1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trường ca về thời chống mỹ trong văn học hiện đại việt nam

155 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trường Ca Về Thời Chống Mỹ Trong Văn Học Hiện Đại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Liên Tâm
Người hướng dẫn PGS.TS. Phùng Quý Nhâm
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Trường ca về thời chống Mỹ trong văn học hiện đại Việt Nam” để nghiên cứu trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những công trình, bài

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



NGUYỄN THỊ LIÊN TÂM

TRƯỜNG CA

VỀ THỜI CHỐNG MỸ TRONG VĂN

HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 62 22 34 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS PHÙNG QUÝ NHÂM

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được trình bày trong luân án này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Liên Tâm

Trang 3

DẪN NHẬP

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Cuộc chiến tranh thời chống Mỹ đã qua đi trên một phần tư thế kỷ nhưng âm vang hào hùng của n-ó vẫn vọng đến tận bây giờ và mãi mãi về sau Văn học đã ghi lại một thời kháng chiến oanh liệt của dân tộc Những chiến công hiển hách; những tấm gương anh dũng; những mối tình thuỷ chung son sắt; tình yêu quê hương, đất nước… cả những đau thương, mất mát không gì bù đắp nổi cũng được tái hiện trong văn học Đó chính là hơi thở của cuộc sống chân thực đã từng diễn ra trên đất nước ta

Hậu quả chiến tranh để lại thật tàn khốc bởi nó là những dư âm đọng lại trong những tháng năm hòa bình Chiến tranh không phải là định mệnh nhưng nó đã khiến cho bao người phải chịu những số phận nghiệt ngã Dư ba của chiến tranh như những con sóng nối tiếp nhau cứ lan mãi đến ngày sau… Tất cả những điều ấy được các nhà thơ thời chống Mỹ, những cây bút thời hậu chiến tập trung sức viết để ngưỡng vọng, đồng cảm, sẻ chia về một thời quá khứ đã in đậm dấu

ấn vào cuộc sống của dân tộc Văn học góp phần thể hiện cuộc sống thăng trầm của lịch sử Sức khái quát hiện thực của thơ ca - đặc biệt là trường ca - thật mạnh mẽ, sâu rộng, đã phản ánh lịch

sử một thời mà thấm suốt không gian, thời gian của bao thời đại sau này Trường ca hiện đại là một thể loại thơ ca trữ tình mang dung lượng khá đồ sộ; thể hiện cảm xúc mãnh liệt và nội dung lớn; có khả năng phản ánh, tổng kết một giai đoạn lịch sử, những vấn đề lớn lao của dân tộc Nền văn học Việt Nam không thể thiếu vắng mảng trường ca về thời chống Mỹ, bởi:

Từ khi mới xuất hiện, trường ca có giá trị trong thời chống Mỹ đã có hiệu ứng xã hội tích cực, tác động sâu rộng đến tâm hồn con người Việt Nam Thời hoàng kim của trường ca về thời chống Mỹ là vào thập niên 70 Ngày nay, trường ca vẫn chảy miệt mài trong lòng dân tộc, vì vậy, nghiên cứu trường ca về thời chống Mỹ là một công việc có hấp lực mạnh mẽ đối với người nghiên cứu

- Nhiều trường ca nổi tiếng từ thời chống Mỹ đã được chọn để giảng dạy trong các trường

Phổ thông, Cao đẳng, Đại học Các trích đoạn trong: Bài ca chim Chơ rao, Theo chân Bác, Mặt

đường khát vọng, Đường tới thành phố, Những người đi tới biển mang chất trữ tình sâu sắc và

âm hưởng sử thi hào hùng, góp phần phản ánh hiện thực cuộc chiến tranh chống Mỹ Gần đây, các trích đoạn đặc sắc ấy vẫn được đưa vào chương trình văn học đã nêu trên Vì vậy, nghiên cứu giá trị lịch sử và giá trị văn học của trường ca cũng góp phần nhất định vào việc giảng dạy, tiếp cận trường ca hiện đại

Trang 4

- Tên gọi thống nhất; hệ thống hình tượng nhân vật; hệ thống đề tài, không gian sử thi;

giọng điệu sử thi… trong trường ca đã được chú ý nghiên cứu nhưng vẫn còn mang tính riêng lẻ

Nhiều vấn đề khác trong trường ca vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống Giá trị lịch sử

và giá trị văn học của trường ca trong tiến trình lịch sử văn học hầu như chưa được đánh giá

đúng mức Nhiều bài viết, bài nghiên cứu hầu như chỉ tập trung vào việc xác định tên gọi hoặc

giới thiệu tác giả tiêu biểu đã sáng tác trường ca

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Trường

ca về thời chống Mỹ trong văn học hiện đại Việt Nam” để nghiên cứu trên cơ sở tiếp thu có

chọn lọc những công trình, bài viết quý báu của các nhà nghiên cứu đi trước, từ đó góp cái nhìn

bao quát hơn về trường ca sử thi hiện đại

2 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích khoa học đề ra, luận án tập trung nghiên cứu “Trường ca về thời chống Mỹ

trong văn học hiện đại Việt Nam”

- Về lịch sử, thời chống Mỹ bắt đầu từ năm 1955 đến 1975 Về mặt văn học giai đoạn này,

các nhà thơ đã sáng tác trường ca (chủ yếu xuất hiện từ 1960) với mạch cảm xúc ngợi ca và

tâm thế của người trong cuộc Nhưng từ sau 4/1975 đến khoảng 1980, họ vẫn chưa thoát khỏi

nỗi ám ảnh về cuộc chiến mới đi qua, vẫn sáng tác với tâm thế người trong cuộc, mạch cảm

xúc chủ đạo vẫn là phản ánh hiện thực cuộc chiến thời chống Mỹ Vì thế, chúng tôi xếp

trường ca xuất hiện từ 1975 - 1980 vào nhóm trường ca 1960 - 1980 và tạm chia đối tượng khảo

sát vào hai mốc thời gian để thuận tiện cho nghiên cứu:

- Trường ca về thời chống Mỹ có giá trị ra đời từ 1960 đến 1980

- Trường ca về thời chống Mỹ có giá trị ra đời từ 1980 đến nay (chủ yếu thiên về mạch

cảm xúc hồi tưởng và tâm thế của người nhìn lại quá khứ chiến tranh)

2.2 Phạm vi vấn đề

Với khả năng có hạn, chúng tôi cố gắng tìm hiểu những công trình nghiên cứu, phê bình để

khẳng định giá trị của trường ca về thời chống Mỹ, tiếp cận các bài nghiên cứu về tác giả để xác

định những đóng góp của họ trong sự nghiệp sáng tác trường ca Qua đó, chúng tôi tiếp thu có

chọn lọc thành tựu của những công trình đi trước, vận dụng sự hiểu biết của bản thân để nghiên

cứu Trường ca về thời chống Mỹ Người viết quan niệm: trường ca về thời chống Mỹ là

trường ca sử thi hiện đại và phạm vi vấn đề cần nghiên cứu là:

- Những nhân tố tạo nên sự xuất hiện của trường ca

- Các nội dung chủ yếu như: hệ thống đề tài, sức khái quát hiện thực, đặc điểm sử thi

Trang 5

- Các đặc điểm nghệ thuật như: sự phối hợp các thể thơ, không gian sử thi, giọng điệu sử thi, sự liên tưởng, chất liệu văn học dân gian… của trường ca

Tuy nhiên, sự phân chia chương II và chương III chỉ mang tính tương đối vì khó tách bạch riêng lẻ yếu tố nội dung và nghệ thuật của tác phẩm nói chung và trường ca nói riêng

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu trường ca về thời chống Mỹ nhằm mục đích tìm hiểu: những nhân tố tạo nên

sự xuất hiện của trường ca, nội dung chủ yếu, đặc điểm nghệ thuật Từ đó rút ra những kết luận

về sự đóng góp của các tác giả và giá trị của trường ca về thời chống Mỹ trong tiến trình lịch sử văn học nước nhà

4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Xác định những nội dung cơ bản, những đặc điểm quan trọng và riêng biệt làm nên giá trị của trường ca về thời chống Mỹ Góp thêm một nhận thức về lý thuyết thể loại (tên gọi trường

ca sử thi hiện đại), bước đầu giải quyết các vấn đề đã đặt ra trên cơ sở kế thừa các công trình của những nhà nghiên cứu đi trước

- Dựa vào kết quả nghiên cứu, hy vọng góp một tiếng nói, một cái nhìn tổng hợp về giá trị của trường ca về thời chống Mỹ; cung cấp thêm tài liệu tham khảo thiết thực phục vụ cho việc giảng dạy, học tập về trường ca hiện đại

5 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Nhận xét mở đầu

Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy hầu như chưa có một công trình chuyên sâu, tổng hợp

giá trị trường ca về thời chống Mỹ Trong luận văn Cao học “Đặc điểm trường ca viết về đề tài

chiến tranh thời chống Mỹ”, chúng tôi đã tiến hành phân loại lịch sử vấn đề theo hai nhóm:

- Những nhận xét, luận bàn về tên gọi và sự phát triển của trường ca

- Những ý kiến nhận định về các tác giả và các trường ca có giá trị

Tuy nhiên, trải qua mỗi chặng đường nghiên cứu, chúng tôi lại phát hiện thêm những điều mới Để thấy được kết quả nghiên cứu của những người đi trước, trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi xin lược thuật lại những điểm chính, bổ sung một số ý kiến, nhận định và cập nhật các công trình nghiên cứu gần đây

5.1 Những nhận xét, luận bàn về tên gọi và sự phát triển của thể loại

Đã có một số công trình nghiên cứu về thể loại trường ca; bàn luận và phân định đâu là thơ dài, đâu là truyện thơ, xác định rõ những điều kiện cần và đủ để được gọi là trường ca (phải mang nội dung lớn, dung lượng đồ sộ, khái quát những vấn đề của lịch sử…), đồng thời nghiên cứu về sự phát triển của thể loại đặc biệt này

Trang 6

Có thể kể đến một số bài viết đăng trên các tạp chí, các sách:

- Tạp chí Văn nghệ quân đội số 1, 2 3/1981 có bài viết bàn về thể loại trường ca của Lại Nguyên Ân, Hữu Thỉnh, Từ Sơn, Hoài Thanh, Trần Ngọc Vương, Phạm Tiến Duật…

- Trên Tạp chí Văn học số 6/1982 có các bài viết của Đỗ Văn Khang, Vũ Đức Phúc, Mã Giang Lân

- Trên Tạp chí Văn nghệ quân đội, báo Nhân Dân, Văn nghệ Trẻ năm 2007 - 2008 có những bài viết của Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Hữu Quý

Về sách đã in:

- Lại Nguyên Ân có tác phẩm Văn học và phê bình (Nxb Tác phẩm mới - 1984) trong đó có

nhiều trang bàn luận về trường ca

- Vũ Văn Sỹ có tập Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam 1945 - 1995 (Nxb KHXH - 1999) đi sâu vào việc tìm hiểu thi pháp trường ca; trong tập tiểu luận Mạch thơ trong nguồn thế

kỷ (Nxb KHXH - 2005), ông cũng có bài viết “Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam

hiện đại” [85, tr.137]

- Phạm Quốc Ca với chuyên luận Mấy vấn đề về thơ Việt Nam hiện đại 1975 - 2000 (Nxb

Hội Nhà Văn - 2003), qua bài viết: “Sự biến đổi của trường ca” đã góp thêm tiếng nói về thể thơ

ca này [11, tr.177-183]

Sau đây, chúng tôi xin được tóm lược lại những vấn đề có liên quan đến thuật ngữ “trường ca”, sự phát triển thể loại mà các nhà nghiên cứu đã đề cập trên cơ sở có bổ sung cẩn trọng: Trong bài “Mấy suy nghĩ về thể loại trường ca” (TCVH số 4/1975) sau này in lại trong

Văn học và phê bình (5), Lại Nguyên Ân đã đề nghị gọi chung những tác phẩm thơ dài là trường

ca Quan niệm này, có người đồng ý nhưng cũng có người không chấp nhận Sau này, trong bài

“Bàn góp về trường ca” (4), ông cho rằng “hình như ai cũng đúng cả” Thực sự, đề nghị của

ông về cách gọi tên chung như thế không phù hợp với đặc trưng riêng của thể loại trường ca vì thơ dài khác với trường ca, thơ dài không cần thiết chứa đựng nội dung lịch sử, cảm hứng sử thi, không gian sử thi Những nghiên cứu của Lại Nguyên Ân là một đóng góp thiết thực cho việc nhận định về con đường phát triển của trường ca

Từ Sơn, trong bài “Về khái niệm trường ca” (TCVNQĐ số 1/1981) cho rằng trường ca

"là thơ chứ không phải là ca" [80, tr.120] Theo ông, nên dùng thuật ngữ trường ca cho những

bài thơ dài có cốt truyện tự sự trên 500 câu và nên gọi chung là truyện thơ Cách lý giải của Từ Sơn nghiêng về việc lấy nghĩa gốc của thuật ngữ “trường ca” để đặt tên cho thể loại

Cũng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội số 5/1981, Hoài Thanh có bài "Thơ và chuyện trong

thơ" Ông cho rằng: Ba mươi năm đời ta có Đảng, Nước non ngàn dặm, Theo chân Bác của Tố

Trang 7

Hữu và cả Trường ca Nguyễn Văn Trỗi của Lê Anh Xuân đều là truyện thơ Như vậy, theo Hoài Thanh, "truyện thơ" và "trường ca" cũng chưa được phân định cụ thể như quan niệm hiện nay

Trần Ngọc Vượng, trong bài “Về thể loại trường ca và tính chất của nó” (Tạp chí VNQĐ

số 5/1981), đã đưa ra những nhận định tinh tế, phân biệt sự khác nhau giữa trường ca và truyện

thơ, thơ dài Theo ông "trường ca của ta bây giờ không phải cùng khuôn với các thể loại đã từng

có mặt trong lịch sử văn học" [11, tr.129] Những lập luận để phân biệt trường ca với khúc

ngâm, truyện thơ, thơ dài mà ông đưa ra khá hợp lý: trường ca phân biệt với thơ dài trước hết ở

dung lượng cảm hứng, “cảm hứng đó là linh hồn của trường ca", và chỉ có thể xuất hiện ở một

thời đại cách mạng [114, tr.129] Đây là một nhận định khá sâu, góp phần xác định đặc điểm

thể loại và lý giải vì sao giai đoạn này trường ca nở rộ

Năm 1982, Mã Giang Lân đã góp tiếng nói bàn về thể loại trường ca trong bài "Trường ca,

vấn đề thể loại" đăng trên TCVH số 6 Ông nhận xét rằng: "Lâu nay các nhà nghiên cứu phê

bình văn học thường dùng thuật ngữ "trường ca" để chỉ về một thể loại văn học thời kỳ thượng

cổ như trường ca Đăm San, trường ca Xing Nhã của đồng bào Tây Nguyên; trường ca Đẻ đất

đẻ nước của người Mường… hoặc tuỳ tiện cho tất cả những sáng tác thơ dài đều là trường ca cả” [45, tr.104] Sau khi dẫn ra một số tác phẩm thơ dài và trường ca để phân tích, lý giải về mặt

thể loại, Mã Giang Lân đi đến khẳng định: "Thơ dài và trường ca có những nét tương đồng như

sử dụng tổng hợp nhiều thể thơ, thay đổi không khí cảm xúc, hạn chế sự bằng phẳng đơn điệu, thường khai thác và biểu hiện cái đẹp cái cao cả, cái anh hùng Nhưng ở trường ca bộc lộ rõ nội dung ca ngợi, hào hùng, nên cảm hứng anh hùng phải là mạch cảm xúc chủ đạo” [45,

tr.108-109]

Cuối cùng tác giả đưa ra kết luận có tính khái quát: “Đường đi của sử thi… là đến tiểu

thuyết Còn thơ trữ tình là cái nôi của trường ca và thơ dài Trường ca đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo trên các yếu tố cơ bản của thơ trữ tình và sử thi nghĩa là kết hợp cả hai phương thức biểu hiện: trữ tình và tự sự" [45, tr.152] Nghiên cứu của Mã Giang Lân đã giúp cho chúng tôi

có một sự phân định về trường ca và thơ dài khá rõ ràng

Vũ Đức Phúc cũng rất quan tâm đến thể loại trường ca nên trên Tạp chí Văn học số 6/1982, ông có bài viết “Chung quanh vấn đề trường ca" Cũng như Từ Sơn, ông nhận xét về nghĩa và

cách dùng thuật ngữ "trường ca" Theo ông: "trường ca là một thuật ngữ văn học mới, chưa

chính xác, chưa ổn định, để chỉ các sáng tác thơ dài" [73, tr.93] "khoảng từ bốn, năm trăm câu trở lên [72, tr.94] và phải có sức "lay động được con tim người đọc” một cách mạnh mẽ, "thời đại ta đòi hỏi phải có trường ca anh hùng" [72, tr.99] Ông cho rằng: khi viết trường ca, nếu

viết bằng một thể thơ thì “trường ca dễ đơn điệu” [72, tr.101-102] Chúng tôi hoàn toàn thống

Trang 8

nhất với nhận xét trên Theo ông: "Theo chân Bác là một thiên trường ca" [72, tr.100], và Tố

Hữu đã phối hợp giữa anh hùng ca với trữ tình trên cái nền gợi lại sự kiện lịch sử Nhìn chung bài viết của Vũ Đức Phúc đã khẳng định lại những vấn đề mà một số nhà nghiên cứu trước đó nêu ra: trường ca phải được xây dựng trên nền sự kiện lịch sử, độ dài cần vừa phải, cần có sự pha trộn, thể loại và yếu tố trữ tình rất quan trọng Đặc biệt, ông cho rằng yếu tố tự sự chỉ là phần độn thêm, điều này đối lập với ý kiến của Đỗ Văn Khang khi cho rằng các trường ca đều

cố gắng lấy tự sự làm chính

Trên Tạp chí Văn học số 6/1982, trong bài “Từ ý kiến về trường ca sử thi của Hêghen đến trường ca hiện đại ở ta", Đỗ Văn Khang đã dẫn ra ý kiến của Hêghen viết về trường ca sử thi (Mỹ học Hêghen - 1836) để làm nền tảng cho những lập luận của mình về “trường ca hiện đại Việt Nam"; cụ thể là về: nguồn gốc sử thi, sức khái quát của trường ca sử thi, xung đột sử thi, tính cách sử thi, chi tiết trong trường ca sử thi Căn cứ vào công trình nghiên cứu sử thi của Hêghen, ông xem xét trường ca ở các điểm sau đây:

+ "Chất khái quát tổng thể lịch sử, phong cách đồ sộ" [38, tr.87], trong đó chú ý đến tính chất xung đột mang tính lịch sử

+ "Các cá tính của trạng thái thế giới dân tộc rất mãnh liệt được biểu hiện qua cái tôi nhà thơ" [38 tr.87]

+ "Vai trò của chi tiết trong trường ca… Cách tổ chức liên chương, liên đoạn” [38, tr.90] + "Trường ca hướng về các biến cố trung tâm” [38, tr.91 cố gắng lấy tự sự làm chính, "hình thức kể" là nhân tố quan trọng góp phần làm nên trường ca

Đây là những ý kiến, những lập luận cơ bản dựa vào Mỹ học Hêghen Ông cũng không loại trừ hoàn toàn sự biến dạng của thể loại trường ca trong quá trình vận động của lịch sử xã hội

và thực tiễn đời sống văn học nước ta Từ những lập luận nêu trên, Đỗ Văn Khang đề nghị nên gọi những bài thơ đúng bản chất, có ý nghĩa mỹ học đầy đủ là "trường ca sử thi hiện đại" Bản thân người viết cũng đồng quan điểm về tên gọi trường ca sử thi hiện đại và rất quan tâm đến

“trạng thái dân tộc rất mãnh liệt biểu hiện qua cái tôi nhà thơ, cái tôi chứng nhân lịch sử” mà Đỗ

Văn Khang đã nghiên cứu

Cũng trong năm 1982, Lại Nguyên Ân có bài "Thể trường ca trong thơ gần đây" in ra

trong Văn học và phê bình (5) Theo ông, trong phạm vi thơ hiện đại ở ta, vẫn còn đủ thận trọng

để “coi trường ca như là một thể loại đang hình thành và phát triển với yếu tố trữ tình là yếu tố

chủ đạo” [5, tr.8] Ông nhận định: "Thể tài trường ca là biểu hiện cụ thể của xu hướng sử thi hóa" [5, tr.22] Ý kiến này giúp người viết tìm hiểu sâu về vấn đề thể loại và tính chất sử thi,

trữ tình trong trường ca về thời chống Mỹ

Trang 9

Phạm Huy Thông, nhà thơ nổi danh với Tiếng địch sông Ô - phỏng tích Trương Lương

dùng tiếng địch làm tan nát hàng ngũ quân sỹ Hạng Võ; đã có báo cáo tại hội nghị khoa học về Trường ca do Khoa Văn Đại học Tổng hợp tổ chức (1983) Trong phần II mang tựa "Trường

ca", Phạm Huy Thông đã khẳng định “độ dài của trường ca là một yếu tố thuận Độ dài góp

phần cấp trọng lượng cho chất tráng của thi ca" [98, tr.12] Phương châm của Huy Thông là

"linh hoạt để sát hợp" [98, tr.17] Bản thân người viết đồng tình với quan điểm: độ dài cần linh

hoạt, độ dài là yếu tố thuận, mà điều này thơ ngắn khó đạt được khi cần khái quát vấn đề lớn lao của lịch sử, phản ánh cảm xúc mãnh liệt của cái tôi chứng nhân lịch sử

Hoàng Ngọc Hiến có những ý kiến được trình bày khá rõ trong bài "Về đặc trưng của trường ca” (TCVH số 3/1984), đặc biệt là những nhận định quan trọng về đặc trưng thể loại trường ca của Biêlinxki, của giáo sư A.N.Sô-kô-lôv chuyên nghiên cứu về trường ca [28, tr.116]

Đồng thời, ông cũng giới thiệu một số thành tựu về trường ca của nền văn học Xô viết và cuộc

thảo luận về trường ca kéo dài trên ba tháng đăng ở báo Văn học Liên Xô [28, tr.110] Ông hoàn

toàn nhất trí với ý kiến của Biêlinxki: "Trường ca chỉ là một thể loại tác phẩm thơ đặc biệt có

nội dung lớn và dung lượng lớn”, "tương quan giữa nguyên tắc trữ tình và nguyên tắc tự sự là một vấn đề trung tâm của thi pháp trường ca; trong trường ca hiện đại, xu thế trữ tình lấn át tự sự” [28, tr.111-110] Cách lập luận và giải quyết vấn đề của ông dễ hiểu, phù hợp với cách hiểu

hiện nay về thể loại trường ca, nhất là nhận định: xu thế trữ tình trong trường ca hiện nay lấn

át tự sự Tuy vậy, ta cũng không loại trừ có trường ca viết ở thời gian sau này như Những cánh

đồng dưới lửa của Văn Lê, Đi trong sen ngát bóng xanh của Phạm Thái Quỳnh lại thiên về xu

hướng tự sự

Vấn đề phân định thể loại trường ca và thơ dài đã khiến Mã Giang Lân trăn trở và viết tiếp bài “Thử phân định giữa ranh giới trường ca và thơ dài" (Tạp chí Văn học số 5,6/1988)

Trong cuốn “Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam”, ở phần "Xu hướng mở rộng dung lượng phản

ánh" [47, tr.356], ông cũng tập trung đi sâu vào việc tìm sự giống nhau và khác nhau của hai

loại này Theo ông, “trường ca có kết cấu rõ và hoàn chỉnh hơn; thể thơ đa dạng; nhân vật có

đường nét, tâm trạng hơn; nhịp điệu, nhạc điệu trong trường ca sôi nổi, hào hùng hơn; yếu tố tự

sự và trữ tình bổ sung cho nhau; đề tài: thuộc về hiện tại mà tác giả từng sống, chứng kiến”

Đây là một sự nghiên cứu khá công phu, giúp ta thấy được sự tương đồng và khác biệt giữa trường ca và thơ dài

Sự ra đời mạnh mẽ của trường ca đã trở thành một hiện tượng văn học nổi bật trong đời sống thơ ca Tháng 3/2002, trên Tạp chí Giáo dục số 26, Đào Thị Bình có bài "Góp phần tìm hiểu trường ca viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước" Đây là một bài viết có giá trị,

Trang 10

tổng kết lại một số ưu điểm nổi trội của trường ca; giúp ta có một cái nhìn bao quát về thể loại;

mở ra hướng mới khi nghiên cứu, nhất là "chất suy nghĩ và triết lý", "chất trí tuệ chính luận"

[10, tr.30-31] trong trường ca

Phạm Quốc Ca, trong chuyên luận Mấy vấn đề về thơ Việt Nam hiện đại 1975 - 2000 (Nxb Hội Nhà Văn - 2003) đã dành nhiều trang để viết về thể loại trường ca Ông nhận định “về tên

gọi thể loại trường ca đã có sự không rạch ròi… Do sự thâm nhập, hòa trộn giữa các thể loại người ta đã gọi các tác phẩm khá khác nhau bằng một cái tên chung là trường ca” [11, tr.178]

Theo ông: có sự khác nhau khá rõ, chủ yếu là ở phương thức sáng tác; truyện thơ gắn với nhân

vật và kết cấu, cốt truyện; thơ dài gắn với cảm xúc trữ tình; trường ca phân biệt ở chỗ dù có cốt

truyện hay không, nó phải mang cảm hứng lớn về nhân dân, về tổ quốc, về thời đại [11, tr.179] Đây là những nhận xét khá thống nhất với nhận định của các nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân,

Vũ Đức Phúc, Mã Giang Lân, Trần Ngọc Vượng… về cảm hứng sử thi, kết cấu, cái tôi trữ tình… trong trường ca

Tuy nhiên, cuối cùng, trong cách lập luận của tác giả vẫn có một vài điểm chưa thống nhất khi nói rằng: “cho đến nay, vẫn rất khó phân biệt giữa trường ca, truyện thơ, và thơ dài” [11, tr.178] Về vấn đề này, người viết đã trình bày trong phần mở đầu luận văn Cao học “Đặc điểm

trường ca viết về đề tài chiến tranh thời chống Mỹ ”: trường ca hiện đại có thể có cốt truyện

hoặc không cần cốt truyện như truyện thơ nhưng phải mang cảm hứng lớn về nhân dân, tổ quốc, thời đại (cảm xúc trữ tình dễ lẫn với thơ dài) Đặc trưng nổi bật của trường ca giai đoạn 1960 -

1980 biểu hiện xu hướng sử thi hóa, âm điệu hào hùng, giọng điệu ngợi ca Trường ca ra đời sau

1980 thường đậm chất hồi tưởng, trăn trở, bi tráng

Vũ Văn Sỹ, trong phần thứ nhất của tập Mạch thơ trong nguồn thế kỷ [85] đã cho in lại một

số tiểu luận có liên quan đến trường ca như: “Hiện tượng đối thoại với quan niệm nghệ thuật sử thi trong thơ” (TCVH số 4/1990, tr 98); “Thành tựu và giới hạn lịch sử” (TCVH số 6/1990, tr

85): “Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại” (TCVH số 137/2000) Trong

đó, ông đã có những nhận định, đánh giá rất khách quan và sâu sắc về thể loại trường ca, thiên về ý kiến cho rằng trường ca là một hiện tượng thâm nhập của thể loại Nhưng ông cũng

không tránh khỏi băn khoăn khi đặt ra câu hỏi: “Liệu có những nguyên tắc cho sự mềm dẻo của

kết cấu trường ca? và phải chăng trường ca đã thay thế cho truyện thơ” [85, tr.138-139] Sau

đó, chính ông cũng đã lý giải: “Trường ca kế thừa truyện thơ nói riêng và những kinh nghiệm tự

sự của thơ ca nói chung Chính vì thế, về bản chất, trường ca khác với truyện thơ truyền thống, khác với truờng ca cổ điển nhưng lại gần gũi với thơ trữ tình” Theo ông, trường ca lấy sự

trưởng thành của ý thức làm thước đo các biến cố và sự kiện, là căn cứ để phân biệt bản chất

Trang 11

giữa trường ca và truyện thơ truyền thống Đây là vấn đề mà luận án chúng tôi tập trung nghiên cứu

Lê Thành Nghị, tác giả của tập Tiểu luận Trước đèn thơ có những lập luận tương đồng ý kiến Vũ Văn Sỹ khi cho rằng: “sự khác nhau giữa thơ dài và trường ca, có thể dễ nhận thấy qua

kết cấu của tác phẩm Trường ca đòi hỏi một kết cấu chặt chẽ, hợp lý, các chương đoạn có thể không theo qui luật thời gian, không gian, có thể kết cấu theo tuyến sự kiện hoặc tuyến nhân vật trường ca khác hẳn một bài thơ dài ở tính chặt chẽ của kết cấu” [58, tr.178]

Vũ Tuấn Anh, trong bài “Thơ chống Mỹ, cứu nước trong tiến trình thơ hiện đại” [1], cũng đã trình bày những luận điểm sau:

+ Thơ ca chống Mỹ có cốt cách và tầm vóc của một nền thơ lớn, trước hết là do tính quần chúng sâu rộng… Một nền thơ trữ tình - sử thi, giàu tính chính luận và chất trí tuệ

+ Thời đại lịch sử đã khai sinh một mô hình thơ ca mới, một kiểu nhà thơ mới, một cái Tôi

trữ tình công dân, một cái Ta dân tộc

+ Nền thơ chống Mỹ làm phong phú rất nhiều khả năng biểu hiện của thơ ca: từ việc sử

dụng linh hoạt các thể thơ cho đến cấu trúc thơ, ngôn ngữ thơ

Những vấn đề được tác giả nêu ra mặc dầu còn mang tính khái quát về thơ chống Mỹ nói chung; nhưng lại là những vấn đề rất đáng quan tâm, sát hợp với nội dung nghiên cứu để giúp người viết phân tích, tổng hợp các vấn đề từ thể loại trường ca hiện đại viết về thời chống Mỹ nói riêng

Chúng tôi cũng sử dụng các luận văn sau đây trong quá trình nghiên cứu:

+ Luận văn Thạc sĩ “Đặc điểm trường ca viết về đề tài chiến tranh chống Mỹ” (2002) của

Nguyễn Thị Liên Tâm

+ Luận văn Thạc sĩ “Đặc điểm trường ca Thu Bồn” (2005) của Nguyễn Xuân Cổn.

Nhìn một cách tổng quát; các nhận định, công trình nghiên cứu nêu trên đã giúp chúng tôi

có một cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm sâu sát về trường ca Ở giai đoạn đầu, khi trường ca mới xuất hiện, tính chất tự sự đóng vai trò chủ yếu (khiến dễ lẫn với truyện thơ) Càng về sau

1975, yếu tố tự sự càng kết hợp chặt chẽ với trữ tình, nhưng vai trò của yếu tố trữ tình bộc lộ mạnh mẽ, rõ nét hơn (khiến dễ lẫn với thơ dài, thơ trữ tình)

Để kết thúc phần nhận định về thể loại trường ca, trên cơ sở đã trình bày ở trên kết hợp với

ý kiến mang tính tổng hợp của Đào Thị Bình, người viết cũng cho rằng: "Trường ca hiện đại là

một thể loại văn học thuộc hệ thống thơ ca hiện đại Việt Nam, ra đời và phát triển trong hoàn cảnh xã hội có những biến cố lịch sử lớn lao, có dung lượng khá đồ sộ, cảm hứng mãnh liệt, nội dung hoành tráng chứa đựng những sự kiện lịch sử phong phú, âm điệu hào hùng, hình

Trang 12

thức thể loại hiện đại, phốí hợp đa dạng các thể thơ, đậm tính trữ tình, giàu chất suy nghĩ, triết lý” (TCGD số 26/2002) Đồng thời, người viết cũng bổ sung ý kiến của ĐàoThị Bình: “trường

ca hiện đại không chỉ ra đời và phát triển trong hoàn cảnh xã hội có những biến cố lịch sử trọng đại, lớn lao mà còn ra đời cả trong thời bình” Vì thực tế, sau 1975, trong thời bình không có biến cố lịch sử lớn lao nhưng vẫn có hàng loạt trường ca ra đời hưởng ứng các cuộc vận động sáng tác về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ và đa phần được viết bằng thủ pháp

“hồi tưởng”

5.2 Những ý kiến phê bình, nhận định về các tác giả và các trường ca tiêu biểu

Hầu hết đây là những bài phê bình nhận định về một tác giả, về một trường ca cụ thể

Bích Thu có bài viết “Thu Bồn”, đăng trong Phê bình bình luận Văn học -do Vũ Tiến Quỳnh chủ biên [78], trích từ Nhà thơ Việt Nam hiện đại (Nxb KHXH - 1884) Tác giả nhận

định ngòi bút Thu Bồn có khả năng mở rộng sự sáng tạo ở nhiều lãnh vực, thể loại, đặc biệt là ở thể loại trường ca Là một người lính gắn bó với chiến trường miền Nam, Thu Bồn đi nhiều, viết khỏe Ngòi bút sáng tạo kết hợp hài hòa cảm xúc và trí tuệ, khái quát mà không tách rời hiện

thực Bên cạnh mảng thơ trữ tình, Thu Bồn tập trung sức sáng tác trường ca Sau khi ra mắt Bài

ca chim Chơrao (1964), ông viết tiếp Vách đá Hồ Chí Minh (1972), Quê hương mặt trời vàng, Chim vàng chốt lửa (1975), Badankhát (1977), và Campuchia hy vọng (1979) Theo Bích Thu,

Thu Bồn là người sáng tác trường ca hiện đại với số lượng khá nhiều, gắn với thời kỳ hoàng kim

của thể loại Và sau 1975, Thu Bồn vẫn say viết trường ca, nhất là viết về Tây Nguyên Bài ca

chim Chơrao có kết cấu theo cốt truyện, được đánh giá là tác phẩm thành công, đưa ông đến với

độc giả trong và ngoài nước (giải Bông sen - tại Đại hội các nhà văn Á Phi họp tại Liên Xô

1973) Bích Thu cho rằng: “Trường ca của Thu Bồn thường có tính chất thời sự Song từ điểm

mạnh này, thơ anh cũng bộc lộ một số hạn chế Chất liệu hiện thực trong thơ… nhiều khi còn bề bộn, ngổn ngang…, có cảm giác Thu Bồn còn cầu kỳ, chuộng lạ trong cách đặt tên cho các tiêu

đề của trường ca” [78, tr.66-68] Qua nghiên cứu, chúng tôi cũng khẳng định rằng: sự xuất hiện

rầm rộ của trường ca, trong đó có sự đóng góp chủ lực của Thu Bồn, là một hiện tượng văn học nổi bật trong đời sống thơ ca những năm chống Mỹ

Tố Hữu, cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, đã được rất nhiều nhà phê

bình như Trần Đình Sử, Lê Đình Kỵ, Phong Lan… nghiên cứu và Theo chân Bác được đánh giá

là một thiên trường ca viết về Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Hạnh có tiểu luận “Theo chân Bác -

một thành công mới của Tố Hữu”, in trong cuốn “Tố Hữu về tác gia và tác phẩm” do Phong Lan

chủ biên Theo ông, ngay việc đặt đầu đề cho trường ca, Tố Hữu đã thể hiện kín đáo ý đồ nghệ thuật: “Theo chân Bác” để làm sống lại trước mắt những chặng đường Bác đã đi qua Trong

Trang 13

trường ca, lịch sử và cảm xúc, tự sự và trữ tình, thủ pháp kể chuyện và miêu tả, biểu hiện xen

kẽ… Nguyễn Văn Hạnh cũng ca ngợi: “Theo chân Bác với những thành công nổi bật của nó về

nhiều mặt… Bài thơ viết với một cảm hứng lớn, công phu và với một trình độ già dặn… đã gửi vào bản trường ca tất cả tâm huyết, tất cả sức mạnh nghệ thuật của anh và bài thơ đã làm“nhiệm vụ lịch sử” của nó một cách xứng đáng” [43, tr 670, 674, 675] Tuy vậy, ông cũng

chỉ ra những hạn chế của trường ca: có những đoạn không hay, dễ dãi, dàn trải… có đoạn nặng tưởng tượng, một số hình ảnh trùng lặp, ít có sức nặng (ngẩng đầu cao, vỗ cánh bay…) Những nhận định của ông giúp chúng tôi có cơ sở nghiên cứu giá trị văn học, giá trị lịch sử, cảm hứng

sử thi của trường ca về thời chống Mỹ

Tôn Phương Lan đã đánh giá cao về tài năng Nguyễn Khoa Điềm trong bài viết “Nguyễn

Khoa Điềm, nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng" (TCVH số 5/1976): “Một điểm đáng chú ý trong

thơ Nguyễn Khoa Điềm là những liên tưởng độc đáo, kết quả của một sự am hiểu cuộc sống và một cảm quan nhạy bén” [44, tr.110] Tôn Phương Lan cũng khái quát về giá trị phản ánh của

tác phẩm: “góp cho văn học một phong cách mới những khái quát thơ sâu sắc với bút pháp

hiện thực và lãng mạn quyện chặt vào nhau [44, tr.112] Cuộc sống chiến đấu vĩ đại của toàn dân là cơ sở hiện thực cho những dòng suy tư cuộn chảy” [44, tr.115] Tuy nhiên, Tôn Phương

Lan cũng cho rằng chất suy tưởng đằm sâu của Nguyễn Khoa Điềm nhiều khi khiến cho thơ ít

chất hồn nhiên tươi tắn: "Lắm khi nó trở nên rắc rối, cầu kì, chữ nghĩa" [44, tr.112] Những

nhận định chính xác của tác giả giúp chúng tôi nghiên cứu sâu hơn về sức khái quát hiện thực của tác phẩm và phong cách chính luận của Nguyễn Khoa Điềm

Trong bài viết “Thơ chống Mỹ, cứu nước trong tiến trình thơ hiện đại” Vũ Tuấn Anh

cũng nhận xét: “Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm mở ra cuộc đối thoại

thảo ngay… Phương thức chính luận mở ra nhiều bình diện, đi sâu vào nhiều khía cạnh của nội dung lịch sử - dân tộc, thời đại, tạo nên tính thuyết phục trí tuệ của thơ ca, mở rộng những khả năng mới cho thơ trữ tình” [1] Nhận xét trên góp phần khẳng định giá trị của Mặt đường khát vọng, tài năng của Nguyễn Khoa Điềm, mở ra hướng nghiên cứu về nội dung lịch sử - dân tộc,

thời đại, biểu hiện qua phương thức chính luận giàu chất trữ tình, giúp người viết đánh giá về sự

Trang 14

Vũ Văn Sỹ, trong tiểu luận “Thơ Nguyễn Khoa Ðiềm - một giọng trữ tình giàu chất sử

thi” [85, tr.290] đã ca ngợi: “Với Đất ngoại ô và Mặt đường khát vọng có thể khẳng định

Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ trẻ đặc sắc của thế hệ các nhà thơ chống Mỹ Một tiếng nói trẻ trung, có cá tính, vừa “đồng thanh”, vừa đại diện cho một thế hệ trực tiếp cầm súng và vào trận” Những đánh giá của Vũ Văn Sĩ và Vũ Tuấn Anh về tác giả khá cụ thể, nhất là về sự tinh

tế, tài hoa, nhận thức thời đại, sự kết hợp giữa tính triết lý và trữ tình

"Thanh Thảo, thơ và trường ca" (TCVH số 2/1980) là bài nhận định của Thiếu Mai về

một cây bút bộ đội viết về người lính Trường Sơn thời chống Mỹ Theo Thiếu Mai: "Ngòi bút

Thanh Thảo tinh tế mà thanh thoát, phong phú mà nhẹ nhõm… lời thơ đẹp, không dễ dãi, buông thả” [52, tr.102]… là thơ của một tâm hồn giàu suy tưởng, giàu trí tuệ Thơ Thanh Thảo có chiều sâu…, bao giờ anh cũng muốn vượt qua những hiện tượng bên ngoài để tìm đến cái đích thực, cái bản chất của sự vật” [52, tr.99] Bài viết đã dành nhiều trang nhận định về giá trị của Những người đi tới biển, giúp người viết có thuận lợi ban đầu trong việc nghiên cứu về tác giả

và đặc biệt là giọng điệu và sức khái quát hiện thực của trường ca

Trong bài "Thanh Thảo, một gương mặt tiêu biểu trong thơ từ sau 1975" đăng trên

TCVH số 5, 6/1985, Bích Thu nhận xét: Thơ anh “hướng ngòi bút vào chân dung người lính,

vào hiện thực chiến trường, vào đời sống nhân dân… để khám phá ra chân dung tinh thần của một thế hệ người lính trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt mà hào hùng… là tiếng nói thâm trầm, thấm thía về hiện thực chiến tranh, về trách nhiệm và số phận của thế hệ mình trước Tổ quốc, nhân dân” [99, tr.67] Đánh giá về Những người đi tới biển, Bích Thu khẳng định so với

nhiều trường ca xuất hiện rầm rộ vào những năm 70, tác phẩm thực sự gây ấn tượng đẹp đối với

người đọc về thể thơ này vì: “Cái tôi trong trường ca là cái tôi từng trải, cái tôi chứng kiến

mang đậm dấu vết cá nhân, không lập lại bất cứ ai, lý giải được những vấn đề sinh tử của một giai đoạn lịch sử, chất liệu hiện thực đi vào thơ Thanh Thảo, vừa bình dị, đời thường vừa lung linh, huyền ảo…” [99, tr.70-71] Như vậy, Bích Thu đã điểm qua về vấn đề xây dựng cái tôi của

nhà thơ, nhận xét về chất liệu cuộc sống trong trường ca và có nhận định rất khách quan rằng:

“Thanh Thảo có những tìm tòi mới trong hành trình sáng tạo [99, tr.69], nhưng "Thơ Thanh

Thảo giàu chất suy tư, hơi quá trí thức mà thành ra khó hiểu" [99, tr.72]

Tuy nhiên, cuối cùng, Bích Thu vẫn khẳng định Thanh Thảo xứng đáng là một gương mặt thơ tiêu biểu [99, tr.73] Những nhận xét của Bích Thu và Thiếu Mai giúp chúng tôi tìm hiểu sâu hơn về giá trị phản ánh hiện thực thời chống Mỹ, cái tôi và cái ta trong trường ca của Thanh

Thảo, những đóng góp của nhà thơ đối với dòng văn học thời chống Mỹ để thực hiện việc

nghiên cứu chương II của luận án

Trang 15

Lại Nguyên Ân cũng đã viết về Thanh Thảo trong bài "Dấu chân và người lính trẻ trong

thơ Thanh Thảo”, [5, tr.45] Ông đã nhận định: “Thanh Thảo… đi vào chiến trường cuối những

năm 60, suốt dọc Trường Sơn, theo dấu chân người lính trẻ Và tâm trạng người lính, đời sống, chiến đấu của người lính, đời sống nhân dân trong vùng sát nách giặc đã dội vào thơ các anh với những âm điệu và màu sắc có khác” Thơ Thanh Thảo viết về cuộc chiến đấu ở dọc Trường

Sơn và đồng bào Nam Bộ, cố gắng phác họa chân dung tinh thần của những người lính bình thường, vô danh nhưng rất có ý thức về vận mệnh Tổ quốc Thơ anh không thiếu cái cụ thể mà

“vẫn giàu khái quát” [5, tr.52] Nhận định trên đã khẳng định sức khái quát hiện thực của

Những người đi tới biển và ngòi bút Thanh Thảo mà chúng tôi sẽ nghiên cứu ở chương II

Đánh giá về bút pháp xây dựng trường ca Những người đi tới biển, Lại Nguyên Ân cho rằng: “Thanh Thảo chính đã thành công ở phần chân thật trong cảm quan về thực tại chiến đấu,

có hy sinh mất mát, có chiến thắng lạc quan; sắc thái bi hùng, trữ tình… hòa hợp ở mức khá cao với tính sử thi, điều này đem lại thành công cho anh” [5, tr.55] Ý kiến của Lại Nguyên Ân tạo

thêm cơ sở để chúng tôi nghiên cứu sức khái quát hiện thực; yếu tố sử thi, trữ tình trong trường ca cũng như bút pháp hiện thực của Thanh Thảo

Mai Hương rất tâm đắc với phong cách viết trường ca của Hữu Thỉnh - một nhà thơ bộ đội thời chống Mỹ Trên TCVH số 3/1980, với bài "Đọc Đường tới thành phố”, Mai Hương cho

rằng: "Ngòi bút Hữu Thỉnh thật tỉnh táo, khỏe khoắn, không một chút cường điệu dễ dãi khi

viết về cuộc hành trình vĩ đại của cả dân tộc” [35, tr.109] Trong những trang viết khá cẩn thận,

Mai Hương đã nhận xét khái quát từng chương của trường ca: cách khai thác chủ đề, cách chọn vấn đề của tình cảm, chọn tình huống gây cấn để mô tả, từ đó đưa người đọc đến với “sự tinh tế

trong đời sống” tình cảm vốn đẹp và trong lành của con người Việt Nam, đặc biệt là sự hoà quyện giữa cá nhân và cộng đồng [35, tr.110] Mai Hương cũng cho rằng: "Khi tác giả cố chỉ

thuần lao tìm về mặt hình thức, ở những chỗ ấy khó đọc, khó nhớ và có phần nặng nề" [35,

tr.112] Nhưng cuối cùng, tác giả vẫn khẳng định Đường tới thành phố đã thu hút được sự chú ý,

tin yêu của đông đảo bạn đọc Điều này đã giúp người viết khẳng định thêm giá trị của trường ca

và bút lực của Hữu Thỉnh

"Hữu Thỉnh - một phong cách thơ sáng tạo" là bài viết của Lưu Khánh Thơ, đăng trên

TCVH số 2/1988 Trước hết, Khánh Thơ đã giới thiệu sự thành công của Đường tới thành phố

(giải ba báo Văn nghệ 1972 - 1973, giải nhất báo Văn nghệ 1975 - 1976, tặng thưởng của Hội

Nhà Văn 1980) Theo Khánh Thơ: "trước khi là nhà thơ, Hữu Thỉnh đã là một người lính Hình

tượng người lính và hiện thực lớn lao, sôi động của những năm tháng chiến tranh ác liệt đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo cho các sáng tạo của anh” [95, tr.75] Như vậy, “người lính và

hiện thực cuộc cách mạng lớn lao của dân tộc” là nội dung quan trọng trong Đường tới thành

Trang 16

phố Cảm hứng, phong cách sáng tạo của tác giả cũng là vấn đề được tập trung nghiên cứu ở

chương II

Lúc bấy giờ, Lưu Khánh Thơ đã đánh giá khá dè dặt:“Hữu Thỉnh đã khẳng định mình là

một trong những nhà thơ có thành công khi viết về đề tài chiến tranh chống Mỹ" Tác giả nhận

xét trường ca có khá nhiều những đoạn thơ cảm động, những câu thơ sắc nhọn, phản ánh sâu sát

hiện thực của một thời chiến, hơn hẳn những tác phẩm ở giai đoạn trước Tuy nhiên, Khánh Thơ cũng chỉ ra những hạn chế: "chất lượng các chương không đồng đều ở đoạn cuối không giấu

nổi tình trạng hụt hơi có khi không làm chủ được ngòi bút của mình, thơ bị rơi vào tình trạng lan man" [95, tr.81-82]

Như vậy, cả hai bài viết đều đánh giá cao bút lực của Hữu Thỉnh, nhưng Lưu Khánh Thơ đi sâu về tính chất văn chương, nghệ thuật biểu hiện nhân vật ở những câu thơ minh họa Giá trị

của Đường tới thành phố cũng được Mai Hương và Lưu Khánh Thơ khẳng định Ngày nay, lời

nhận xét ấy vẫn được trân trọng và là cơ sở để giúp người viết thực hiện việc nghiên cứu giá trị tác phẩm và vai trò của tác giả trong dòng văn học hiện đại Việt Nam

Nhận định khái quát về giá trị tư tưởng của Mặt trời trong lòng đất, Dục Tú cho rằng: “Tác

phẩm ngợi ca sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của cuộc chiến tranh chính nghĩa" [79, tr.146]

Thành công của Mặt trời trong lòng đất (Trần Mạnh Hảo) chính là nhờ sự phản ánh trung thực

cuộc sống chiến đấu của nhân dân Củ Chi và bút pháp lãng mạn bay bổng Tuy nhiên, người viết

cũng nhận thấy trong trường ca này, những đoạn triết lý nhiều là những đoạn tối nghĩa, có

những mạch liên tưởng thiếu lô-gic [101, tr.152]

Hồng Diệu với bài viết "Những chặng đường thơ Anh Ngọc" (TCVH số 6/1987), đã nhận

xét bút pháp và đánh giá Sông núi trên vai: “Cùng với tuổi tác và sự từng trải, nhà thơ có ý thức

sâu sắc hơn về con người và cuộc đời” Thơ Anh Ngọc có bản sắc riêng của lớp nhà thơ trẻ mặc

áo lính, thường đặt yêu cầu cao về tư tưởng, đồng thời chú trọng tính chân thực trong thơ Tại hội thảo về Trường ca do Tạp chí Văn nghệ tổ chức (1980), Anh Ngọc có bài phát biểu nhan đề

“Hãy đưa tôi một tư tưởng”, ở dòng chữ ghi cuối trường ca Sông núi trên vai (1983), anh cũng nêu rõ điều này Hồng Diệu cho rằng: "Anh Ngọc tập trung nhiều và thành công… rõ hơn là ở

trường ca Sông núi trên vai ” Ca ngợi như thế nhưng Hồng Diệu cũng không bỏ qua những

nhược điểm mà Anh Ngọc mắc phải: "Có những câu thơ trong Sông núi trên vai còn công thức

và nhạt lắm” Tuy nhiên, bài phê bình này còn khá chung chung, chưa đào sâu giá trị hiện thực

của Sông núi trên vai, mặc dù đây là vấn đề quan trọng nhất làm nên sự thành công cho tác phẩm

(vì thực tế, các cô gái trong đoàn Vận tải H 50 ở mảnh đất cực Nam Trung bộ, ngày nay vẫn còn

Trang 17

lại một số các chị quá lứa, lỡ thì, đơn lẻ nhưng lòng không quên những niềm vui; những nhọc nhằn, khốn khó mà họ đã từng trải qua)

Vũ Duy Thông, trong lời giới thiệu Lửa mùa hong áo, đã bày tỏ suy nghĩ: “Không biết có

lầm không nhưng các nhà thơ nữ hình như rất ít viết trường ca, bởi đây là lần đầu tôi đọc trường ca của một cây bút khác giới… chúng tôi đã quen nghĩ trường ca đòi hỏi vóc dáng vạm

vỡ, mạch thơ dài hơi, bố cục lớp lang, bài bản… không hợp lắm với phụ nữ” Nhưng đọc Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây, Vũ Duy Thông không chỉ thấy đậm chất nữ rất riêng mà còn thấy

bút lực của người viết trên những trang thơ

Hồng Diệu, trong “Thêm vài suy nghĩ” (TCVN số 5/1981) đã có một nhận xét (theo ông là

một nhận xét vui): “Trong bao nhiêu trường ca in ra mấy chục năm nay, chưa có một trường ca

nào mà tác giả của nó là nữ mặc dầu các bạn gái làm thơ của chúng ta khá nhiều Và nếu có trường ca của một bạn gái thì “chất” trường ca ở đó có gì đặc biệt?” Thật sự, từ sau năm 2000,

đã có vài trường ca của các nhà thơ nữ ra đời và chất lượng hầu như không lệ thuộc nhiều vào vấn đề nhà thơ là nam hay nữ mà phụ thuộc ở vốn thực tế, sức viết, cảm xúc và tài năng của họ

Chúng ta có thể kể đến Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây, Bà mẹ Quảng Nam của Trần Thị Thắng, Mẹ của Phạm Thị Bảo Nhưng có thể thấy rằng Lửa mùa hong áo được độc giả chú ý nhiều hơn

- Trong sách Phê bình, bình luận văn học - Nxb Văn nghệ (1998) do Vũ Tiến Quỳnh chọn

và giới thiệu cũng có một số bài viết về các tác giả và phân tích một số trường ca tiêu biểu được khẳng định giá trị, chẳng hạn như:

+ Nguyễn Viết Lãm có "Bài ca chim Chơ rao, một bản trường ca hay, viết về Thu Bồn

và tác phẩm, đã đăng trên TCVH số 5/1965 [78, tr.196-209]

+ Hoài Thanh với bài "Tấm lòng của một thanh niên trên tiền tuyến lớn”, viết về nhà thơ Lê Anh Xuân, đã in trong TCVH số 10/1968 [78, tr.93]

+ Phạm Văn Sỹ với bài "Thơ ca chống Mỹ cứu nước ở Miền Nam 1954 - 1970 [78, tr.34]

đã có những lời nhận định về Hưởng Triều, Giang Nam, Lê Anh Xuân, Thu Bồn…

- Mã Giang Lân có bài "Anh Ngọc, tình yêu và người lính" in trong tập Tiến trình thơ

hiện đại Việt Nam, [47, tr.558-564] Nxb Giáo Dục - 2000

- Nguyễn Hữu Quý có bài “Cổ tích về sự hồi sinh” viết về các trường ca được sáng tác từ cuộc phát động viết về Bác Hồ của tuần báo Văn nghệ đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 617/2004

Những công trình nghiên cứu, những bài phê bình, những bài viết trên đã tạo cơ sở, tiền đề

cơ bản quan trọng cho chúng tôi thực hiện công trình này Ngoài ra, cũng cần nhắc đến một số

Trang 18

công trình khác, tuy không trực tiếp liên quan đến trường ca hiện đại, nhưng cũng gợi ý cho chúng tôi có những hiểu biết sâu sắc hơn về tính chất sử thi anh hùng hiện đại Đó là:

+ Bài "Mấy ý kiến về anh hùng ca - bài ca Đăm San” của Lê Văn Khoa (TCVH số 6/1982) + Luận án Tiến sĩ: “Thể loại sử thi anh hùng của các dân tộc ở Tây Nguyên” của Võ Quang

Nhơn, có trích đăng trên Tạp chí Văn nghệ (4) 1987

+ Luận văn Thạc sĩ: "Thi pháp sử thi anh hùng của dân tộc Ê-đê" của Huỳnh Thống Nhất

(2002)

Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và trân trọng những công trình nghiên cứu đã nêu, trong

luận án này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu Trường ca về thời chống Mỹ trong văn học hiện

đại Việt Nam, cụ thể về các nội dung: “những nhân tố tạo nên sự xuất hiện trường ca về thời

chống Mỹ; nội dung chủ yếu, đặc điểm nghệ thuật của trường ca”

5.3 Phạm vi nghiên cứu

Trường ca về thời chống Mỹ xuất hiện từ 1960 đến 1980 khá nhiều và đa phần có giá trị Sau năm 1980, trường ca vẫn tiếp tục phát triển Bên cạnh đề tài chiến tranh, các nhà thơ còn quan tâm đến những đề tài về cuộc sống thường nhật, đề tài đời tư thế sự Nhưng thực tế cho thấy, những trường ca ấy chưa tạo nên những ấn tượng, những giá trị như trường ca về thời chống Mỹ giai đoạn 1960 - 1980 Do vậy, phạm vi nghiên cứu của luận án này không thể khảo sát tất cả các trường ca, mà chỉ dừng lại ở những trường ca tiêu biểu, có giá trị viết về thời chống

Mỹ của Thu Bồn, Tố Hữu, Lê Anh Xuân, Giang Nam, Hưởng Triều, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Thanh Thảo, Anh Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, Lê Thị Mây, Văn Công Hùng… và một vài tác giả khác như ở thư mục đã giới hạn

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi áp dụng các phương pháp sau:

6.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để nghiên cứu những nhân tố khách quan và chủ quan tạo nên sự xuất hiện của trường ca về thời chống Mỹ; phân tích, giải mã sự gắn kết giữa cảm xúc thời đại và dân tộc, sự hoà quyện giữa cá nhân và cộng đồng Phân tích giá trị phán ánh hiện thực; những đặc điểm của sự phức hợp, đa dạng về thể thơ; tính chất đa giọng điệu và giọng điệu sử thi, không gian sử thi, sự liên tường, chất liệu dân gian của trường ca về thời chống Mỹ Phương pháp tổng hợp sẽ tạo thuận lợi cho chúng tôi hệ thống các vấn đề, luận điểm đã nghiên cứu và rút ra những nhận định chung

Trang 19

6.2 Phương pháp lịch sử - xã hội

Các trường ca về thời chống Mỹ phản ánh cuộc sống hiện thực phong phú Tư tưởng nghệ thuật của các nhà thơ có cội nguồn từ hiện thực lịch sử và thời đại mà họ đã và đang sống Vì thế, chúng tôi luôn vận dụng phương pháp lịch sử - xã hội trong quá trình tiếp cận, nghiên cứu giá trị các trường ca và cái tôi nhà thơ theo hệ thống trục thời gian lịch sử (từ 1960 đến 1980, từ

1980 đến nay) Hệ thống lại các ý kiến nhận xét về thể loại; các ý kiến đánh giá về tác giả, tác phẩm theo quan điểm lịch sử xã hội phù hợp với thời điểm xuất hiện

6.3 Phương pháp so sánh, thống kê

Ngoài hai phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh và thống kê ở chừng mực cần thiết khi phân tích tác phẩm, đối sánh sự khác biệt về vai trò cá nhân, tính sử thi, giọng điệu, kết cấu… của trường ca hiện đại so với trường ca cổ điển, so sánh phong cách của các tác giả Ở trường hợp cần thiết, sử dụng phương pháp thống kê để có cái nhìn tổng hợp về tần số xuất hiện của các thể thơ, giọng điệu, chủ thể trữ tình trong trường ca

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận án được trình bày thành ba chương:

Chương I Những nhân tố tạo nên sự xuất hiện của trường ca về thời chống Mỹ

Chương II Nội dung chủ yếu của trường ca về thời chống Mỹ

Chương III Đặc điểm nghệ thuật của trường ca về thời chống Mỹ

Cuối cùng là phụ lục, tài liệu tham khảo và những công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án

Trang 20

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TẠO NÊN SỰ XUẤT HIỆN CỦA TRƯỜNG CA VỀ THỜI

CHỐNG MỸ

1.1 Những nhân tố khách quan tạo nên sự xuất hiện của trường ca

1.1.1 Sự kết nối từ truyền thống đến hiện đại

Văn học hiện đại nói chung, thơ ca Việt Nam thời chống Mỹ nói riêng, đã được đội ngũ nhà thơ kết hợp nét truyền thống cùng với sự mới mẻ hiện đại để tạo thành tiếng nói đặc sắc riêng Sự kết nối từ truyền thống đến hiện đại về nội dung và hình thức phát triển của thể loại

đã tạo nên một sắc thái mới cho thơ Đây cũng là một nhân tố góp phần tạo nên sự xuất hiện của trường ca về thời chống Mỹ

Trường ca, một loại hình nghệ thuật ra đời tương đối sớm trong đời sống tinh thần của

nhân loại Đầu tiên là sự xuất hiện của các trường ca cổ đại như: Iliat-Ôđixê của Hy Lạp,

Mahabharata và Ramayana của Ấn Độ Ở Lào có Phra Lac Phra Lam, ở Khơme có Riêmkê

Việt Nam có các Khan - là trường ca cổ sơ thiên về hát, kể bằng làn giọng du dương trầm bổng

có thể kết hợp với vũ điệu Điển hình như: trường ca Đam San, trường ca Xinh Nhã, trường ca

Đăm Di, H’ mon Dăm Noi, MLan, Xing Chơniếp của các dân tộc Tây Nguyên (thuộc sử thi anh

hùng, chủ yếu ca ngợi các nhân vật anh hùng tiêu biểu của bộ lạc); của dân tộc Mường như: sử

thi thần thoại Đẻ đất, đẻ nước Xuất phát từ mục đích phản ánh đời sống xã hội mà nó tồn tại, thi

pháp trường ca luôn chịu sự qui định của xã hội mà nó được sản sinh

Từ nghĩa gốc “ca là hát”, các tác phẩm sử thi cổ xưa của Việt Nam chuyển tải cái hồn phách đến lòng người bằng âm thanh giai điệu, bằng lối kể “tổng hợp” Thường, trong các ngôi nhà rông ấm ngọn lửa của làng, những bài ca sử thi đã được cất lên bằng giọng hát, giọng kể Đây có lẽ cũng là một trong những điều kiện thuận lợi cho sử thi cổ điển phát triển, vì hát ca sẽ giúp cho người nghe dễ nhớ, dễ thuộc và dễ lưu truyền Thế nhưng, trong dòng văn học hiện đại, thể loại trường ca ngày nay lại không mang yếu tố “hát ca”

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các trường ca nổi tiếng trong kho tàng văn học dân tộc là trường ca, vì yếu tố “thi” và “ca” gắn chặt nhau, có yếu tố “trường” và “truyện” xen lẫn, trường

ca cùng một hình thức với truyện thơ [80] Các bài thơ có dung lượng đồ sộ hiện nay không có yếu tố “ca” Người viết lại cho rằng trường ca hiện đại phải mang hơi thở sử thi, âm hưởng các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, chứa đựng nội dung lớn lao So sánh với trường ca cổ điển,

điều khác biệt lớn là trường ca cổ điển không có chỗ đứng cho sự sáng tạo cá nhân, không

thể đưa cách nhìn riêng của bản thân vào tác phẩm mà chỉ có thể kể, thuật lại sự kiện là chủ yếu

Trang 21

Tất cả là nhờ vào ký ức của tập thể nhân dân nhớ về quá khứ anh hùng của dân tộc Trường ca

sử thi hiện đại chính là bắt nguồn từ trường ca cổ điển về phương diện kết cấu, độ dài, chất sử thi anh hùng ca; nhưng mỗi thời đại đều cĩ những trường ca mang đặc điểm riêng về hình thức lẫn nội dung phù hợp với mỗi thời

Vũ Văn Sỹ, trong tiểu luận “Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại”

in trong Mạch nguồn thơ thế kỷ [85] đã khẳng định: năm 1980, 1981, 1982, nhiều cuộc hội thảo

về trường ca diễn ra sơi nổi Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1981) mở thêm mục “Trao đổi về trường ca” TCVH số 6/1982 đặc biệt đã đăng tải lại nhiều bản tham luận cơng phu của các nhà nghiên cứu văn học về “trường ca cổ điển và trường ca hiện đại” Theo ơng, các tham luận cĩ thể quy về bốn cụm ý kiến:

+ Một là, các tác phẩm dài hơi đương thời nên gọi là truyện thơ (vì khái niệm trường ca chỉ

là vay mượn ở Châu Âu)

+ Hai là, trường ca, với ý nghĩa mỹ học đầy đủ nhất, cĩ tên gọi là trường ca sử thi hiện đại,

Sự tổng hợp các ý kiến trao đổi về trường ca của Vũ Văn Sĩ khá hợp lý Trong luận văn

“Đặc điểm trường ca viết về đề tài chiến tranh thời chống Mỹ”, chúng tơi đã khẳng định vấn

đề: những bài thơ dài cĩ kết cấu chặt chẽ, mang nội dung lịch sử lớn lao, cĩ tính sử thi… mới được gọi là trường ca Viết về thời chống Mỹ, nhiều bài thơ dài khơng hề cĩ cốt truyện lại thiên

về giọng điệu bày tỏ cảm xúc như: Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh, Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm, Những người đi tới biển - Thanh Thảo vẫn được xếp vào thể trường ca sử

thi hiện đại Và cách sắp xếp ấy là hợp lý vì:

+ Trường ca sử thi hiện đại thường có dung lượng khá đồ sộ với cảm hứng mãnh liệt; nội dung hoành tráng; âm điệu hào hùng; có khả năng tổng hợp cả về nội dung lẫn hình thức

thể loại; vừa đậm đà chất trữ tình; vừa giàu chất suy nghĩ, triết lý Chính vì thế, cĩ thể cho

rằng: trường ca sử thi hiện đại, về bản chất khác với truyện thơ truyền thống, khác với trường ca

cổ điển nhưng gần gũi với thơ trữ tình

Trang 22

+ Trường ca sử thi hiện đại là một thể loại văn học nằm trong hệ thống thơ ca hiện đại

Việt Nam, “ra đời và phát triển trong hoàn cảnh xã hội có những biến cố lịch sử trọng đại, lớn

lao” [10, tr.110] Tuy nhiên, trong thực tế, ở thời bình vẫn có hàng loạt trường ca ra đời hưởng

ứng các cuộc vận động sáng tác về đề tài chiến tranh, phản ánh về một thời kháng chiến đã qua

và đa phần được viết bằng thủ pháp “hồi tưởng”

Bàn về vấn đề này, thi hào Pháp Victor Hugo, một trong những nhà thơ lãng mạn lớn nhất

của Phương Tây ở thế kỷ XIX và nhà thơ lớn Maiakovki của Liên Xô (cũ) ở nửa đầu thế kỷ XX đều cho rằng thể loại trường ca sống mãi Tất nhiên là hình thức của thể loại trường ca phải phù

hợp với thời đại Thời đại qui định thi pháp trường ca, trường ca in đậm dấu ấn thời đại

Quả là con đường từ sử thi truyền thống đến sử thi hiện đại là cả một quãng thời gian dài

dằng dặc Trên thế giới, các trường ca sử thi nổi tiếng như: trường ca Iliat-Ôđixê của Hilạp cổ đại, trường ca Mahabharata, Raymayana của Ân Độ, Bài ca Rôlăng của Pháp, Trường ca của

Maiacốpki đã được tôn vinh, mang giá trị văn hoá đặc sắc của toàn nhân loại Ở Việt Nam ta

cũng thế, từ Đẻ đất đẻ nước, Đam San-Xing Nhã… đến các trường ca sử thi hiện đại là cả một

khoảng dài thời gian sàng lọc và sáng tạo quí giá

Ở thời kỳ chống Pháp, trường ca rất hiếm Có thể kể đến:

+ Trường ca Tiếng địch sông Ô của Phạm Huy Thông (xuất hiện từ phong trào thơ Mới

1932 - 1945) là một khúc anh hùng ca về tiếng địch Trương Lương làm xao lòng khách anh hùng

+ Trường ca Từ đêm mười chín, còn có tên Quảng Nam - Đà Nẵng hùng ca (1951) của Khương Hữu Dụng, Đây là “bản trường ca duy nhất viết về cuộc bùng nổ toàn quốc kháng

chiến, một cuộc bùng nổ đầy ý thức của dân tộc, thời điểm bùng nổ ý thức công dân” [91, tr.41]

Dòng thơ ca Việt Nam - chủ yếu là trường ca - xuất hiện ở thời kỳ này đã có ít nhiều ảnh hưởng thể trường ca của Phương Tây Ngay cả âm nhạc cũng có những bài ca dài bất hủ về đề

tài kháng chiến vùng châu thổ sông Hồng như: Trường ca Người Hà Nội (Nguyễn Đình Thi), Du

kích sông Thao (Đỗ Nhuận), Trường ca sông Lô (Văn Cao)… ra đời chủ yếu là để phục vụ cho

nhiệm vụ chính trị Nhưng, cũng có những dấu hiệu chứng tỏ trường ca hiện đại tiếp nối nguồn

gốc sử thi anh hùng ca cổ điển của các dân tộc Việt Nam như các khan (Đam San, Xing Nhã…),

sử thi Mường (Đẻ đất đẻ nước), các truyện thơ của Tày - Nùng - Thái (Sóng chụ chon sao,

Chàng Lú nàng Ủa)

Chúng ta cũng thấy rằng, nhiều nhà thơ trưởng thành trong thời chống Mỹ vẫn có cảm hứng

sáng tác về đề tài chiến tranh thời chống Pháp như Trần Đăng Khoa với Khúc hát người anh

hùng (1974) viết về nữ du kích Mạc Thị Bưởi Nguyễn Bá với trường ca Hòn Khoai (2000) viết

Trang 23

về anh hùng Phan Ngọc Hiển Dương Tam Kha với trường ca Anh hùng Lò Văn Giá (2003) Nhà thơ Võ Văn Trực có Ngày hội của rạng đông (1978) viết về không khí khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh; riêng trường ca Người anh hùng đất Hoan Châu (1976) phản ánh cuộc khởi nghĩa nông dân và anh hùng Mai Hắc Đế Giang Nam với Sông Dinh mùa trăng khuyết (2003) viết về liệt sĩ

Nguyễn Thị Trừ của thời chống Pháp nhưng cũng có những chương đoạn mang cảm hứng về thời chống Mỹ

Thời kỳ đầu chống Mỹ, số lượng trường ca xuất hiện cũng không nhiều Nhưng càng về sau, số lượng tăng dần do yêu cầu cần phản ánh và bày tỏ cảm xúc trước hiện thực chiến tranh diễn ra hàng ngày trên quê hương, đất nước Một số bài thơ dài và trường ca thường được

nhắc tới như: Ba mươi năm đời ta có Đảng (1960), Theo chân Bác (1970), Nước non ngàn dặm (1973) của Tố Hữu; Người thợ ảnh (1963), Người Bác sĩ (1968) của Huy Cận; Bài ca chim

Chơrao (1963), Vách đá Hồ Chí Minh (1970), Quê hương mặt trời vàng (1975) của Thu Bồn,

trường ca Nguyễn Văn Trỗi (1967) của Lê Anh Xuân; Cái én (1967) của Phạm Huy Thông,

Người anh hùng Đồng Tháp (1968) của Giang Nam; Cách mạng, chương đầu (1970), Những bài thơ đánh giặc (1972), Ngày vĩ đại (1975), Thơ bổ sung (1975) của Chế Lan Viên; Câu chuyện quê hương (1973) của Tế Hanh; Kể chuyện ăn cốm giữa sân (1974) của Nguyễn Khắc Phục; Trường ca ở làng Phước Hậu của Trần Vũ Mai; Như trong mơ (1975) của Hoàng Trung Thông, Mặt đường khát vọng (1974) của Nguyễn Khoa Điềm Một số trường ca khác cũng viết về đề

tài chiến tranh nhưng không được đánh giá cao như Lửa sáng rừng của Thái Giang, Núi rừng

mở cánh - Liên Nam, Phóng sự 30/4/75 - Nguyễn Duy, Sóng Nậm Rốm - Vương Trung…

Từ sau năm 1975; văn thơ, đặc biệt là trường ca nở rộ đã tiếp tục nhiệm vụ viết tiếp trang

sử của quá khứ và phản ánh hiện thực cuộc sống Cảm hứng về thời đại và vốn sống phong phú

mà các nhà thơ tích lũy được trong những tháng năm nơi chiến trường đã tạo điều kiện cho thể

loại trường ca phát triển Thanh Thảo có Những người đi tới biển (1977); Hữu Thỉnh có Đường

tới thành phố (1979), Trường ca Biển (1994); Trần Mạnh Hảo với Mặt trời trong lòng đất

(1981), Đất nước hình tia chớp (1994); Nguyễn Đức Mậu với Trường ca Sư Đoàn (1980); Anh Ngọc với trường ca Sông núi trên vai (1983); Giang Nam với Ánh chớp đêm giao thừa (1998),

Sông Dinh mùa trăng khuyết (2002); Thu Bồn với Badan khát (1977), Quê hương mặt trời vàng

(1975), Nguyễn Trọng Tạo với Con đường của những vì sao (1981); Lê Đạt với Trường ca Bác

(1990)…

Trong hai đợt vận động sáng tác về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân (1992 - 1995 và 2001 - 2004), một số nhà thơ đã trở lại với những sự kiện lịch sử xa xưa để ca ngợi, tự hào Một số nhà thơ lại viết theo dòng hồi ức và nhu cầu cần giải thoát sự trăn

Trang 24

trở của nội tâm Có thể kể đến Nguyễn Quang Thiều với Những người lính của làng (1994); Văn

Lê với Những cánh đồng dưới lửa (1997); Dông bão (2000) của Nguyễn Xuân Hạnh; Năm tháng

và chiều cao, (2000) của Nguyễn Thuỵ Kha; Về miền thương nhớ (2005) của Tạ Kim Khánh,

Anh Ngọc, ngoài Sông núi trên vai còn có Điệp khúc vô danh (1993); Ngô Văn Phú có Hà Nội

tháng mười hai (2003); Lê Huy Quang có Hồi ức tuổi hai mươi (1994), Một thời để nhớ (2004);

Thi Hoàng có Gọi nhau qua vách núi (1997); Nguyễn Hương Trâm có Hà Nội Thăng Long (2000); Từ Nguyên Tĩnh với Trường ca Hàm Rồng (2000), Vũ Đình Thự có Bài ca dâng Đảng (2004) Một số trường ca phản ánh cuộc chiến tranh biên giới như: Đảo chìm (1994) của Vương Trọng, Trường ca Côn Đảo của Nguyễn Đức Mậu, Mười bảy khúc đảo ca của Dương Thuấn Riêng Thu Bồn “vượt qua biên giới” khi phản ánh những sự kiện khủng khiếp đang diễn ra ở đất nước Chùa Tháp trong Campuchia hy vọng

Như vậy, từ năm 1990 trở đi, sau một thời gian gần như im vắng, trường ca xuất hiện trở lại trên văn đàn ngày càng nhiều nhờ các đợt phát động thi sáng tác trường ca Một số tác phẩm và

tác giả được chú ý như: Ngựa trắng bay về (2002) của Văn Công Hùng, Trước núi Ngọc Linh của Vũ Hùng (2005), Những người lính của làng của Nguyễn Quang Thiều (1994), Đổ bóng

xuống mặt trời (1999) của Trần Anh Thái, Lửa mùa hong áo (2003) của Lê Thị Mây, Trường ca Hàm Rồng (2000) của Từ Nguyên Tĩnh, Mảnh hồn chim Lạc (2004) của Nguyễn Hưng Hải, Sinh

ở cuối dòng sông ( 2003) của Nguyễn Hữu Quý, Trầm tích (1999) của Hoàng Trần Cương,

Những cánh đồng dưới lửa (1997) của Văn Lê, Tiếng bom và tiếng chuông chùa của Phạm Tiến

Duật, Đi trong sen ngát bóng xanh (2005) của Phạm Thái Quỳnh Những trường ca kể trên

thường thiên về cảm hứng bi tráng; nặng chất hồi tưởng, suy ngẫm khác với trường ca những năm 1960 - 1980 thiên về cảm hứng ngợi ca; giàu chất tráng ca, anh hùng ca Bởi, độ lùi của chiến tranh đã giúp các nhà thơ tỉnh táo hơn, cẩn trọng và công bằng hơn trong việc nhìn nhận,

phản ánh vấn đề

Một số trường ca thuộc về nhiều đề tài khác có: Người bác sĩ (1963) của Huy Cận; Ngày

hội của rạng đông (1978) của Võ Văn Trực; Hơi thở rừng hồi (2002) của Vương Trọng; Sông Mêkông bốn mặt (1988) của Anh Ngọc Trong Trường ca thành Tây Đô, Văn Đắc ca ngợi công

lao của Hồ Quý Ly, Thanh Chương tráng khúc của Nguyễn Bùi Vợi ca ngợi hào khí của quê nhà

“địa linh nhân kiệt” Năm 2001, Nguyễn Khắc Phục, cho ra đời trường ca Bài ca nữ thần Jang

Hơ-ri (3.947 câu) Cũng trong năm này, Phan Quế có Cổ kính và phóng túng (1795 câu), viết về

đất và người thủ đô thời trước 1945 Thanh Thảo nổi tiếng với Những người đi tới biển lại có cảm hứng về nhân vật lịch sử Nguyễn Đình Chiểu nên đã sáng tác Trò chuyện với nhân vật của

mình (960 câu thơ) nhân dịp kỷ niệm 160 năm ngày sinh của nhà thơ Nam bộ này (hầu như được

Trang 25

viết toàn bộ bằng thơ văn xuôi) Trước đây, trong đợt vận động sáng tác lần đầu (1992 đến

1995), Thanh Thảo cũng đã viết về đề tài này qua trường ca mang tên: Những ngọn sóng mặt

trời gồm hai trường ca nhỏ: Những nghĩa sĩ Cần Giuộc và Bùng nổ của mùa Xuân

Đến đợt vận động sáng tác lần thứ hai về đề tài chiến tranh và lực lượng vũ trang (2002 - 2005), số lượng trường ca đã tăng lên mạnh mẽ, trên 50 trường ca ra đời, phần lớn viết về cuộc chiến đấu chống Mỹ của dân tộc Cuộc thi sáng tác trường ca viết về đề tài “Bác Hồ của chúng ta” do tuần báo Văn nghệ phát động (2005) nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Bác Hồ cũng

đã khép lại nhưng bầu trời thơ ca thì đã nở rộ một không khí mới: có trên 2.500 tác giả dự thi với 7.950 bài thơ và trường ca viết về Bác Đây cũng là hình thức thể hiện sự trở lại của trường ca sau một thời gian dài hầu như vắng bóng

Theo ý kiến chung của các nhà nghiên cứu văn học, đặc biệt là nghiên cứu về sự xuất hiện cũng như sự phát triển của thể loại trường ca hàng mấy mươi năm nay, nhiều người cho rằng cái thời sôi nổi của trường ca đã qua Nhưng gần đây, trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 617,

Nguyễn Hữu Quý đã viết: “trường ca đã quay trở lại thời hoàng kim” Chúng tôi cho rằng ý

kiến trên thể hiện mục đích động viên tinh thần sáng tác trường ca của các nhà thơ Bởi lẽ, qua nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng “người trong cuộc viết về chính bản thân mình; về đồng đội; nhân dân trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt sẽ hiện thực và đặc sắc hơn; tâm tư, cảm xúc sẽ

được giải bày sâu kỹ hơn”

Từ 2004 đến nay, trong các bản trường ca hiện đại, các nhà thơ vẫn dành những chương,

khúc để viết về thời chống Mỹ như Ngày đang mở sáng (2007) của Trần Anh Thái, Mở bàn tay

gặp núi của Nguyễn Đức Mậu, Vạn Lý Trường Sơn của Nguyễn Hữu Quý, Trường ca Trường Sơn của Nguyễn Anh Nông… Đề tài chiến tranh và người lính không ngừng ám ảnh họ Bên

cạnh sự ra đời của trường ca sử thi hiện đại; việc tìm kiếm, sưu tầm, bảo tồn và lưu giữ những

tác phẩm sử thi - tài sản quý báu của dân tộc vẫn được chú trọng, cụ thể là “vừa phát hiện ba bộ

sử thi liên hoàn của các dân tộc MơNông, BaNa và Xêđăng, khảo sát sử thi ở hàng nghìn buôn, bon, plây ở năm tỉnh: Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Bình Phước, Bình Thuận và sưu tầm trên

500 tác phẩm sử thi” (Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 641 - 2/2006)

Tóm lại, qua các cứ liệu đã dẫn trên, chứng tỏ các nhà thơ của chúng ta muốn tìm mọi hình thức thích hợp, phong phú để thể hiện cuộc sống đa dạng của những tháng năm nhiều biến động

và đầy tự hào của dân tộc Điều đó chứng tỏ khả năng của họ muốn vươn tới một tầm cao của tư tưởng nhận thức về nhân dân và đất nuớc Đó cũng là kết quả tất yếu của một quá trình thừa hưởng, tiếp nối hào khí thời đại đã qua và cũng là sự tiếp nối hình thức trường ca sử thi từ truyền thống đến hiện đại: góp phẩn khẳng định: trường ca sử thi hiện đại là sự tiếp nối trường ca sử thi

Trang 26

cổ điển Các nhà thơ hiện đại đã hoà quyện tính chất truyền thống như: độ dài, kết cấu, giọng điệu ngợi ca, yếu tố sử thi, yếu tố tự sự, chất anh hùng ca… vào trong các bản trường ca, duy chỉ khác về tính chất chiến tranh, qui mô chiến tranh tuỳ thuộc vào thời kỳ lịch sử mà nó được chứng kiến mà thôi Và đó chính là một nhân tố khách quan góp phần tạo nên những bản trường

ca sử thi hiện đại

ta đã sống xứng đáng với thời đại anh hùng ấy

Đất nước trong những năm chống Mỹ luôn hừng hực lửa chiến tranh, dồn nén biết bao cung bậc của tình cảm Chia ly, đoàn tụ, tan hợp, vui buồn, đau thương, chiến thắng… đều đổ dồn lên mảnh đất này Con người, đất nước… trong thời kỳ lịch sử ấy được các nhà thơ, nhà văn tái hiện trong văn học một cách khá toàn diện

Trên thế giới, thực tế không phải chỉ có Việt Nam trải qua những năm tháng chiến tranh, không phải chỉ có con người Việt Nam mới thấm thía nỗi đau buồn do chiến tranh ác liệt gây ra Thế nhưng, ở Việt Nam - dẫu ba mươi năm chiến tranh đã qua đi, dẫu cuộc chiến đã lùi vào quá khứ - văn học vẫn dành một mảnh đất phì nhiêu cho đề tài chiến tranh Con người ta chỉ cần sống một ngày trong chiến tranh đã có thể ghi nhớ suốt cả cuộc đời Hàng chục triệu con người Việt Nam ta đã chịu đựng những tháng ngày chiến tranh đến gần một phần ba thế kỷ và hậu quả chiến tranh để lại sẽ còn kéo dài đeo đẳng Ngòi bút văn chương đương đại và ngay trong thời bình, còn phải trải lòng với những hồi ức ấy Thời kỳ lịch sử này, chính đất nước đã vinh danh cho các nhà văn, nhà thơ

Người Việt Nam yêu nước, yêu dân tộc bằng tâm thế thời đại và kết nối từ truyền thống đến hiện đại Yêu nước và anh hùng là truyền thống tốt đẹp của dân tộc nhưng luôn mang tầm vóc thời đại Việt Nam là quốc thi, là đất nước của thơ ca Thế mà, gần một phần ba thế kỷ, đất

Trang 27

nước và dân tộc Việt Nam đã trải qua những thử thách lịch sử vô cùng lớn lao mang ý nghĩa sống còn

Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân và truyền thống yêu nước của cả dân tộc Cả thế giới tiến bộ hướng về Việt Nam, đồng cảm, sẻ chia nỗi đau chiến tranh với Việt Nam Những trận Mỹ Sơn, Gio Linh, Đồng Xoài, Bình Ba, Bình Giả… hình như cứ ám ảnh, đeo đẳng và vận mãi vào tâm hồn cũng như ngòi bút của các nhà văn, nhà thơ… Chính họ là những người nhận thức rõ vị trí, tầm vóc của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Vì thế, đề tài chiến tranh đã được khai thác sâu rộng Có thể khẳng định rằng, cuộc chiến chống

Mỹ cứu nước đằng đẵng đã làm thăng hoa những giá trị lớn lao của dân tộc Truyền thống yêu nước, thơ ca và lòng dân quật khởi đã đánh bại sức mạnh của dầu hỏa và dolla

Trên Văn Nghệ Trẻ số 33/2006, Mã Giang Lân đã viết: “Thơ hay là báu vật của Trời đánh

rơi xuống mà nhà thơ vô tình nhặt được trong sáng tác có sự lóe sáng, xuất thần, tình cờ”

Thật vậy, báu vật của trời chính là ý, là tứ thơ hay nhưng tất yếu phải trên một nền hiện thực xã hội mang dấu ấn đặc biệt Thành tựu của văn học, của thơ ca chiếm một vị trí quan trọng Bởi lẽ, thơ ca đã thể hiện bức tranh hiện thực xã hội, tâm thế của những con người sống và viết, giữa anh hùng và lãng mạn, giữa khoảnh khắc và sự trường tồn Các nhà văn, nhà thơ thời chống Mỹ

đã làm được điều ấy, đã sống đẹp và viết hay, đã ghi lại hình ảnh và không khí một thời đáng

nhớ trong chiến tranh Trường ca về thời chống Mỹ, với những đoản khúc thơ có giá trị đi sâu

vào lòng người, được trích để giảng dạy trong chương trình Văn các cấp học khá nhiều, đó là thành tựu lớn

Sau chiến tranh, những con người tham gia cuộc chiến năm xưa lại trăn trở, hồi tưởng về một thời không quên để rồi phải cầm bút viết tiếp Có thể nói, những trường ca ra đời sau 1975,

và nhất là từ sau 1980 trở về đây càng nặng chất hồi tưởng, suy ngẫm Trường ca, với độ dài không hạn định đã giúp các nhà thơ rộng mở biên độ phản ánh, trình bày cảm xúc, tự do thể hiện

để chắp cánh cho quá khứ và hiện thực bay lên Độ lùi của chiến tranh giúp họ tỉnh táo hơn, cẩn trọng hơn, công bằng hơn trong việc nhìn nhận và phản ánh vấn đề

Hiện nay, trường ca xuất hiện khá nhiều Dấu ấn chiến tranh thời chống Mỹ đã đè nặng lên tâm trạng, cảm xúc những người cầm bút Ký ức chiến tranh của dân tộc còn đó trên những thân thể đã gửi lại một phần nơi chiến trường, trên những hình hài bị dị dạng do chất độc da cam… thì tất yếu, văn chương còn phải viết về ký ức chiến tranh bằng sự hồi tưởng quá khứ, bằng sự ngưỡng vọng thành kính tri ân, bằng sự trăn trở của những người sinh sau thời đại nhưng không

vô cảm với thời đại chống Mỹ Nếu không, những người cầm bút sẽ cảm thấy mình thiếu nợ với văn học, với nhân dân, với đất nước

Trang 28

Bảo Ninh, tác giả tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh đã nói rằng: “Đề tài chiến tranh hay

nói đúng hơn là ký ức chiến tranh là một thế mạnh của văn học Việt Nam, của từng nhà văn Việt Nam Vì đã có một thời gian dài, thế giới biết đến Việt Nam chính là nước Việt Nam trong chiến tranh Chiến tranh thời chống Mỹ chính là trường đào tạo, tôi luyện các nhà thơ chiến sĩ và cả việc tôi rèn nền văn học chiến tranh Việt Nam” [68] Các nhà thơ thời chống Mỹ đã tái hiện quá

khứ, viết về ký ức chiến tranh bằng nhiều thủ pháp: đồng hiện, hồi tưởng Nếu thời đại chiến tranh càng chìm sâu vào quá khứ thì hiện thực của thời đại ấy càng trở nên sống động với các tác giả thời hậu chiến Và tất nhiên; cách nhìn, cách cảm, cách hiểu của họ sẽ khác rất nhiều so với những người đã đi qua chiến tranh Họ cũng có những cách nói, cách nghĩ không thể hệt như những người nhà thơ kỳ cựu thời chống Mỹ nhưng sẽ có những điều mà các nhà thơ thời chống

Mỹ chưa thể bày tỏ mạnh dạn, thẳng thắn

Có thể khẳng định, “chiến thắng vĩ đại trong cuộc chống Mỹ cứu nước là một trong những

nhân tố, thúc đẩy các nhà thơ viết trường ca” [70] Quả đúng như thế, không ai muốn đất nước

có chiến tranh nhưng khi chiến tranh xảy ra thì hiện thực thời đại ấy chính là nhân tố khách quan để các nhà thơ tạo nên những tác phẩm sử thi đáng quý về một thời đáng nhớ

1.1.3 Sự gắn kết giữa yếu tố thời đại và dân tộc

Suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, biết bao thăng trầm theo từng giai đoạn lịch sử Trải qua hơn một nghìn năm sống dưới sự đô hộ của phương Bắc; rồi gần một trăm năm bị thực dân Pháp xâm lược, xen kẽ với những thời kỳ độc lập; dân tộc Việt Nam vẫn vững vàng sống, chiến đấu và vượt lên nỗi đau chiến tranh để vững vàng chiến thắng Thời chống Mỹ, tổ quốc ta

có lúc như con thuyền bị phong ba bão táp vây chặt giữa biển khơi Tinh thần dân tộc dâng cao,

gắn với tâm thế thời đại để chiến đấu và chiến thắng

Những nhà thơ có tài năng đều mang đậm dấu ấn nhân dân, dấu ấn của cả thời đại, của môi trường mà họ sống Dấu ấn đó sẽ ảnh hưởng và bộc lộ trong chính tác phẩm nghệ thuật của họ, qua những hình tượng văn học đơn lẻ nhưng mang tính khái quát, điển hình cao

Trong trường ca về thời chống Mỹ, sự gắn kết giữa thời đại và dân tộc thể hiện rất rõ nét, trước tiên là ở những danh xưng Số lượng các từ Ta, chúng ta, dân tộc, đất nước trong các

trường ca được lựa chọn để nghiên cứu, xuất hiện khá nhiều Khảo sát trong Mặt đường khát

vọng, từ “đất nước” xuất hiện 81 lần, trong Đất nước hình tia chớp xuất hiện 104 lần, Đường tới thành phố có 17 lần (phụ lục1) Chủ thể trữ tình xưng “ta” xuất hiện 162 lần trong Mặt đường khát vọng, 58 lần trong Đất nước hình tia chớp và 18 lần trong Đường tới thành phố” Chủ thể

trữ tình xưng “Con, chúng con” xuất hiện 152 lần trong Mặt đường khát vọng, 13 lần trong Đất

nước hình tia chớp và 53 lần trong Đường tới thành phố (phụ lục 2)

Trang 29

Đó là cái Ta, chúng ta đại diện cho cả cộng đồng mang tâm thế của một dân tộc bị áp bức trong thời đại chống Mỹ Những từ Ta, chúng ta, dân tộc, đất nước xuất hiện nhiều trong các trường ca hiện đại đã minh chứng sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, giữa bộ phận và toàn thể, giữa cá nhân và tập thể, giữa dân và nước, giữa gia đình và tổ quốc, giữa dân tộc và

thời đại Thi liệu “Một bọc trăm trứng nở ra trăm con”, “hào khí Đông A thời đại nhà Trần”

được nhắc đến rất nhiều trong các trường ca sử thi hiện đại càng chứng tỏ: tính dân tộc đã gắn kết chặt chẽ cùng yếu tố thời đại

Trao đổi với nhà báo Nguyễn Quýnh (GDTĐ số 110 9/2004), Nguyễn Khoa Điềm cũng đã nhấn mạnh đến vấn đề “số phận cá nhân” trong mối quan hệ với thời đại mà họ đang sống:

“Chúng tôi, mỗi người có một số phận khác nhau nhưng đều gắn kết trong một số phận chung

là số phận Đất nước Đất nước với các nhà thơ khác là những huyền thoại của những anh hùng, nhưng với tôi là của những con người vô danh, của nhân dân” Đất nước ở đây chính là chính là

đất nước trong những năm chống Mỹ, là thời đại chống Mỹ Như vậy, thế hệ thanh niên sinh ra trong thời chống Mỹ đã nhận thức rất rõ: số phận cá nhân gắn kết với số phận chung của đất nước

Giá trị của đất nước và dân tộc tạo nên giá trị cho con người Việt Nam Người Việt Nam luôn tự hào về truyền thống hàng nghìn năm lịch sử của mình Mỗi thời đại đi qua, lớp lớp nhân dân lại tiếp tục truyền cho con cháu những giá trị mà họ đã được thừa hưởng, đã làm nên để góp

phần bảo vệ giá trị truyền thống: “Con gái con trai bằng tuổi chúng ta/ Cần cù làm lụng/ Khi có

giặc người con trai ra trận/ Người con gái trở về nuôi cái cùng con/ Ngày giặc đến nhà thì đàn

bà cũng đánh” Nguyễn Khoa Điềm có cùng suy nghĩ với dân tộc về thời đại, đất nước nhưng

anh đã có cách diễn đạt tài hoa về thời đại anh hùng, đất nước anh hùng Điều đó đã làm nên giá

trị cho Mặt đường khát vọng

Thứ hai là, trường ca phản ánh thế giới tinh thần của chủ thể cá nhân nhà thơ nhưng không tách rời khỏi đời sống dân tộc Các nhà thơ - những người lính - đi vào chiến trường những năm chống Mỹ Cùng một cuộc chiến tranh, nhưng ở mỗi địa điểm khác nhau; đời sống chiến đấu của người lính, của nhân dân… dội vào thơ của họ những âm điệu và màu sắc khác nhau Các nhà thơ có điều kiện tiếp xúc với thực tế chiến tranh và đã phản ánh trong trường ca những suy nghĩ về trách nhiệm, số phận, tâm tư của những người trong cuộc

Cuộc chiến tranh chống Mỹ là cuộc chiến tranh toàn dân, là cuộc thử thách để kiểm nghiệm sức mạnh của nhân dân Cái chung, cái riêng, cái bình thường, cái vĩ đại đều được các nhà thơ tái hiện theo nguyên tắc điển hình hóa Tư tưởng, tình cảm, hành động của con người Việt Nam được các nhà thơ cảm nhận từ hiện thực cuộc chiến tranh chống Mỹ và được chọn lọc khái quát

Trang 30

để mang tính điển hình cho dân tộc và thời đại, đồng thời cũng thể hiện được tính cách riêng biệt

Các trường ca của Giang Nam, Thanh Thảo… đều thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa thời đại và dân tộc Giang Nam cũng có nhiều ý thơ thể hiện rõ sức mạnh của cả dân tộc trong thời

đại chống Mỹ: “Dù giặc Mỹ dùng na-pan nung đất này trong lửa/ Lịch sử có bao giờ lùi lại phía

sau” Cuộc sống chiến đấu của dân tộc, ở mỗi vùng trận địa đều có sự giúp sức của hậu phương

để làm nên chiến thắng: “Trận địa của anh, bàn tay nhân dân vĩ đại/ Chém kẻ thù bằng năm

ngón sắc như dao” (Người anh hùng Đồng Tháp).

Trái tim yêu giống nòi, trái tim yêu nước của thế hệ hôm nay nối tiếp trái tim yêu nước bất

tử của cha ông thưở xưa Bằng hình ảnh so sánh giữa mẹ và nhân dân, Thanh Thảo, trong Những

người đi tới biển, đã luận bàn về sự cao cả của nhân dân - những người làm nên chiến thắng vĩ

đại: “Và cứ thế nhân dân thường ít nói/ Như mẹ tôi lặng lẽ suốt đời/ Và cứ thế nhân dân cao vời

vợi/ Hơn cả những ngôi sao cô độc giữa trời”

Nhờ những nghĩ suy chân thành, mộc mạc của từng cá nhân người mẹ mà chúng ta có

những bà mẹ Việt Nam đã hiến dâng cho đất nước biết bao anh hùng Nhờ biết đặt lợi ích của cộng đồng lên trên tầm cao nhất mà mỗi người Việt Nam không phân biệt đẳng cấp, không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt tuổi tác vùng miền, nhất tề tham gia vào cuộc kháng chiến thần thánh chống giặc ngoại xâm để giành lấy chiến thắng, độc lập, tự do Đó là sự gắn kết giữa cá nhân và cộng đồng, của nhiều cộng đồng với dân tộc Nhân dân làm ra đất nước, đất nước thuộc

về nhân dân Hồn dân tộc được thắp lên trong từng thời đại

Sau 1990, trong trường ca Khoảng trời người lính, Lê Anh Quốc cũng đã tỏ bày cảm xúc về thế hệ trai trẻ sinh ra trong một thời đại đáng nhớ bằng những vần thơ da diết: “Thế hệ chúng

tôi/ Đi qua chiến tranh/ Đời mỗi đứa có một thời để nhớ/ Về đồng đội/ Về những ngày khói lửa”

Trường ca về thời chống Mỹ góp phần phản ánh tinh thần dân tộc cao cả trong một thời đại anh hùng Số phận của cá nhân luôn gắn kết với cộng đồng, yếu tố thời đại luôn gắn kết với vận

mệnh toàn dân tộc Nhận định về sự gắn kềt giữa yếu tố dân tộc và thời đại, góp phần làm nên chất khái quát của trường ca sử thi, Đỗ Văn Khang đã cho rằng: “Thứ nhất, sự tập họp dân tộc,

sự đoàn kết nhân dân trong chiến tranh và hoà bình phải tồn tại từ trước và thậm chí đã đạt tới một sự phát triển nào đó Thứ hai, các cá nhân lại hành động như bởi tính cách của họ, như bởi những thôi thúc bên trong, bởi một sợi dây vô hình nối họ lại bằng các lý do về danh dự và chính nghĩa Cuối cùng, cái chất liệu chân chính của trường ca sử thi không phải được tạo dựng nên bởi trạng thái chung của một dân tộc chỉ ở trong các tính chất phẳng lặng của cá tính nó”

[38, tr.81] Như vậy, tính khái quát của trường ca sử thi được tạo nên bởi ba yếu tố: một là “sự

Trang 31

tập họp dân tộc, sự đoàn kết nhân dân”, hai là “cá nhân đều vươn tới sự cao cả”, ba là “tính chất không phẳng lặng của trạng thái dân tộc” Điều đó đã khẳng định: từ xa xưa, trải qua bao thăng trầm của lịch sử; truyền thống đoàn kết, tập họp nhân dân; tính cách cao cả anh hùng được đặt lên hàng đầu Dân tộc ấy sẽ làm nên bản sắc riêng không lẫn vào bất cứ một dân tộc nào khác Đó là sự gắn bó chặt chẽ giữa hai yếu tố dân tộc với thời đại mà họ đang sống và được thể

hiện trong các bản trường ca sử thi - quyển thánh thi của mỗi thời đại

Có thể khẳng định, yếu tố truyền thống của thể loại, thời đại, sự gắn kết giữa các yếu tố thời đại và dân tộc là những nhân tố khách quan giúp cho các nhà thơ sáng tạo nên những tác phẩm thơ ca mang dấu ấn riêng về một thời khói lửa Trường ca sử thi hiện đại đã phản ánh sự kết hợp giữa dân tộc và thời đại từ những nỗi niềm và hành động riêng tư cho đến những nỗi niềm và hành động chung nhất Dân tộc Việt Nam đã ghi vào lịch sử văn học những bản hùng ca của một thời đại vĩnh viễn không thể nào quên

1.2 Những nhân tố chủ quan tạo nên sự xuất hiện của trường ca

1.2.1 Nhà thơ - người trong cuộc

Các nhà thơ sáng tác trường ca thời chống Mỹ vừa mang tư tưởng chủ quan của người nghệ

sỹ, vừa là người trực tiếp gắn bó với cuộc sống chiến đấu khốc liệt trên đất nước mình Họ có khi chính là nhân vật trung tâm trong trường ca mà họ phản ánh Các hình tượng trong trường

ca được tạo ra từ toàn bộ quan niệm về thế giới và cuộc sống của một dân tộc được trình bày dưới hình thức khách quan của những biến cố thực tại và hình thức tư tưởng chủ quan của các nhà thơ Nhưng những tư tưởng chủ quan ấy không thể áp đặt các thực tại khách quan, vì nếu như thế hình tượng sẽ mất đi chất hiện thực sinh động Trường ca sử thi hiện đại đã xây dựng thành công hình tượng người lính, nhân vật trung tâm của cuộc chiến đấu vĩ đại cũng chính là vẽ lại hiện thực về chính họ và đồng đội của họ Các nhà thơ thời chống Mỹ chính là đại diện cho cái tôi sử thi, bởi, nội dung chủ yếu của giai đoạn này là nội dung lịch sử - dân tộc Họ là những người trong cuộc, chứng nhân lịch sử, thư ký của thời đại và chính là nhân tố chủ quan tạo nên

sự xuất hiện của trường ca

Điểm qua các trường ca thời chống Mỹ, ta có thể khẳng định rằng: hầu hết các nhà thơ sáng tác trường ca đều là những người lính… gắn bó với chiến trường từ Việt Bắc, chạy dọc theo chiều dài núi rừng Trường Sơn, Tây Nguyên Từ Quảng Trị, Thừa Thiên đến tận miền Củ Chi địa đạo Có những nhà thơ ở miền Nam như Trần Mạnh Hảo, ở miền Trung như Giang Nam, Thu Bồn, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm , ở miền Bắc như Tố Hữu, Ngô Văn Phú, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Hưng Hải Họ sống và chiến đấu có thể ở ngay trong vùng

tự do và cả trong vùng địch tạm chiếm Nhưng dù ở đâu thì họ đều là nhà thơ chiến sĩ - người

Trang 32

trong cuộc, nên tác phẩm của họ đều chứa đựng những cảm xúc mãnh liệt về con người và đất nước trong cuộc đấu tranh sinh tử để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc Việt Nam

Trước khi trở thành người lính, các nhà thơ là những người dân sống gắn bó và có trách nhiệm với Tổ quốc, nên hiểu và viết về nhân dân, Tổ quốc thật sâu sắc Trường ca của họ ngồn ngộn cuộc sống, giàu tính chất sử thi và trữ tình Đời sống ở chiến trường với những miền quê khác nhau đều rất phong phú, giàu chất thực tế Họ là những người lính xuất thân từ khắp mọi miền đất nước để đến với mọi miền đất nước Họ đã kề cận với cái sống và cái chết trong tấc gang Họ đã nếm trải nỗi đau của chiến tranh, bởi họ là những người trong cuộc Những gì họ ghi chép, phản ánh trong trường ca đều là những điều mắt thấy, tai nghe đã xảy ra trong chiến tranh; có thể đã từng xảy ra với chính họ; có khi là cả cái chết Họ đã từ hiện thực chiến tranh để viết về chiến tranh với biết bao cung bậc cảm xúc Họ không thể nói dối, viết dối, không thể phản ánh sai sự thật bởi họ đang làm nhiệm vụ quan trọng mà nhân dân giao phó nhưng cũng chính là nhiệm vụ mà bản thân họ tự nhận với lương tâm mình Cho nên, ta có thể nói họ chính

là nhân chứng lịch sử của thời chống Mỹ, là những người thư ký cần mẫn của thời đại đã gắng làm tròn sứ mệnh thiên sứ Đó là nhiệm vụ của họ Nếu không làm được điều ấy tức là họ có tội với lịch sử Bởi, những nhà thơ viết trường ca đều là những người tích luỹ được kinh nghiệm, vốn sống từ những năm lăn lộn ở chiến trường; dự nhiều trận đánh, nếm nhiều gian khổ, chứng

kiến biết bao điều kỳ diệu của đồng đội và nhân dân trong cuộc chiến đấu anh hùng.“Đó cũng là

một trong những nhân tố khác, khiến những trường ca chiến trận liên tiếp ra đời và thường là

do những nhà thơ mặc áo lính viết ” [70]

Bằng cảm quan hiện thực về cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, bằng trái tim yêu nước nồng nàn; các nhà thơ chiến sĩ đã tiếp tục xây dựng hình tượng con người và Tổ quốc Việt Nam bình dị nhưng anh dũng kiên cường Những năm tháng chống Mỹ cực kỳ ác liệt, đau thương nhưng sáng ngời lý tưởng cách mạng Đó là những năm tháng đầy ắp những sự kiện, câu chuyện

về đất nước, con người Việt Nam Các nhà thơ là những người nhạy lắng nghe, nhạy cảm thụ cuộc sống; để rồi con tim, ngòi bút của họ rung động thực sự Họ phải có năng lực tư duy sâu sắc; có cảm xúc khác thường; có tài năng trong việc chọn hình ảnh, ngôn ngữ, thủ pháp nghệ

thuật Và đặc biệt là họ phải có “đôi cánh tư tưởng đập nhịp nhàng với luồng gió thời đại”

[100, tr.21] Họ mang tâm thế thời đại và chịu sự tác động mạnh mẽ của thời đại Sự vận động bên trong tư tưởng của nhà thơ đạt đến độ chín muồi là nhân tố chủ quan quyết định để trường ca về thời chống Mỹ xuất hiện

Chính vì thế, khi nói về chiến tranh, chúng ta “khó mà bỏ qua hàng loạt trường ca mà chủ

đề của nó là chiến trường, và những người lính, những người làm nên chiến trận” [12, tr.130]

Trang 33

Thật vậy, những người nặng nợ với thơ ca khó lòng bỏ qua những bản trường ca viết về thời chống Mỹ đã một thời làm rung động biết bao trái tim người thưởng thức Và đến nay, mỗi khi đọc lại, lòng chúng ta vẫn chưa thôi xao xuyến

Điểm qua một số nhà thơ nổi tiếng có trường ca xuất sắc; ta có thể kể đến Thu Bồn, một trong những ngưởi khai mở trường ca thời chống Mỹ Là người lính, Thu Bồn đi nhiều nơi, hiện

thực cuộc sống và chiến đấu ở chiến trường khu Năm đã được Thu Bồn đưa vào thơ ca “Cái tôi

của nhà thơ tham gia vào quá trình phát triển tác phẩm, cảm xúc, suy nghĩ của tác giả được mở trên những bình diện rộng lớn, nhân vật mang tính chân thực cụ thể” [78, tr.65-66] Bài ca chim Chơrao (1964) là một trong những trường ca hay của thời chống Mỹ và là đỉnh cao trong sự

nghiệp sáng tác của Thu Bồn Ông được đánh giá là người có sở trường viết trường ca vào loại nhanh, bền và khỏe Nhà thơ hầu như đã gắn cuộc đời mình với văn chương, sống với văn

chương Nối tiếp Bài ca chim Chơrao là một loạt các trường ca Vách đá Hồ Chí Minh (1972),

Quê hương mặt trời vàng, Chim vàng chốt lửa (1975)…

Ở trường ca Hành trình của Hưởng Triều, hình ảnh người lính trong đoàn binh tiến về phương Nam được khắc họa khá đậm nét Đó là một thế hệ quyết xếp bút nghiên lên đàng: “Ta

nhận ấn vàng từ tay mẹ/ Vẫy đoàn xung kích mũi vào Nam” Hình ảnh người lính được xây dựng

từ cái nhìn, cái cảm mang tính thời sự của một nhà thơ; và cũng là người lính đầy nhiệt tình nhập thân vào cuộc sống chiến đấu nóng bỏng Hưởng Triều đã kết hòa được cảm xúc thời sự và cảm hứng thơ, lôi cuốn người đọc trước hết là bằng những tình cảm chân thành mạnh mẽ và tư tưởng chính thống của người chiến sĩ cách mạng Điều đó đã có tác dụng nhất định đối với quá trình xây dựng hình tượng người chiến sĩ dấn thân vào cuộc hành trình lớn của dân tộc

Hữu Thỉnh cũng là một chiến sĩ thời chống Mỹ, “trước khi là nhà thơ, Hữu Thỉnh đã là một

người lính Hiện thưc người lính và hiện thực lớn lao, sôi động của những năm tháng chiến tranh ác liệt đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo cho các sáng tạo của anh” [95, tr.75] Các

bài thơ nổi tiếng của anh hầu như được viết từ chiến trường Bài Trên một chiếc xe tăng, được

âm nhạc chắp cánh thành ca khúc nổi tiếng Năm anh em trên một chiếc xe tăng thể hiện tình đồng đội gắn bó keo sơn Chính Hữu Thỉnh cũng đã bày tỏ rằng “hiện thực chiến tranh, cuộc

sống của người lính” dội vào tâm hồn nhà thơ mạnh đến mức vượt qua khỏi một thời đoạn, một

đề tài, “nó thành một tâm thế” Nhà thơ cũng tự nhận mình có lẽ“không có tài viết ngắn” và

“cuộc sống lớn lao, bi tráng quá, đòi hỏi phải mở rộng các kích cở” [18] Như vậy, Hữu Thỉnh

phần nào đã công nhận trường ca là bộ phận thành công nhất trong sự nghiệp sáng tác của mình

Có thể nói, Hữu Thỉnh là “nhà thơ của làng thời đánh giặc” [18] Đường tới thành phố

được sáng tác trong một thời gian rất ngắn mang đầy tình yêu làng nước Một điểm chốt, một

Trang 34

gốc sim cằn cũng hóa thành thơ nhưng pha trộn sắc đỏ của chiến tranh Một dân tộc nổi tiếng yêu làng, yêu nước; tất nhiên sẽ có những con người anh hùng trong chiến đấu và sẽ có những cây bút tài hoa ghi lại hiện thực chiến tranh Hữu Thỉnh đã làm được điều ấy bằng cách chọn

một cách nói rất riêng cho thơ của mình, và Đường tới thành phố chính là một trường ca viết về

thời chống Mỹ đầy chất trữ tình chính luận, khắc họa sâu đậm hiện thực chiến tranh và người lính

Nguyễn Khoa Điềm, mặc dù xuất hiện khá muộn trên văn đàn nhưng được độc giả chú ý và nhanh chóng được khẳng định là một giọng thơ trữ tình đậm đặc chất sử thi Anh sinh ra ở Huế, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội (1964), trở về quê hương tham gia kháng chiến chống Mỹ

Năm 1969, bài thơ Đất ngoại ô xuất hiện Năm 1972, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ

được ngâm và phát trên Đài tiếng nói Việt Nam, sau đó được Trần Hoàn phổ nhạc, có sức vang trong lòng công chúng Điều đó đã khẳng định tài năng của anh một nhà thơ đặc sắc thời chống

Mỹ Năm 1974, Mặt đường khát vọng được xuất bản, có sức thu hút mãnh liệt Thơ và cuộc đời

anh đã hòa nhịp với thời đại, vừa thể hiện tài năng, vừa suy tư già dặn, vừa trẻ trung cao vút trong dàn “đồng thanh” của thế hệ, nhưng vẫn có cá tính riêng không lẫn vào ai Từ năm 1970, anh đã viết những lời văn đầy nhiệt huyết đề ngày 19/9 gửi cho Tiểu ban Văn nghệ miền Nam:

“Hiện thực chiến trường thì to lớn, khả năng thì có hạn… rất lo lắng và sốt ruột cho mình Mơ

ước có những bài thơ sục sôi, sắc bén giàu tính hiện thực và chiến đấu hơn nữa mà vẫn chưa làm được” Nhưng chỉ bốn năm sau, anh đã làm được điều ấy, thơ anh “sắc bén giàu tính hiện

thực và chiến đấu” nhưng chất “sục sôi” thì theo cách trữ tình mà cháy bỏng tâm can

Nguyễn Khoa Điềm đã từng quan niệm: có ba yếu tố tạo nên bản chất văn chương là “lời, hành động và tấm lòng” Lời là hình thức văn chương, hành động là ý tưởng văn chương giục

người ta hành động và tấm lòng là tâm hồn tác giả trên từng trang giấy “Có lời văn hay, có khát

vọng hành động mạnh mẽ mà thiếu đi tấm lòng nhân hậu, cao thượng thì vẫn chưa có văn hay”

Ngẫm lại, những lời tự bạch của nhà thơ trong Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX (Nxb Văn học H

2001) như một tuyên ngôn về bản thể của một nhà nghệ thuật mà mỗi văn nghệ sỹ cần phải đạt đến

Lê Thị Mây hoàn thành trường ca Lửa mùa hong áo vào năm 2003 Đây là trường ca của

người đại diện cho phụ nữ Việt Nam vừa làm thơ vừa đánh giặc nên giàu chất liệu hiện thực,

giàu cảm xúc Vũ Duy Thông đã viết:“Lửa mùa hong áo” là trường ca con gái Hiện lên trong

khói sương và bất chợt ùa ra vây quanh ta là tiểu đội mười hai cô gái thanh niên xung phong trong đó có cô thanh niên xung phong Lê Thị Mây ngày nào trong đời thật và trong sự thăng

Trang 35

hoa của nghệ thuật thơ ca Đọc “Lửa mùa hong áo”, tôi vẫn gặp nguyên vẹn những cảm xúc chân thành của người trong cuộc suốt những tháng năm cả nước đánh giặc”

Có thể khẳng định, các tác giả trường ca đã có một vốn sống thực tế hết sức phong phú, đầy

ắp hiện thực về chiến trường và người lính, về nhân dân và thời cuộc Họ đã chọn lọc những sự kiện tiêu biểu từ bộn bề hiện thực để đưa vào thơ Họ là người trong cuộc Vì thế, những vần thơ đặc sắc của họ có sức khái hiện thực cao

Phạm Quốc Ca, trong chuyên luận Mấy vấn đề về thơ Việt Nam hiện đại 1975 - 2000 đã

dành nhiều trang viết cho thể loại trường ca Ông cho rằng sau 1975 một vài năm, điều gây ấn

tượng mạnh mẽ nhất trong thơ là sự xuất hiện các trường ca, “đó là kết quả của vốn sống, vốn

cảm xúc tràn đầy và độ chín về tài năng của các nhà thơ đã từng trải qua cuộc chiến tranh… là kết quả của hào khí thời đại Chỉ trong vòng bảy, tám năm sau chiến tranh, hàng loạt trường ca

đã ra đời” [11, tr.177-178]

Kể từ khi cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam kết thúc, chẳng những văn nghệ sĩ Việt Nam sáng tác nhiều về đề tài chiến tranh mà ở nước ngoài - nhất là ở Mỹ - cũng có rất nhiều bộ phim được dựng lên, nhiều cuốn tiểu thuyết viết về những cơn ác mộng riêng tư của những cựu

chiến binh Mỹ ở Việt Nam xuất hiện Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt từ lâu, nhưng “Văn học

viết về chiến tranh Viết Nam là viết về những mất mát đau thương, những bi kịch của con người trong và sau chiến tranh để cho người dân Mỹ biết “cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh vô nghĩa” [15, tr.97]

Chiến tranh Việt Nam, đó là “cơn ác mộng đa tầng” cắm sâu vào khối óc, con tim người lính Thực tế chiến tranh còn ác liệt, khủng khiếp vượt xa hư cấu văn học Những sự việc có thật vượt qua trí tưởng tượng của con người bởi nó quá nhức nhối, tàn khốc Sự điên rồ của chiến tranh được thể hiện phần nào trong tác phẩm văn học Ngoài các trường ca sử thi hiện đại, ta thấy rằng, hiếm có tác phẩm văn xuôi nào viết về chiến tranh lại thực và đau xót như tiểu thuyết

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Tất cả hiện lên trong các tác phẩm tựa như chuyện mới xảy

ra ngày hôm qua, không dấu diếm, không tô hồng, không bôi đen; chân thật như sự thực đã từng diễn ra trên nước Việt Nam

Có thể nói, vai trò của cảm hứng cá nhân trong dòng văn học thời chống Mỹ và thời hậu chiến là một sự giải thoát nội tâm Tâm hồn của những con người từng lăn lộn trong cuộc chiến chống Mỹ đã được trải ra sống động, linh hoạt và rất thực Thơ và cuộc đời đã hòa vào nhau để

ta có những bài thơ đặc sắc Điều đó đã được thể hiện rõ ràng, tường tận trong các trường ca hiện đại qua những dòng thơ đậm chất sử thi ngợi ca; chất ngẫm suy, chiêm nghiệm, trăn trở, băn khoăn… Bởi, suy cho cùng, đa phần các nhà thơ sáng tác trường ca về thời chống Mỹ là

Trang 36

những người sống trong cuộc, là người chứng kiến lịch sử, là những thư ký khá trung thực của một thời không thể nào quên

1.2.2 Nhà thơ thời hậu chiến So sánh với nhà thơ - người trong cuộc

1.2.2.1 Nhà thơ thời hậu chiến

Trước hết, các nhà thơ thời hậu chiến là những người có thời gian sống trong chiến tranh không nhiều như Nguyễn Hữu Quý, Sương Nguyệt Minh, Lê Anh Dũng… nhưng yêu thích đề tài chiến tranh và người lính Họ còn là các nhà thơ trẻ ở thời bình chưa một ngày sống trong thời chống Mỹ nhưng mang cảm hứng sáng tác về thời chống Mỹ Dù sinh ra trong thời bình; nhưng khi sáng tác trường ca về thời chống Mỹ, họ thường đắm mình vào trong quá

khứ hào hùng của thế hệ cha ông để hàm ơn, ngợi ca: “Em yên nghỉ giữa đội hình đồng đội/ Vẫn

thẳng hàng như thể giữa hàng quân/ Vẫn tăm tắp những trái tim người lính/ Vẫn đồng hành cùng Tổ quốc hôm nay” (Ngựa trắng bay về - Văn Công Hùng)

Nếu không viết về đề tài chiến tranh trong quá khứ thì trường ca của họ sẽ hướng về cuộc sống đương đại để bày tỏ tâm trạng về những gì mà họ đang cảm nhận, đang trăn trở Nhưng chắc chắn rằng họ sẽ mãi mãi không bao giờ quên dấu tích chiến tranh còn ẩn hiện đâu đấy trên từng mảnh đất quê hương, trên từng thân phận người mà họ đang chung sống - vì đó là người thân của họ, là đồng bào của họ Với trái tim nhạy cảm của người nghệ sĩ, họ không thể dửng dưng, vô cảm Bởi nếu không có sự kế thừa về tâm hồn dân tộc thì họ không thể là hậu duệ của một thế hệ “lá xanh, bài hát đỏ” hết mình vì sự sống còn của nhân dân, Tổ quốc

Trong tuần báo Văn nghệ Trẻ số 36 - 510/2006, nhà báo Phong Điệp đã thực hiện một cuộc

phỏng vấn có giá trị trên mục Diễn đàn văn học mang tựa đề “Những giá trị còn mãi ” Qua

đó; các nhà văn, nhà thơ trẻ đương đại được độc giả yêu thích đã nêu những suy nghĩ về gíá trị,

đề tài, phong cách sáng tác… của dòng văn học cách mạng Dưới đây là những nhận định khá chính xác của họ

- Nhận định về giá trị của văn học kháng chiến:

Đại diện cho lớp nhà thơ trẻ, Văn Công Hùng cho rằng “Dấu chân qua trảng cỏ” của Thanh Thảo hào sảng và tài hoa, còn “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh đau đáu nỗi niềm

và buốt đau thân phận , mỗi thời đại có một hệ thống tác phẩm tương ứng Anh cũng khẳng định: “Thế hệ chúng tôi đã tiếp thu được rất nhiều từ những tác phẩm ra đời trong thời kỳ ấy

(chống Pháp, Mỹ) Mà làm sao có thể quên được những câu thơ như thế này nhỉ: ,,, “Đất nước theo em ra ngõ một mình/ Cau vườn rụng một tàu đã cũ/ Đất nước đêm nay năm mươi triệu người không ngủ/ Đang bóc đi tờ lịch cuối cùng” Những câu thơ ấy của một trong những nhà thơ tài hoa nhất, hay nhất thời chống Mỹ: Hữu Thỉnh, đến tận bây giờ đọc có cũ đâu?” Đánh

Trang 37

giá trên là chính xác Các nhà thơ, nhà văn thời hậu chiến cho rằng những bải thơ, trường ca nổi tiếng ở thời chống Mỹ đến nay vẫn có giá trị rất lớn Vì chất chứa trong từng câu thơ là tâm tình, là nỗi niềm của con người nhớ về con người, là mong ước tự do

- Nhận định về đề tài

Thế hệ nhà thơ nhà văn sinh sau chiến tranh vẫn có những người mặn mà với đề tài chiến tranh Họ hiểu rằng, được nhìn chiến tranh quá khứ qua lăng kính hiện tại và suy nghiệm tương lai cũng là một điều thú vị Ký ức ngày hôm qua kết hợp với hiện thực đời sống hôm nay vẫn là điều hết sức cần thiết cho người mang nghiệp cầm bút

+ Trao đổi về vấn đề này, nhà văn Dương Bình Nguyên (Hà Nội) đã chia sẻ: “Gần như suốt

thời thơ ấu, tôi đã học và đọc những cuốn sách viết về chiến tranh cách mạng Văn học nhà trường, đến tận khi tôi học lớp 12, văn học cách mạng vẫn chiếm phần lớn những tác phẩm trích dạy Vậy thì, dù muốn hay không, đó cũng là phần tác động trực tiếp lên tâm hồn thế hệ chúng tôi, những người sinh sau 1975, khi chiến tranh đã thực sự ngừng lại tôi đã nương tựa rất nhiều vào các tác phẩm của dòng văn học cách mạng để lớn lên ” [21]

+ Trần Hoàng Thiên Kim, nhà thơ trẻ Hà Nội đã bày tỏ những cảm nhận về văn học thời

chiến tranh, về chiến tranh và người lính: “Tôi là một người sinh ra sau chiến tranh; không biết

đến đạn bom, tiếng súng; chỉ cảm nhận sự oai hùng cũng như những mất mát đau thương của dân tộc qua những áng văn thơ Có thể khẳng định dòng văn học thời chiến đã làm nên một tượng đài nghệ thuật bất hủ về người lính, người mẹ, người chị cầm súng, những người đàn ông ra trận hừng hừng khí phách Chiến tranh đã lùi xa, nhưng dòng văn học thời chiến đã thực sự để lại một dấu mốc quan trọng trong suốt chặng đường văn học Việt Nam” [21] Quả

đúng như vậy, tất nhiên, trong đó có sự đóng góp quan trọng của trường ca về thời chống Mỹ Một số trường ca xuất hiện sau 1990 vẫn thể hiện đề tài chiến tranh và người lính Như

trường ca Trời đang mở sáng của Trần Anh Thái, Những người lính của làng của Nguyễn Quang Thiều đã viết về những người lính sẵn sàng lên đường bảo vệ quê hương: “Chúng tôi xa

làng/ Chúng tôi đi đánh giặc Chúng tôi vụt thành người lính/ Khi một vùng trời Tổ quốc súng cồn lên” (Nguyễn Quang Thiều)

Như vậy; qua những bộc bạch, nghĩ suy đã dẫn; chúng ta có thể khẳng định đề tài chiến tranh và người lính vẫn có sức thu hút văn nghệ sĩ hôm nay

- Nhận định về phương pháp sáng tác

Nhà thơ trẻ Lê Nguyệt Minh đã thổ lộ tâm tình một cách thẳng thắn: “Thế hệ sinh ra trong

hòa bình không thể dùng trí tưởng tượng mà xây dựng lên một không khí lịch sử đầy biến cố… Nhưng sự kế thừa được thể hiện bằng cách mới phải viết hiện đại hơn về cuộc sống hôm

Trang 38

nay, mang hơi thở hiện thực và nhịp điệu đầy sức sống của nó - sức sống của đất nước sau chiến tranh hơn ba mươi năm ” [21] Đúng thế, người viết hôm nay vẫn rất trân trọng giá trị cũng

như thành tựu văn học mà thế hệ các nhà văn, nhà thơ thời kỳ kháng chiến gầy dựng Đó là sự

lao động nghệ thuật hoà trộn của máu và nước mắt, vinh quang và hy sinh Những dòng suy nghĩ

như thế quả là đáng quý Họ đang nỗ lực tìm tòi sáng tạo những cách thể hiện mới mẻ và mong được đông đảo độc giả dần dần chấp nhận những thử nghiệm văn chương của họ Thời gian sẽ là

sự sàng lọc tinh tế nhất để khẳng định giá trị của văn chương

Âm hưởng chính của trường ca ra đời trong thời chống Mỹ là ngợi ca, cảm hứng sử thi trào dâng Âm hưởng chính của trường ca ra đời sau thời chống Mỹ là bi tráng, hồi tưởng, bút pháp linh hoạt.Trường ca sau 1990 ngày càng xuất hiện khá nhiều so với thập kỷ 80 Một bộ phận nhà thơ - đa phần trưởng thành trong chiến tranh - đã dồn tâm sức để tiếp tục sáng tác trường ca sử thi hiện đại Thực tế hiện nay, đông đảo các nhà thơ ở miền Bắc có cảm hứng sáng tác trường ca hơn các nhà thơ miền Nam Một phần lớn là do các tạp chí, tuần báo, các nhà xuất bản ở miền Bắc thường phát động các cuộc thi sáng tác trường ca (xem thư mục) Với nhiều lớp tác giả như thế, tất yếu phong cách sáng tác ở hai giai đoạn: chiến tranh và hoà bình cũng sẽ

có sự khác nhau

- Nhận định về lực lượng sáng tác

Mặc dù thời hoàng kim của trường ca đã qua đi nhưng các nhà thơ quân đội vẫn có những tác phẩm có chất lượng, đóng góp vào sự đổi mới và phát triển của dòng văn học thời hậu chiến Những nhà sáng tác trẻ dù đa số đã trên dưới 40 tuổi như: Nguyễn Bình Phương, Mai Nam Thắng, Đỗ Tiến Thuỵ, Lê Anh Dũng, Nguyễn Anh Nông, Phùng Văn Khai, Hữu Kim, Viễn Sơn, Quỳnh Vân, Bùi Như Lan, Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Đình Xuân, Hồ Kiên Giang, Nguyễn Thế Hùng là lực lượng kế thừa của các nhà văn quân đội lão thành Sau 1975, bên cạnh việc tô đậm, lý giải thêm về chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng; họ đã thẳng thắn nhìn vào sự thật Những tình huống trắc trở, những điều kín đáo thuộc về bản năng; những hy sinh mất mát to lớn của dân tộc; những khiếm khuyết, sai lầm của thời đã qua được phản ánh qua lăng kính khách quan sắc cạnh; không hề lãng tránh, bi quan

Đội ngũ các nhà thơ sáng tác trường ca sau 1980 còn là những người hồi tưởng quá khứ sau hơn ba mươi năm chiến tranh

Mặc dù sống trong thời bình, nhưng cảm hứng sáng tạo của họ lại hướng về thời chống Mỹ Ngoại trừ vài trường ca ra đời ngay sau 1975 được viết với tâm trạng, cảm xúc thời đại của

người trong cuộc, phản ánh bối cảnh hừng hực hơi thở chiến tranh như Đường tới thành phố,

Những người đi tới biển (đã tạm xếp vào trường ca giai đoạn 1960 - 1980), các trường ca ra đời

Trang 39

sau 1980 được viết để hồi tưởng lại những năm tháng khốc liệt mà vinh quang đã qua Phải nhìn nhận rằng độ lùi thời gian đã giúp các nhà thơ có sự suy ngẫm điềm tĩnh, sâu sắc hơn về chiến tranh và bản chất của kẻ thù; về chính họ và chính chúng ta Có thể nói, hơn ba thập kỷ trôi qua, khuynh hướng hiện thực vẫn là khuynh hướng chủ lưu của nền văn học nước nhà Và dù đất nước đã hoà bình, xã hội đã có những chuyển biến, đổi thay cho phù hợp với tâm thế và cuộc sống hiện tại thì văn học vẫn dành mảnh đất khá rộng cho đề tài “chiến tranh và quá khứ” Các nhà thơ thời hậu chiến có sự cảm nhận và thể hiện tỉnh táo, công bằng hơn về cuộc chiến nên sự đánh giá sẽ có nhiều tầng bậc, nhiều góc độ khác nhau Sự nhận định, đánh giá về ta, về kẻ gây

ra chiến tranh dần dần tránh đi khuynh hướng phiến diện, cực đoan một chiều

Quả thật là: “Xu hướng miêu tả cuộc chiến tranh chân thực đúng như nó đã xảy ra trở

thành điều cam kết thầm lặng của nhà văn với lịch sử và cuộc sống” [76, tr.94] Tất nhiên,

chúng ta vẫn hiểu rằng sự thật chiến tranh trong giai đoạn ác liệt nhất, lúc cần sự đồng tình của quần chúng, thì hiện thực đi vào những trang thơ văn phải được nâng lên cho phù hợp với tâm

thế thời đại để chiến đấu và phải chiến thắng Lê Thành Nghị cũng đã nhận định: “Văn học tham

gia vào cuộc kháng chiến ấy, tự biến mình thành lời ăn tiếng nói của nhân dân trong chiến tranh thành vũ khi phụng sự kháng chiến một cách tự nguyện… thành công cụ của chính trị một cách hữu hiệu” [58, tr.9] Như thế, các nhà thơ mặc áo lính đang thực hiện công việc sáng

tác tự nguyện theo “sự mách bảo của con tim”

Sau 1980, một số nhà thơ đã phản ánh hiện thực chiến tranh bằng sự hồi tưởng, có thể kể

đến Sóng Côn Đảo của Anh Ngọc, Trường ca Sư Đoàn của Nguyễn Đức Mậu, Mảnh hồn chim

Lạc của Nguyễn Hưng Hải, Những người lính của làng của Nguyễn Quang Thiều và gần đây

có Đổ bóng xuống mặt trời của Trần Anh Thái… Dẫu đã từng tham gia cuộc chiến, họ cũng

không chứng kiến hiện thực chiến tranh một cách trực tiếp bởi họ đang ở trong thời bình Họ không phải vừa cầm súng, vừa cầm bút Điều kiện viết: không phải khổ sở, vất vả; không có

bom rơi đạn nổ, không có cái chết cận kề Đề tài: chủ đạo vẫn là chiến tranh và người lính

nhưng chủ yếu là hồi tưởng về một thời máu lửa; về lãnh tụ và những bạn bè, đồng đội đã hy sinh; sự trăn trở, suy tư về mặt trái của cuộc sống hôm nay Chúng ta có thể cảm nhận được sự hồi tưởng đau đáu ấy trong từng hồi ký, trong từng trường ca viết về thời chống Mỹ

Giang Nam, tham gia cuộc chiến chống Mỹ và viết trường ca từ rất sớm Nhưng sau chiến

tranh, trong hồi ký Sống và viết ở chiến trường, nhà thơ đã kể lại những năm tháng đi cách mạng

và kháng chiến Tất cả những điều đó được viết trong sự hồi tưởng quá khứ, là ký ức một thời

chiến tranh mà ông đã từng tham gia Trang bìa hồi ký có dòng tự bạch (đã in trong Nhà văn Việt

Nam hiện đại): “Cuộc chiến đấu ấy là ngọn nguồn cảm xúc lớn, là niềm vui và cả nỗi đau trong

Trang 40

thơ tôi” Nhà thơ cũng tâm sự ở những trang cuối của hồi ký: “Viết về mình đã khó, viết về bạn

bè, đồng chí càng khó hơn nhiều Nhưng khó mấy cũng phải làm; mỗi người góp một phần chất liệu, những hồi tưởng, những kỷ niệm riêng tư để cho gương mặt bạn bè, đồng chí - đặc biệt là những người đã ra đi, đã hy sinh sống mãi với thời gian” [56, tr.232]

Dù cho mọi thứ đã thay da đổi thịt thì tâm hồn của người lính năm xưa vẫn hằn sâu ký ức

chiến tranh trong từng ngỏ ngách riêng tư:

“Tôi vẫn nhận ra Hàm Rồng chìm sâu trong đất/ Tôi vẫn nhận ra Hàm Rồng qua từng hàng cây, hốc đá có tên riêng/ Tôi vẫn nhận ra Hàm Rồng qua từng gương mặt chớm già nua của người đồng đôi/ Trong cái xiết tay, trong rạng rỡ nụ cười/ Trong nước mắt bạn già lâu ngày gặp lại/ Và vết thẹo chiến tranh trong trận bom vùi ” (Trường ca Hàm Rồng - Từ Nguyên

Tĩnh)

Văn Lê là tác giả của Những cánh đồng dưới lửa Nỗi đau xưa về một thời chiến đấu có

vinh quang, có mất mát hy sinh được thể hiện rõ trong những đoạn thơ cuối cùng của trường ca:

“Nào có hết được gian truân, cuộc đời người lính/ Nỗi đau xưa cứ âm ỉ trong lòng/ Giấu khóc

mà cười, giấu đau mà hát/ Nỗi niềm nào còn lại với hư không?”

Quảng Bình tuyến lửa đã hứng chịu hàng triệu tấn bom cày xới nhằm chặt gãy con đường

chi viện cho chiến trường miền Nam Dải đất miền Trung này có Lê Thị Mây nổi bật với những

tập thơ trữ tình, trong đó, Lửa mùa hong áo (2003) như một đoạn phim hồi tưởng sinh động về

tiểu đội mười hai cô gái thanh niên xung phong tóc đuôi sam, nón tai bèo, áo quân xanh màu lá, tuổi mười tám đôi mươi Và thấp thoáng trong trường ca là hình ảnh của chính tác giả - cô thanh niên xung phong Lê Thị Mây ngày nào trong đời thật và trong sự thăng hoa của nghệ thuật thơ

ca Lửa mùa hong áo, theo Vũ Duy Thông thì đây là: “trường ca con gái Những nhân vật của

Lê Thị Mây đánh giặc theo cách con gái Yêu thương theo cách con gái Và ngã xuống theo cách con gái”

Sự hồi tưởng về quá khứ cứ trỗi dậy trong tâm người lính năm xưa Quá khứ không nằm yên và được bộc lộ qua những vần thơ tâm huyết Có người trăn trở về hiện thực cuộc sống hôm

nay khi họ bắt gặp những điều trái khoáy, những hành động nông nổi đời thường Trong Mảnh

hồn chim Lạc, Nguyễn Hưng Hải đã tự hỏi:

“Họ là ai/ con cháu của Hùng Vương/ thời mở cửa/ uống cạn đồi, trơ ruộng/ bỏ làng đi/ họ

là ai/ sao ở chỗ từ bi/ thiện và ác cùng chung “mô phật”… Cái giá của cao sang/ đã có lúc phải thấp hèn để có”/…“Giữa ồn ào phố chật, người đông/ giữa xô lấn đổi thay theo thời cuộc/ ta lắm lúc cũng quên mình thưở trước”

Ngày đăng: 19/06/2021, 14:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (2005), “Thơ chống Mỹ, cứu nước trong tiến trình thơ hiện đại”, Báo Nhân dân (14), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ chống Mỹ, cứu nước trong tiến trình thơ hiện đại
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Báo Nhân dân
Năm: 2005
2. Arixtot (1999), Nghệ thuật thơ ca (nhiều người dịch), Nxb Văn học. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Arixtot
Nhà XB: Nxb Văn học. HN
Năm: 1999
3. Lại Nguyên Ân (1975), “Mấy suy nghĩ về thể loại trường ca”, Tạp chí Văn học (4) in lại trong Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về thể loại trường ca”, Tạp chí Văn học (4) in lại trong "Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1975
4. Lại Nguyên Ân (1981), “Bàn góp về trường ca”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn góp về trường ca
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1981
5. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
6. Lại Nguyên Ân (1986), “Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám một nền sử thi hiện đại”, Tạp chí Văn nghệ (5), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám một nền sử thi hiện đại
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Tạp chí Văn nghệ
Năm: 1986
8. Nguyễn Duy Bắc (1998), Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1945 - 1975), Nxb Văn hóa dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1998
9. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Dostoievski (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Dostoievski
Tác giả: Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
10. Đào Thị Bình (2002), “Góp phần tìm hiểu trường ca viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, Tạp chí Giáo dục (26), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu trường ca viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Đào Thị Bình
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2002
11. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ hiện đại Việt Nam 1975 - 2000, Nxb Hội Nhà Văn, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ hiện đại Việt Nam 1975 - 2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
Năm: 2003
12. Hồng Diệu (1981), “Thêm vài suy nghĩ”, Tạp chí Văn nghệ (5), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thêm vài suy nghĩ
Tác giả: Hồng Diệu
Nhà XB: Tạp chí Văn nghệ
Năm: 1981
13. Trần Phỏng Diệu (2006), “Yếu tố giọng điệu trong truyện ngắn Sơn Nam”, Tạp chí VNQÐ (642 tr.94), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố giọng điệu trong truyện ngắn Sơn Nam
Tác giả: Trần Phỏng Diệu
Nhà XB: Tạp chí VNQĐ
Năm: 2006
14. Phạm Tiến Duật (1980), “Về bút pháp hiện thực trong thơ Việt Nam hiện đại (1945 - 1980)”, Tạp chí Văn học (5), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bút pháp hiện thực trong thơ Việt Nam hiện đại (1945 - 1980)
Tác giả: Phạm Tiến Duật
Năm: 1980
15. Nguyễn Hồng Dũng (2005), Chiến tranh Việt Nam trong văn học Mỹ - từ sự thật đến tác phẩm, Tạp chí VNQĐ (619), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh Việt Nam trong văn học Mỹ - từ sự thật đến tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Hồng Dũng
Nhà XB: Tạp chí VNQĐ
Năm: 2005
16. Nguyễn Duy (1981), Phóng sự 30 tháng 4 năm 1975, Nxb Văn Nghệ, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phóng sự 30 tháng 4 năm 1975
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Văn Nghệ
Năm: 1981
17. Hà Trọng Đạm (2005), Điạ chỉ đời người, Nxb Hội Nhà Văn, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điạ chỉ đời người
Tác giả: Hà Trọng Đạm
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
Năm: 2005
18. Nguyễn Sĩ Đại (2004), “Hữu Thỉnh, nhà thơ của làng ngày đánh giặc”, Báo Nhân Dân (38), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh, nhà thơ của làng ngày đánh giặc
Tác giả: Nguyễn Sĩ Đại
Nhà XB: Báo Nhân Dân
Năm: 2004
19. Nguyễn Khoa Điềm (2004), “Bản hùng ca đất nước”, Báo Văn nghệ công an (7), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản hùng ca đất nước
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Báo Văn nghệ công an
Năm: 2004
20. Nguyễn Khoa Điềm (2004), “Tác giả nói về tác phẩm Đất nước”, báo Giáo dục và thời đại (110), HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả nói về tác phẩm Đất nước
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Năm: 2004
21. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w