pháp còn tăng cường

áp đặt thêm các biện pháp, chính sách về chính trị, văn hóa, giáo dục Để thực hiện ý đồ đó, chúng thẳng tay đàn áp những phong trào yêu nước của nhân dân ta Bên cạnh đó là thực hiện chính sách chia để trị, đồng thời xây dựng và lôi kéo bộ máy địa chủ cường hào ở nông thôn làm tay sai cho chúng Ở các thành phố lớn, một số trường học được mở, đây là cái nôi đào tạo công chức lành nghề để phục vụ cho việc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Với thanh niên, chúng tìm cách để đưa họ vào con đường ăn chơi, gieo rắc trong tâm lý tính tự ti dân tộc

Trang 13

Cũng năm tháng này, bằng chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn ở mọi lĩnh vực đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai tầng sâu sắc: giai cấp nông dân, công nhân, địa chủ phong kiến, tư sản và tầng lớp tiểu

tư sản [26, tr 82] Trong xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấp sâu sắc, thì làn sóng cách mạng trên thế giới phát triển đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức của nhiều người dân Việt Nam Đảng cộng sản ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nối tiếp nhau ra đời Tháng 2 năm 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập ở Matxcơva; năm 1920 Đảng cộng sản Pháp ra đời; năm 1921

là Đảng cộng sản Trung Quốc… Ở Việt Nam, nhiều sự kiện liên tiếp nổ ra như bãi công ở Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng, Ba Son… Đặc biệt, ba tổ chức Cộng sản được hợp nhất thành một tổ chứ duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930 Ngay sau khi thành lập, Đảng lãnh đạo nhân dân làm cao trào cách mạng 1930 - 1931 Sau đó, năm 1936 - 1939, Đảng chủ

trương thành lập Hội truyền bá chữ quốc ngữ ra đời, năm 1945 là sự ra đời

của Mặt trận Việt minh

Về lĩnh vực tư tưởng, trong khoảng thời gian này, thực dân Pháp ra sức gây tâm lý vong bản, khuyến khích mê tín dị đoan với nhân dân ta, bên cạnh

là việc xuất bản nhiều sách kiếm hiệp, gây dựng phong trào vui vẻ trẻ trung là việc mở nhiều tiệm nhảy để thu hút tầng lớp thanh niên, tiểu tư sản

Qua cách khái quát như trên, thì thấy:

Xã hội Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XX chứa đựng nhiều cung bậc, sắc màu khác nhau Xã hội ấy vẫn chịu sự chi phối bởi hai luồng tư tưởng, một bên là của thực dân Pháp - cố dùng áp lực

về cả mặt quân sự, chính trị và văn hóa để đô hộ đất nước ta Một bên là truyền thống yêu nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, bằng mọi giá phải giành cho được quyền dân chủ, dân sinh [34, tr.22]

Trang 14

Rõ ràng những năm tháng ở đầu thế kỷ XX, nước ta “chưa có một hệ tư

tưởng nào được khẳng định và mang tính thống soái cho mọi giai cấp, mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội” [36, tr.27] Chính vì điều này đã tạo cơ hội

cho các yếu tố văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp đã ồ ạt tràn vào nước ta theo nhiều con đường khác nhau Thời gian đó, ở nước ta bước vào cao trào của quá trình tiếp biến văn hóa trên nhiều phương diện

1.1.2 Tiếp biến văn hóa âm nhạc những năm đầu thế kỷ XX

Chúng tôi hoàn toàn nhất trí, khí có nhà nghiên cứu nhìn nhận một cách khách quan và logic về hệ quả của hiện tượng văn hóa mới, trong đó có âm nhạc mới Việt Nam như sau:

Trên dòng chảy của lịch sử thì bất cứ ở giai đoạn nào, văn hóa dân tộc luôn làm giàu cho chính sắc diện của nó bằng sự bồi đắp những yếu tố ngoại sinh Văn hóa âm nhạc cũng không nằm ngoài quy luật

đó, nó luôn là yếu tố động, cho dù hình thức vận động của nó có thể

là sôi động hay thầm lặng Và, bất kỳ một hiện tượng văn hóa mới nào xuất hiện, chúng đều là hệ quả tất yếu của cái truyền thống và cái ngoại sinh Một hiện tượng văn hóa - âm nhạc mới ở thế kỷ XX cũng là một quá trình chọn lọc, chắt lọc giữa văn hóa âm nhạc Việt Nam và văn hóa âm nhạc phương Tây [34, tr.22]

Điều đó cho thấy, sự xuất hiện của ca khúc mới Việt Nam là cả một quá trình dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau Những yếu tố đó, đầu tiên phải kể đến sự xâm nhập của âm nhạc phương Tây - chủ yếu là âm nhạc Pháp

vào nước ta theo con đường truyền đạo, mà mầm mống sâu xa đã có từ những

thế kỷ trước, nhưng chưa có ảnh hưởng mạnh mẽ ở nước ta Nhà nghiên cứu

âm nhạc Nguyễn Thụy Loan cho rằng:

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhờ ưu thế nhất thời về quân sự, thế lực của quân xâm lược được củng cố, đạo Gia tô có điều kiện

Trang 15

bành trướng và âm nhạc của nó mới dần dần phát huy ảnh hưởng trong một phạm vi sâu rộng hơn [76, tr.79]

Thực tế ở nước ta những năm đầu thế kỷ XX, tại nhiều thành phố, thị trấn và vùng nông thôn đã có thêm một số nhà thờ của công giáo Những nhà thờ quy mô lớn và vừa, hầu như đều có phường nhạc Tây Nhiệm vụ chính của các phường nhạc này là tấu nhạc phục vụ những cuộc rước, cuộc tế trong nhà thờ, hoặc tham gia vào các hoạt động vui vẻ khác ở phạm vi cho phép Ngoài ra, nhà thờ của Gia tô giáo cũng xây dựng những dàn đồng ca thường hát trong các buổi lễ và buổi chầu

Để đạt mục đích truyền đạo được sâu rộng hơn, thực dân Pháp đã mở nhiều trường dòng Đây cũng là nơi mà người Pháp truyền bá kiến thức âm nhạc cho một số người Việt Không chỉ vậy, nhiều nhà thờ công giáo còn thuê thấy huấn luyện đội kèn để có thể chơi được những tác phẩm cổ điển phục vụ cho các buổi hành lễ Ngoài nhiệm vụ trong nhà thờ, đội kèn còn thường xuyên tham gia biểu diễn ở một số điểm trung tâm thuộc các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng… Bên cạnh con đường truyền đạo, âm nhạc phương Tây - chủ yếu là âm nhạc Pháp - còn vào nước ta bằng nhiều con đường:

Theo con đường quân sự là các đội nhạc nhà binh Các đôi nhạc này,

nhiệm vụ chính là chấn chỉnh giờ giấc trong quân ngũ, tạo ra không khí trang nghiêm trong những buổi đón tiếp các chính khách Ngoài ra, ở các thành phố lớn, đội nhạc nhà binh thường tổ chức biểu diễn theo định kỳ tại các nhà kèn Không chỉ trong khuôn khổ âm nhạc nhà binh, các đội nhạc này còn biểu diễn nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ nổi tiếng thế giới Hoạt động của các đội nhạc nhà binh cũng thu hút được sự hiếu kỳ của công chúng

Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu: “Thậm chí ở một số thành phố, loại

nhạc này còn đến với dân chúng Việt Nam thường xuyên hơn cả âm nhạc công giáo” [76, tr.81] Điều đó cho thấy, đội nhạc nhà binh đã có ảnh hưởng

Trang 16

lớn đến công chúng Việt Nam, từ cách nghe đến việc sử dụng các loại nhạc khí phương Tây sau này

Theo con đường nhà trường và phong trào hướng đạo sinh, những năm

20 của thế kỷ XX, nhiều trường Việt - Pháp đã được mở Các trường này thường quan tâm đến các tổ chức hướng đạo Ngoài việc truyền bá kiến thức chung, người học còn lĩnh hội được nhiều kiến thức về âm nhạc như: lý thuyết âm nhạc cơ bản, ký - xướng âm, cùng cách hát theo kiểu kinh điển châu Âu Bên cạnh đó, để gây sự hứng thú cho học sinh, nhà trường thường đưa vào những bài hát mang chất vui tươi Bên cạnh đó, phong trào hướng đạo cũng là công việc mà người Pháp chú trọng nhiều Thông qua các hoạt động như cắm trại, hoạt động đoàn thể, họ còn dạy thêm nhiều bái hát nhạc nhẹ và một số ca khúc nhạc nhẹ phương Tây đã dần ngấm vào tâm thức của nhiều người dân Việt Nam

Một con đường nữa mà âm nhạc Pháp vào Việt Nam là thông qua nghệ

thuật điện ảnh và các phương tiện thông tin, kỹ thuật truyền thanh Để khán

giả đến rạp hát đông hơn, thường trước hoặc sau lúc chiếu phim đều có chương trình hòa nhạc Những năm 30 của thế kỷ XX, khi phim bắt đầu có

âm thanh và lời thoại thì những bài hát trong phim luôn có sức cuốn hút người xem Qua đó, khán giả phần nào hình dung được diện nạo của một ca khúc Bên cạnh điện ảnh các hãng Victor, Odeon, Pathe, Beka… thi nhau sản xuất máy hát và đĩa hát Riêng với việc bán các loại đĩa nhạc của châu Âu, nhiều ông chủ đã phần nào đánh đúng tâm lý “sùng ngoại” của người dân Việt Nam

Âm nhạc Tây ngấm dần và “làm không ít người say đắm giọng hát của Tino Rossi, Joséphine Barker nên nhiều nơi “đã thành lập ra cả những hội ái Ti nô” [76, tr.83]

Theo những cứ liệu mà chúng tôi tóm tắt ở trên thì thấy rằng, âm nhạc Pháp thực sự như làn sóng tràn vào nước ta một cách mạnh mẽ Nhận định về

Trang 17

hiện tượng này, có nhiều nhà nghiên cứu cho đó là một cuộc xâm lăng về văn hóa âm nhạc Trước tình hình đó, người Việt Nam đành phải chấp nhận nhưng theo một cách rất Việt Nam Sống chung, biết dung hòa và luôn biết biến cái bất lợi thành cái có lợi, để phục vụ cho cuộc sống của mình

Thế là một quá trình tiếp cận không tự giác của người Việt Nam với âm nhạc phương Tây bắt đầu… Tiếp xúc dần, nhiều lần sẽ ngấm, ngấm rồi cũng dần nhận ra được cái hay, cái hữu ích của nó đối với con người, xã hội Và từ đấy người Việt bắt đầu thể hiện đúng cái bản chất của mình: thực hiện một quá trình biến cải tự giác hoặc không tự giác Có thể tóm lược quá trình này theo các bước: phong trào lời Ta điệu Tây, phong trào cải cách sân khấu cổ truyền và cuối cùng là bước nhạc Ta lời Ta - ca khúc mới (còn gọi là âm nhạc cải cách, tân nhạc) ra đời [36, tr.35]

1.1.3 Sự ra đời của âm nhạc mới

Sau khi du nhập vào nước ta một thời gian, âm nhạc Pháp đã ngấm dần trong công chúng đất Việt và cũng bắt đầu từ đó diễn ra một quá trình Việt hóa Đầu tiên là phong trào đặt lời Ta theo điệu Tây Phong trào này lan tràn nhanh chóng khắp nơi, từ trường học tới công sở, từ thành thị tới thôn quê,

“thậm chí nó xâm nhập ngay cả sân khấu cải lương mà không ai cảm thấy khó chịu” [76, tr.27] Cùng với phong trào này, ở chiều sâu của nó một “nhu cầu sáng tác bài hát mới theo phong cách của âm nhạc châu Âu đã âm ỷ ngay

từ khi âm nhạc châu Âu đã vững chân trong đời sống nghệ thuật ở Việt Nam”

[45, tr.52]

Điều đáng quan tâm là trong những năm tháng này, các chiến sĩ cộng sản luôn ý thức rằng: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận và họ đã dùng văn hóa nghệ thuật như là một phương tiện để tuyên truyền cho cách mạng Chính do nhu cầu phục vụ cách mạng mà dòng ca khúc này, trong quá trình

Trang 18

phát triển có những điểm giống và điểm khác với trào lưu âm nhạc cải cách Giống là bước khởi đầu của nó cũng dùng lời mới để phổ cho điệu nhạc cũ (Điệu nhạc cũ là: các làn điệu dân ca trong kho tàng âm nhạc cổ truyền dân tộc hoặc là những bài ca cách mạng nổi tiếng của phương Tây)

Việc dùng lời mới đặt trên điệu cũ, về cơ bản nó diễn ra có phần giống như trào lưu âm nhạc cải cách, nhưng khác nhau về thái độ tiếp cận và tiếp nhận văn hóa Đó là cách thức tiếp thu âm nhạc phương Tây của những người cộng sản thường mang tính chủ động, có chọn lọc [36, tr.42]

Nhìn nhận một cách tổng thể thì thấy: do sự thúc đẩy của phong trào phát triển rộng khắp, mặt khác để đáp ứng kịp thời và đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp cách mạng, muốn hay không tất yếu các bài ca cách mạng phải ra đời

Và năm 1930, bài Cùng nhau đi hồng binh của Đinh Nhu ra đời, lịch sử đã

ghi nhận đây là ca khúc đầu tiên của dòng ca khúc cách mạng và cũng là ca khúc đầu tiên của dòng âm nhạc mới Việt Nam Sau bài hát nổi tiếng này còn

có nhiều sáng tác của các tác giả khuyết danh như Nội chiến, Tiến quân…

Như vậy, dòng ca khúc cách mạng Việt Nam ra đời, ngoài việc đáp ứng được yêu cầu của cách mạng, của đại đa số tầng lớp nhân dân, nó còn phản ánh một thái độ tiếp nhận văn hóa “ngoại lai” của những người chiến sĩ cộng

sản Việt Nam “Một thái độ tiếp nhận văn hóa nằm trong truyền thông vốn có

của người Việt Nam, luôn trong dạng thức mở, nhưng có định hướng, không quá cực đoan, cũng không quá sùng ngoại” [36, tr.46]

1.2 Mấy nét về quá trình phát triển của ca khúc mới Việt Nam

Sau khi Cùng nhau đi hồng binh của Đinh Nhu được ra đời thì cuối

những năm 30 của thế kỷ XX phong trào sáng tác ca khúc mới ở Việt Nam đã

có bước phát triển mạnh mẽ và có sự phân chia thành từng dòng rõ ràng Mỗi dòng phản ánh rõ thái độ tư tưởng, chính trị của các tác giả trong bối cảnh lịch

sử lúc bấy giờ

Trang 19

1.2.1 1930 đến 1954

1.2.1.1 Dòng ca khúc lãng mạn

Mặc dù xu hướng lãng mạn trong văn học nghệ thuật đã có mầm mống

từ trước những năm 30 của thế kỷ XX, nhưng sau cao trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh nó mới hội đủ yếu tố để phát triển Khi cao trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh và phong trào cách mạng tạm lắng xuống, bên cạnh đó là sự tác động của khủng hoảng kinh tế Năm 1932, phong trào Thơ mới và văn chương Tự lực văn đoàn ra đời, từ đó xu hướng lãng mạn mới thực sự ra đời ở Việt Nam

Nó là tiếng nói của giai cấp tư sản dân tộc và một bộ phận tiểu tư sản trí thức đã rút khỏi con đường đấu tranh chính trị với đế quốc, mong thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc bằng mấy câu thơ ca, một vài bài văn chương hay một vài bộ tiểu thuyết, một vài tờ báo có tính chất cải lương [11, tr.8]

Với âm nhạc mới, cuối những năm 30 đầu những năm 40 của thế kỷ

XX đã xuất hiện nhiều ca khúc lãng mạn: Bẽ bàng, Bóng ai qua thềm, Tiếng

sáo chăn trâu của Văn Chung; Xuân năm xưa của Lê Thương; Gió thu, Tiếng hát đêm thu, Biệt ly của Doãn Mẫn; Con thuyền xa bến của Lưu Bách Thụ; Thiên Thai của Văn Cao; Người đẹp, Vườn xuân, Bướm hoa của Nguyễn Văn

Thương… Nhìn chung các nhạc sĩ trong thời gian này thường khai thác về cái buồn trong thiên nhiên Nói cách khác, cái tôi chủ quan ít được bộc lộ mà nhường chỗ cho tình cảm khách quan Nhưng suy cho cùng, đó vẫn là sự thoát ly, thoát tục trong cảnh sắc thiên nhiên để xoa dịu đi nỗi đau do hoàn cảnh lịch sử đem lại

Dẫu đa phần các tác giả có gửi gắm tâm hồn vào phong cảnh thiên nhiên, nhưng không phải hoàn toàn như vậy Vẫn có những lúc họ như các tác giả của dòng ca khúc hoài vọng lịch sử hay dòng ca khúc cách mạng, cũng nghĩ tới những đề tài về quá khứ xưa của dân tộc, tất nhiên nổi lên vẫn là

Trang 20

cung bậc bi thương Những đề tài về quá khứ xưa của dân tộc lại thường gắn

và mang đậm yếu tố dân gian Nói cách khác, dẫu quan điểm sáng tác của các tác giả âm nhạc lãng mạn có xa rời cuộc sống hiện tại thì họ vẫn ý thức đưa được những yếu tố dân gian vào trong tác phẩm Những biểu hiện rõ nhất, đó

là Hòn vọng phu của Lê Thương, Trầu cau của Phan Huỳnh Điểu, Sơn Tinh -

Thủy Tinh của Trương Quang Định, Trương Chi của Văn Cao; Thằng Bờm, Con cò, Con voi của Nguyễn Xuân Khoát; Thằng Cuội của Lê Thương; Con còn mày đi ăn đêm của Văn Chung; Con mèo mà trèo cây cau của Lê Yên…

Ngoài yếu tố dân gian thì đề tài về thôn dã cũng được các tác giả lãng

mạn chú ý khai thác như Tôi đi cấy, Tiếng hát chăn trâu của Văn Chung;

Chiều quê, Cô láng giềng của Hoàng Quý; Cô lái đò của Nguyễn Đình Phúc

(thơ Nguyễn Bính); Cô hái mơ của Phạm Duy (thơ Nguyễn Bính)…

Như vậy có thể nói rằng, dòng ca khúc trữ tình lãng mạn này, có một số bài trong nội dung của nó đã mang ít nhiều yếu tố dân gian Do nhu cầu cuộc cách mạng của dân tộc đến giáp năm 1945, dòng ca khúc này mới tạm thời lắng xuống để nhường chỗ cho dòng ca khúc cách mạng

1.2.1.2 Dòng ca khúc yêu nước tiến bộ

Dòng ca khúc này, quá trình ra đời có mối liên hệ chặt chẽ với dòng ca khúc lãng mạn trên các phương diện: cả hai dòng đều nằm trong phong trào lời Ta điệu Tây Các tác giả tiêu biểu đều là người viết của dòng tiến bộ yêu nước và lãng mạn Nhưng có những điểm khác nhau cơ bản:

Nếu dòng ca khúc lãng mạn “là tiếng nói tiêu cực của một bộ phận trung gian trong xã hội thuộc địa… thì dòng ca khúc yêu nước tiến bộ (còn gọi là dòng ngưỡng vọng lịch sử) là tiếng nói đấu tranh của một bộ phận tiến bộ trong các tầng lớp thanh niên, tri thức [45, tr.91]

Trang 21

Dòng ca khúc này chưa có bạn đồng hành tương xứng là văn chương Nội dung chủ yếu là tiếc nuối những trang sử vẻ vang của dân tộc mà không mạnh mẽ dám chỉ ra con đường đấu tranh Chính vì thế nhà nghiên cứu

Nguyễn Đăng Nghị gọi dòng ca khúc tiến bộ yêu nước là dòng ngưỡng vọng

lịch sử là có lý Tuy nhiên, thể hiện tình cảm của dân tộc, lòng yêu nước và ý

tưởng dấn thân vì nghĩa cả là khuynh hướng nghệ thuật và nội dung nghệ thuật mang tính nhất quán của dòng ca khúc này

Ngoài việc đề cập tới nội dung lịch sử như Bạch Đằng giang, Ải Chi

Lăng, Hội nghị Diên Hồng của Lưu Hữu Phước; Trên sông Bạch Đằng, Bóng

cờ lau của Hoàng Quý; Gò Đống Đa, Thăng Long hành khúc của Văn Cao …

thì nhiều cốt truyện trong dân gian như giống Lạc Hồng, giống tiên rồng… cũng được các tác giả khai thác

Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách khái quát thì dòng ca khúc này khai thác yếu tố dân gian ít hơn dòng ca khúc lãng mạn Giống như ca khúc lãng mạn đến gần năm 1945, dòng ca khúc hoài vọng lịch sử đã hòa chung vào dòng chảy của dòng ca khúc cách mạng

1.2.1.3 Dòng ca khúc cách mạng

Dòng ca khúc cách mạng là sản phẩm tinh thần của những người cộng sản Bởi vậy, ngay từ khi được lịch sử công nhận ra đời vào năm 1930, nó đã thực sự là một trong những công cụ tuyên truyền đường lối cách mạng của Đảng Nói như thế không có nghĩa dòng ca khúc này hoàn toàn loại bỏ yếu tố nghệ thuật mà từng bước phát triển của nó luôn được bồi đắp những nhân tố mới để ngày càng được hoàn thiện hơn về kỹ thuật sáng tác cũng như phương thức phản ánh

Con đường phát triển ở những năm tháng đầu có thể coi đó là “bước đi chập chững đầu tiên” Những bước đi này từng được nuôi dưỡng bằng cả một

Trang 22

quá trình tự điều chỉnh và biến cải những yếu tố nội - ngoại sinh” [34, tr.36] Dòng ca khúc cách mạng có một cơ sở tầng nền vững chắc là văn hóa âm nhạc cổ truyền dân tộc Đặc biệt, nó còn có sự cận kề đáng tin cậy của dòng

âm nhạc ngưỡng dòng lịch sử cũng như dòng thơ ca cách mạng Tất cả những điều đấy đã tạo cho diện mạo ca khúc cách mạng những ngày đầu mang tính dân gian nhiều hơn tính chuyên nghiệp cả về phương thức sáng tác (tập thể, thậm chí là khuyết danh) và nội dung ca từ Vì mục đích của tác giả bài hát là

ca từ của họ làm ra phải ngắn gọn, phải dễ nhớ, dễ thuộc và dễ hiểu

Chặng đường lịch sử 15 năm (1930 - 1945) đất nước với bao biến cố, đó

đã là động lực thúc đẩy các chiến sĩ viết nên những bài ca cách mạng: Cùng

nhau đi hồng binh (Đinh Nhu); Tam bình, Tiến quân (Trần Văn Úc); Ủng hộ Liên Xô, Hò la, Không khuất phục, Cờ Việt minh (Vương Gia Khương); Chiều

tù, Quảng Châu công xã, Du kích ca (Đỗ Nhuận); Phất cờ Nam tiến (Hoàng Văn

Thái)… là những dấu son đầu tiên trên đường phát triển của dòng ca khúc cách mạng Việt Nam Và cũng xin nói thêm rằng, những năm tháng đầu tiên này, chất liệu cũng như yếu tố dân gian được thể hiện trong ca khúc còn khá mờ nhạt, cho

dù đôi lúc (cũng có khi là vô thức) tác giả bài hát “đã biết kết hợp với những âm

điệu gần gũi, quen thuộc trong âm nhạc cổ truyền với những âm điệu mới hùng tráng kiểu kèn đồng hoặc những mô típ sáng khỏe của hợp âm trưởng trong thang âm 7 cung” [45, tr.162]

Sau cách mạng tháng Tám, nhân dân ta hưởng ngày vui độc lập chưa được bao lâu thì cả dân tộc lại bắt đầu bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống sự xâm lược của thực dân Pháp Thời kỳ này, mọi hoạt động văn hóa đều hướng tới phương châm: “tất cả cho tiền tuyến” Nhiều định hướng cụ thể cho hoạt động văn nghệ đã được đưa ra thông qua các hội nghị Năm 1948, tổ chứ Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất tại Việt Bắc Trong hội nghị

đồng chí Trường Chinh đọc bản báo cáo với tiêu đề Chủ nghĩa Mác và vấn đề

Trang 23

văn hóa Việt Nam Năm 1951, trong thư gửi các họa sĩ nhân triển lãm hội họa,

Hồ Chủ tịch đã khẳng định: Văn hóa cũng là một mặt trận và xác định rõ vị trí của họ chính là người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa nghệ thuật ấy Trong mục

Báo cáo Xây dựng văn nghệ nhân dân Việt Nam trình đại hội Đảng toàn quốc

lần thứ hai (tháng 2 năm 1951), Đảng ta chỉ rõ, phải làm gì để nâng cao giá trị

tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật cho các tác phẩm Đó là:

Phải đi sâu vào thực tế các tầng lớp nhân dân và đặc biệt là quần chúng công, nông, binh trong vùng tự do cũng như vùng tạm chiếm, miền xuôi và cả miền núi Phải phát triển vốn văn nghệ cũ dân tộc

mà trước hết là khia thác và hướng dẫn sử dụng nó Tuy nhiên, tính dân tộc của nghệ thuật không nên đóng khung trong khuôn khổ một quốc gia mà phải phát triển cùng với cái vốn chung của thế giới Đối với những hình thức nghệ thuật của nước ngoài đến với nước ta thì cần cải biên cho hợp lý với dân ta, phải trải qua một thời kỳ phổ biến trong quần chúng và được sự tham gia tích cực của quần chúng thì mới biến thành nghệ thuật dân tộc [7, tr.75 - 80]

Với những định hướng như trên thì dòng ca khúc cách mạng muốn hay không vừa phải đáp ứng yêu cầu của cuộc sống thực tế là cách mạng và kháng chiến vừa tưng bước phải tự hoàn thiện mình Bên cạnh hành khúc đã có từ trước thì dòng ca khúc này bắt đầu xuất hiện thêm một số thể loại mới như

Chính ca: Chào mừng Đảng Lao động Việt Nam (Đỗ Minh), Biết ơn cụ Hồ

Chí Minh (Lưu Bách Thụ), Ca ngợi Hồ Chủ Tịch (Lưu Hữu Phước và Nguyễn

Đình Thi)…; Trường ca: Sông Lô (Văn Cao), Du kích sông Thao (Đỗ Nhuận),

Người Hà Nội (Nguyễn Đình Thi)…; Ca khúc trữ tình, mảng viết về đề tài

nông thôn cũng xuất hiện khá nhiều: Pha màu luống cày (Nguyễn Văn Tý),

Lên ngàn, Mùa lúa chín (Hoàng Việt), Con kênh xanh xanh (Ngô Huỳnh), Hò dân cày (Văn Chung), Gánh thóc về tự do (Huy Du), Ngày mùa (Văn Cao),

Trang 24

Mùa gặt (Văn An), Gặt nhanh tay (Hồ Bắc), Lúa mới (Nguyễn Đức Toàn), Nông dân vươn mình (Lưu Hữu Phước), Lúa thoái tô (Văn Ký), Đóng nhanh lúa tốt (Nhạc: Lê Lôi, Thơ: Huyền Tâm), Cấy chiêm (Nhạc: Tô Vũ, Lời:

Quách Vinh)… Những ca khúc trữ tình mảng viết về đề tài nông thôn, trong

đó đã chứa đựng khá nhiều những yếu tố dân gian

Có thể thấy rằng, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nội dung phản ánh của ca khúc cách mạng khá rộng lớn và đa dạng Điều đó cho thấy những năm tháng này ca khúc cách mạng đã phần nào có sắc thái dân tộc nhiều hơn Điều ấy hoàn toàn có thể lý giải như sau: muốn ca khúc lan tỏa nhanh chóng

và có tác dụng thực sự trong công chúng thì yếu tố văn hóa dân gian vùng miền được đưa vào các tác phẩm là vô cùng cần thiết Yếu tố đó có thể là thang âm - điệu thức, có thể là đường nét giai điệu của một bài dân ca nào đó, nhưng cũng có thể là phương ngữ… mà các nhạc sĩ thường tìm cách để đưa vào ca khúc, dễ gợi và tạo cho người nghe sự gần gũi thân quen

Đây là giai đoạn đất nước ta vừa có hòa bình vừa có chiến tranh, trong

đó có sự giao lưu văn hóa với các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa mà chủ yếu là thông qua văn hóa Nga Do bối cảnh lịch sử ấy nên dòng ca khúc cách mạng ở chặng đường này lại gánh vác trên nó một sứ mệnh lịch sử mới là: phản ánh nhiều mặt đời sống sản xuất, chiến đấu của nhân dân ta ở hai miền Nam - Bắc Mặc dù ở những năm tháng trước đó, ca khúc Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trên nhiều phương diện Trên bước đà đó,

Trang 25

ở chặng đường này nó lại được định hướng tiếp về mặt nghệ thuật thông qua

Đại hội Liên hoan văn công toàn quốc (6 - 1954) tại Thái Nguyên, Đại hội văn công khu tả ngạn khu III (10 - 1954) và Đại hội văn công toàn quốc (12 -

1954) tại Hà Nội… Cùng với việc xác định lại tư tưởng của văn nghệ sĩ, ca khúc cách mạng Việt Nam những năm tháng này đã thực sự có bước tiến vượt bậc, nó xứng đáng được ví như một pho sử bằng âm thanh ghi lại những diễn biến của công cuộc kháng chiến đất nước trên nhiều phương diện Nói cách khác, dòng ca khúc cách mạng đã thực sự lan tỏa trên một diện rộng cả về đề tài, cả về không gian, thời gian, đối tượng phản ánh nội dung và nghệ thuật

Về đối tượng phản ánh, đề tài về Đảng vẫn được đề cập ở cấp độ rộng

hơn, thể hiện qua ca khúc: Đảng đã cho ta cả mùa xuân (Phạm Tuyên), Lá cờ

Đảng (Văn An), Đảng là cuộc sống của tôi (Nguyễn Đức Toàn)… Hình ảnh

Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giản dị nhưng vô cùng vĩ đại cũng được khắc họa

khá thành công thông qua những ca khúc: Tiếng hát giữa rừng Pác Bó (Nguyễn Tài Tuệ), Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người (Trần Kiết Tường),

Người là niềm tin tất thắng (Chu Minh), Người sống mãi trong lòng miền Nam (Nguyễn Đồng Nai), Bác đang cùng chúng cháu hành quân (Huy Thục), Quà tháng 5 dâng Người (Hồng Đăng), Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên (Lê

Lôi), Chúng con bên giấc ngủ của Người (Nguyễn Đăng Nước),…

Chân dung anh bộ đội cụ Hồ là sự tiếp nối những gì tốt đẹp của anh vệ quốc quân năm xưa nhưng ở tầm cao, chính quy hơn và trưởng thành hơn

Nhiều ca khúc đã thể hiện thành công điều này: Pháo hành quân (Đức Minh),

Bay trên bầu trời Tổ quốc (Xuân Giao), Bài ca chiến sĩ xe tăng (Huy Du), Lướt sóng ra khơi (Thế Dương), Bài hát người lái xe (Nguyễn Đức Toàn), Ta

là chiến sĩ giải phóng quân (Văn Lưu - Triều Dâng), Chào anh giải phóng quân chào mùa xuân đại thắng, Người chiến sĩ ấy (Hoàng Vân), Chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi (Thanh Phúc - Hải Hồ), Bước chân trên dải Trường

Trang 26

Sơn (Vũ Trọng Hối - Tào Mạt), Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn (Hoàng Hà), Trên đỉnh Trường Sơn ta hát (Huy Du),…

Đề tài về người chiến sĩ hầu như quán xuyến trong toàn tuyến của ca khúc cách mạng Việt Nam ở chặng đường này Nhưng cuộc kháng chiến vĩ đại là của cả dân tộc, người miền xuôi, miền ngược, người miền Nam, miền Bắc, công nhân, nông dân, già trẻ, gái trai đều tham gia sản xuất và chiến đấu

Do vậy, nhiệm vụ của nhạc sĩ là phải phản ánh toàn diện với những con người điển hình ở mọi vùng miền với những công việc khác nhau đều được chọn lọc

để đưa vào ca khúc Chẳng hạn: Người Châu Yên em bắn máy bay (Trọng Loan), Những ánh sao đêm (Phan Huỳnh Điểu), Bài ca người thợ rừng (Phạm Tuyên), Cô gái mở đường (Xuân Giao), Những cô gái quan họ (Phó Đức Phương), Em là hoa Pơ lang (Đức Minh), Cô gái Sài Gòn đi tải đạn (Lư Nhất Vũ), Bài ca năm tấn (Nguyễn Văn Tý), Hai chị em (Hoàng Vân)… Rồi tình

cảm Bắc - Nam cũng không thiếu vắng trong dòng ca khúc này, điển hình là

Tình ca (Hoàng Việt), Trăng sáng đôi miền (An Chung), Câu hò bên bờ Hiền Lương (Hoàng Hiệp - Đằng Giao), Nhớ về quê mẹ (Vân Đông)…

Những diễn biến ở mặt trận miền Nam cũng được các nhạc sĩ phản ánh

qua lăng kính nghệ thuật thông qua các ca khúc: Giải phóng miền Nam,

Xuống đường, Tiến về Sài Gòn, Bài hát giải phóng quân (Huỳnh Minh

Siêng); Hành quân đêm, Xuân chiến khu, Bài ca may áo, Tiếng chày trên sóc

Bom Bo (Xuân Hồng); Mỗi bước ta đi, Bà mẹ miền Nam tay không thắng giặc

(Thuận Yến); Hành khúc giải phóng, Giờ hành động (Lưu Nguyễn - Long Hưng); Qua sông (Phạm Minh Tuấn); Rừng xanh vang tiếng ta lư (Phương Nam); Hành quân giữa mùa xuân (Cẩm La)…

Đề tài về các miền quê thời gian này càng được các nhạc sĩ quan tâm hơn bao giờ hết Nếu trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, hình ảnh của các miền quê

Trang 27

đã thấp thoáng đâu đó trong một số ca khúc của các nhạc sĩ thì quãng thời gian

về sau nó hiện lên rõ nét hơn với những địa chỉ cụ thể Nói cách khác, thời gian này các nhạc sĩ đã quan tâm nhiều đến những bài địa phương ca với phong cách

riêng Những tên địa danh được chắp cánh bay theo giai điệu âm nhạc: Quảng

Bình quê ta ơi (Hoàng Vân); Hà Tây quê lụa (Nhật Lai); Tiếng hò trên đất Nghệ

An (Tân Huyền), Tiếng hát sông Lam (Đinh Quang Hợp); Bài ca Hà Nội (Vũ

Thanh), Tiếng hát đảo quê hương (Phạm Đình Sáu), Những cô gái trên quê

hương Quan họ (Phó Đức Phương)…

Về ngôn ngữ âm nhạc và chất lượng nghệ thuật, phải nói rằng giai đoạn

kháng chiến chống Mỹ, có thể coi đó là mùa nở rộ nhất của ca khúc cách mạng Việt Nam Bởi thời gian đó, chúng ta đã có một đội ngũ sáng tác được trang bị kiến thức âm nhạc chuyên nghiệp Đội ngũ ấy luôn bám sát các miền quê, trận địa để phản ánh Do vậy, ngoài những bái hát có chứa tính thời sự, loại bài hát thiên về chất trữ tình và ca khúc nghệ thuật cũng có bước tiến đáng kể

Ngôn ngữ âm nhạc chủ yếu mang tính hào sảng nhưng chất trữ tình

trong giai điệu ngày càng biểu hiện nhiều hơn Đặc biệt chất liệu âm nhạc dân

gian được tiếp nhận, sử dụng một cách khéo léo không chỉ ở những bài viết

về các miền quê mà được thể hiện ở cả những bài hành khúc, chính ca và trữ tình… càng làm cho ngôn ngữ âm nhạc trong ca khúc trở nên gần gũi, thân quen với công chúng hơn và ngày càng mang đậm nét bản sắc văn hóa âm nhạc Việt Nam Đặc biệt thời gian này, trong dòng ca khúc cách mạng Việt Nam đã xuất hiện một thể loại mới mà giới nghiên cứu âm nhạc gọi là những

bài hát mang phong cách dân gian

1.2.2.2 Giai đoạn 1975 đến nay

Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đất nước ta hoàn toàn thống nhất, non sông được thu về một mối Dưới sự lãnh đạo của

Trang 28

Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta bắt đầu bước sang một giai đoạn mới: hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Ý chí quật cường và dư âm của cuộc chiến tranh vệ quốc đã ảnh hưởng sâu nặng đến giai đoạn này Ngọn lửa của lòng nhiệt tình cách mạng vẫn hừng hực rực cháy Nhưng sự nhiệt tình ấy khi chuyển sang lĩnh vực kinh tế là hoàn toàn chưa phù hợp, nó biểu hiện ở sự cực đoan, phiến diện, bảo thủ, trì trệ… và dẫn tới nhiều vấn đề tiêu cực trong quản lý, không hợp với quy luật chung của lịch sử, xã hội Những vinh quang, mất mát, những hy vọng, thất vọng, những nỗi buồn, niềm vui cứ xáo trộn day dứt và là điều trăn trở trong lòng nhiều người

10 năm xây dựng tổ quốc xây dựng chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, đời sống nhân dân đã có nhiều biến chuyển mạnh mẽ Dưới chế độ ưu việt, một không khí lao động, sáng tạo trong hòa bình, người tham gia góp sức vào công cuộc xây dựng đất nước Tuy nhiên, đây mới chỉ là điều kiện đầu tiên tạo đà cho sự phát triển văn hóa nghệ thuật, trong đó có âm nhạc Nhưng phải nhìn nhận thẳng thắn rằng mấy năm đầu của thời kỳ này vẫn còn sự o bế, e dè, nghe ngóng chưa có sự cởi

mở, tháo gỡ để cho kinh tế cũng như văn hóa nghệ thuật nước nhà phát triển

Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu một bước chuyển đổi về tư duy

nhận thức của Đảng trong thời kỳ mới Nền kinh tế quan liêu, bao cấp, bảo thủ được chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Về quan hệ ngoại giao, Việt Nam mở cửa đón nhận và làm bạn với nhiều nước trên thế giới nhưng trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của mỗi quốc gia, dân tộc Như vậy, đây là lần thứ 3 trong thế kỷ XX diễn ra quá trình giao lưu văn hóa Nếu như những năm đầu thế kỷ, giao lưu văn hóa theo kiểu

Trang 29

cưỡng chế - cưỡng bức - áp đặt của văn hóa phương Tây mà chủ yếu là văn hóa Pháp; và nếu như giữa những năm tháng của thế kỷ XX, giao lưu văn hóa mang tính tự nguyện, chủ yếu ảnh hưởng của văn hóa Nga thì thời kỳ đổi mới này cũng mang tính tự nguyện và đa chiều

Từ năm 1986 bắt đầu của thời kỳ kinh tế thị trường, thời kỳ của sự giao lưu văn hóa đã làm cho đất nước ta có những khởi sắc lớn lao Theo cách nói của các nhà kinh tế, chính trị gọi đây là thời kỳ đổi mới Đổi mới về

tư tưởng, đổi mới về các tư duy cũng như nhận thức… xuất phát từ đó mà đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi rõ rệt kể cả về mặt vật chất cũng như về tinh thần

Với âm nhạc, mà cụ thể ở đây là ca khúc vẫn phát triển mạnh mẽ cả về chất lượng và số lượng Chỉ có điều âm hưởng hào hùng của những năm tháng chiến tranh đã dần đi vào chiều sâu và nhường chỗ cho những âm hưởng trữ tình Những mất mát hy sinh của thời lửa đạn đã được các nhạc sĩ

đưa vào ca khúc như Màu hoa đỏ (nhạc: Thuận Yến, thơ: Nguyễn Đức Mậu),

Vết chân tròn trên cát (Trần Tiến)… Ngay cả với thể hành khúc, tính chất âm

nhạc thường hừng hực, mạnh mẽ có chút vô tư thì năm tháng này đã thấy có

thiên hướng hướng nội như Hát mãi khúc quân hành (Diệp Minh Tuyền), Mẹ

Việt Nam anh hùng (An Thuyên)…

Mảng ca khúc viết về đề tài các miền quê luôn tỏ ra có chất lượng và mang dấu ấn rõ rệt của các nhạc sĩ, cũng không có gì khác biệt lắm với những

ca khúc viết về miền quê ở giai đoạn trước Trong giai điệu và lời ca của nó

luôn mang đậm âm hưởng của dân gian vùng miền, chẳng hạn Tình đất đỏ

miền Đông (Trần Long Ẩn), Huyền thoại Hồ Núi Cốc (Phó Đức Phương), Dáng đứng bến tre, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh (Nguyễn Văn Tý), Nắng ấm quê hương, Đi tìm người hát lý thương nhau (Vĩnh An), Về Đồng Lê

(Trần Hoàn)…

Trang 30

Một điều đáng quan tâm nữa là ở giai đoạn này, bằng chính sách mở cửa giao lưu với nhiều nền văn hóa trên thế giới nên ca khúc Việt Nam không những phong phú về đề tài phản ánh như nó vốn có, mà còn có cả sự đa dạng

về cấu trúc và thể loại Thể loại nhạc nhẹ được định hình rõ nét và đang chiếm ưu thế trong việc thưởng thức âm nhạc của công chúng, nhất là đối với lớp công chúng trẻ Đặc biệt trong những năm gần đây, có nhiều bài hát mang yếu tố dân gian những bài hát này chẳng ít người đã gọi nó là ca khúc dân gian đương đại

1.3 Nhận diện về ca khúc mang phong cách dân gian và ca khúc dân gian đương đại

1.3.1 Ca khúc mang phong cách dân gian

Như phần trên chúng tôi đã khái lược, trong quá trình phát triển của ca khúc Việt Nam, ở giai đoạn nào cũng có những bài hát chứa đựng trong đó yếu tố dân gian Nhưng chỉ đến giai đoạn 1954 - 1975 do sự chi phối của lịch

sử, lúc đó ca khúc cách mạng Việt Nam xuất hiện một loạt bài hát trong nội dung và ngôn từ của nó chứa đậm nhiều màu sắc dân gian Các nhà nghiên

cứu âm nhạc gọi loại này là ca khúc trữ tình mang phong cách dân gian

Ca khúc trữ tình mang phong cách dân gian, thực chất nó là một nhánh của thể loại ca khúc trữ tình ở giai đoạn này Nhìn trên nhiều bình diện thì có thể thấy việc bám sát hiện thực đời sống và thực tiễn cách mạng vẫn là nét chủ đạo của ca khúc trữ tình

Trên phương diện về nghệ thuật, bước phát triển của ca khúc trữ tình giai đoạn này trước hết tìm thấy ở tính đa dạng về mặt thể loại của nó

Nếu ở giai đoạn 1945 - 1954, ca khúc trữ tình chủ yếu hình thành

và phát triển theo ba tuyến - ba phong cách hoặc ba kiểu bút pháp:

trần thuật, chính luận và dân gian thì ở giai đoạn này người ta có

Trang 31

thể quan sát thấy những tập hợp mới là dòng ca khúc nghệ thuật, dòng tình ca, dòng mang phong cách dân gian… [45, tr.372]

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng có cái nhìn khách quan về cách phân chia và xác định khái niệm của mỗi loại là chỉ mang tính tương đối và

chưa hẳn đã làm rõ được bản chất của vấn đề Dù sao “thì nhìn nhận đối

tượng dưới góc độ thể loại, loại hình vẫn giúp ta thấy rõ được đặc trưng, vóc dáng và lối diễn đạt riêng của mỗi tác phẩm trong một tập hợp phong cách của nó” [45, tr.372]

Nhìn lại lịch sử của ca khúc Việt Nam thì dạng bái hát viết theo kiểu phong cách dân gian từ 1930 đến 1945 hầu như không còn xuất hiện Bởi ở giai đoạn cách mạng cần một sự hiệu triệu, cứng cỏi hơn là sự mềm mại, chiều sâu Phải đến gần cuối những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, các nhạc sĩ sáng tác càng ý thức rõ Họ cũng là công dân của một nước có chủ quyền và họ đang từng ngày, từng giờ tham gia trực tiếp vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác có thể coi đây như cái giá đỡ về mặt tư tưởng cho các nhạc sĩ, đó là chủ trương đi sâu vào thực tế để khai thác các vốn cổ của dân tộc nhằm nâng cao giá trị nghệ thuật

cho tác phẩm Trong Báo cáo Xây dựng văn nghệ nhân dân trình Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ hai (tháng 2 - 1951) Đảng ta đã chỉ rõ, muốn nâng

cao giá trị nghệ thuật thì phải ra sức phát triển vốn văn nghệ cũ của dân tộc nhất là vốn văn nghệ bình dân…

Phát triển vốn văn nghệ cũ có nghĩa là khai thác, hướng dẫn khả năng sáng tác nghệ thuật của quần chúng Bởi quần chúng là người giữ gìn tất cả gia tài quý báu của nền văn nghệ bình dân xưa Đó là phương pháp hiệu quả nhất đề nền văn nghệ mới của chúng ta duy trì và phát huy được những bản sắc dân tộc tốt đẹp [7, tr.77]

Trang 32

Bắt đầu từ đó các nhạc sĩ đã có cơ sở để vững tin hơn trong việc sáng tạo ra nhiều sản phẩm tinh thần là những ca khúc mang đậm chất dân ca Những yếu tố dân ca của vùng châu thổ Bắc Bộ đã được chú ý khai thác để

đưa vào trong các tác phẩm: Đóng nhanh lúa tốt (Lê Lôi - Huyền Tâm), Lúa

mới (Nguyễn Đức Toàn), Lúc vàng (Mạc Hy), Cấy chiêm (Tô Vũ - Quách

Vinh) Chất liệu hò sông nước của cư dân đồng bằng Nam Bộ đã được chưng

cất và hiện diện trong ca khúc Lên ngàn, Mùa lúa chín (Hoàng Việt)…

Những năm tháng thuộc thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhìn về số lượng thì rõ ràng dạng ca khúc mang phong cách dân gian không nhiều nhưng về chất lượng nó đã bắt đầu có những sự đột phá để tạo ra

sự hoàn thiện hơn ở thời kỳ tiếp theo Đó là điều hoàn toàn dễ hiểu và có cơ

sở, bởi ngoài những định hướng cụ thể về đường lối văn hóa nghệ thuật của Đảng, ngoài những sở trường vốn có của từng nhạc sĩ thì thời kỳ này họ còn được trang bị kiến thức cơ bản về bút pháp và thủ pháp sáng tác Hơn nữa, trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh hai miền chia cắt đó cũng là yếu tố thúc đẩy các nhạc sĩ sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị Những năm tháng

Trang 33

ấy hầu như nhánh viết về đề tài quê hương đất nước chiếm ưu thế Đặc biệt hai mảng: nỗi nhớ miền Nam và niềm tự hào của người dân miền Bắc về cuộc sống mới trong hòa bình dựng xây càng được nhấn mạnh Nỗi nhớ miền Nam

là tiếng lòng của người con xa quê ra miền Bắc tập kết, một nỗi nhớ da diết

nhưng vẫn một lòng son sắt thủy chung Chẳng hạn: Anh về miền Bắc (Đắc Nhẫn), Nhớ đàn xe nước, Nhớ về quê mẹ (Vân Đông), Giữ trọn tình quê (Văn Cận), Tình trong lá thiếp (Phan Huỳnh Điểu) và đặc biệt là Câu hò bên bờ

Hiền Lương (Hoàng Hiệp - Đằng Giao)… là những ví dụ điển hình cho điều

vừa nói:

Mảng nói về sự tự hào của người dân miền Bắc, được gắn chặt với những ca khúc viết về địa phương Có lý do riêng thuộc về lịch sử đó là sự kiện Vịnh Bắc Bộ (5/8/1964), các nhạc sĩ đã đi thực tế ở những địa phương, nơi được coi là nóng bỏng nhất và cho ra đời loạt bài hát mang phong cách

dân gian như: Hai chị em (Hoàng Vân), Tiếng hò trên đất Nghệ An (Tân Huyền), Tiếng hát Sông Lam (Đinh Quang Hợp), Gái sông La (Lê Hàm)…

Quảng Bình quê ta ơi (Hoàng Vân) là một trong những ca khúc mang phong

cách dân gian điển hình viết về miền quê:

Trang 34

Tất nhiên, ngoài sự kiện trên thì trước hoặc sau đó các nhạc sĩ đã ý thức được việc khai thác vốn dân ca để đưa vào tác phẩm của họ, đặc biệt nhiều nhạc sĩ tỏ ra có sở trường viết về mảng này Chẳng hạn như Nguyễn Văn Tý

có: Bài ca năm tấn, Em đi làm tín dụng, Tấm áo mẹ vá năm xưa, Một khúc

tâm tình của người Hà Tĩnh; Nguyễn Đức Toàn có: Nỗi băn khoăn của chi Lả

và Khâu áo gửi người chiến sĩ…

Giai đoạn sau ngày đất nước được giải phóng cho đến nay hàng loạt

bài mang phong cách dân gian nối tiếp nhau ra đời như Tình đất đỏ miền

Đông (Trần Long Ẩn), Dáng đứng Bến Tre, Một khúc tâm tình của người

Hà Tĩnh (Nguyễn Văn Tý), Đi tìm người hát lý thương nhau (Vĩnh An), Về Đồng Lê (Trần Hoàn)… như chúng tôi đã đề cập sơ bộ trong nhánh tiểu

mục 1.2.2.2 ở trên

Như vậy, qua những tác nhân của bối cảnh lịch sử tác động vào ý thức của các nhạc sĩ cũng như một số ví dụ đã dẫn ở trên, cho dù thuật ngữ hay khái niệm về ca khúc mang phong cách dân gian chưa được thống nhất về

mặt nội hàm nhưng chúng tôi cho rằng những bài hát này trước hết nó là

dạng bài hát vận dụng chất liệu dân ca và một số thủ pháp dân gian Bên

Trang 35

cạnh đó, chúng tôi cũng đồng thuận với cách giải thích của các nhà nghiên cứu, khi chỉ ra một đặc trưng bao quát nhất của dạng ca khúc mang phong cách dân gian đó là:

Sự mô phỏng, xuyên suốt đa điện, từ âm điệu, đường nét đặc trưng, thang âm, điệu thức đến cấu trúc, cú pháp và các thủ pháp nghệ thuật khác Tất nhiên, đặc trưng dân gian có thể đậm nhạt khác nhau ở mỗi tác phẩm, những chúng phải tạo ra một cảm quan, nó như dân ca mà không phải dân ca [45, tr.373]

Phải nói rằng, những ca khúc viết theo dạng phong cách dân gian là sự tiếp nối truyền thống một cách rõ nhất Ngoài chất liệu âm nhạc thì từ ngôn ngữ, giai điệu đến lời ca, đặc biệt là yếu tố ngữ âm vùng, miền cũng như địa danh của từng địa phương được các tác giả chú trọng khai thác, điều ấy đã làm cho mỗi bài hát có những sắc thái riêng Mỗi bài hát viết về tỉnh nào đó hoặc một vùng miền nào đó, nó gắn liền với niềm tự hào, kiêu hãnh của con người ở vùng, miền đó

1.3.2 Ca khúc dân gian đương đại

Ca khúc dân gian đương đại không phải là khái niệm cũng không phải

là một thuật ngữ trong âm nhạc mà là một cách gọi để chỉ hoặc phân loại một loại ca khúc mang trong nó những yếu tố dân gian được viết ở những năm tháng gần đây

Các loại hình nghệ thuật như mỹ thuật, nhất là văn học ở nước ta (có nhiều điểm tương đồng với các nước như Liên Xô, Trung Quốc) người ta thường ghép chúng với các từ: cận đại, hiện đại, đương đại Chẳng hạn văn học cận đại (trước 1945), văn học hiện đại (giai đoạn kháng chiến chống Mỹ)

và sau năm 1975 là văn học hiện đại Cách chia này thường dựa vào những sự kiện của lịch sử chứ chưa hẳn đã dựa phương thức sáng tác

Trang 36

Ca khúc dân gian đương đại, cụm từ này đã xuất hiện hơn chục năm

nay, đặc biệt gần đây thường xuyên thấy xuất hiện trong chương trình Bài hát

Việt trên sóng VTV3 Mục đích là để phân biệt giữa nó với những bài hát

mang phong cách pop, rock, thính phòng… lại có những cách hiểu khác nhau nhưng nhìn chung có hai luồng ý kiến chủ yếu: ca khúc dân gian đương đại là một thể loại và ca khúc dân gian đương đại là một cách gọi

1.3.2.1 Ca khúc dân gian đương đại là một thể loại

Nhìn nhận ca khúc dân gian đương đại như một thể loại, nhạc sĩ Nguyễn Cường cho rằng:

Đó là các bài hát muốn nhấn mạnh rằng nó gần gũi với dân ca và muốn trở thành cái gọi là dân ca mới trong đời sống mới Ca khúc được gọi là dân gian đương đại ngoài yếu tố giai điệu mang âm hưởng dân ca, gần gũi với dân ca thì còn có cả yếu tố khác như cách phối khí, cách trình bày, trang phục biểu diễn… Nó bộc lộ sự phát triển của âm nhạc Việt Nam tới mức độ phân chia thành phong cách

âm nhạc riêng Thế giới có pop, rock, R&B, hip hop… thì Việt Nam có dân gian đương đại Nói cách khác nó như là thể loại của

âm nhạc Việt Nam [37, tr.33]

Tác giả Nguyễn Vĩnh Tiến, người có nhiều ca khúc loại này ở chương trình Bài hát Việt, đưa ra nhận định:

Ca khúc dân gian đương đại là một thể loại có sự kết hợp của yếu tố dân gian và yếu tố đương đại Hai yếu tố này đi song hành với nhau chứ không loại bỏ nhau Các tác giả vẫn dùng hơi thở thời đại, ngôn ngữ đương đại để nói vấn đề hôm nay [63]

Nhạc sĩ Lê Minh Sơn - trong một cuộc phỏng vấn nói về sự thưa vắng

của loại bài hát dân gian đương đại trên sâu khấu Bài hát Việt cho rằng: “việc

Trang 37

tìm ra một bài hát đi vào lòng người là chuyện không dễ dàng Tác giả viết loại ca khúc này phải là người có khát vọng thể hiện cái tôi Việt Nam và thoát khỏi sự ảnh hưởng quá lớn của nhạc nước ngoài” Và điều quan trọng hơn,

người viết phải:

Là người đương đại, tâm hồn phải đương đại thì mới có thể khai thác dân gian được Đi theo dòng nhạc này, nếu không đủ sức mạnh thì rất dễ dàng bị dân gian nhấn mình hay dễ dàng lạc lối, mất phương hướng Nếu anh viết không thuyết phục thì người ta bật tuồng, chèo, cải lương lên nghe việc gì phải nghe bản “nhạc nhái” làm gì [64]

Có thể còn nhiều ý kiến khác cũng tương tự như ba ý kiến mà chúng tôi trích dẫn ở trên, dẫu cách tiếp cận khác nhau, trong những môi trường khác nhau nhưng nhìn chúng các tác giả, các nhạc sĩ đều cho rằng đó là một thể loại mới của âm nhạc Việt Nam Thể loại này thuộc về con người đương đại sáng tác và nó cũng đều được khai thác từ vốn dân gian Việt Nam Còn đương đại là gì, quả thật các tác giả, nhạc sĩ vẫn không có lời giải đáp thuyết phục,

có lẽ nó vẫn thuộc phạm trù về mặt thời gian hiện nay

1.3.2.2 Ca khúc dân gian đương đại - một cách gọi

Quan niệm ca khúc dân gian đương đại là một cách gọi chứ nó không phải là thuật ngữ hay khái niệm về một số bài hát mang yếu tố dân gian viết ở những năm tháng gần đây, có một số ý kiến tiêu biểu sau:

NSND Trần Hiếu trên phương diện của một ca sĩ, ông cho rằng:

Nếu dịch ra tiếng Anh, dân gian đương đại là contempory folk, song chả đâu trên thế giới có thể hiểu được đây là dòng nhạc gì Bởi trên thế giới không hề có định nghĩa hay khái niệm này Vì vậy, nếu chúng ta cứ khăng khăng đây là ca khúc dân gian đương đại hay tôi

Trang 38

hát ca khúc dân gian đương đại sẽ dễ gây hiểm nhầm lắm Tất nhiên, ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu rằng hát dân gian đương đại tức là ca khúc dân ca hay ca khúc mang âm hưởng dân ca theo phong cách đương đại Dẫu vậy, tôi khẳng định không hề có dòng nhạc dân gian đương đại mà chỉ có bài hát mang âm hưởng dân ca hoặc bài dân ca được hát theo phong cách đương đại mà thôi [67] Trên Website Giai điệu xanh, nhà nghiên cứu phê bình Nguyễn Thị Minh Châu cho rằng ca khúc dân gian đương đại chỉ mới ở tên gọi:

Dân gian đương đại là cụm từ gần đây để chỉ dòng nhạc lấy chất liệu dân gian kết hợp với những cấu trúc (hòa âm, tiết tấu, khúc thức…) của dòng nhạc hiện đại trên thế giới; chất liệu dân gian ở đây gồm nội dung (làng quê, nếp sống, văn hóa, ca dao tục ngữ…)

và hình thức (điệu thức dân ca, âm thanh, nhạc cụ dân tộc…) Mỗi quốc gia đều có rung động cội nguồn trong lòng người dân và vì thế dòng nhạc này thực sự có ý nghĩa quan trọng trong đời sống âm nhạc… dòng nhạc này chỉ “mới” ở tên gọi thôi [20]

Theo cách giải thích như trên thì ca khúc dân gian đương đại rõ ràng là một loại không mới mà nó đã có từ lâu trong dòng ca khúc mới Việt Nam, cái mới chỉ là những ca khúc này được viết ở những năm tháng gần đây Đồng

thuận với ý kiến này ngay trong mở đầu bài viết có tiêu đề Ca khúc dân gian

đương đại, nhạc sĩ Nguyễn Đăng Nghị cho rằng, đó không phải là thuật ngữ

hay một khái niệm âm nhạc:

Cũng có thể là một cách nói để chỉ một loại thể ca khúc viết ở thời điểm hiện nay mà trong giai điệu của nó có phảng phất đôi chút âm hưởng, chất liệu hoặc cốt truyện dân gian Điều ấy chẳng có gì mới

mẻ nhưng nếu quá lạm dụng ngôn từ cho dù có hoặc không chú ý

Trang 39

thì cụm từ ca khúc dân gian đương đại theo thời gian dễ biến thành khái niệm hay thuật ngữ Nếu như thế sẽ tạo ra sự ngộ nhận cho các tác giả và gây nên xáo trộn lớn trong nhận thức của công chúng trên phương diện tiếp cận, thưởng thức, đánh giá cũng như cách phân chia các loại thể âm nhạc [35, tr.28]

Trên cơ sở phân tích những diễn biến phức tạp của sân khấu ca nhạc trong nhiều năm gần đây thường thấy các ca sĩ, nhạc sĩ tự phong là điều diễn

ra vô cùng bình thường Cũng như vậy, trong nghiên cứu khoa học cũng chẳng ít người hay sử dụng những cụm từ mãn nhĩ, theo nhạc sĩ Nguyễn Đăng Nghị đó là một cách nói ngôn từ theo trào lưu dễ làm nhiễu loạn thuật ngữ và nhiễu loạn nhận thức của người thưởng thức Bên cạnh đó, bằng phương pháp đối sánh giữa ca khúc dân gian đương đại với một số ca khúc mang phong cách dân gian của giai đoạn trước, trên phương diện chủ thể, thủ pháp sáng tác… ông cho rằng ca khúc dân gian đương đại về bản chất nội hàm của nó không mới Thực chất chúng là sự nối dài dòng chảy của dạng ca khúc mang phong cách dân gian và ông đi đến kết luận:

Đương đại cũng giống như cận đại, hiện đại thậm chí là thời đại, đó là

những từ mà nhiều nhà nghiên cứu ở nước ta hay dùng, nó thường nghiêng về mặt xác định thời gian, luôn gây ra sự tranh cãi bấy lâu nay Chỉ cách đây mươi mười lăm năm, người ta thường hay nói tới tác phẩm hiện đại hay mang hơi thở thời đại thì nay sẽ là tác phẩm âm nhạc đương đại… rồi mười, hai mươi năm sau, có thể sẽ là trung đương đại rồi hậu đương đại chăng?

Vẫn biết rằng, việc xé lẻ từ ra khỏi tổng thể cụm từ đôi khi làn mất

đi ý nghĩa vốn có của nó Ở trường hợp này lại khác, dẫu để nguyên trạng thì vẫn không phản ánh đúng một “thực thể” đang hàng ngày diễn ra trong sinh hoạt ca nhạc của nước nhà Như vậy, ca khúc dân

Trang 40

gian đương đại thực chất là những bài hát mà giai điệu, nội dung hay lời ca có tiếp thu một số yếu tố của âm nhạc dân gian Không thể phủ nhận giá trị nghệ thuật của những bài hát này trong bối cảnh

âm nhạc hiện nay, còn gọi chúng là gì sao cho hợp, có lẽ đó là công việc của các nhà nghiên cứu, lý luận âm nhạc nước nhà [35, tr.29] Như vậy, với hai luồng ý kiến trên thì rõ ràng chưa có sự đồng nhất trong cách nhìn nhận về ca khúc dân gian đương đại Tuy nhiên, cách hiểu và cách cắt nghĩa về nó dẫu có khác nhau nhưng lại có điểm chung đó là những

ca khúc mang yếu tố dân gian được viết trong những năm gần đây

Trên cơ sở ấy, chúng tôi xin nhắc lại rằng: cho dù nó chưa phải là thuật ngữ hay khái niệm hoặc định nghĩa nhưng ca khúc dân gian đương đại chính

là ca khúc mà trong nó chứa đựng các yếu tố dân gian được viết theo kỹ thuật của âm nhạc phương Tây ở những năm gần đây Nó là sự lắp ghép có ý thức giữa chất liệu (dân gian) và thời gian (đương đại) thành cụm từ dân gian đương đại Dẫu bản chất thực sự là như vậy nhưng thao tác chúng tôi vẫn sử dụng cách gọi là ca khúc dân gian đương đại để tạo tính nhất quán quan trọng trong luận văn

Tiểu kết chương 1

Do hoàn cảnh lịch sử những năm đầu thế kỷ XX, đất nước ta diễn ra cuộc giao lưu văn hóa với các nước phương Tây chủ yếu là thông qua văn hóa Pháp Nhiều hiện tượng mới của văn hóa nghệ thuật nước ta ra đời trong đó

có âm nhạc mới mà ca khúc là một mảng vô cùng quan trọng trong nền âm nhạc nước nhà

Ngay từ khi ra đời, ca khúc đã hướng theo ba dòng khác nhau: dòng ca khúc trữ tình lãng mạn, dòng ca khúc tiến bộ yêu nước và dòng ca khúc lãng mạn Những năm 40 của thế kỷ XX dòng trữ tình lãng mạn và dòng ca khúc

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Viết Á (1996), Theo dòng âm thanh cái đẹp sải cánh, Nhạc viện Hà Nội, Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo dòng âm thanh cái đẹp sải cánh
Tác giả: Dương Viết Á
Năm: 1996
2. Dương Viết Á (2000), Ca từ trong âm nhạc Việt Nam, Viện Âm nhạc xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca từ trong âm nhạc Việt Nam
Tác giả: Dương Viết Á
Năm: 2000
3. Dương Viết Á (2005), Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa, Nxb Hà Nội - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa
Tác giả: Dương Viết Á
Nhà XB: Nxb Hà Nội - Hà Nội
Năm: 2005
4. Đào Duy Anh (Tái bản 1953), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Bốn phương, Viện Giáo khoa - Hiên tân biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb
Nhà XB: Nxb" Bốn phương
5. Nguyễn Trọng Ánh (2000), Âm nhạc Quan họ, Viện âm nhạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc Quan họ
Tác giả: Nguyễn Trọng Ánh
Năm: 2000
6. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương (1977), Văn kiện Đảng, tập III, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương
Năm: 1977
7. Ban tư tưởng văn hóa Trung ương (2000), Một số văn kiện của Đảng, tập I, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của Đảng
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
8. Thanh Bình (1997), “Thực trạng sáng tác âm nhạc ở Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sáng tác âm nhạc ở Việt Nam”, Tạp chí "Văn hóa - Nghệ thuật
Tác giả: Thanh Bình
Năm: 1997
9. Nguyễn Thị Minh Châu (2002), “Điểm hội tụ của nhiều góc nhìn khác nhau”, Tạp chí Âm nhạc, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm hội tụ của nhiều góc nhìn khác nhau”, Tạp chí "Âm nhạc
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Châu
Năm: 2002
10. Thái Cơ (1994), Tuyển chọn ca khúc, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn ca khúc
Tác giả: Thái Cơ
Năm: 1994
11. Lê Duẩn (...), Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
12. Phan Huỳnh Điểu (1994), Tuyển chọn ca khúc, Hội Nhạc sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn ca khúc
Tác giả: Phan Huỳnh Điểu
Năm: 1994
13. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1980
14.Thanh Hà (1995), Âm nhạc hát Văn, Nxb Âm nhạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc hát Văn
Tác giả: Thanh Hà
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 1995
15. Hoàng Hiệp (2002), Ca khúc hiện nay cái được và cái chưa được, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học ca khúc với công cuộc đổi mới đất nước, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Viện Âm nhạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học ca khúc với công cuộc đổi mới đất nước
Tác giả: Hoàng Hiệp
Năm: 2002
16. Nguyễn Đăng Hòe (1979), Bước đầu tìm hiểu hát Ghẹo Vĩnh Phú, Ty văn hóa - Thông tin Vĩnh Phú, Vĩnh Phú Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu hát Ghẹo Vĩnh Phú
Tác giả: Nguyễn Đăng Hòe
Năm: 1979
17. Xuân Hồng (1994), Tuyển chọn ca khúc, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn ca khúc
Tác giả: Xuân Hồng
Năm: 1994
18. Đào Việt Hưng (1998), Hát Ví giặm Nghệ Tĩnh, Nxb Âm nhạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát Ví giặm Nghệ Tĩnh", Nxb Âm nhạc
Tác giả: Đào Việt Hưng
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 1998
19. Đào Việt Hưng (1999), Tìm hiểu điệu thức dân ca người Việt Bắc Trung bộ, Viện âm nhạc, Nxb Âm nhạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu điệu thức dân ca người Việt Bắc Trung bộ
Tác giả: Đào Việt Hưng
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 1999
20. Khánh Hưng (2008), “Nhạc dân gian đương đại chỉ mới ở tên gọi”, http://www.giaidieuxanh.vn/New/8250, (5/5/2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhạc dân gian đương đại chỉ mới ở tên gọi
Tác giả: Khánh Hưng
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hiền Lương (Hoàng Hiệp - Đằng Giao)… là những ví dụ điển hình cho điều - Yếu tố dân gian trong ca khúc đương đại việt nam
i ền Lương (Hoàng Hiệp - Đằng Giao)… là những ví dụ điển hình cho điều (Trang 33)
Mỗi xã hội ,ở mỗi giai đoạn lịch sử, con người có cách mô hình hóa tiết tấu để phù hợp với tính thẩm mỹ của lịch sử, xã hội mà con người đang sống  trong đó - Yếu tố dân gian trong ca khúc đương đại việt nam
i xã hội ,ở mỗi giai đoạn lịch sử, con người có cách mô hình hóa tiết tấu để phù hợp với tính thẩm mỹ của lịch sử, xã hội mà con người đang sống trong đó (Trang 57)
Hát trống quân là một hình thức sinh hoạt văn hóa xưa của cư dân vùng châu thổ Bắc Bộ - Yếu tố dân gian trong ca khúc đương đại việt nam
t trống quân là một hình thức sinh hoạt văn hóa xưa của cư dân vùng châu thổ Bắc Bộ (Trang 61)
Với tiết tấu điển hình này, khi đưa vào ca khúc, tất nhiên các tác giả có biến  đổi  đi  đôi  chút,  nhưng  người  nghe  vẫn  cảm  nhận  rõ  tiết  tấu  của  trống  quân - Yếu tố dân gian trong ca khúc đương đại việt nam
i tiết tấu điển hình này, khi đưa vào ca khúc, tất nhiên các tác giả có biến đổi đi đôi chút, nhưng người nghe vẫn cảm nhận rõ tiết tấu của trống quân (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w