1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng thân dân của Nguyễn Ái Quốc so với các bậc tiền bối. Vấn đề này ngày nay được Đảng và Nhà nước ta thực hiện như thế nào

24 1,3K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng thân dân của Nguyễn Ái Quốc so với các bậc tiền bối. Vấn đề này ngày nay được Đảng và Nhà nước ta thực hiện như thế nào
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Lê Thị Hoa
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 142 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng thân dân của Nguyễn Ái Quốc so với các bậc tiền bối. Vấn đề này ngày nay được Đảng và Nhà nước ta thực hiện như thế nào,

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

I – TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA CÁC THẾ HỆ NGƯỜI VIỆT NAM 4

1 Tư tưởng thân dân trong chế độ phong kiến 4

2 Tư tưởng thân dân của một số nhà cách mạng đầu thế kỉ XX 8

II – TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THÂN DÂN 11

1 Trái tim yêu nước, thương dân 11

2 Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân 13

3 Trung với nước, hiếu với dân 15

4 Nền quốc phòng toàn dân 16

III – VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG THÂN DÂN VÀO THỰC TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY 19

1 Đảng và Nhà nước ta hiện nay với vấn đề thân dân 19

2 Giải pháp 21

KẾT LUẬN 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ở đất nước Việt Nam, đã từ lâu nay, các em nhỏ hát vang lời ca: “Aiyêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” Có mấy người trên trái đấtnày để lại muôn vàn tình thương yêu cho dân tộc mình và bạn bè trên thếgiới, cả lúc đương thời lẫn lúc đi xa, như Bác Hồ!

Gắn bó cả cuộc đời với dân tộc, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách,hiểm nguy, đưa nhân dân ta thoát khỏi kiếp đời nô lệ, giành được độc lập tự

do, Người là tấm gương sáng cho các thế hệ thanh niên Việt Nam Từ những

cử chỉ, lời nói, việc làm, chuyện ăn, ở, đi lại, sống, chiến đấu, lao động vàhọc tập; đến đạo đức, nhân cách, tư tưởng của Bác đã để lại những dấu ấn rấtsâu đậm mà giản dị, thân quen, đã được nhân dân ta kể lại cho nhau nghenhư những huyền thoại, những kỉ niệm không thể nào quên Đặc biệt, hệthống tư tưởng Hồ Chí Minh – hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, không chỉ là kim chỉ namcho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóngcon người của nhân dân Việt Nam mà cho đến hiện nay, trong công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội, tư tưởng của Người vẫn còn nguyên giá trị Xuyênsuốt và nhất quán trong tư duy lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễncủa Hồ Chí Minh chính là tư tưởng “thân dân”

Vậy “thân dân” theo quan điểm của Hồ Chí Minh được hiểu như thếnào, so sánh với các thế hệ đi trước? Và nó có còn giá trị trong thời kì hiệnnay? Với kiến thức còn nhiều hạn chế, được sự hướng dẫn của giảng viên

thạc sĩ Lê Thị Hoa, em xin trình bày về đề tài: “Tư tưởng thân dân của

Nguyễn Ái Quốc so với các bậc tiền bối Vấn đề này ngày nay được Đảng

và Nhà nước ta thực hiện như thế nào.”

Trang 3

NỘI DUNG

I – TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA CÁC THẾ HỆ NGƯỜI VIỆT NAM.

1 Tư tưởng thân dân trong chế độ phong kiến

Thân dân được hiểu là yêu dân, coi trọng nhân dân, lấy dân làm gốc Xãhội phong kiến coi trọng giai cấp thống trị, vua tự nhận mình là “con trời”,còn nhân dân lao động chỉ là “thảo dân” Đó là những hạn chế lịch sử củachế độ phong kiến Tuy nhiên, những tư tưởng tiến bộ không phải là không

có, thậm chí có rất nhiều Khổng Tử, gốc của Nho gia đã nói: "Quân vikhinh, xã tắc thứ chi, dân vi bản", nghĩa là: vua không quan trọng, xã tắccũng chỉ là thứ yếu, quan trọng và cơ bản là dân

Trải qua bốn nghìn năm lịch sử, yêu nước thương dân mãi là truyềnthống đặc sắc nhất của người Việt Nam Lấy dân làm gốc cũng trở thành cẩmnang của các nhà lãnh đạo, cầm quyền một lòng vì dân, vì nước Và lịch sửcũng đã chứng minh: đời vua nào minh đức, yêu dân, quan tâm tới đời sốngnhân dân thi người dân được ấm no, xã tắc được cường thịnh, bền vững Nóthể hiện nhất quán tư tưởng : dân là nước, còn dân thì còn nước Đất nước cótạm thời bị giặc ngoại xâm chiếm đóng, nhưng làng không mất, dân khôngmất thì nhân dân sẽ đứng lên đấu tranh, đất nước nhất định sẽ được khôiphục trong độc lập, tự do Ngay từ buổi đầu dựng nước, thân dân vốn làchính sách nổi tiếng của các vua Hùng Vua và dân cùng đi săn khi bắt đượcnhững con thú rừng như hươu, nai , vua chỉ ăn bộ lòng còn thịt thì đểnhường thần dân Sau gần ngàn năm Bắc thuộc, tinh thần dân bản Văn Langvẫn kiên thủ ở làng xã Các triều Lê, Lý, Trần đều có chính sách sử dụngnhững người có tài năng, đức độ trong nhân dân; biến những giáo lý chính trịđạo đức của Nho giáo thành những tín điều yêu nước, thương dân, bạn bè

Trang 4

hoà thuận, gia đình hiếu nghĩa, yêu thương lẫn nhau, lên án tệ chuyên quyền,

áp chế và cuộc sống sa đoạ của vua, quan Trong thời Lý, việc chăm lo đờisống nhân dân, quan tâm đến nguyện vọng của nhân dân đã được khẳng định

là điều quan trọng hàng đầu trong đạo trị nước Thế nên mới có chuyện vua

Lý lấy áo đắp cho người già yếu Trong bài văn lộ bố khi đánh Tống của Lý

Thường Kiệt có viết: "Trời sinh ra dân chúng; vua hiền tất hòa mục Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân" Vị thái úy triều Lý cũng được người đời ca

ngợi: " làm việc thì siêng năng, sai bảo dân thì ôn hậu, cho nên dân đượcnhờ cậy Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, cho nênnhân dân kính trọng Thái úy biết dân lấy sự no ấm làm đầu, nước lấy nghềnông làm gốc, cho nên không để lỡ thời vụ Tài giỏi mà không khoe khoang,nuôi dưỡng đến người già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ đó mà đượcyên thân Phép tắc như vậy có thể gọi là cái gốc trị nước; cái thuật yên dân;

sự đẹp tốt đều ở đấy”

Kế thừa truyền thống của nhà Lý, các vị vua Trần đã tiếp tục kiến quốc,cứu quốc và phát triển quốc gia tới đỉnh thăng hoa lịch sử Điển hình là Phậthoàng Trần Nhân Tông Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đếnchữ Nhân Chữ Nhân như tên ông đã cùng ông đi suốt cả cuộc đời Cái nhâncao cả nhất của vua Trần Nhân Tông là ông luôn đặt lợi ích của dân, của đấtnước, dân tộc lên trên hết thảy Nhường ngôi cho Trần Anh Tông khi 35 tuổi,

ít lâu sau quay lại thăm con, thấy Anh Tông thăng quan tước cho hàng trămngười, Phật Hoàng Trần Nhân Tông tức giận đến mức vất cái danh sách dàidằng dặc ấy ra giữa sân rồng và nói như thét lên bằng tiếng thét xé

lòng: “Đất nước bé bằng bàn tay, quan nhiều như thế, dân làm sao sống nổi?” Tiếng thét đó đã bay qua 7 thế kỷ rồi mà ta vẫn thấy như mới hôm

trước, hôm nay Thì ra, nguyên tắc vì dân của Trần Nhân Tông thật giản dị:

Bộ máy cai trị càng ít, quan lại ít phải điều hành là điều vì dân hiệu quả nhất,

Trang 5

thiết thực nhất Trần Nhân Tông là vị vua đầu tiên coi tiếng dân, lòng dân,sức mạnh của dân là điều thiêng liêng nhất Chính vì thế mới có Hội nghịDiên Hồng (12.1284) Điều vĩ đại vô giá của "câu chuyện" này là Trần NhânTông thấy rõ những mất mát, đau thương mà người dân phải gánh chịu nếuchiến tranh xảy ra Ông không muốn tự mình quyết định khi dân khôngmuốn, dân không chịu nổi Một khi dân đã đồng lòng thì vận nước mới thịnhhưng, thành công mới đến, chiến thắng mới rủ gọi nhau về Ở đây, chúng tathấy vua Trần Nhân Tông nể trọng dân, tin cậy dân, yêu quý dân đến mứcnào!

Nhắc đến những trang sử vẻ vang đời Trần, không thể không nói tớiHưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Tài năng của Trần Quốc Tuấn biểu hiện

ở sự nhận thức rất rõ dân ta là nguồn sức mạnh giữ nước Với niềm tin

“chúng chí thành thành” (ý chí nhân dân là bức thành vững chắc), Trần

Quốc Tuấn chủ trương lấy nông dân làm nguồn bổ sung cho quân đội thông

qua hình thức bách tính giai vi binh (trăm họ là binh), tận dân vi binh (mỗi

người dân là một người lính) Thế nên những người áo vải dân đen nhưPhạm Ngũ Lão ngồi đan sọt, Trần Khánh Dư bán than, Nguyễn Khoái, YếtKiêu, Dã Tượng… đều có dịp lập công với nước Tinh thần dân bản này đãhuy động được toàn dân từ làng xóm thôn quê, từ tận “đáy” dân tộc, nênHưng Ðạo Vương mới ba lần đại phá Mông Cổ, bằng tự lực tự cường không

có ngoại bang nào trợ giúp đằng sau Nhìn lại thắng lợi này, ông cho rằng:

"Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức" là nhân tố đã làm cho "quân địch phải chịu bị bắt" Tháng 6 năm 1300, Hưng Đạo Vương ốm.

Vua ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phươngBắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?" Hưng Đạo Vương trả lời:

“…khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách gịữ

Trang 6

nước.” Triết lý của ông đơn giản mà vô cùng sâu sắc, là đạo cầm binh muôn

đời

Đến thế kỉ XV, dưới thời nhà Lê, tư tưởng thân dân lại một lần nữa trởthành lý tưởng sống của một con người, đó là Nguyễn Trãi Trong Bình Ngôđại cáo, nổi bật là việc nhấn mạnh đến tư tưởng vì dân; quan tâm trước hếtđến đời sống nhân dân, đến hạnh phúc của mọi người Đây chính là một tưtưởng lớn nhất đã được thiên cổ hùng văn này thể hiện

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Theo Nguyễn Trãi, “phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” tức là sức của dânnhư nước, nước chở thuyền và cũng có thể lật thuyền Sau chiến thắng chốngquân Minh, Nguyễn Trãi đã viết Đại cáo Bình Ngô không chỉ ghi công chotrời thần, danh tướng, mà còn cẩn trọng ghi công lao của nhân dân lao khổ -sức mạnh đầu tiên xung phong đánh thắng giặc Minh: “dựng gậy làm cờ, bốnphương dân cày tụ họp” Sau này khi Nguyễn Trãi được chỉ định làm lễ nhạc,ông đã dâng một tờ tấu thể hiện tư tưởng "thân dân", bài tấu có đoạn viết: "Thời loạn thì dùng võ, thời bình thì dùng văn Ngày nay định ra lễ nhạc làđúng lúc Song không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn hóa thìkhông thể lưu hành Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc Dám mong bệ hạ rũ lòng thương yêu mà chăn nuôi muôn dân, khiến trongthôn cùng, xóm vắng không còn một tiếng hờn giận, oán sầu, đó là cái gốccủa nhạc vậy" Gốc của nhạc cũng chính là gốc của chính sách quản lý đấtnước Cũng dựa vào cội gốc đó, vua Lê Thánh Tông (1470 - 1497) đã soạnthảo ra Bộ luật Hồng Đức Bộ luật Hồng Đức đã thể hiện sâu sắc tư tưởng

"Lấy dân làm gốc" của dân tộc ta, trong "Điều 294: Trong kinh thành vàphường ngõ, làng xóm có kẻ ốm đau mà không ai nuôi, nằm ở đường xá, cầuđiếm, chùa quán thì xã quan ở đó phải dựng lều lên mà chăm sóc họ cơm

Trang 7

cháo, thuốc men, cốt sao cứu sống họ Nếu không may mà họ chết thì phảitrình quan trên và tổ chức chôn cất, không được để lộ thi hài Nếu phạm tộinày thì quan làng xã bị tội biếm hay bãi chức" Tính chất nhân đạo được nêutrong điều này của Bộ luật Hồng Đức chính là biểu hiện cho tư tưởng yêudân, thương dân, coi trọng nhân dân của vua Lê.

Có thể nói, đỉnh cao của các triều đại phong kiến Việt Nam xuất phát từ

tư tưởng thân dân cùa của những người nắm trong tay vận mệnh đất nước

Các vị vua anh minh, các anh hùng trong lịch sử đều có tư tưởng “thân dân”,

đã biết dựa vào sức dân, phát huy sức mạnh toàn dân để xây dựng và bảo vệđất nước, chống lại sự xâm chiếm của ngoại bang Thân dân, yêu dân, lấydân làm gốc là truyền thống, là đạo lý muôn đời Truyền thống tốt đẹp ấyđược phát huy cùng sự trường tồn của dân tộc Các thế hệ người dân ViệtNam vẫn luôn nhìn về ông cha ta ngày trước trong sự nghiệp đấu tranh giảiphóng dân tộc, bảo vệ đất nước

2 Tư tưởng thân dân của một số nhà cách mạng đầu thế kỉ XX

Đất nước ta luôn phải đối mặt với kẻ thù xâm lược, và ở bất cứ thời đạinào cũng đều sinh ra những người con ưu tú, những người có tấm lòng yêunước, thương dân Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là hai nhà hoạt độngcách mạng nổi tiếng của phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX, hai con ngườivới hai quan điểm chính trị khác nhau, nhưng đều chung một mục đích là vìdân, vì nước

Phan Bội Châu là một nhà cách mạng Việt Nam, hoạt động dưới thời kỳPháp thuộc Ông đã thành lập phong trào Duy Tân Hội và khởi xướng phongtrào Đông Du Cốt lõi trong tư tưởng của Phan Bội Châu là quan niệm về dânquyền Quan niệm này thể hiện mục đích thiêng liêng cứu nước, giải phóngdân tộc để đem lại tự do, hạnh phúc cho dân, đem lại quyền lực cho dân, đểcho người dân trở thành chủ thể của các quyền lực trong xã hội Trân trọng

Trang 8

và đề cao quyền làm người, quyền của người dân là một trong những biểuhiện sinh động trong quan niệm của ông Phan Bội Châu chủ trương nhờ vào

sự giúp đỡ của Nhật Bản, một nước châu Á da vàng để lật đổ Thực dân Pháp.Ông hô hào nhân dân học hỏi từ các cuộc cách mạng và các lãnh tụ Đông Á,

và cho rằng, với sự giúp đỡ của các nước Đông Á đồng văn, người Việt cóthể giành lại độc lập cho chính mình Tuy nhiên, khuyết điểm lớn nhất củaông là đã không lôi kéo được thành phần dân nghèo, số người chiếm 80%dân số Việt Nam thời điểm đó, vào công cuộc giành độc lập Thay vào đó,ông chỉ chú trọng vào tầng lớp đứng đầu xã hội, tin tưởng rằng dân chúngbần nông sẽ tự động theo gương đấu tranh của các bậc học giả trí thức Chínhđiều này đã dẫn đến sự thất bại trong các hoạt động của Phan Bội Châu.Phan Châu Trinh là nhà cách mạng xã hội có tư tưởng dân chủ đầu tiên,

là nhà văn hóa, một nhân cách lớn Đi đầu phong trào Duy Tân đầu thế kỷ

20, ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ Mặc dù rất đauxót trước cảnh người Pháp ngược đãi người Việt Nam, nhưng quan điểm củaông là trước mắt chưa nên đặt nhiệm vụ khôi phục chủ quyền quốc gia, độclập dân tộc, bởi vì ông thấy dân trí nước ta còn quá thấp Theo ông, trongtình trạng như vậy thì dầu có giành được độc lập "cũng không phải là điềuhành phúc cho dân" Phan Châu Trinh cho rằng nhiệm vụ cấp bách là phải

“chấn dân khí - khai dân trí - hậu dân sinh” Ông đi theo con đường ôn hòa,đàm phán Phan Châu Trinh yêu cầu chính quyền thuộc địa sửa đổi chínhsách cai trị hiện hành để có thể giúp nhân dân Việt Nam từng bước tiến đếnvăn minh Đây cũng chính là hạn chế của ông khi quá ảo tưởng về chế độdân chủ tư sản, về những khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái của nước Pháp

Có thể nói, sai lầm lớn nhất của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh chính

là bởi họ không tin tưởng vào sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc, không lôi

Trang 9

kéo được tầng lớp nông dân - tầng lớp chiếm đại đa số trong xã hội lúc bấygiờ tham gia vào phong trào của mình.

Tóm lại, tư tưởng, quan niệm của các bậc tiền bối về “thân dân” cóchung một đặc điểm là cùng hướng đến lợi ích của dân chúng, cùng mongnhân dân được hưởng một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, thoát khỏi sự

áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến thối nát và chủ nghĩa thực dân Kếthừa truyền thống của tổ tiên anh hùng, rút ra bài học từ lớp người đi trước,đồng thời vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã tìmđược cho mình và cho đất nước một hướng đi đúng đắn nhất, đó là cáchmạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, dựa trên một hệ tư tưởng thốngnhất mà ở đó nhân dân làm chủ, nhân dân là lực lượng nòng cốt

Trang 10

II – TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THÂN DÂN

Tiếp nhận dòng chảy văn hóa truyền thống của dân tộc và thời đại, HồChí Minh đã sớm nhận thức được vai trò to lớn của nhân dân Người cho

rằng: Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được Không có thì việc gì làm cũng không xong Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra Không chỉ dừng lại ở đó, Người

còn luôn luôn tôn trọng, có ý thức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhândân, của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết Chính vì vậy, cả cuộc đời của HồChí Minh “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước tađược hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng cócơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Về thực chất, đây chính là tư tưởngthân dân của Hồ Chí Minh

1 Trái tim yêu nước, thương dân

Kế thừa tinh thần dân bản của các thế hệ cha ông, Hồ Chí Minh mangtrong mình một trái tim yêu thương nhân dân, thương người cùng khổ, sẵnsàng hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân Từ trái timyêu nước, thương dân, Người đã tìm thấy con đường đi đúng đắn cho sựnghiệp cách mạng của nước nhà Trái tim nhân văn ấy suốt đời “chỉ có mộtham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tađược hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đượchọc hành” Bởi lẽ, theo Hồ Chí Minh, thân dân trước tiên là yêu dân, coitrọng nhân dân Điều đầu tiên Bác dạy các cháu thiếu niên nhi đồng là Yêu

Tổ quốc, yêu đồng bào Người dành chỗ ấm áp trong trái tim mình chonhững người cùng khổ, bất hạnh, bị tước đoạt mọi quyền sống, bị giam hãmtrong cảnh nghèo nàn và tối tăm, cho những người cơ nhỡ, ốm đau tậtnguyền, cho thương bệnh binh, cho các chiến sĩ gan góc giết giặc lập công

Trang 11

trên khắp các chiến trường Nam – Bắc, hoặc đang hoạt động giữa vòng vâyquân thù, hoặc đang cắn răng chịu đựng những đòn tra tấn hiểm ác trong các

xà lim

Có một câu chuyện thực tế giản dị về sự quan tâm của Hồ Chủ Tịch vớidân nghèo: Theo phong tục truyền thống của dân tộc, nhân ngày Tết nguyênđán, Bác thường đến thăm và chúc tết một số gia đình và địa phương Têtnăm 1962, đêm giao thừa, Hồ Chủ Tịch đã đến thăm một gia đình công nhân

ở ngõ phố Lý Thái Tổ, Hà Nội Đó là gia đình chị Chín, có năm con, chồng

là công nhân nhà máy đèn đã qua đời., một mình phải đi làm phu khuân vác

và gánh nước thuê lấy tiền nuôi con Nhìn gian nhà lụp sụp vách đất lợp lá,cái giường gỗ cũ kĩ, trên bàn thờ chỉ có nải chuối xanh duy nhất và mấy tămhương tỏa khói, Người lặng đi thương cảm Bế đứa bé nhất lên, hôn vào mácháu, Bác cài lại chiếc cúc áo ngực vừa tuột ra của cháu, hỏi chị Chín chuyệngia đình, ăn tết ra sao Chị cảm động trước sự ân cần chăm sóc của bác,nghẹn ngào nói: “Thưa Bác, cháu không ngờ Bác lại ” Bác hiểu ý nói luôn:

“Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai?” Ngay tối hôm đó,khi Bộ chính trị đến chúc tết, Bác đã nói ngay chuyện thăm nhà chị Chín vàkết luận: “Ta có chính quyền trong tay nhưng một số lãnh đạo địa phươngcòn mang hình thức, chưa sâu sát dân nên phục vụ nhân dân chưa tốt” Sau

đó, Bác đã trực tiếp phê bình lãnh đạo thành phố Ngay tối đó lãnh đạo thànhphố và nhân dân trong vùng đã giúp đỡ gia đình chị Chín có một cái tết tươmtất hơn

Mọi người dân Việt Nam còn nhớ mãi hình ảnh Bác Hồ trước lúc đi xa

Trong di chúc Bác viết: “Cuối cùng tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội cho các cháu thanh niên và nhi đồng” Những ngày cuối cùng trên giường bệnh, tâm chí Bác vẫn hướng về

cuộc sống và chiến đấu của nhân dân hai miền Nam Bắc Mỗi lần các đồng

Trang 12

chí trong Bộ chính trị vào thăm, Người đều hỏi: “Hôm qua, miền Nam thắng

ở đâu” Khoảng một tuần trước khi Người mất, nước sông Hồng lên cao, HàNội trong tình trạng báo động Bộ chính trị quyết định chuyển Người đến địa

điểm mới đã được chuẩn bị sẵn Bác nói với đồng chí Phạm Văn Đồng: “Bác không thể bỏ dân mà đi được Các chú phải làm sao để đê không vỡ, chứ không phải là lo riêng cho Bác” Người đã ở lại với nhân dân Hà Nội mùa

mưa bão ấy

Tấm lòng yêu nước thương dân, đặt hạnh phúc của nhân dân làm lẽ sốngcủa Hồ Chí Minh thật đáng ngưỡng mộ Những câu chuyện giản dị về tìnhyêu thương của Người mãi là bài ca bất diệt với các thế hệ người dân ViệtNam

2 Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân

Trong phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trungương Đảng khóa VII ngày 16/1/1995, Tổng bí thư Đỗ Mười đã nói: “Nhànước ta mang bản chất giai cấp công nhân, quán triệt tư tưởng của giai cấpcông nhân từ pháp luận, cơ chế, chính sách, đến tổ chức hoạt động của mình.Đồng thời nhà nước đó cũng mang tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc Đó làNhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”

Năm 1927, trong cuốn “Đường Kách Mệnh” Bác chỉ rõ: “Chúng ta đã

hy sinh làm kách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao kách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.

Sau khi giành độc lập, Người chỉ rõ nước ta là một nước dân là chủ và dânlàm chủ, dân chủ với nhân dân và chuyên chính với các thế lực thù địchchống lại Tổ quốc, chống lại nhân dân Đó là một Nhà nước mà mọi quyềnhành và lực lượng đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêuquyền hạn đều của dân; công cuộc đổi mới, kháng chiên, kiến quốc là việc

Ngày đăng: 13/11/2012, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w