1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh

24 961 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Thành Đạt
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại Bài tập lớn
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 153,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh.

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN MỘT 2

PHẦN HAI 3

I.TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG QUAN NIỆM NHO GIÁO VÀ CỦA CÁC BẬC TIỀN BỐI 3

1 Tư tưởng thân dân trong quan niệm của nho giáo 3

2.Tư tưởng thân dân của Trần Hưng Đạo 4

3.Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi 5

4.Tư tưởng thân dân trong thời đại nhà Nguyễn 8

II TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC 10

1 Ảnh hưởng của nho giáo đến Hồ Chí Minh về tư tưởng thân dân 11

2 Tư tưởng thân dân trong quá trình hoạt động cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh 14

3 Tư tưởng thân dân trong quan điểm về nhà nước của Hồ Chí Minh 17

III TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY 19

PHẦN BA 21

1 Quan điểm cá nhân 21

2 Lời kết 22

LỜI CẢM ƠN 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 2

PHẦN MỘTĐẶT VẤN ĐỀ

Nước Việt Nam luôn được bạn bè thế giới đánh giá là một quốc gia có lịch

sử phát triển lâu đời với hàng nghìn năm phát triển, nơi đây đã sản sinh ra những con người kiệt xuất của nhân loại, đã được cả thế giới công nhận, đó là Chủ tịch

Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trãi, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn… và còn hàng trăm, hàng nghìn con người khác, tất cả họ đều luôn hướng đến một mục đích cao cả là mong đất nước được hòa bình ấm no hạnh phúc Cao hơn tất cả, nổi bật lên ở những con người này là tư tưởng thân dân, lấy dân làm gốc

Trong suốt chiều dài phát triển của đất nước, chúng ta đã phải trải qua hàng trăm cuộc xâm lược của giặc ngoại xâm, cũng như rất nhiều các cuộc nội chiến trong nước, nhưng mỗi cuộc đấu tranh đều thể hiện tinh thần chiến đấu của nhân dân ta cùng với tư tưởng thân dân của những người lãnh đạo, tư tưởng đó luôn được đề cao trong mọi hoàn cảnh, mọi thời đại, từ thời vua Hùng dựng nước, trong giai đoạn Bác Hồ chỉ đạo nhân dân đánh giặc cứu nước và đến tận ngày hôm nay, khi Đảng, Nhà Nước đang xây dựng đất nước

Bài tiểu luận với cấu trúc 4 phần:

Phần I: Tư tưởng thân dân trong quan niệm Nho giáo và của các bậc tiền bối.Phần II: Tư tưởng thân dân của Nguyễn Ái Quốc

Phần III: Tư tưởng thân dân trong thời đại hiện nay

Phần IV: Quan điểm cá nhân

Bài viết có sử dụng một số tài liệu tham khảo, do trình độ và nguồn tham khảo có hạn nên còn nhiều hạn chế Tôi mong nhận sự góp ý của các thầy cô để bài tiểu luận hoàn thiện hơn

Trang 3

PHẦN HAIGIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I.TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG QUAN NIỆM NHO GIÁO VÀ

CỦA CÁC BẬC TIỀN BỐI

1 Tư tưởng thân dân trong quan niệm của nho giáo

Tư tưởng thân dân, hay tư tưởng “lấy dân làm gốc” đã có từ xa xưa, tư tưởng này đã được đề cập trên trong Nho giáo, Khổng Tử đưa ra khái niệm “Nhân trị” Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và coi người như bản thân mình Nho giáo đề cao việc cai trị nhân dân không chỉ bằng pháp luật mà trước hết phải bằng đạo đức, bằng nhân nghĩa, bằng lễ giáo (Đức trị, nhân trị, lễ trị)

Nho giáo đã đề cập đến một số vấn đề về tư tưởng thân dân Thứ nhất là thái

độ quý trọng dân, thấy được sức mạnh to lớn của dân Về điều này, Mạnh Tử đã

có câu nói lịch sử: “Dân là quý, sau mới đến xã tắc, vua thì xem nhẹ” (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh) Thứ hai là quan tâm đến đời sống của dân Nho gia yêu cầu các bậc trị quốc phải bảo đảm cho người dân có đời sống tối thiểu để họ: “ngẩng lên đủ để phụng dưỡng cha mẹ, cúi xuống đủ để nuôi sống

vợ con” (sử ngưỡng túc dĩ sự phụ mẫu, phủ cập, dĩ sức thê tử) (Nguyễn Đăng Thục

Lịch sử triết học phương Đông tập II Nxb T.p Hồ Chí Minh, 1991 tr.61) Thứ ba: phải gần dân, đối xử đúng mức với dân Kinh Thư viết: “Đối với dân nên gần, không nên coi

là thấp hèn” (dân khả cận, bất khả hạ) Khổng Tử nhắc nhở những người cầm quyền: “Sai khiến dân phải cẩn thận như điều hành một cuộc tế lễ lớn” (Sử dân như thừa đại lễ) Và cuối cùng là lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ (Tiên thiên

hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc)

Trang 4

2.Tư tưởng thân dân của Trần Hưng Đạo

Trong những bước thăng trầm của lịch sử nước ta, ở triều đại nào, tình thân dân đều được bộc lộ khá rõ nét, đặc biệt điều đó được thể hiện qua tấm lòng yêu thương đồng bào của những người lãnh đạo kiệt xuất của đất nước Và một trong số đó là người anh hùng kiệt xuất thời Trần, ông là người có công ba lần đánh bại quân Nguyên Mông sang xâm lược, đó chính là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1232?(1) - 1300) (Bách khoa toàn thư Việt

Nam) là danh tướng thời nhà Trần và cũng là danh tướng trong lịch sử Việt Nam Với tài quân sự của mình, hai lần ông đều được vua Trần cử làm tướng chống trận Đặc biệt ở kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 2 và thứ 3, ông được vua Trần Nhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ Ngoài tài quân

sự Trần Hưng Đạo còn nổi tiếng với những tác phẩm : Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư, và tác phẩm Hịch tướng sĩ, tác phẩm là nỗi lòng của Trần Hưng Đạo đối với vận mệnh đất nước, thể hiện tình thân dân sâu sắc của ông đối với nhân dân:

“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm”.

Hịch tướng sĩ Với tư tưởng “Lấy dân làm gốc” và luôn luôn coi ý chí của quần chúng là bức thành kiên cố nhất, Trần Quốc Tuấn cùng triều đình nhà Trần đã phát huy được tổng lực toàn dân tham gia kháng chiến: “Trăm họ đều là binh” “đem cả nước ra đánh giặc” Bởi thế mới thực hiện được triệt để kế sách “vườn không nhà trống”, mới tổ chức được đánh địch ở mọi nơi mọi lúc, thi hành tốt nhất

Trang 5

-mệnh lệnh kháng chiến của triều đình là: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng”. (Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 198 dẫn lại Nguyên sử quyển 209)

3.Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

Tiếp bước tư tưởng thân dân của Hưng Đạo Đại Vương, gần một thế kỉ sau, Nguyễn Trãi đã xây mối quan hệ vua tôi với dân chúng qua những tác phẩm của mình

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là một triết lý sâu sắc, cốt lõi, bao trùm toàn bộ cuộc đời ông Tư tưởng nhân nghĩa được thể hiện trên nhiều khía cạnh: nhân nghĩa là thương dân, vì dân, an dân; nhân nghĩa là sự khoan dung, độ lượng; nhân nghĩa là lý tưởng xây dựng đất nước thái bình… Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi kế thừa quan điểm nhân nghĩa Nho giáo, nhưng đã được

mở rộng, phát triển hơn, tạo nên dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.Nguyễn Trãi nổi tiếng với rất nhiều tác phẩm tiêu biểu như: “Quân trung từ mệnh tập”, “Bình Ngô đại cáo” và các tập thơ “Ức trai thi tập”, “Quốc âm thi tập”… Trong đó, tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” là tác phẩm tiêu biểu nhất, nó được coi là một trong ba bản tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam cùng với

“Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt và “Bản tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân nghĩa là tư tưởng của dân tộc được hình thành và phát triển xuyên suốt chiều dài lịch sử Mục đích của nhân nghĩa đã được khẳng định là “cốt để yên dân”, là bảo vệ hạnh phúc của nhân dân Hạnh phúc lớn nhất của dân là được sống trong môi trường hoà bình, yên ổn làm ăn, không lâm vào cảnh chết chóc, đau thương

Trang 6

“Từng nghe:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Nhân nghĩa là tinh thần vì dân, là chính nghĩa của nhân dân, mang bản sắc dân tộc Nhân nghĩa ở đây không phải là lòng thương người một cách chung chung, mà nhân nghĩa là để an dân, trừ bạo ngược để cứu nước,cứu dân Muốn yên dân thì khi có giặc ngoại xâm trước tiên phải đứng lên chống giặc “trước lo trừ bạo”

Nhân nghĩa còn là sự chia sẻ, cảm thông với nổi khổ của người dân mất nước:

“Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nổi rừng sâu nước độc

Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng”

Nhân nghĩa là cần phải đấu tranh để cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển Nhân nghĩa giống như là một phép lạ, làm cho “càn khôn đã bĩ mà lại thái, trời trăng đã mờ mà lại trong”(Nguyễn Trãi Toàn tập tr.79) Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi , vì vậy, mang đậm sắc thái của tinh thần yêu nước truyền thống của người Việt Nam Ở đây, có thể thấy rõ tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi

đã vượt lên trên tư tưởng nhân nghĩa của Khổng – Mạnh và có sự sáng tạo, phát triển trong điều kiện cụ thể của Việt Nam

Như vậy, với Nguyễn Trãi, tư tưởng nhân nghĩa gắn kết biện chứng với tư tưởng thuận dân, an dân là một yêu cầu cao, một hoài bão lớn, một mục đích chiến lược cần phải đạt tới Trước Nguyễn Trãi hàng nghìn năm, nhiều nhà tư tưởng trong lịch sử triết học Trung Quốc như Mạnh Tử… đã từng nêu rõ vai trò

Trang 7

quan trọng của dân, sức mạnh của dân, tai mắt và trí óc sáng suốt của dân Ở Việt Nam, tư tưởng an dân đã trở thành một đạo lý vào thời Lý – Trần Trong thời kỳ đó, những tư tưởng về thân dân, khoan dân, huệ dân, v.v đã xuất hiện và

đã góp phần tích cực vào việc làm cho thời đại Lý – Trần hưng thịnh Đến Nguyễn Trãi, quan điểm về an dân đã được ông tiếp thu, kế thừa, mở rộng và nâng cao trong suốt thời kỳ hoạt động của mình An dân có nghĩa là chấm dứt, là loại trừ những hành động tàn ác, bạo ngược đối với dân An dân còn là sự bảo đảm cho nhân dân có được một cuộc sống yên bình An dân là không được nhũng nhiễu “phiền hà” dân Với tư tưởng an dân, Nguyễn Trãi đã đưa ra một chân lý: phải giương cao ngọn cờ “nhân nghĩa, an dân”, phải cố kết lòng dân làm sức mạnh của nước, làm thế nước Ông chủ trương cứu nước bằng sức mạnh của dân, muốn lấy lại được nước phải biết lấy sức dân mà kháng chiến Đó là một chiến lược bất khả biến, có tính trường tồn, một quy luật dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

Có một khía cạnh rất đáng quý trong tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi, đó là

tư tưởng trọng dân, biết ơn dân “Dân chúng” vẫn luôn được ông nhắc tới và chú

ý đề cao ngay cả sau khi kháng chiến đã thành công, đất nước đã giành được độc lập và bước vào xây dựng cuộc sống mới Nguyễn Trãi nhận thức được rằng lực lượng làm ra thóc gạo, cơm ăn, áo mặc là do ở nhân dân; rằng điện ngọc cung vàng của vua chúa cũng đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà có: “thường

nghĩ quy mô lớn lao, lộng lẫy đều là sức lao khổ của quân dân” (Quân trung từ mệnh tập, tr.196) Chính xuất phát từ suy nghĩ như vậy, nên khi đã làm quan trong triều

đình, được hưởng lộc của vua ban, Nguyễn Trãi đã nghĩ ngay đến nhân dân, những người dãi nắng dầm mưa, những người lao động cực nhọc Ông viết: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày” Trong suốt cuộc đời của mình, Nguyễn Trãi đã có cuộc sống gần gũi, gắn bó với nhân dân, hoà mình vào nhân dân Do đó, ông đã nhận thấy rất rõ những đức tính cao quý của nhân dân, hiểu được nguyện vọng tha

Trang 8

thiết của nhân dân, thấy rõ được sức mạnh vĩ đại của nhân dân trong sáng tạo lịch sử.

4.Tư tưởng thân dân trong thời đại nhà Nguyễn

Mặc dù tư tưởng thân dân trong mọi thời đại luôn là tư tưởng cao cả mà những người lãnh đạo luôn hướng đến nhưng đến triều đại nhà Nguyễn, do những chính sách sai lầm của vua quan mà họ đã ép những người dân phải thực hiện chế độ lao dịch: mỗi người dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch cho triều đình Lao dịch thường là để làm các mục đích: xây sửa hệ thống đê điều, kênh rạch, sông ngòi; xây đắp các thành lũy; xây dựng các cung điện cho hoàng gia.Trên thực tế, người dân phải lao dịch khá nặng trong thời gian vương triều Nguyễn xây dựng các cung điện, lăng tẩm, dinh thự, Ví dụ năm 1807, ngay khi kinh thành Huế vừa được xây xong, vua Gia Long lại huy động hàng nghìn dân đinh và binh lính tiếp tục sửa chữa và tu bổ thêm trong một thời gian dài Vua Minh Mạng cũng tiếp tục công việc xây dựng kinh đô Vua Thiệu Trị thì không tập trung xây dựng kinh đô nữa, nhưng, trong một cuộc tuần du lớn ra Bắc Kì năm 1842, người dân đã phải xây 44 hành cung cho một phái đoàn đông đến 17.500 người, 44 con voi và 172 con ngựa của nhà vua(Trương Hữu Quýnh

(2005), Đại cương Lịch sử Việt Nam-tập I, Nhà xuất bản Giáo Dục)

Mặc dù vẫn thực hiện chế độ lao dịch đối với những người dân nghèo vô tội nhưng do ảnh hưởng của thiên tai, lụt lội nên triều đình phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp để cứu đói, thường là khẩn cấp Để có phương tiện thực hiện cứu trợ khẩn cấp, triều đình thiết lập các kho lương trữ lúa cho việc cứu tế được gọi

là Bình Chuẩn Thương, người nghèo túng có thể mua gạo giá rẻ hơn bình thường

và không giới hạn, từ 1,2 phương tới cả thưng, đấu, bát

Trang 9

Thời Minh Mạng triều đình cũng bắt quan lại các tỉnh phải xuất lúa giống

ở kho cho dân nghèo vay để làm mùa sau, nhằm làm cho nông nghiệp không bị đình trệ và việc mất mùa không ảnh hưởng nhiều sang các năm sau

Dù cho các biện pháp cứu tế này làm công quỹ hao hụt không ít nhưng chỉ có thể ngăn cản nạn đói khỏi lan rộng trong 1 thời gian ngắn, ngăn sự tăng giá của lương thực nhưng chỉ là những liều thuốc cấp thời, không thể ngăn chặn một cách dứt khoát sự thiếu hụt lương thực Ngoài ra, việc quan lại địa phương tham nhũng cũng làm giảm hiệu năng của các biện pháp này Triều đình phải liên tiếp ban hành các đạo dụ để nghiêm trị

Sách Lịch sử Việt Nam do Viện Khoa học Xã hội của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bản năm 1971 cũng cho rằng "triều Nguyễn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tội ác trời không dung, đất không tha, để cho tên tuổi đất nước một lần nữa, sau hàng ngàn năm độc lập, bị quân cướp nước xóa khỏi bản đồ Thế

giới" (Những vấn đề Lịch sử triều Nguyễn-Tạp chí Xưa và Nay & NXB Văn Hóa Sài Gòn tr 325)

Qua đó ta thấy được trong thời đại nhà Nguyễn, Tư tưởng thân dân không còn được như xưa, các vị lãnh đạo, vua quan không còn coi mình là người phục

vụ nhân dân mà họ còn ra sức bóc lột bắt nhân dân xây dựng thành lũy cho mình, cứu đói không phải xuất phát từ tình thương dân mà thực tế là sức ép từ vị trí của những người lãnh đạo đất nước

Trang 10

II TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

Mặc dù trong lịch sử dân tộc ta, có nhiều vị vua, nhiều nhà chính trị, quân sự, ngoại giao lỗi lạc đã vận dụng đạo đức Nho giáo vào tư tưởng thân dân theo hướng tích cực như: Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Phan Bội Châu… nhưng người tiếp thu, vận dụng Nho giáo một cách nhuần nhuyễn nhất, thành công nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Về thực chất, đây cũng chính là tư tưởng thân dân Người cán bộ giữ được cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, là người có ý thức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, của

Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, là thân dân

Thân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là: dân là gốc của nước Dân là người đã không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ đất nước Nước không

có dân thì không thành nước Nước do dân xây dựng nên, do dân đem xương máu ra bảo vệ, do vậy dân là chủ của nước Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất Lực lượng của Đảng có lớn mạnh được hay không

là do dân Nhân dân là người xây dựng, đồng thời cũng là người bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng Dân như nước, cán bộ như cá Cá không thể sinh tồn và phát triển được nếu như không có nước Nhân dân là lực lượng biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực Do vậy, nếu không có dân, sự tồn tại của Đảng cũng chẳng có ý nghĩa gì Đối với Chính phủ và các tổ chức quần chúng cũng vậy

Trang 11

1 Ảnh hưởng của nho giáo đến Hồ Chí Minh về tư tưởng thân dân

Tiếp thu quan điểm của nho giáo, Người nói: “Trong bầu trời không có gì quý hơn bằng nhân dân Trong thế gian không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (Báo Nhân dân ngày 21-5-1990)

Về vấn đề quan tâm đến đời sống của dân, đây cũng là quan điểm cơ bản trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người xác định trách nhiệm của Đảng và Chính phủ trong việc đề ra và thực hiện các chính sách: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi

Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”(Thế hệ trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, Trung ương Đoàn ấn hành, 1986 tr.32)

Tác phong gần gũi nhân dân là nét tính cách tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh Sinh thời, Bác hay đi thăm hỏi đồng bào, tìm hiểu đời sống của nhân dân

ở nhiều địa phương Tác phong gần dân của Bác còn thể hiện ở cuộc sống giản

dị của Người Là Chủ tịch nước, nhưng từ chỗ ở đến cách ăn mặc và sinh hoạt hằng ngày của Người không có sự khác biệt bao nhiêu so với người dân bình thường Bác luôn giáo dục cán bộ, đảng viên không được có tác phong quan liêu, cuộc sống quan cách xa rời nhân dân

Trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành làm mọi việc để sống và để đi Từ làm phụ bếp trên con tàu Pháp của hãng “Vận tải hợp nhất” đến cào tuyết trong một trường học, đốt lò, làm vườn, làm thợ rửa ảnh… Thông qua lao động, Nguyễn Ái Quốc gần gũi với cuộc sống của nhân dân lao động, hiểu được nỗi thống khổ, hiểu được nguyện vọng, ý chí, năng lực của họ và đồng cảm với họ Với tầm hiểu biết rộng lớn và vốn thực tiễn phong phú, sâu

Trang 12

sắc, ở Nguyễn Ái Quốc đã sớm hình thành những nhận thức mới so với các nhà yêu nước đương thời.

Giống như quan điểm của Nho giáo: lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện quan điểm này trong toàn bộ hoạt động cũng như đời sống của Người Bác chăm lo cho tất cả mọi người nhưng không bao giờ đòi hỏi đãi ngộ cho riêng mình Làm việc gì, sống như thế nào, bao giờ Bác cũng nghĩ đến dân trước hết

Trên đây là mấy nét tạm gọi là điểm chung giữa Nho giáo và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quan điểm thân dân Nhưng trong tư tưởng của Người cũng tồn tại một vài điểm khác với Nho giáo

Nho giáo miệt thị người dân lao động nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tôn trọng nhân dân Người thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn luôn học hỏi nhân dân, học tập kinh nghiệm sáng tạo của quần chúng, coi nhân dân là người thầy của mình Người tôn trọng tất cả mọi người, tất cả các nghề trong xã hội Người nói: “Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kỹ sư, nếu làm tròn trách nhiệm cũng vẻ vang như nhau”(Thế hệ trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, Trung ương Đoàn ấn hành, 1986 tr.32)

Ngược lại với quan điểm vua quan là người cầm quyền, là cha mẹ của dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại cho rằng, những người cầm quyền trong xã hội là

“người đầy tớ của nhân dân” Người nói: “Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là sự phân công làm đầy tớ cho dân

Đó là vinh dự cao nhất” (Thế hệ trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, Trung ương Đoàn ấn hành, 1986 tr.35)

Trong Di chúc, Người viết: “Phải gìn giữ Đảng ta thật trong sạch, xứng đáng

là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” Người còn cho rằng: cán bộ, đảng viên thương dân chưa đủ mà còn phải hiếu với dân, như con cái giữ tròn chữ hiếu đối với cha mẹ

Ngày đăng: 13/11/2012, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w