1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự phát triển từ tư tưởng thân dân của nguyễn trãi đến tư tưởng dân chủ của hồ chí minh

130 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 660,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài1.1. Về mặt lý luận Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh là những danh nhân tiêu biểu. Trí tuệ, đạo đức và thành tựu tư tưởng của họ đã vượt ra ngoài bờ cõi quốc gia, được nhân loại tôn vinh là những danh nhân văn hoá thế giới. Nguyễn Trãi sống ở thế kỷ XV, song là tác giả hội tụ thành tựu tư tưởng của cả thời kỳ phong kiến Đại Việt. Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam ở thế kỷ XX, là sự kết tinh cho những tinh hoa tư tưởng và các giá trị văn hoá của Việt Nam. Cả hai vĩ nhân đã đi trọn cuộc hành trình tư tưởng của mình, đã thuộc về lịch sử, nhưng họ để lại những di sản tư tưởng có giá trị to lớn, định hướng cho sự phát triển ở nước ta hiện nay và mai sau.Tuy ở hai thời đại lịch sử khác nhau, song tư tưởng nói chung và tư tưởng văn hoá chính trị nói riêng của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều có một điểm chung, đó là chữ “dân”. Cả cuộc đời, sự nghiệp của họ đều thể hiện tư tưởng yêu dân, thân dân, vì dân…Có thể nói, họ là những đại diện tiêu biểu cho dòng tư tưởng vì dân ở Việt Nam, tạo nên sự kết nối liên tục của dòng tư tưởng này trong di sản văn hoá tư tưởng dân tộc. Dân chủ là một hằng số văn hóa của nhân loại. Đây là giá trị có tính phổ quát đối với mỗi quốc gia dân tộc. Tuy nhiên, truyền thống tư tưởng vì dân, dân chủ ở Việt Nam vẫn tiềm tàng nhiều giá trị khoa học lý luận cần được quan tâm nghiên cứu hơn nữa, đặc biệt là tư tưởng của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh cùng với mối quan hệ của hai nhà tư tưởng kiệt suất này. Vì vậy, những nội dung về tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và dân chủ của Hồ Chí Minh là định hướng, là bài học vô cùng quý giá trong kho tàng lý luận của dân tộc để xây dựng một đất nước, một chế độ chính trị dân chủ và tiến bộ mà ta cần phải nghiên cứu một cách hệ thống làm cơ sở để vận dụng và sáng tạo đúng đắn vào quá trình dân chủ hoá ở nước ta hiện nay.

Trang 1

và mai sau.

Tuy ở hai thời đại lịch sử khác nhau, song tư tưởng nói chung và tưtưởng văn hoá chính trị nói riêng của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều cómột điểm chung, đó là chữ “dân” Cả cuộc đời, sự nghiệp của họ đều thể hiện

tư tưởng yêu dân, thân dân, vì dân…Có thể nói, họ là những đại diện tiêu biểucho dòng tư tưởng vì dân ở Việt Nam, tạo nên sự kết nối liên tục của dòng tưtưởng này trong di sản văn hoá tư tưởng dân tộc

Dân chủ là một hằng số văn hóa của nhân loại Đây là giá trị có tínhphổ quát đối với mỗi quốc gia dân tộc Tuy nhiên, truyền thống tư tưởng vìdân, dân chủ ở Việt Nam vẫn tiềm tàng nhiều giá trị khoa học lý luận cầnđược quan tâm nghiên cứu hơn nữa, đặc biệt là tư tưởng của Nguyễn Trãi và

Hồ Chí Minh cùng với mối quan hệ của hai nhà tư tưởng kiệt suất này Vìvậy, những nội dung về tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và dân chủ của

Hồ Chí Minh là định hướng, là bài học vô cùng quý giá trong kho tàng lý luậncủa dân tộc để xây dựng một đất nước, một chế độ chính trị dân chủ và tiến

bộ mà ta cần phải nghiên cứu một cách hệ thống làm cơ sở để vận dụng vàsáng tạo đúng đắn vào quá trình dân chủ hoá ở nước ta hiện nay

Trang 2

1.2 Về mặt thực tiễn

Ngày nay, nước ta đang phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa,nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội - chế độ xã hội hướng đến sự giải phóng vàphát triển toàn diện con người Theo đó, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là độnglực phát triển của xã hội Việt Nam

Quá trình xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước đã và đang đặt ra chochúng ta nhiều vấn đề cần phải được giải quyết: giữ vững độc lập dân tộc vàchủ quyền quốc gia; xây dựng Đảng cầm quyền thực sự là một Đảng chânchính, cách mạng, là đạo đức, là văn minh; xây dựng bộ máy Nhà nước trongsạch vững mạnh, thực sự là của dân, do dân và vì dân; đảm bảo quyền làmchủ của nhân dân; đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng,… Hàng loạt nhữngvấn đề đó đều liên quan mật thiết đến dân và dân chủ

Vì lẽ đó, việc đi sâu tìm hiểu tư tưởng chính trị về dân, thân dân và dânchủ trong lịch sử tư tưởng văn hoá chính trị Việt Nam nói chung, tư tưởng củahai nhà tư tưởng đại biểu cho hai thời đại, hai giai đoạn lịch sử truyền thống

và hiện đại nói riêng là cần thiết Ngoài ra, cần phải nghiên cứu mối liên hệ,thể hiện sự phát triển tư tưởng giữa tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và tưtưởng dân chủ của Hồ Chí Minh để từ đó rút ra bài học về nhận thức tư tưởng,

về nhân sinh và hành động làm cơ sở cho những hoạch định chính sách củaĐảng và Nhà nước ta

Cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây đã thôi thúc tác giả lựa chọn vấn đề:

“Sự phát triển từ tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ khoa học, chuyên ngành Việt Nam học.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Thân dân và dân chủ là vấn đề rộng lớn, bức xúc, nên từ lâu đã thu hútnhiều nhà hoạt động chính trị, cũng như các học giả, các nhà khoa học ởnhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong nước và trên thế giới nghiêncứu từ những góc độ, cấp độ khác nhau Điều đó được ghi nhận ở nhiều côngtrình, bài viết của nhiều tác giả và tập thể tác giả

Trang 3

2.1 Những nghiên cứu liên quan đến tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

- Nhóm đề tài, công trình khoa học liên quan: TS Nguyễn Hoài Văn(chủ nhiệm đề tài), năm 2007: “Sự phát triển của tư tưởng chính trị Việt Nam

từ thế kỷ X đến thế kỷ XV” Đề tài này đã nghiên cứu sự phát triển của tưtưởng chính trị Việt Nam qua các thời kỳ từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, trong đó

có nghiên cứu tư tưởng của Nguyễn Trãi - được xem là tập đại thành của tưtưởng chính trị Việt Nam truyền thống Tác giả đã nghiên cứu khái quát vềthân thế sự nghiệp của Nguyễn Trãi, đồng thời đi sâu tìm hiểu giá trị tư tưởngnhân nghĩa của ông;

- Một số sách liên quan đến vấn đề nghiên cứu có thể kể đến là: Uỷ bankhoa học xã hội Việt Nam: “Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi”, Nxb khoahọc xã hội Hà Nội, H, 1982; Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp: “Nguyễn Trãi

- người anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà văn hoá kiệt suất”, Nxb Sự thật, H, 1882;

- Cùng với những công trình khoa học nêu trên, còn có một số luận ánnghiên cứu vấn đề này là: Luận văn tốt nghiệp cử nhân chính trị của PhạmNgọc Quang năm 1999 - 2000 với đề tài “Tìm hiểu giá trị nhân văn trong tưtưởng Nguyễn Trãi” (Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) Bản luận vănnày đã đi sâu phân tích tư tưởng yêu nước, thương dân từ tác phẩm trong sựnghiệp anh hùng và bi tráng của Nguyễn Trãi - nhà nhân văn chủ nghĩa lỗi lạccủa Việt Nam thế kỷ XV; Luận văn tốt nghiệp đại học năm 2004 củaNguyễn Hữu Nhạc: “Tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi” Luận văn này đã

đề cập một cách khái quát tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi trên cương vị làmột nhà chính trị, nhà quân sự

2.2 Những nghiên cứu liên quan đến tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh

- Nhóm đề tài, công trình khoa học liên quan: PGS.TS Phạm HồngChương (chủ nhiệm), năm 2004: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và sựvận dụng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay” Công trình này đã khái quát về

tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, phân tích nội dung dân chủ trong các lĩnh vực

Trang 4

cụ thể và làm rõ vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc giáo dục ýthức dân chủ cho người dân trong xã hội; GS.TS Mạch Quang Thắng (chủnhiệm), năm 1999: “Đảm bảo và phát huy dân chủ trong chế độ một Đảngcầm quyền ở nước ta hiện nay” Trong công trình, tác giả đã khái quát về lýluận về dân chủ, đưa ra một số đề xuất để thực hiện cũng như phát huy vai tròcủa dân chủ trong điều kiện nước ta, trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm dân chủ

và cơ chế một Đảng cầm quyền ở Việt Nam;

- Một số sách liên quan đến vấn đề nghiên cứu có thể kể đến là: PhạmThành, Nguyễn Khắc Mai: “Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh”, Nxb Sự thật,

H, 1991; Nguyễn Khắc Mai: “Dân chủ - di sản văn hóa của Hồ Chí Minh”,Nxb Lao động, H, 1997; Phạm Hồng Chương: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dânchủ”, Nxb Lý luận chính trị, H, 2004; Phạm Văn Bính: “Phương pháp dân chủ

Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2007; Hoàng Chí Bảo: “Tìm hiểuphương pháp Hồ Chí Minh”, Nxb Lý luận chính trị, H, 2004;

- Một số luận án nghiên cứu vấn đề này là: Luận án tiến sĩ bảo vệ năm

2003 của Phạm Văn Bính: “ Vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của HồChí Minh trong quá trình thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa” Luận án này đãnghiên cứu tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh tập trung ở mặt phương pháp thựchành dân chủ của Người, biểu hiện trong các lĩnh vực cụ thể của đời sống chínhtrị - xã hội; Luận văn thạc sĩ bảo vệ năm 2008 của Nguyễn Thế Phúc: “Tư tưởng

Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị - giá trị lý luận và thực tiễn Qua luậnvăn này, tác giả làm rõ giá trị tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh trong lĩnh vựcchính trị với những mặt dân chủ trong chính trị, kinh tế và văn hoá - xã hội

2.3 Những nghiên cứu liên quan đến dân chủ trong đổi mới

- Các ấn phẩm sách: Hoàng Chí Bảo: “Xây dựng cơ chế dân chủ trongnghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốcgia, H, 2006; Hoàng Chí Bảo: “Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trongtiến trình đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2007; Vũ Hoàng Công (chủ

Trang 5

biên): “Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Nxb Chính trị - hành chính, H, 2008;

- Luận án: Luận án phó tiến sĩ khoa học Triết học, 1991 của tác giả HồTấn Sáng: “Dân chủ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”;Luận án tiến sĩ, 2005, tác giả Nguyễn Thị Hiền Oanh: “Vai trò của Mặt trận tổquốc Việt Nam đối với việc hình thành quyền làm chủ của nhân dân”; Luận ántiến sĩ bảo vệ năm 2007 của Nguyễn Thị Tâm: “Dân chủ ở cơ sở và vấn đề thựchiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay”

Ngoài ra, còn rất nhiều các bài báo đã đăng tải trên các tạp chí khoa họcliên quan đến tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng dân chủ Hồ ChíMinh, về dân chủ và dân chủ hóa ở nước ta trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua

Có thể nhìn nhận một cách tổng quát, các công trình nêu trên đã tiếpcận và nghiên cứu từ nhiều chiều cạnh về vấn đề thân dân, dân chủ nói chung,

tư tưởng của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh nói riêng Những kết quả nghiêncứu đó là tiền đề, cơ sở, đã gợi mở quan trọng cho tác giả triển khai đề tàinày Tuy vậy, các công trình trên mới chỉ nghiên cứu tư tưởng thân dân vàdân chủ dưới góc độ triết học, Hồ Chí Minh học, chính trị học… chưa cócông trình nào nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng thân dân của NguyễnTrãi và tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, đặc biệt là thấy được mạch nguồn vănhoá dân chủ trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, làm rõ sự phát triển từ

tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nhận thức tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng

dân chủ Hồ Chí Minh, luận văn làm rõ nét khác biệt, chỉ ra sự kế thừa và phát triển sáng tạo của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh từ những giá trị tư tưởng

thân dân truyền thống mà đại diện tiêu biểu là Nguyễn Trãi, thấy rõ mạch

nguồn sáng tạo của tư tưởng vì dân trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam.

Trang 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Những tư tưởng, quan niệm của Nguyễn Trãi về thái bình, thịnh trị,hạnh phúc của nhân dân, về một Nhà nước phong kiến vững mạnh, về tề gia,trị quốc, bình thiên hạ và quan niệm của Hồ Chí Minh về cách mạng giảiphóng dân tộc, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, về Nhà nước

và vai trò của Đảng, vị trí, vai trò, quyền lực của nhân dân;

- Thực tiễn tổ chức và xây dựng nghĩa quân, xây dựng Nhà nước phongkiến đương thời, Nhà nước Việt Nam, quá trình dân chủ hóa ở nước ta hiệnnay;

- Các hoạt động, hành động, ứng xử của Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minhtrong cuộc đời và sự nghiệp của mình

5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng vàChủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vàcác quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền dân chủ trong đất nước

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài này, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiêncứu khoa học cụ thể sau:

- Phương pháp lôgic - lịch sử

Trang 7

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp liên ngành giữa văn hoá học, sử học và chính trị học

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Phân tích, hệ thống hoá nội dung tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

và tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh

- Luận chứng sự phát triển của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh so với tưtưởng thân dân của Nguyễn Trãi trong mối liên hệ lôgíc và lịch sử

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 8

Chương 1

KHÁI LUẬN CHUNG VỀ THÂN DÂN VÀ DÂN CHỦ;

SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI

VÀ TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA HỒ CHÍ MINH 1.1 Khái luận chung về thân dân và dân chủ

Thân dân và dân chủ là hai khái niệm khác nhau, biểu hiện tính chất,

mức độ khác nhau trong hệ tư tưởng chính trị vì dân Thân dân và dân chủ

đều là những giá trị cơ bản của văn hoá chính trị Việt Nam truyền thống, lànhững hằng số văn hóa của nhân loại Chiều sâu của giá trị tư tưởng nàychính là ở chỗ, nó đề cao vai trò và những khả năng sáng tạo đích thực củacon người, là thước đo cho sự tiến bộ của một xã hội

Để làm rõ hai khái niệm này, cần phải thấy được những điểm giống và khác nhau giữa chúng.

1.1.1 Khái niệm thân dân

Thân dân là một khái niệm có nguồn gốc từ Nho giáo: “Đại học chiđạo, tại minh minh đức, tại thân dân"

Theo nghĩa gốc của từ, thân dân có nghĩa là gần dân Ta có thể hiểu

thân dân là đi vào đời sống của nhân dân, hiểu dân cần gì, muốn gì

Mượn lời Khổng Tử, Hồ Chí Minh giải thích khái niệm “thân dân” theo

một cách hiểu mới: “Thân dân tức là phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết Nói một cách khác, tức là “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu

thiên hạ chi lạc nhi lạc " (lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ)

Như vậy, thân dân là khái niệm có nguồn gốc từ Nho giáo Thân dân cóthể được hiểu là thái độ gần dân, chăm lo đến lợi ích và đời sống nhân dâncủa người lãnh đạo, cầm quyền

1.1.2 Khái niệm dân chủ

Thuật ngữ dân chủ ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII - VI trước Côngnguyên Theo nhà triết học Hi Lạp cổ đại Aristote (384 - 322 trước Công

Trang 9

nguyên) thì Solon (khoảng 638 - 559 trước Công nguyên) là người đầu tiênđặt nền tảng cho khái niệm dân chủ Solon cho rằng, muốn xây dựng một nhànước trên cơ sở một nền dân chủ phải thông qua tuyển cử và hòa nhập sứcmạnh với pháp luật.

Dân chủ hiểu theo từ nguyên, bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ đại:

“Demokratia” Demokratia được ghép từ hai từ, Demos: là nhân dân; Kratia:

là chính quyền hay quyền lực Như vậy, theo nguyên nghĩa của nó, dân chủ có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân Nó nói lên rằng nhân dân là chủ thể của quyền lực Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hi Lạp cổ để đưa ra

thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ”, một trong những hình thứcchính quyền với đặc trưng là: chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do vàbình đẳng của công dân

Từ “dân chủ” xuất hiện vào cuối thời kỳ cộng sản nguyên thủy, đầuchiếm hữu nô lệ, được ghi bằng tiếng Hy Lạp với nghĩa quyền lực thuộc về

nhân dân Nhưng nhân dân là ai? Nhân dân là số nhiều, hay số ít sẽ ảnh

hưởng và quy định phạm vi, mức độ của nền dân chủ Theo lý luận, “nhândân” thường được hiểu là số đông, là đại đa số quần chúng lao động Tuynhiên, trong thực tế lịch sử, trong các xã hội có mâu thuẫn đối kháng về giaicấp, nhân dân lại thường là số ít, đó là những người cầm quyền Xã hội cógiai cấp, mặc dù địa vị pháp lý quyền lực thuộc về đa số, nhưng trên thực tế,quyền lực lại chỉ nằm trong tay những kẻ có quyền, có tiền, những kẻ thốngtrị xã hội Hay nói cách khác, trong xã hội ấy, quyền lực chỉ thuộc về số ítnhững kẻ bóc lột Ví dụ: Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, giai cấp nô lệ chiếm

tới 95% dân số, nhưng quyền lực không thuộc về họ Họ chỉ đuợc xem là

“công cụ biết nói” Trong khi đó, tầng lớp chủ nô, tăng lữ chỉ chiếm 5% dân

số lại là chủ thể của quyền lực Trong xã hội phong kiến, nhân dân là đại đa

số, nhưng quyền lực lại không thuộc về họ mà chỉ tập trung trong tay một ôngvua, với quyền năng tối thượng Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, quyền lực lại

Trang 10

thuộc về bộ phận những người có của, giai cấp tư sản - bộ phận chiếm số íttrong xã hội Theo sự phát triển của lịch sử xã hội, chủ nghĩa cộng sản sẽ làmột chế độ dân chủ thực sự, quyền lực thuộc về nhân dân là số đông Điềunày, chỉ thực hiện được khi giai cấp lãnh đạo xã hội thực hiện được sự thắnglợi về kinh tế, chính trị làm cho nhân dân có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc,một đời sống chính trị văn minh Hay, ở Việt Nam, mục tiêu tổng quát củaChủ nghĩa xã hội - giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản được cụ thể hóa là:dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nếu không thựchiện được những mục tiêu trên, thì xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ

là hình thức

Dân chủ là một khái niệm bao quát nội dung rộng lớn Người ta thườngtiếp cận dân chủ trên những bình diện sau:

+ Dân chủ là một phạm trù chính trị: Dân chủ biểu hiện như một chế độ

chính trị trong một xã hội có giai cấp Ở phương diện này, tính chất của dânchủ tùy thuộc vào chỗ quyền lực chính trị thuộc về giai cấp nào Thực chất đó là

sự tập trung quyền lực vào tay giai cấp cầm quyền Chính vì vậy, đã từng xuấthiện dân chủ chủ nô bảo vệ quyền lực cho giai cấp chủ nô, dân chủ tư sản bảo vệquyền lực cho giai cấp tư sản, dân chủ vô sản - dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo vệquyền lực cho giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động

Theo cách tiếp cận này, dân chủ là một phạm trù lịch sử: theo nghĩa dân

chủ xuất hiện cùng với giai cấp và Nhà nước (đó là dân chủ chính trị) và dânchủ chính trị sẽ không tồn tại mãi mãi Dân chủ được hiểu là một chế độ nhànước, một hình thái nhà nước, một chế độ xã hội Khi đó, tư tưởng về dânchủ, ý thức về dân chủ phải được đẩy đến hành vi dân chủ Nó được thể hiệnqua tổ chức bộ máy Nhà nước, trong khuôn khổ một thể chế nhất định, trướchết là thể chế chính trị pháp lý, trong đó thừa nhận về mặt pháp luật nhữngquyền tự do, dân chủ, bình đẳng của công dân Ví dụ: pháp luật thừa nhận cácquyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do ứng cử, bầu cử…Dân chủ được cụ

Trang 11

thể hóa thành các cơ chế để thực thi trong đời sống Dân chủ được quy địnhthành nghĩa vụ của công dân với nhà nước và trách nhiệm của nhà nước với

công dân Với cách tiếp cận dân chủ theo phạm trù chính trị, phạm trù lịch

sử, thì dân chủ tồn tại với tư cách là một chế độ, một nền dân chủ được

biểu hiện thông qua các đặc điểm rõ ràng như: nội dung của dân chủ được

cụ thể hóa qua những quy định chính thống của hiến pháp và pháp luật; nộidung của dân chủ được thực thi bằng sức mạnh bộ máy Nhà nước; nó đượccưỡng chế, áp đặt thực hiện với toàn xã hội bằng chính sức mạnh và quyền

uy của bộ máy đó

+ Dân chủ là một giá trị văn hóa: Dân chủ chỉ trạng thái, tính chất và

mức độ giải phóng con người, là khái niệm biểu đạt thành quả đấu tranh đòigiải phóng của nhân dân lao động chống áp bức, bóc lột, đòi quyền tự do,quyền làm chủ của mình Đây là cách tiếp cận dân chủ dưới góc độ giá trị,biểu hiện giá trị nhân văn của xã hội, của dân chủ Dân chủ với ý nghĩa là giá

trị văn hóa thì vẫn còn tồn tại mãi mãi Dưới góc độ này, dân chủ là phạm trù vĩnh viễn.

+ Dân chủ là một nguyên tắc, phương thức hoạt động của một tổ chức chính trị - xã hội: Nguyên tắc, phương thức này bao hàm một số nội dung,

như: cấp dưới phục tùng cấp trên, thiểu số phục tùng đa số…Ví dụ: nguyên tắctập trung dân chủ trong tổ chức và trong sinh hoạt đảng, ở đây là Đảng Cộng sản.Tập trung dân chủ (mà Hồ Chí Minh thường gọi là: dân chủ tập trung) còn lànguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước; các tổ chức chính trị và chính trị -

xã hội ở nước ta

Các hướng tiếp cận trên làm phong phú nội hàm khái niệm dân chủ, tùytừng bối cảnh cụ thể mà người ta nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnhkhác tương ứng với các cách tiếp cận đó Ta cần thấy rõ tính liên kết, xâuchuỗi của các các quan niệm này trong khái niệm lý luận về dân chủ và trongthực tiễn dân chủ

Trang 12

Khi vẫn tồn tại nhà nước, dân chủ thường được tiếp cận là một phạm

trù chính trị, được xem xét với tư cách là một nền chính trị, một chế độ chính

trị Với tư cách là một chế độ chính trị, lịch sử phát triển chế độ dân chủ là lịch

sử lâu dài, quanh co và phức tạp Cho đến nay, tương ứng với các hình tháikinh tế - xã hội, loài người đã và đang thực hiện các chế độ dân chủ sau: Dânchủ nguyên thủy; Dân chủ chủ nô; Dân chủ tư sản; Dân chủ xã hội chủ nghĩa

Như vậy, dân chủ xuất hiện từ cơ sở chín muồi của kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội và luôn phát triển trên cơ sở các điều kiện về kinh tế, chínhtrị, xã hội Mỗi bước ngoặt trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội đều dẫnđến sự phát triển tương ứng của tiến trình dân chủ Dân chủ chính là thành quảđấu tranh của nhân dân lao động đối với giai cấp bóc lột, để tự giải phóng bản thânmình và khẳng định vị thế, vai trò của người chủ trong xã hội

Thân dân và dân chủ là những khái niệm tư tưởng vì dân, cùng ghi nhận

quyền lợi của nhân dân Nó đều thể hiện thái độ gần gũi, trân trọng dân, bảo

vệ quyền lợi hợp pháp của dân Tuy vậy, hai khái niệm này thể hiện nhữngnội hàm khác nhau:

Thân dân với ý nghĩa là gần dân thì khái niệm này thường được sử dụngtrong xã hội phong kiến, khi chế độ dân chủ không tồn tại trên thực tế cho đa

số người dân Thời kỳ này, dân chủ chỉ xuất hiện dưới dạng là một giá trị tưtưởng, không có thể chế, thiết chế để thực hiện Vì vậy, tư tưởng vì dân củamột số nhà tư tưởng thể hiện dưới dạng tư tưởng gần gũi, thấu hiểu, yêuthương, trọng dân, kính dân, đó là những biểu hiện của tư tưởng thân dân Nó

diễn tả thái độ của những người làm chủ của dân Thân dân thể hiện rõ thái

độ tình cảm của những người cầm quyền có lòng yêu dân, thương dân, nhưngvẫn bao chứa “tính chất trên - dưới” trong một xã hội đẳng cấp mà người dânchưa được làm chủ Trong chế độ phong kiến, nhân dân chỉ là những thần dândưới quyền uy tối thượng của vua Chỉ trong xã hội (như xã hội tư sản chẳnghạn) tồn tại phạm trù công dân thì dân chủ mới xuất hiện

Trang 13

Xét dước góc độ quyền lực, mức độ quyền của người dân trong tư tưởngthân dân và dân chủ cũng khác nhau Thân dân thì sự làm chủ của người dânmới chỉ được ghi nhận ở mức độ “dân bản” (dân là gốc, là nền tảng của xãhội), chứ chưa đạt trình độ “dân chủ”, quyền làm chủ xã hội của người dânchưa khẳng định Trong các hình thái kinh tế xã hội nô lệ, tư bản và chủ nghĩa

xã hội, khi dân chủ được xác lập với tư cách là một chế độ xã hội thì khái

niệm dân chủ mới được sử dụng Như vậy, thân dân và dân chủ là hai kháiniệm được sử dụng ở những chế độ xã hội khác nhau, để chỉ phạm vi và mức

độ làm chủ không giống nhau của người dân

1.2 Sự hình thành tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh

Xét về nguồn gốc, bất cứ tư tưởng nào ra đời cũng là một quá trình tácđộng biện chứng giữa các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Nó rađời từ những chất liệu tư tưởng có sẵn trước đó, phản ánh nhu cầu của thựctiễn xã hội đương thời và mang dấu ấn cá nhân của người sáng lập Tư tưởngthân dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh cũng vậy

1.2.1 Sự hình thành tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi.

Tư tưởng nào cũng ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, thể hiệnbản lĩnh, trí tuệ cá nhân và bóng dáng của thời đại Tư tưởng của Nguyễn Trãi nóichung và tư tưởng thân dân nói riêng ra đời trong bối cảnh của thời kỳ Đại Việt

1.2.1.1 Thời đại Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi sinh năm 1380, mất năm 1442, sống và hoạt động trong thời

kỳ đầy biến động, đầy hoạn nạn và âu lo của lịch sử Việt Nam Về mặt chính trị

- xã hội, Nguyễn Trãi đã sống 20 năm cuối triều Trần, thời kỳ mà quyền lực

truyền thống đã bị sa đoạ và gần như đã nằm trong tay khống chế của Lê QuýLy; 7 năm dưới triều Hồ, một quyền lực đang xây dựng dở dang; 20 năm có thờithuộc Minh và chống Minh thuộc, một thời kỳ đầy bão táp của bạo lực bànhtrướng và đô hộ Trung Quốc, đầy bão táp của bạo lực quần chúng, của toàn thể

Trang 14

dân tộc được tổ chức vùng dậy đấu tranh chống bành trướng và đô hộ của TrungQuốc, giải phóng dân tộc, giành lại độc lập tự do và 15 năm đầu triều Lê, vớinhững lộn xộn sau chiến tranh cũng như đảo lộn thân phận xã hội quá nhanh của

một triều đại lớn trong lịch sử Việt Nam Về mặt văn hoá, sống trong thời kỳ quá

độ của hai giai đoạn lịch sử văn hoá Việt Nam: thời kỳ văn hoá Đại Việt đượccấu trúc theo mô hình Phật giáo và thời kỳ Đại Việt được cấu trúc theo mô hìnhNho giáo và những “tràn bờ” của tư tưởng văn hoá Việt Nam Giai đoạn đó cũng

là buổi giao thời của hai xu hướng Trung Quốc hoá nền văn hoá Việt Nam với

20 năm thuộc Minh và giải Trung Quốc hoá (dân tộc hoá) nhằm xây dựng nền

văn hoá dân tộc của dân gian và những tư tưởng theo trường phái dân tộc

Trong bối cảnh chính trị - xã hội, văn hoá ấy, một vấn đề nổi lên mà lịch

sử đặt ra, đó là cứu nước, giúp dân Bằng cách thức nào, con đường nào đểtạo nên sức mạnh giải phóng đất nước, đem lại yên bình cho trăm họ?

Dẫu biết rằng những biến động, phức tạp, giao thời luôn là sóng gió đểthử thách mỗi con người, đặc biệt là những con người chính trị, song từ đó lạihình thành, tôi luyện lên những nhân cách lớn, tư tưởng lớn Hoàn cảnh lịch

sử đương thời có thể xem là mảnh đất tốt, đồng thời cũng là ngọn lửa thửvàng cho sự ra đời tư tưởng mang tầm thời đại Người ta sẽ thấy được ở đóánh sáng của những ngôi sao Nguyễn Trãi là con đẻ của thời đại ấy, đồngthời cũng là sao Khuê, sao Đẩu trong bối cảnh đất nước buổi đương thời Tưtưởng thân dân của ông cũng sinh ra, lớn lên và hoàn thiện những giá trị vượtthời đại trong thực tiễn ấy

Tham gia vào sự hình thành tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi có nhiều

nhân tố tác động khác nhau nhưng yếu tố thời đại, lịch sử là nhân tố đầu tiên,

làm cơ sở nền tảng cho sự ra đời tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

1.2.1.2 Những giá trị truyền thống dân tộc về thân dân

Mỗi con người đều được sinh ra từ một môi trường văn hóa truyền thốngcủa dân tộc và tư tưởng của mỗi cá nhân bao giờ cũng bắt nguồn từ nhữngmạch nguồn sâu xa và căn bản ấy

Trang 15

* Chủ nghĩa yêu nước

Do hình thành sớm và tồn tại trong hoàn cảnh phải liên tục chiến đấu vớinhiều kẻ thù hùng mạnh hơn mình rất nhiều lần để bảo tồn dân tộc và lãnh thổ,cho nên, chủ nghĩa yêu nước sớm hình thành và phát triển ở nước ta như một tấtyếu - tự nhiên Từ thế kỷ III trước Công Nguyên, đến đầu thế kỷ XV, dân tộc ta

có gần mười tám thế kỷ kiên cường trong quá trình dựng nước và giữ nước Saunhững thử thách đấu tranh, chủ nghĩa yêu nước ngày càng bền vững và trở thànhsức mạnh tinh thần của dân tộc, là giá trị cao quý, thiêng liêng nhất, là tài sản, cơ

sở cho ý chí, hành động cứu nước và xây dựng đất nước, đưa Đại Việt tiến lênnhững nấc thang phát triển mới trong xu thế chung của thời đại lúc bấy giờ.Không chỉ thể hiện trong kháng chiến chống xâm lược, chủ nghĩa yêu nước cònbiểu hiện trong nhiều lĩnh vực khác như xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội…

Sau những thử thách và đấu tranh, chủ nghĩa yêu nước ngày càng bền

vững và trở thành sức mạnh tinh thần của dân tộc Nguyễn Trãi đã rất tự hào

về những truyền thống anh hùng của Đại Việt Ông nói về dân tộc, về đấtnước đầy khí phách trong “Bình Ngô đại cáo”:

Như nước Đại Việt ta từ trướcVốn xưng nền văn hiến đã lâuNúi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lậpCùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phươngTuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng cóVậy nên:

Lưu Cung tham công nên thất bạiTriệu Tiết thích lớn phải tiêu vongCửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô

Trang 16

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

Việc xưa xem xétChứng cứ còn ghi…”

Nguyễn Trãi lại được may mắn sinh ra và trưởng thành trong một giađình nho giáo yêu nước và chí lớn, cho nên, ông không chỉ sớm kế thừa đượctruyền thống yêu nước lâu đời của dân tộc, mà còn có một tấm lòng yêu nước,thương dân sâu sắc, được ông và cha truyền lại Tất cả truyền thống yêu nước

đó đã chảy sâu vào trong mạch máu của người anh hùng Nguyễn Trãi, nó lànền tảng để cho tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi hình thành và phát triển.Tinh thần ấy được gắn với thời đại dân tộc ta đang bị quân Minh xâm lược lạicàng thôi thúc ý chí chiến đấu, là tiền đề cho tư tưởng thân dân bén rễ và đơmhoa kết trái Chính chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã đưa Nguyễn Trãi đếnvới nhà Hồ rồi đi theo Lê Lợi, tổ chức khởi nghĩa Lam Sơn Đó là nhữngngày tháng có ý nghĩa nhất đối với ông Ông đã đem sức mình phục vụ dântộc, phục vụ đất nước, dĩ nhiên là ông bị chi phối bởi ý thức hệ phong kiến.Cũng chính lòng yêu nước và chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã giúpNguyễn Trãi có thêm sức mạnh và lòng quyết tâm trả nợ nước, thù nhà Chínhchủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc đã tạo cho Nguyễn Trãi một sứcmạnh vượt qua giới hạn của thời đại, của giai cấp, làm nên những giá trị sốngmãi với thời gian

* Tinh thần nhân văn, nhân nghĩa, đoàn kết, “tương thân, tương ái”, tư tưởng thân dân trong các triều đại phong kiến trước đó cũng là giá trị truyền

thống dân tộc tốt đẹp, góp phần hun đúc, hình thành tư tưởng thân dân củaNguyễn Trãi Đất nước ta với hàng ngàn năm lịch sử, trải qua nhiều triều đạiphong kiến nối tiếp nhau Hàng ngàn năm Bắc thuộc và nguy cơ xâm lượcluôn rình rập với biết bao đau thương bởi hoạ xâm lược mà nhân dân ta từngnếm trải đã hình thành trong các triều đại Đại Việt tư tưởng tích cực về dân,

Trang 17

để lại cho hậu thế những di sản tư tưởng tiến bộ Những tư tưởng đó đã pháttriển đến đỉnh cao và mang tính nhân văn sâu sắc

Mỗi giai đoạn xây dựng và phát triển Nhà nước phong kiến độc lậptrước thời Nguyễn Trãi (từ thế kỷ X đến thế kỷ XV), “tư tưởng về dân” đượcphát triển trên cơ sở những giá trị nhân đạo trong truyền thống của dân tộc,với tinh thần từ bi, bác ái của đạo Phật và tư tưởng thân dân tiến bộ trong họcthuyết của đạo Nho Những tư tưởng đó du nhập vào Đại Việt, được phát triểntrên nền tảng ý thức về chủ quyền dân tộc, tư tưởng đề cao dân, thương dân,khoan dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, tư tưởng về cố kết dân tộc tạo thànhsức mạnh đoàn kết toàn dân trong dựng nước và giữ nước Sự hòa nhập và kếttinh này thể hiện đậm nét qua các triều đại phong kiến Lý, Trần, là cơ sở quantrọng để hình thành nên tư tưởng thân dân ở Nguyễn Trãi

Các vương triều phong kiến đều rút ra bài học quý báu về giữ nước,dựng nước và xây dựng chế độ cường thịnh, đó là: phải dựa vào dân Để

thành công, họ phải giữ lòng dân và phải áp dụng một hình thức thân dân Ở

triều đại nhà Lý, những đại biểu tư tưởng của giai cấp phong kiến thời kỳ này

có ý thức rất sâu sắc về vai trò, sức mạnh của dân, coi “ý dân”, “lòng dân” làđiều cần quan tâm trong nghiệp trị nước, an dân Việc dời đô, kế vị, thay đổivương triều và phát động chiến tranh là những việc hệ trọng của triều chínhcũng đều có một căn cứ, mục đích quan trọng là “ý dân”, “lòng dân” Xuấtphát từ quan điểm tiến bộ về dân của vua quan triều Lý, ngay từ đầu, nhà Lý

đã rất quan tâm đến đời sống của nhân dân Họ đặt lầu chuông trong thànhThăng Long để “dân chúng ai có việc kiện tụng thì đánh chuông lên” Họ cónhững chính sách như nhu viễn, ngự binh ư nông Điều này chứng tỏ trong tưtưởng của vua quan thời này đã nhìn nhận nhân dân như là một lực lượng xãhội quan trọng trong công cuộc dựng nước và giữ nước, bảo vệ nền độc lậpcũng chính là bảo vệ chế độ quân chủ tập quyền của vương triều Lịch sử dântộc đã ghi nhận công lao to lớn của các vua triều Lý và đây cũng là bài học

Trang 18

quý báu trong việc cai trị đất nước, an dân và khuyến dân mà Nguyễn Trãi đãhọc hỏi, kế thừa rất nhiều sau này.

Đến thời Trần, một triều đại phong kiến lớn của Việt Nam đã để lạinhiều kinh nghiệm quý báu trong việc trị nước, an dân mà nổi bật là tư tưởngchính trị “khoan dân” của Trần Quốc Tuấn Khái niệm “dân” dưới triều Trần

đã được mở rộng, không chỉ bao hàm địa chủ, quý tộc, thương nhân mà cònbao hàm cả những nông nô, những nông dân làng xã Đó là những người gắn

bó chặt chẽ với chính quyền Họ được nhìn nhận như một lực lượng xã hộicần thiết phải quan tâm khi duy trì trật tự xã hội, tiến hành những cuộc đấutranh giữ nước, nhằm đem lại sự ổn định lâu dài Tư tưởng dựa vào dân đượcTrần Quốc Tuấn khái quát trong kế sách “khoan dân”: “khoan thư sức dân đểlàm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước” Ông đã coi “chúngchí thành thành” (ý chí của dân chúng là bức thành giữ nước) là việc hệ trọngcủa việc cầm quyền Những tư tưởng đó đã được phát huy trên thực tế, đượccoi là điều kiện hàng đầu để giữ nước vào thế kỷ XIII thể hiện một nhận thứcsáng suốt trong tư tưởng chính trị Việt Nam thời phong kiến Hội nghị DiênHồng ở bến Bình Than là hình ảnh đẹp đẽ của sự đoàn kết vua tôi, của sự tôntrọng và tin tưởng ở sức mạnh của dân, là biểu hiện sơ khai của ý thức dân

chủ: dân chủ làng xã Nhìn chung, từ các triều đại phong kiến Đại Việt,

những yếu tố thân dân gắn liền với sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc đương

thời Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, một phong trào dân tộc bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố thân dân, dân chủ nhất định

Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước, lại luônphải đương đầu với kẻ thù lớn mạnh hơn gấp nhiều lần, do đó không dựa vàodân thì không thể chiến thắng Đó là bài học về xây dựng một chế độ chính trị

bền vững có sự gắn kết giữa xây dựng với bảo vệ, sự cường thịnh của đất nước với thân dân Các nhà chính trị mẫn cảm ở Việt Nam không thể không

nhận thức được chân lý của sự thành công này, nên đã tạo thành một truyềnthống thân dân, là cơ sở cho tinh thần, ý thức, tư tưởng dân chủ sau này

Trang 19

Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi được hình thành từ những cộinguồn lịch sử đó Chính truyền thống “yêu nước thương nòi”, “tương thântương ái”, nhân văn, nhân đạo, nhân nghĩa và những tư tưởng “trọng dân”,

“lấy dân làm gốc” của những vương triều phong kiến tiến bộ trước đó đã đặtnền móng, cơ sở, nguồn gốc cho tư tưởng thân dân của ông Những truyềnthống đó như một dòng chảy xuyên suốt lịch sử và đọng lại ở từng chặngđường trong sự nghiệp của nhà chính trị vì dân - Nguyễn Trãi

1.2.1.3 Những giá trị tích cực của Nho giáo về dân

Nói đến Nguyễn Trãi là ta nói về một nhà Nho Nho giáo, nền tảng tưtưởng của xã hội lúc đó đã thấm đẫm vào con người ông từ khi sinh ra, lớnlên, cả đến cuối đời và ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng về dân và thân dâncủa ông

Nho giáo được xem là học thuyết nhập thế và tích cực với triết lý nhânsinh “tu thân, dưỡng tính”; “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của ngườiquân tử Nguyễn Trãi cũng tiếp thu tư tưởng về một xã hội đại đồng, trong đócoi trọng dân “dân vi bang bản” (dân là gốc của nước); hay “dĩ dân vi bản”(lấy dân làm gốc)

Theo quan niệm của niệm của Nho giáo, “dân” là tứ dân, bao gồm: sỹ,nông, công, thương Sự phân chia xã hội này không dựa trên tiêu chuẩn sởhữu mà theo nghề nghiệp Đây cũng là những bậc thang giá trị xã hội, phảnánh một nền kinh tế phong kiến tiểu nông, khép kín, tự túc, tự cấp, côngthương nghiệp không phát triển Nguyễn Trãi cũng kế thừa trong kinh điểnNho giáo những khái niệm như “thứ dân”, “lê dân”, “thảo dân”, “xích tử”,

“thương sinh” để chỉ đông đảo người dân lao động mà sau này ông gọi là

“dân đen, con đỏ”

Tư tưởng về dân của Nho giáo có sự biến đổi và phát triển qua các thời

kỳ khác nhau Khổng Tử, ông tổ của Nho giáo, người sáng lập ra đạo Nho đãsớm nhận thức được vị trí, vai trò của nhân dân, nhất là đối với sự hưng thịnh

Trang 20

của một vương triều Vì thế, ông coi “dân tín” là yếu tố quan trọng nhất trong

ba điều cần thiết của phép trị nước: “túc thực, túc binh, dân tín” (nghĩa là

lương thực phải đủ nuôi dân, binh lực phải mạnh đủ bảo vệ dân, trong đó lòng tin của dân là điều quyết định nhất) Bởi vì, dân không tín thì chính quyền sẽ

đổ “Dân tín” tạo nên sức mạnh vật chất, sức mạnh chính trị to lớn, góp phầnquyết định sự hưng thịnh hay suy vong của một triều đại Sang đến Mạnh Tử,

“dân” tiếp tục được chú trọng Ông khẳng định “dân vi quý, xã tắc thứ chi,quân vi khinh” (lợi ích của dân trước hết, sau đó đến lợi ích của nhà nước, lợiích của vua không đáng kể) Ông yêu cầu những người cầm quyền phải biết lođến hạnh phúc của dân, cùng dân hưởng phú quý, cùng lo lắng với dân, nhưthế dân sẽ một lòng một dạ đi theo: “người vui cái vui của dân, thì dân cũngvui cái vui của mình, người lo cái lo của dân, thì dân cũng lo cái lo của mình

Vì thiên hạ mà vui, vì thiên hạ mà lo, thế mà không làm vương thì chưa cóvậy” [23; tr.225] Từ đó, trong quan điểm trị nước ông chủ trương phải “nhânnghĩa”, “bảo dân”, “giáo hóa dân” Bảo dân để lấy lòng dân: “người làm vualúc nào cũng lo đến hạnh phúc của nhân dân: cùng vui với dân mà hưởng phúquý, cùng với dân mà chịu sự lo sợ thì không bao giờ dân bỏ mình được” [23;tr.225] “Giáo dân” cũng là nhiệm vụ quan trọng của phép trị nước: “muốn trịnước, vua nên thi hành một cách nhân huệ chế độ điền địa và chế độ “giáohóa” dân, dẫu sau này bậc vương giả ra đời mà gồm thấu hiểu thiên hạ, ắtcũng giữ theo hai phép ấy” [10; tr.26] Còn tới Tuân Tử thì tư tưởng về dânlại được diễn tả cụ thể và sâu sắc hơn nữa: “quân tử là thuyền, thứ dân lànước Nước chở thuyền, nhưng nước lại đánh đắm thuyền” Đây là hình ảnh

so sánh sinh động về mối quan hệ quân - dân Do vậy, nhà cầm quyền phảibiết coi trọng dân, tập hợp dân, lấy nhân nghĩa mà trị thiên hạ thì yên, lấy tànbạo mà trị thiên hạ thì nguy

Có thể nói, trong quan niệm Nho giáo, tư tưởng về dân và chính sáchthân dân là một nguyên tắc quan trọng của đạo “an dân, trị quốc, bình thiênhạ” Các nhà tư tưởng Nho giáo đã coi việc quan tâm đến đời sống, nguyện vọng

Trang 21

của dân chúng là cơ sở để ổn định xã hội và xây dựng quốc gia thái bình thịnhtrị Trong học thuyết này, cách “sử dân”, “dưỡng dân” cũng được đề cập đến khásâu sắc Sử dụng dân phải theo thời, sai khiến dân có mức độ, chứ không đượctùy tiện Dù giữa hình thức và bản chất nội dung của những tư tưởng về dân có

sự khác biệt, nhưng sự tiến bộ trong quan niệm về dân của Nho giáo đã thấm sâuvào con người Nguyễn Trãi ngay từ những bài học vỡ lòng và trở thành cơ sở lýluận trực tiếp cho sự hình thành tư tưởng thân dân của ông

Mức độ, hình thức quan tâm đến dân, coi trọng dân, đề cao dân cónhững bước tiến khác nhau trong lịch sử của học thuyết Nho giáo qua mỗingười đại diện Tuy nhiên, bên cạnh sự tiến bộ đó, những học trò của Khổng

Tử là Mạnh Tử và Tuân Tử vẫn chưa vượt qua được hạn chế giai cấp căn cốt

ở thầy mình Các ông nhất quán chia con người ra làm hai hạng: những ngườilao tâm và những người lao lực, cho rằng đó là sự phân công tự nhiên, là quyluật chung của sự phát triển xã hội Các ông đều khẳng định: “không có quân

tử thì lấy ai trị dân quê, không có dân quê thì lấy ai nuôi quân tử” Từ nhữngnhìn nhận đó, ta thấy rằng, vấn đề vai trò, vị trí của nhân dân lao động trong

xã hội, vấn đề quan tâm đến dân, đến lợi ích của dân đã xuất hiện từ lâu tronghọc thuyết Nho giáo, nhưng ở đó, việc “chăn dân”, “huệ dân”, “giáo dân” chủyếu xuất phát từ giai cấp thống trị, vì sự bảo tồn lợi ích và ngai vàng phongkiến, chứ chưa thực sự là vì dân Bởi vậy, trong tư tưởng Nho giáo quan niệm

về dân vẫn còn những hạn chế nhất định Đó cũng là điều khó tránh khỏi bởinhững quy định của thời đại và địa vị giai cấp của những người sáng lập, pháttriển học thuyết

Nguyễn Trãi kế thừa tư tưởng tích cực trong học thuyết Nho giáo vềdân và chịu ảnh hưởng của những yếu tố tích cực đó, mặt khác có những nétđặc sắc riêng từ truyền thống dân tộc mình

1.2.1.4 Tinh thần từ bi hỉ xả, yêu thương con người của Phật giáo

Bên cạnh sự tiếp thu Nho giáo, Nguyễn Trãi cũng chịu ảnh hưởngkhông kém phần sâu sắc của tư tưởng Phật giáo Phật giáo là một giá trị đặc

Trang 22

sắc của văn hoá và văn minh Ấn Độ đã ảnh hưởng sâu đậm vào Đại Việt, vàotâm hồn, lối sống con người, góp phần tạo nên nhiều giá trị, làm phong phúnền văn hoá của nước ta giai đoạn này Phật giáo vào Đại Việt đã được cảibiến, khác rất xa Phật giáo nguyên thuỷ Từ thế kỷ thứ X, tôn giáo này gầnnhư đã trở thành quốc giáo ở nước ta Những giá trị văn hoá tâm linh của Phậtgiáo có nhiều yếu tố phù hợp với bản chất và bản tính thiện, tính thuần hậucủa người Việt, nên nó được tiếp nhận hết sức sâu sắc trong nhân dân, các nhàchính trị, nhà tư tưởng, trong các đấng quân vương Đại Việt đương thời vàqua nhiều thế hệ Tư tưởng từ bi hỉ xả, cứu khổ, cứu nạn hoà đồng với tưtưởng độ lượng, nhân ái của dân tộc ta Những giá trị đó của Phật giáo trởthành một trong những tư tưởng quan trọng của nhiều vị quân vương anhminh Mặc dù đến thế kỷ XV thời Nguyễn Trãi, Phật giáo không còn giữ vị tríđộc tôn trong tư tưởng thống trị của vương triều phong kiến như trước, màthay vào đó là Nho giáo, nhưng những tư tưởng cơ bản của Phật giáo vẫn có

ảnh hưởng rất lớn Nó làm mềm hoá sự đề cao trật tự khắt khe của những

quan hệ gia trưởng, trật tự phản nhân đạo, nghiệt ngã, khuôn thước chật hẹp,

gò bó tư tưởng, tình cảm con người của Nho giáo Đó cũng là một cơ sở quantrọng hình thành nên tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và chủ nghĩa nhânđạo sâu sắc trong tư tưởng của ông

1.2.1.5 Con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi

Tư tưởng nào được hình thành thì bên cạnh những nhân tố khách quancòn có vai trò chủ quan quyết định của cá nhân nhà tư tưởng Tư tưởng thândân của Nguyễn Trãi ra đời gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp của bản thân ông

+ Đôi nét về tiểu sử:

Nguyễn Trãi (1380 - 1442) là con đầu của Nguyễn Phi Khanh (còn gọi

là Nguyễn Ứng Long) và bà Trần Trinh Thục (còn gọi là Trần Thị Thái) - congái cụ Tư Đồ Trần Nguyên Đán, hiệu Băng Hồ, tước Nhập Nội Kiểm Hiệu Tư

Đồ Bình Chương Quốc Thượng Hầu (tương đương Tể tướng) dưới triều vuaTrần Duệ Tông và Trần Đế Nghiễn; quê quán làng Chi Ngại, huyện Phụng

Trang 23

Sơn, tỉnh Hải Dương Nguyễn Phi Khanh là cháu đời thứ 10 của Nguyễn Bặc,nguyên là phụ tá của Đinh Bộ Lĩnh, có công đánh dẹp loạn 12 xứ quân.Nguyễn Phi Khanh hay chữ, nhưng lận đận việc khoa cử, được quan tư ĐồTrần Nguyên Đán tuyển cho ở nhà quan làm gia sư dạy con gái của quan Tư

Đồ là Trần Trinh Thục Phi Khanh và Trinh Thục yêu nhau đến ngày TrinhThục mang thai thì Phi Khanh sợ hãi bỏ trốn Quan Tư Đồ rất khoan dung,cho người tìm kiếm Phi Khanh về làm lễ cưới và bảo trợ cho học hành, dùimài kinh sử, đến năm 1374, đời Trần Duệ Tông, thì thi đỗ Tiến sĩ Do làngười ngoại tộc làm rể hoàng gia, nên Phi Khanh không được bổ ra làm quan,chỉ về quê dạy học Đầu năm 1402, Hồ Quý Ly tin dùng Phi Khanh, bổ nhiệmvào chức vụ Trung Thư Thị Lang (ngang hàng quan tam phẩm, hay tứ phẩm)

Từ nhỏ, Nguyễn Trãi rất đĩnh ngộ, thông minh, được Phi Khanh yêuquý tự hào, và được quan Tư Đồ thương yêu nuôi ở cạnh Người để chăm sóc,giáo huấn Khi bà Trinh Thục mất, năm Nguyễn Trãi lên năm tuổi (năm1385); khi quan Tư Đồ về trí sĩ ở Côn Sơn cũng dẫn Nguyễn Trãi theo về.Năm 1390, quan Tư Đồ qua đời, Nguyễn Trãi trở về làng Nhị Khê ở với bốtrong cảnh hàn vi, học hỏi các kiến thức từ bố Tuổi trẻ Nguyễn Trãi như làkết tinh tình cảm tốt đẹp nhất của gia đình thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt,đặc biệt là lòng khoan dung, nhân ái, tinh hoa trí tuệ, cùng lòng yêu nước, yêudân thiết tha của ông ngoại và bố Khi lớn lên, Nguyễn Trãi được hấp thụ tinhhoa của văn hóa Việt Nam ở thời Lý, Trần tại đỉnh điểm phát triển

Năm 1400, đầu triều đại nhà Hồ, khi 21 tuổi, Nguyễn Trãi đỗ Tiến sĩ, ralàm quan cùng triều với bố, giữ chức Ngự Sử Đài Chánh Chưởng, rồi tiếp làmgiám khảo kỳ thi Hội và thi Đình Do chịu ảnh hưởng sâu đậm tinh thần tùyduyên, phóng đạt của Phật giáo, Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi nhẹ

nhàng đi ra khỏi sự ràng buộc chật hẹp của nghĩa tôi trung không thờ hai Chúa ở Nho giáo, tình cảm vị kỷ đối với Mạt Trần, để hợp tác với triều Hồ,

tận lực cứu nước, cứu dân Trước lời khuyên dạy của Nguyễn Phi Khanh: hãy

Trang 24

về trả thù cho cha, trả nợ cho nước, biểu hiện một tư duy mới về nghĩa trunghiếu của dđn tộc, thấm nhuần tinh thần Phật giâo Cùng với sự chứng kiếncảnh xđm lược, bạo tăn của quđn Minh gđy ra bao tang tóc, đau thương chonhđn dđn, lòng yíu nước, yíu dđn của Nguyễn Trêi rực chây Nguyễn Trêi tìmđến phò vị anh hùng âo vải ở Lam Sơn - Thanh Hóa, khởi nghĩa chống Minh

đi đến thắng lợi vẻ vang, viết tiếp những chiến công liín tiếp suốt 500 nămlịch sử (từ thời Ngô Quyền, Lý, Trần đến hậu Lí) Chiến thắng đó thể hiệnsức sống mênh liệt của chủ nghĩa yíu nước, tinh thần dđn tộc Việt, trong đó,Nguyễn Trêi thực sự lă trí tuệ, linh hồn của chiến công ấy

+ Con người Nguyễn Trêi:

Cuộc đời của Nguyễn Trêi có thể gói gọn trong hai chữ “bi” vă “hùng”.Ngay từ nhỏ Nguyễn Trêi đê thông minh Căng lớn, ông căng tỏ ra lă người

có bản lĩnh vă trí tuệ hơn người Sinh ra trong một gia đình nho giâo lại cótruyền thống khoa bảng, nín ngay từ bĩ Nguyễn Trêi đê mang trong mình giâtrị quý bâu thuộc về những ảnh hưởng tích cực của hệ tư tưởng Nho gia Ôngngoại vă bố của Nguyễn Trêi đều lă những trí thức uyín bâc phục vụ cho triềuđình, đê bỏ nhiều công sức để dạy dỗ ông từ nhỏ

Nguyễn Trêi không những được học những kiến thức sđu rộng, bảnthđn chăm lo dùi măi kinh sử, suy ngẫm “vườn chư tử, bể lục kinh”, mă còntiếp thu được phẩm chất cao quý từ tđm hồn vă tư tưởng sâng ngời của cha vẵng Ông cũng tiếp thu từ nhiều nhă Nho trước đó hay cùng thời tư tưởng suốtđời phục vụ nhđn dđn, chứ không bao giờ suy nghĩ, hănh động phục vụ riíngcho một dòng họ Nguyễn Trêi lă nhă Nho có bản lĩnh, giău lòng nhđn âi, vìnước, vì dđn Trí tuệ uyín bâc của ông có sự thống nhất: nhă thơ không tâchrời nhă ngoại giao; nhă triết học, không tâch rời nhă chính trị; nhă đạo đứckhông tâch rời con người hănh động Cuộc đời vă sự nghiệp, tư tưởng vă hănhđộng của ông đê định hình, phât triển, cùng với những đòi hỏi của đất nướcĐại Việt cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV

Trang 25

Nguyễn Trãi khác với những nhà Nho cùng thời là nhận thức và hànhđộng theo lẽ phải, đã biết dấn thân cho sự nghiệp cao cả vì nước, vì dân Conngười Nguyễn Trãi được phát triển trong hành động, “chi hành hợp nhất” Cái

vĩ đại của nhà tư tưởng đó không dừng lại ở các học thuyết cao siêu, mà cònbiến tư tưởng thành hiện thực và đưa tư tưởng vào quần chúng để biến nóthành sức mạnh vô song Ông đã kế thừa có chọn lọc những tinh hoa trong tưtưởng Phật giáo, Nho giáo và những yếu tố tích cực về dân trong truyền thốngdân tộc, tạo thành nền tảng cho tư tưởng của mình, vượt trước thời đại và giaicấp mình Không chỉ dừng lại ở học tập, tiếp thu, nhận lấy các giá trị tư tưởngcủa gia đình, truyền thống dân tộc, bản thân Nguyễn Trãi đã được tôi luyệntrong một thời kỳ xã hội đầy đau thương Ông đã chứng kiến rất nhiều nhữngthăng trầm của đất nước Ông cũng phải kinh qua cảnh nước mất, nhà tan, cha

bị giặc bắt Cho nên ông hiểu sâu sắc nỗi thống khổ của người dân mất nước,chịu thân phận kẻ nô lệ Chính hoàn cảnh lịch sử đã góp phần tôi luyện choNguyễn Trãi thành một nhân vật kiệt xuất, hình thành nên một thiên tàiNguyễn Trãi Tóm lại, khi nói đến Nguyễn Trãi là nói đến một nhà yêu nước -nhà thơ - nhà chiến lược - nhà tư tưởng kiệt xuất Gốc của thiên tài chính làtấm lòng vì dân vì nước của ông

+ Sự nghiệp của Nguyễn Trãi:

Năm 1400, khi 21 tuổi, Nguyễn Trãi dự khoa thi đầu tiên do nhà Hồ

mở (lúc này Hồ Quý Ly vừa lật đổ nhà Trần), ông đã đỗ thái học sinh (tươngđương với chức vị tiến sĩ ngày nay) và được Hồ Quý Ly bổ nhiệm chức Ngự

Sử Đài Chánh Chưởng Là người có học, có tài, có nhiệt huyết lại không bịtrói buộc bởi nỗi ám ảnh “Cố quốc, nguỵ triều”, Nguyễn Trãi đã cùng cha -Nguyễn Phi Khanh gắng gỏi giúp cha con Hồ Quý Ly thi hành những cải cách

về kinh tế, chính trị, văn hoá nhằm nhanh chóng phục hưng nước nhà, chuẩn

bị đối phó với các thế lực nội công ngoại kích Tiếc rằng, cuộc trung hưng của

Hồ Quý Ly không thể kéo dài do mất lòng dân vì chuyện thoán đoạt Nhà Hồ

Trang 26

nhanh chóng bị quân Minh đánh bại Cha Nguyễn Trãi bị bắt sang Kim Lăng

- Trung Quốc cùng với cha con Hồ Quý Ly…Nguyễn Trãi trở về và bị giamlỏng ở thành Đông Quan Sự nghiệp chính trị của Nguyễn Trãi giai đoạn đócũng chấm dứt Thời kỳ này kéo dài sáu, bảy năm, từ khi Nguyễn Trãi từ biên

ải trở về và bị Trương Phụ bắt giam lỏng ở thành Đông Quan, bởi sự can thiệpđầy thâm ý của Hoàng Phúc (Trương Phụ muốn giết Nguyễn Trãi nhưngHoàng Phúc muốn dụ dỗ nên can và tha cho Nguyễn Trãi)

Năm 1417, Nguyễn Trãi cùng Trần Nguyên Hãn (anh em con cô concậu) trốn khỏi Đông Quan tìm vào Lỗi Giang gặp Lê Lợi trao “Bình NgôSách”, được Bình Định vương Lê Lợi trọng dụng, tôn làm quân sư Năm 1427khởi nghĩa thắng lợi, Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi soạn “Cáo bình Ngô” Từ

1428 - 1442, Nguyễn Trãi làm quan triều Lê, chức Phục hầu (nhập nội hànhkiểm Lai bộ thượng thư) Ngày 7/9/1442 xảy ra vụ án Lệ Chi Viên, ngày19/9/1442, Nguyễn Trãi cùng cả gia đình bị chu di tam tộc Năm 1464, LêThánh Tông chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi, khẳng định sự nghiệp vànhân cách cao thượng của ông

Nguyễn Trãi là một anh hùng dân tộc vĩ đại, một con người văn võsong toàn, có đủ nhân, trí, dũng Sự nghiệp cứu nước, cứu dân của NguyễnTrãi là hiện thực tôi luyện, kiểm chứng và phát triển cho những tư tưởng xâydựng một vương triều cường thịnh, một chế độ chính trị vì dân tiến bộ và bềnvững Từ đó, ông đã chứng minh và phát triển tư tưởng về một nền chính trị

vì dân, là cơ sở hiện thực cho sự ra đời, hoàn thiện tư tưởng thân dân của ông

Có thể nói rằng, để hình thành nên tư tưởng thân dân - một tư tưởngmang tầm triết lí và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, Nguyễn Trãi đã kế thừakhông chỉ giáo lí Phật giáo và tư tưởng Lão Trang…mà điều quan trọng làkiến thức và tình cảm của ông đã được bổ sung, bồi đắp từ di sản văn hoá quýbáu của dân tộc hàng nghìn năm dựng nước Nguyễn Trãi hiểu sâu sắc về đấtnước trên nhiều mặt, vì thế ông vừa là nhà quân sự, nhà chính trị, ngoại giao,

Trang 27

lại vừa là nhà sử học, nhà văn, nhà thơ, nhà địa lý…Ông có cuộc sống gần gũivới nhân dân lao động ngay từ thuở nhỏ, lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan,trực tiếp suy nghĩ và tìm cách đánh giặc cứu nước Những cơ sở đó đã đưaNguyễn Trãi thành một nhà Nho sáng tạo luôn suy nghĩ và hành động vì dân,hình thành và phát triển tư tưởng thân dân tiến bộ, có ý nghĩa xã hội rộng lớn.

1.2.2 Cơ sở hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh

Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh bắt nguồn sâu xa từ khát vọnghàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, thấm nhuần lý tưởng nhân văn của cácdân tộc phương Đông, tiếp thu tinh hoa văn hóa dân chủ của nhân loại quaquá trình hoạt động chính trị thực tiễn vì dân, vì nước của vĩ lãnh tụ - nhà dânchủ - Hồ Chí Minh

1.2.2.1 Di sản tư tưởng dân tộc về dân chủ

Cũng như Nguyễn Trãi, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởngdân chủ của Người nói riêng trước tiên cũng là sự kế thừa và phát triển nhữnggiá trị truyền thống nhân văn, nhân đạo và thân dân Việt Nam Đất nước tatrải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, đã tạo lập cho mìnhmột nền văn hiến, văn hóa riêng, phong phú với những giá trị truyền thống tốtđẹp, làm động lực cho sự phát triển Tư tưởng về “dân”, tư tưởng nhân văn,nhân đạo, “thân dân”, “kính dân”, “lấy dân làm gốc” đã sớm hình thành vàphát triển, trở thành một hệ tư tưởng chính thống, có ảnh hưởng trực tiếp, sâuđậm đến tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Chủ nghĩa yêu nước là một truyền thống quý báu của dân tộc mà giống

như Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh cũng đã kế thừa Chủ nghĩa yêu nước là mộttài sản có giá trị nhất trong hành trang của người thành niên yêu nước NguyễnTất Thành khi ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911), cũng như quá trình lãnhđạo sự nghiệp cứu nước và xây dựng đất nước sau này Nó là sợi chỉ đỏ xuyênsuốt cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng phong phú của Người Điều đóđược thể hiện trong quá trình Hồ Chí Minh phát triển truyền thống yêu nước

Trang 28

Việt Nam thành chủ nghĩa yêu nước trong thời đại mới, được hiện hữu trongquan hệ yêu nước và thương dân, trong sự gắn kết giữa lòng yêu nước vàhành động đi tìm đường cứu nước, giải phóng nhân dân; trong lý tưởng giảiphóng và phát triển, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân chủ vàphát triển; đoàn kết, dân chủ và đồng thuận xã hội Người nói: “lòng yêuthương nhân dân và nhân loại của tôi không bao giờ thay đổi” [16; tr.47]; “cảcuộc đời tôi cũng chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao chonước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào aicũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [32; tr.161] Người đã pháttriển những nội dung mới của chủ nghĩa yêu nước: yêu nước trên quan điểmgiai cấp (ở đây là giai cấp công nhân), yêu nước trên cơ sở tinh thần đoàn kếtquốc tế vô sản, yêu nước gắn liền với thương dân, với khát vọng giải phóngcon người theo con đường xã hội chủ nghĩa “yêu tổ quốc, yêu chủ nghĩa xãhội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, tổ quốc mỗi ngày một giàumạnh thêm” [37; tr173].

Tinh thần nhân văn, nhân nghĩa, đoàn kết, “tương thân, tương ái”, tư tưởng thân dân trong các triều đại phong kiến ở nước ta cũng là giá trị truyền

thống dân tộc tốt đẹp, không chỉ góp phần hun đúc, cho ra đời tư tưởng thândân của Nguyễn Trãi, mà còn là điểm tựa để hình thành nên tư tưởng dân chủcủa Hồ Chí Minh Đặc biệt, Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu mà còn pháttriển tinh thần “khoan dân” lên một trình độ cao hơn, cả trong những bài họcthành công và cả những bài học thất bại Sự thất bại nhanh chóng của Hồ Quý

Ly trong cuộc kháng chiến chống Minh là một minh chứng cho chân lý: triềuđại, nhà nước nào được dân thì được nước, mất dân thì mất nước Một nhà tưtưởng, cải cách tiến bộ trong lịch sử như Hồ Quý Ly cũng sẽ thất bại nếukhông hiểu được, thực hành được chân lý ấy “nhà Hồ đánh giặc một mình, đểmất nước vì nhà Hồ bị mất dân” [62; tr237]

Trang 29

Tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh không hình thành một cách ngẫu nhiên,

tự phát, mà bắt nguồn từ chính truyền thống “yêu nước thương nòi”, “tươngthân tương ái”, nhân văn, nhân đạo, nhân nghĩa và những tư tưởng “trọngdân”, “lấy dân làm gốc” của những vương triều phong kiến trong đó đặc biệt

là tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi Những truyền thống đó đã ngấm sâutrong tâm hồn Người từ khi còn là cậu bé Nguyễn Sinh Cung đến khi trởthành vị lãnh tụ, nuôi dưỡng, thôi thúc suốt cuộc đời nhà chính trị vì dân HồChí Minh

1.2.2.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại về dân chủ, đặc biệt là tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin và hình thức dân chủ Xô Viết

Là con người có tư tưởng tiến bộ, ham học hỏi, có chí lớn, Nguyễn ÁiQuốc không chỉ kế thừa các di sản văn hoá truyền thống trong nước, Ngườicòn sớm có tư tưởng hướng ngoại, bôn ba, tiếp thu những giá trị tốt đẹp củavăn hoá, văn minh nhân loại Vì thế, tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh đượchình thành còn có sự chắt lọc những bài học từ các cuộc cách mạng thế giới,quan niệm tích cực về chữ dân trong Nho giáo, học thuyết Tam dân của TônTrung Sơn, tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin và hình thức dân chủ

Xô Viết

* Bài học từ các cuộc cách mạng trên thế giới

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủnghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân và chúng đã gây ra bao đau thương chonhân loại Trước thực trạng đó, phong trào cách mạng trên thế giới phát triểnmạnh mẽ, nhiều cuộc cách mạng tư sản đã nổ ra và thắng lợi, nhưng chínhquyền vẫn chưa thực sự thuộc về nhân dân, bởi sau cách mạng chính quyềnlại rơi vào tay giai cấp Tư sản bóc lột và những học thuyết tiến bộ trước đó đãtập hợp được lực lượng, lòng tin của quần chúng đã không được hiện thựchoá Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, trên cơ sở những học thuyết Tưsản tiến bộ của những nhà tư tưởng trước đó, Hồ Chí Minh đã dần nhận thấy

Trang 30

bản chất và rút ra nhiều bài học quý báu từ các cuộc cách mạng dân chủ tưsản, đặc biệt là cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp Cuộc cách mạng nàyđược tiến hành trên cơ sở tư tưởng dân quyền của J.J.Rousseau, cụ thể là họcthuyết “quyền tối thượng thuộc về nhân dân” (trong tác phẩm “khế ước xãhội”) Ông lập luận về dân quyền: “từ khi sinh ra người ta đã có quyền tự do vàbình đẳng, đó là quyền trời phú cho con người nhưng sau đó người ta đã để mấtnó” [52; 178] Tư tưởng này của ông đã đẻ ra cách mạng tư sản Pháp, mangđến một luồng gió mới cho phong trào cách mạng thế giới, phù hợp với tâm lýnhân dân Pháp và tình hình chính trị đương thời, nhưng thực tế sau khi cáchmạng thành công lại không được thực hiện Hiện thực này cũng ảnh hưởngđến cảm quan cách mạng và quá trình hình thành tư tưởng dân chủ của HồChí Minh.

Còn ở Mĩ, Người lại nghiên cứu “Tuyên ngôn độc lập” của Mĩ 1776 vàchứng kiến cuộc sống của người dân nơi đây Tuyên ngôn đã viết: “tất cả mọingười sinh ra đều bình đẳng, rằng họ được Chúa ban phú cho những quyềnsống, tự do, và mưu cầu hạnh phúc” [27; tr.82] Tuyên ngôn cũng khẳng định,cuộc đấu tranh vì nền độc lập của nước Mĩ là đấu tranh vì một chính phủ dựatrên sự đồng thuận của nhân dân, thay thế cho một chính phủ được điều hànhbởi một ông vua Nội dung của bản tuyên ngôn mang giá trị của thời đại vàtính nhân văn sâu sắc, nhưng thực tế cuộc sống của quần chúng nhân dân màNgười được tận mắt chứng kiến lại trái với những lý tưởng và tuyên bố nhânvăn đó Sau khi giành được chính quyền, quyền lực được tập trung trong taymột số ít những người có tiền của Họ quay lại bóc lột quần chúng nhân dân,quyền làm chủ của nhân dân bị xâm phạm và mang tính chất hình thức Nókhông được thực thi trên thực tế Từ đó, Người rút ra kết luận: cách mạng Mĩ

là cuộc “cách mạng không đến nơi” Chính bài học từ các cuộc cách mạng tư

sản Pháp và Mĩ đã giúp Hồ Chí Minh thấy được những điểm tiến bộ củanhững tư tưởng dân chủ, cũng như những hạn chế mang tính bản chất của nền

Trang 31

dân chủ tư sản, từ đó góp phần hình thành tư tưởng dân chủ xã hội chủ nghĩatoàn diện và tiến bộ ở Hồ Chí Minh.

Trong thời gian hoạt động ở Châu Âu, lịch sử cách mạng Pháp cũngcung cấp cho Nguyễn Ái Quốc những thông tin quý báu về một loại hìnhchính phủ của nhân dân Đó là công xã Pari - một chính phủ “tự dân cử lên”

và dân có quyền thay đổi chính phủ [30; tr.273]

Có thể nói, quá trình hoạt động thực tiễn, tìm hiểu về các cuộc cáchmạng tư sản trên thế giới đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với giá trị chân chính

và những yếu tố nhân văn tiến bộ của cách mạng dân chủ tư sản, mặt khácNgười cũng nhận ra những hạn chế của chế độ dân chủ này Ánh sáng của chủnghĩa Mác - Lênin và hình thức thực tế của chính quyền Xô Viết đã dẫn dắt

Hồ Chí Minh đi đến con đường cách mạng đấu tranh cho độc lập, tự do đểđem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho đông đảo quần chúng nhân dân laođộng, với một nền dân chủ thực sự và toàn diện

* Quan niệm tích cực về chữ dân của Nho giáo

Trước khi trở thành một nhà cách mạng, Hồ Chí Minh vốn xuất thântrong một gia đình Nho học, nên Người sớm tiếp nhận từ Nho giáo triết lýnhân sinh “tu thân, dưỡng tính”; “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” củangười quân tử Và Người cũng tiếp thu tư tưởng về một xã hội đại đồng

Có nguồn gốc từ Trung Hoa, nhưng Nho giáo là một trong những họcthuyết có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng chính quyền và xã hộiphong kiến ở phương Đông, trong đó có Việt Nam Nho giáo đã trực tiếp nóiđến dân, đề cao vị trí, vai trò của dân trong quá trình xây dựng đất nước, bìnhổn thiên hạ Tuy nhiên, dân xuất hiện trong học thuyết này là đối tượng đểgiáo hoá, cai trị vì lợi ích của tập đoàn phong kiến cầm quyền Du nhập, tiếpbiến mạnh mẽ vào Việt Nam, Nho giáo ở nước ta đã có những thay đổi cănbản, phần lớn chỉ giữ hình thức còn nội dung đều được Việt hoá Các nhàNho, nhà tư tưởng nước ta cải biến nhiều quan điểm của Nho giáo, trong đó

Trang 32

có quan điểm về dân của đạo Nho cho phù hợp với thuần phong mỹ tục, đạođức và hệ giá trị người Việt, điển hình trong các nhà cải cách đó là NguyễnTrãi Vì vậy, tiếp thu học thuyết này, Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa quanđiểm về dân trong Nho giáo nguyên thuỷ, mà còn tiếp cận cả những tư tưởnglấy dân làm gốc, thân dân xây dựng qua lăng kính của học thuyết này từnhững nhà Nho dân tộc.

Kế thừa một cách biện chứng tư tưởng về dân của Nho giáo là mộtđiểm tựa, là một nét riêng để hình thành tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minhmang những nét phương Đông đặc sắc

* Học thuyết “tam dân” của Tôn Trung Sơn.

Không chỉ kế thừa những tư tưởng Nho giáo, Hồ Chí Minh còn tiếp thunhững tư tưởng của Trung Quốc thời cận đại, mà tiêu biểu là cách mạng TânHợi, với thủ lĩnh Tôn Trung Sơn Người nhận thấy: chủ nghĩa Tôn Dật Tiên

có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta Nghiên cứu tưtưởng “dân tộc độc lập”, “dân quyền tự do”, “dân sinh hạnh phúc” của TônTrung Sơn, kết hợp với tư tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng tưsản Pháp, Hồ Chí Minh đã diễn giải rành mạch và sáng tỏ trong mục tiêuchính trị: độc lập - tự do - hạnh phúc Người đến với chủ nghĩa Tam dân vì “chủnghĩa Tam dân là chủ nghĩa yêu nước” [52; tr.49-50] Đây cũng là mong muốn,

là khát vọng của mọi người Việt Nam yêu nước khi dân tộc đang “chịu kiếpngựa trâu” Chủ nghĩa dân quyền khẳng định: “dân quyền, đó là sức mạnh chínhtrị của nhân dân, nhân dân quản lý công việc chính trị nên gọi là dân quyền…thếgiới ngày nay là thế giới gì? Là thế giới dân quyền” [52; tr.162-165] Chủtrương dân quyền, xây dựng một nước cộng hòa, một nước mà nhân dân sẽlàm vua, trên cơ sở đó, tiến tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủnghĩa đại đồng là chủ nghĩa dân sinh của Tôn Trung Sơn Mục tiêu cuối cùngtrong học thuyết của ông là đạt tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân

Đó cũng chính là khát vọng, là ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh

Trang 33

Chủ nghĩa Tam dân đặt trọng tâm vào xây dựng đất nước, xây dựngnhà nước “của dân, do dân, vì dân”, giải quyết những vấn đề xã hội bức bách,những vấn đề “đời sống của nhân dân, sinh tồn của xã hội, sinh kế của quốcdân, sinh mệnh của quần chúng” [52; tr.12] Hồ Chí Minh đã học hỏi ở chủnghĩa Tam dân những cơ sở lý luận để xác định phương hướng, cương lĩnhxây dựng xã hội mới trong quá trình lãnh đạo cách mạng theo con đường xãhội chủ nghĩa, đặc biệt là những yếu tố tiến bộ trong tư tưởng của Tôn TrungSơn về xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn tuy thế, về cơ bản vẫn chưavượt qua được hệ tư tưởng tư sản nên còn nhiều hạn chế Song tư tưởng ấycũng như bài học từ Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc năm 1911 đã ảnhhưởng tích cực đến Hồ Chí Minh, đặc biệt là đến tư tưởng dân chủ của Người

* Tư tưởng dân chủ của Chủ nghĩa Mác - Lênin và hình thức dân chủ

Xô Viết.

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin trước hết và trên hết là vìmục tiêu giải phóng con người khỏi áp bức bất công, bóc lột, nô dịch sau đó

sẽ xây dựng một xã hội như trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” mà Mác

và Ăng ghen đã nói: “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sựphát triển tự do của tất cả mọi người” Người bị thuyết phục chính bởi sựđúng đắn và tính khoa học trong tư tưởng cốt lõi của học thuyết giải phóngMác - Lênin: “xã hội không thể nào giải phóng cho mình được, nếu khônggiải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt” [7; tr.404] Khảo sát cách mạng ThángMười và lại được sống trực tiếp trong không khí sôi động của công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Nga nhữngnăm 1934 - 1938, Hồ Chí Minh nhận thức và tâm đắc với quan điểm củaLênin cho rằng: không có chế độ dân chủ thì không thể thực hiện được chủnghĩa xã hội và giai cấp vô sản không thể hoàn thành cuộc cách mạng xã hộichủ nghĩa nếu không tiến hành cuộc đấu tranh cho dân chủ, cũng như chủ

Trang 34

nghĩa xã hội sẽ không duy trì được thắng lợi nếu không thực hiện được đầy đủchế độ dân chủ Lênin viết: “cũng giống như không thể có chủ nghĩa xã hộithắng lợi mà lại không thực hiện dân chủ hoàn toàn, giai cấp vô sản cũngkhông thể nào chuẩn bị để chiến thắng giai cấp tư sản được nếu nó không tiếnhành một cuộc đấu tranh toàn diện, triệt để và cách mạng để giành dân chủ”[69; tr.324] Từ đó, Hồ Chí Minh thấm nhuần rằng tư tưởng đấu tranh cho dânchủ và đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội không thể tách rời nhau

Không chỉ được trang bị về mặt lý luận, quá trình xây dựng nền dânchủ xã hội chủ nghĩa ở Nga đã cung cấp cho Người những bài học thực tiễn

để xây dựng dân chủ: phải bắt nguồn từ cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về

tư liệu sản xuất, mà trước hết là sở hữu nhà nước; toàn thể nhân dân laođộng là chủ thể của nền dân chủ; các cơ quan đại biểu của nhân dân do phổthông đầu phiếu bầu ra là các cơ quan đại diện quyền lực nhân dân, thốngnhất quyền lực và có sự phân công, phối hợp; thực hiện chế độ tập trungdân chủ kết hợp với quyền tự trị, tự quyết rộng rãi của các địa phương; lựclượng lãnh đạo là Đảng của giai cấp công nhân và có các tổ chức quầnchúng làm chỗ dựa cho nền dân chủ; đối tượng chuyên chính là các phần tửthù địch với chủ nghĩa xã hội

Người tìm thấy ở Mác, Ăngghen, Lênin và trực tiếp là quá trình xâydựng nền dân chủ ở Nga đương thời cả những tư tưởng, quan điểm về dân chủ

xã hội chủ nghĩa, và cả hệ phương pháp để thực hiện một nền dân chủ toàndiện (không chỉ về mặt chính trị), trực tiếp, cụ thể (cả trong quản lý công việchàng ngày) với sự tham gia của quần chúng, của tuyệt đại đa số nhân dân Nó

là một nền dân chủ thực sự và ngày càng đầy đủ Nó sẽ là một nền dân chủ

“gấp triệu lần” dân chủ tư sản như Lênin đã nói Đây là những điều Hồ chủtịch rất tâm đắc và đã tích cực vận dụng một cách sáng tạo ở Việt Nam

1.2.2.3 Con người và sự nghiệp của nhà chính trị dân chủ Hồ Chí Minh

Trang 35

Sự thành đạt của một con người, sự ra đời của một tư tưởng bao giờcũng gắn bó với nhiều yếu tố Các yếu tố truyền thống của quá khứ, yếu tốcủa đương đại, nền tảng gia đình và nỗ lực bản thân chính là cơ sở quan trọng

để tạo nên những điều kì diệu trong tư tưởng và sự nghiệp của vĩ nhân HồChí Minh cũng là một trường hợp như vậy

Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình Nho học khoa bảng giàutruyền thống, được thừa hưởng một nề nếp gia phong, trí lớn của cụ thânsinh, nhà Nho - Nguyễn Sinh Sắc, và sự chăm chỉ, đức hạnh của người mẹ -

bà Hoàng Thị Loan Làng Sen, Nam Đàn Nghệ An, nơi Người được sinh ra

là mảnh đất nghèo mà hiếu học, cũng là nơi có nhiều danh nhân yêu nước,trí lớn

Nguyễn Sinh Cung (tức Hồ Chí Minh) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890.Ngay từ nhỏ, Người đã hình thành và phát triển những phẩm chất cá nhân tiêu

biểu trực tiếp góp phần hình thành tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh Trước hết phải kể đến tâm hồn một người yêu nước, sau này là một chiến sĩ cộng sản

nhiệt thành, trái tim yêu nước, thương dân, thương yêu những người cùngkhổ, sẵn sàng chịu đựng hi sinh vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúccủa đồng bào Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh xét cho cùng cũng xuấtphát từ những mong muốn mang lại quyền làm chủ của người dân, đem lại tự

do, hạnh phúc cho nhân dân, của con người và vì con người Tiếp đó ở Người,

năng lực tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, óc phê phán tinh tường, sáng suốt làphẩm chất nổi trội Dù sống trong môi trường nào, ở phương Đông, hayphương Tây, Người đều học tập tiếp thu những điểm tích cực, tiến bộ, đồngthời cũng biết nhìn ra bản chất, phê phán những điểm hạn chế, những mặt tiêucực đằng sau những điều hào nhoáng, bề ngoài Chính nhờ những phẩm chấtnày, mà giữa vô số học thuyết, lý luận đang tồn tại trên thế giới lúc bấy giờ,chính sự nhạy cảm chính trị, tư duy độc lập, sáng tạo, trí tuệ uyên bác, kiếnthức sâu rộng… đã giúp Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, lý luận

Trang 36

cách mạng nhất, khoa học nhất, chắc chắn nhất, chân chính nhất Với chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng dân chủ đã từng bước hình thành trong hệ tư

tưởng của Người Ngoài ra, đó còn là sự khổ công luyện tập nhằm thâu thái

vốn tri thức phong phú của thời đại, vốn kinh nghiệm đấu tranh của phongtrào giải phóng dân tộc Chính sự dày công tích lũy với một khả năng tư duyđộc lập và lòng yêu nước đã giúp Hồ Chí Minh tìm ra con đường đúng đắn đểcứu nước, cứu dân và tư tưởng dân chủ tất yếu hình thành

Sự hình thành lý tưởng dân chủ Hồ Chí Minh trải qua một thời kỳ dàinhận thức, giác ngộ và nỗ lực hoạt động cách mạng đi từ cơ sở tư tưởng yêunước, thương nhà (giai đoạn này tương ứng với giai đoạn Nguyễn Ái Quốc đitìm đường cứu nước đến trước cách mạng Tháng Tám năm 1945) Tư tưởngdân chủ của Người còn trải qua một thời kỳ thử thách kiên trì giữ vững vàphát triển mới tư tưởng dân chủ ở Việt Nam (giai đoạn này từ sau cách mạngTháng Tám đến khi Người qua đời) Trong những yếu tố để hình thành nên tưtưởng dân chủ Hồ Chí Minh, không thể không nhắc đến sự kế thừa tư tưởngthân dân của Nguyễn Trãi với tư cách là tư tưởng tiến bộ kết tinh tư tưởng vìdân trong lịch sử dân tộc Sự gặp nhau về tư tưởng này biểu hiện sự mẫn tiệpcủa những nhà chính trị trong quá trình lãnh đạo đất nước, đồng thời là sự hộingộ của tấm lòng yêu dân tha thiết ở những con người cách nhau nhiều thếkỷ

Sự hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh như đã nói, là một quátrình lâu dài, với sự hội tụ, gặp gỡ của nhiều yếu tố khách quan cũng như chủquan Nếu như tiếp thu văn minh phương Tây và những bài học thực tế từ cácnước Tư bản mang đến tính chất cách mạng, tiến bộ mới mẻ, khoa học vàthực tiễn sinh động, thì những tư tưởng, bài học từ phương Đông, đặc biệt làtruyền thống, thực tiễn dân tộc lại giúp cho tư tưởng dân chủ của Người cóbản chất sâu sắc, gần gũi, sát thực với dân tộc và nhân dân mình Từ nhữngyếu tố đó, tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh đã hình thành và phát triển rất đặc

Trang 37

sắc, toàn diện, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, thể chế và hànhđộng Nó vừa phù hợp với trào lưu văn minh chung của nhân loại, phù hợpvới lý tưởng xã hội chủ nghĩa, vừa phát huy được truyền thống dân tộc, đồngthời cũng thể hiện được bản chất cốt lõi trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của

Người Trong các nhân tố khách quan và chủ quan tác động tới sự hình thành

tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh cần phải nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin Đó là nhân tố tạo ra bước ngoặt trong cuộc hành trình tư tưởng của Người tới dân chủ, tới độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội.

* Tiểu kết

Có thể thấy tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng dân chủ HồChí Minh được hình thành trên những cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn kháchquan và chủ quan Tuy ở hai thời đại khác nhau, nhưng tư tưởng thân dân củaNguyễn Trãi và tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh đều là sản phẩm của sựkết hợp giá trị truyền thống, hội tụ tinh hoa trong giao lưu văn hoá với cácnước và sự toả sáng những khả năng, phẩm chất cá nhân của các nhà tưtưởng Sự hình thành và kết nối ấy làm nên giá trị tiến bộ vượt trội của mộtdòng tư tưởng vì dân trong lịch sử, mà sau này với tư cách là người kế thừaxuất sắc, Hồ Chí Minh đã đúc kết trong tư tưởng dân chủ của mình

Trang 38

Chương 2

NỘI DUNG TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI

VÀ TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA HỒ CHÍ MINH

2.1 Nội dung tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi trước sau vẫn là một nhà Nho, tư tưởng thân dân của ôngcũng có nguồn gốc và ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo rất nhiều, nhưngcách ứng xử của ông lại rất khác và có phần trái ngược với cách ứng xử củamột nhà Nho Trung Quốc Ông đưa ra hệ quy chiếu Việt Nam, lấy dân làmtrung tâm, lấy lợi ích của dân, của nước làm bổn phận Kết tinh trong tưtưởng, hành động mà cả cuộc đời oai hùng, lẫm liệt mà cũng đầy ghập ghềnh,thăng trầm và bi tráng của ông là hình ảnh của một nhà Nho, một nhà chínhtrị thân dân Vì vậy, nội dung tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi rất phongphú, tiến bộ, với cả những giá trị vượt thời đại, từ quan niệm về dân đến nộidung tư tưởng thân dân

2.1.1 Quan niệm của Nguyễn Trãi về chữ dân

Để thấy được tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi phải bắt đầu từ quanniệm của Nguyễn Trãi về chữ “dân” Theo PGS Võ Xuân Đàn thì trong các

văn bút của Nguyễn Trãi, chữ dân được nói tới 155 lần, chưa kể các từ đồng

nghĩa tương tự như bách tính, sinh linh, xích tử…

Nguyễn Trãi là một nhà Nho, nhưng quan điểm về dân của Nguyễn Trãivới Nho giáo đã có sự khác biệt rất rõ nét Xuất phát điểm đó đã giúp ôngvượt qua cái nhìn bó hẹp của Nho giáo về dân

Trở lại với Nho giáo nguyên thuỷ, chữ “dân” của Khổng Tử trước hết

là chỉ người nô lệ, đối lập với chữ “nhân” để chỉ người chủ nô Khổng Tử chỉ nói “ái nhân” mà không bao giờ nói “ái dân” Trong thiên “Ung dã” của

“Luận ngữ”, khi Tử Lộ hỏi: “Nếu như một người ra ơn cho dân rất rộng và có thể giúp đỡ được lớp chúng (nô lệ) thì thế nào? Có thể gọi là nhân được

Trang 39

không?”, Khổng Tử đáp: “nếu được như thế, sao chỉ gọi là nhân? Hẳn làthánh rồi! Việc đó Nghiêu, Thuấn cũng khó mà làm được!” Ý Khổng Tử nói

đó là chuyện không tưởng, làm sao có thể làm được? Trước sau Khổng Tử chỉxây dựng một lý luận đạo đức cho người cai trị gọi là “quân tử” Chủ trươngkhoan dân của ông chỉ là để bóc lột dân cho được bền lâu, vì lợi ích lâu dàicủa quân tử, chứ đâu phải là vì bản thân nhân dân Chữ “dân” này sang thờiMạnh Tử lại có nội dung khác đi ít nhiều Dân có nghĩa là “dân tự do” gồmquý tộc bị sa sút, một số nô lệ được giải phóng, thương nhân và thợ thủ côngsống ở thành thị Mạnh Tử chủ trương “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vikhinh”, trong đó dân ở đây là chỉ dân tự do ở thành thị Còn dân cày, dân quê

là đối tượng mà ông khinh miệt: “không có quân tử thì không có ai để cai trịdân quê (dã dân), không có dân quê thì không có ai để nuôi quân tử” Để làm

rõ quan điểm về chữ “dân”, có một vấn đề rất đáng lưu ý đó là hàm nghĩa của chữ “người” Theo Luận ngữ tân thám (Luận ngữ tân thám Nhân dân xuất

bản xã xuất bản) của Triệu Kỷ Bân thì trong sách Luận ngữ, chữ “người” chỉchuyên dùng để chỉ những kẻ trong tầng lớp thống trị Còn những người tronghàng bị trị thì đều gọi là “dân” Tóm lại, theo quan niệm của Nho giáo, thì dân

ở đây chỉ là tầng lớp dưới, là đối tượng cần phải cai trị, giáo hoá, nên họ có tưtưởng chăn dân, huệ dân, cai trị dân Những quan niệm này hoàn toàn tráingược với quan niệm về dân của Nguyễn Trãi, mặc dù ông cũng là nhà Nho

Khác với Khổng Tử và Mạnh Tử, Nguyễn Trãi quan niệm chữ “dân” đồng nghĩa với chữ người, là nền tảng quan trọng của xã hội, lực lượng chính của

khởi nghĩa bảo vệ đất nước, phát triển xã hội Dân với ông không phải là đốitượng để giáo hoá, mà là đối tượng để chăm sóc, “nhân nghĩa”, “an dân”

Tiếp thu và phát triển tư tưởng Nho giáo bao gồm cả quan điểm về dântrong hoàn cảnh Đại Việt không phải đến Nguyễn Trãi mới xuất hiện Trongcác triều đại phong kiến độc lập trước đó vấn đề này đã được quan tâm Từthời Lý, dân đã được quan tâm, triều đình thực thi những chính sách vì dân

Trang 40

Phát triển thêm một bước, đến thời Trần, Trần Quốc Tuấn chủ trương “nớisức dân” để làm kế “bền rễ sâu gốc” Tuy vậy, vị trí của người dân trong đấtnước, quan niệm về nhân dân bị chế ngự bởi tư tưởng thần quyền và khungkhổ trung quân rất lớn Người dân lao động chỉ là đối tượng để cai trị nhằmbảo vệ cho quyền lợi và sự trị vì của vương triều phong kiến, chứ không phải

là lực lượng nền tảng của đất nước Trong quan niệm của Lý Thường Kiệtcũng như Trần Quốc Tuấn về đất nước đều vắng mặt dân Lý Thường Kiệt nóiđến nước chỉ nói đến vua: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, còn Trần Quốc Tuấndăn dạy, thôi thúc tướng sĩ chiến đấu cũng nhằm bảo vệ “thái ấp” của vua chúa

và “bổng lộc” của tướng sĩ Chỉ đến Nguyễn Trãi mới xuất hiện quan điểm vềdân với tư cách là nền tảng xã hội, là đối tượng được quan tâm Theo đó, chiếnđấu bảo vệ đất nước không phải vì vua quan, tướng sĩ mà là việc làm “nhânnghĩa”, cốt để “an dân” Trong nhiều phạm trù quan trọng đều có sự xuất hiện

của dân, gắn liền với dân: chữ trời gắn với chữ dân, chữ quân và chữ dân, chữ nước và chữ dân Đến Nguyễn Trãi, quan niệm về dân đã được mở rộng hơn rất nhiều, phong phú và mới mẻ, là bước tiến mới trong tư tưởng thân dân.

Còn một thực tế nữa khiến nhân sinh quan của Nguyễn Trãi trong quan

niệm về dân có sự tiến bộ, đó chính là thực tiễn nhiều năm chung sống với nhân dân lao khổ Ông từng sống cuộc đời nghèo khó cùng cha ở làng Nhị

Khê sau khi ông ngoại mất Ông cũng đã sống 10 năm gần dân ở thành ĐôngQuan khi bị quân Minh giam lỏng đã gần gũi nhân dân, có thời gian nếm mậtnằm gai cùng nghĩa quân Lam Sơn Chính điều này giúp ông hiểu dân, càngthêm yêu thương họ, có cái nhìn đúng đắn hơn về vị trí của họ trong xã hội.Nhận thức về dân cũng vì thế mà rõ ràng, bao quát và xác đáng hơn

Chữ “dân” của Nguyễn Trãi không chỉ là tầng lớp trên, mà ông còn đặc biệt chú ý đến những tầng lớp nhỏ bé trong xã hội Khi nói đến dân, trước

hết ông hướng về “người dân trong thôn cùng xóm vắng”, “dân manh lệ”,

“xích tử”, “sinh linh”, “bách tính”, “thương sinh” bốn phương…những thành

Ngày đăng: 15/10/2020, 22:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w