Ý nghĩa khoa học của đề tài Bổ sung thêm nguồn tư liệu khoa học giúp cho cơ quan quản lý có kế hoạch bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi cá Mú đen chấm nâu Epinephelus coioides tại vù
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bắt nguồn từ đỉnh núi Ngọc Linh cao 2598 mét, thuộc địa phận Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam[10], sông Thu Bồn sau khi chảy qua các huyện: Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đước, Nông Sơn, Quế Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, Thành phố Hội An thì đổ ra biển Đông tại cửa sông có tên gọi là Cửa Đại (Hội An)[15] Ngoài vùng cửa sông, hạ lưu sông Thu Bồn còn hình thành nên một vùng đất ngập nước rộng lớn xung quanh Thành phố Hội An với diện tích hơn 1200 hecta Nơi đây, đã hình thành nên các hệ sinh thái điển hình của vùng khí hậu nhiệt đới như: rừng ngập mặn và thảm cỏ biển Các
hệ sinh thái này vừa là bãi đẻ, vừa là nơi dinh dưỡng của các loài sinh vật biển, cung cấp nguồn hải sản chính cho vùng cửa sông Thu Bồn và vùng biển Cù Lao Chàm[3]
Tại vùng cửa sông Thu Bồn và vùng biển Cù Lao Chàm, có nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao được đánh bắt thuộc các họ cá Dìa, cá Hồng, cá Ông Căn, cá Mú…[3] Cá Mú
có thành phần giống loài phong phú phân bố ở các biển nhiệt đới và á nhiệt đới Tập trung lớn nhất ở vùng biển Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương[13] Loài cá Mú, cụ thể là loài cá Mú
đen chấm nâu (Epinephelus coioides) thuộc họ Serranidae là một đối tượng có giá trị kinh
tế cao, thường được ngư dân đánh bắt với nhiều phương thức khác nhau[6]
Hiện nay, với chất lượng thịt dai, ngon, trắng và có vị ngọt thanh nên cá Mú đen
chấm nâu (E coioides) tại vùng cửa sông Thu Bồn và vùng biển Cù Lao Chàm rất được
thị trường tiêu dùng trong, ngoài nước ưa chuộng và đem lại giá trị kinh tế tương đối cao cho ngư dân Bên cạnh đó, cá mú con cũng được đánh bắt để cung cấp cho nuôi trồng thủy sản
Từ những luận điểm trên có thể thấy nguồn lợi cá Mú đen chấm nâu (E coioides)
ở các hệ sinh thái vùng cửa sông Thu Bồn và vùng biển Cù Lao Chàm thuộc tỉnh Quảng Nam rất phong phú, nếu biết tận dụng và khai thác hợp lý sẽ mang lại lợi ích lâu dài Tuy
nhiên thực trạng hiện nay cho thấy nguồn lợi cá Mú đen chấm nâu (E coioides) tại các
khu vực trên đang bị suy giảm nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân như du lịch, ô nhiễm môi trường và nghiêm trọng nhất là cách thức khai thác của người dân không hợp lý làm
suy giảm nghiêm trọng nguồn cá Mú đen chấm nâu (E coioides) giống dẫn đến làm suy giảm nguồn lợi cá Mú đen chấm nâu (E coioides) thương phẩm[4] Chính vì vậy, việc duy trì và bảo vệ nguồn lợi cá Mú đen chấm nâu (E coioides) là một vấn đề cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu nguồn lợi
cá Mú đen chấm nâu (E coioides) vùng cửa sông Thu Bồn và vùng biển Cù Lao Chàm –
Thành phố Hội An – tỉnh Quảng Nam”
Trang 22 Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu về nguồn lợi cá Mú đen chấm nâu Epinephelus coioides nhằm cung
cấp dữ liệu quan trọng làm cơ sở cho cơ quan quản lý có kế hoạch bảo vệ và khai thác bền
vững nguồn lợi cá Mú đen chấm nâu E coioides tại vùng cửa sông Thu Bồn và vùng biển
Cù Lao Chàm
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Bổ sung thêm nguồn tư liệu khoa học giúp cho cơ quan quản lý có kế hoạch bảo vệ
và khai thác bền vững nguồn lợi cá Mú đen chấm nâu Epinephelus coioides tại vùng cửa
sông Thu Bồn và vùng biển Cù Lao Chàm, đồng thời cung cấp tư liệu cho những nghiên cứu tiếp theo
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ 1.1.1 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá ở Việt Nam
Công tác điều tra, nghiên cứu nguồn lợi cá biển ở Việt Nam trải qua ba giai đoạn phát triển (trước năm 1954, từ năm 1954 – 1975, từ năm 1976 đến nay) và đã không ngừng gặt hái được những thành quả đáng kể
Trước năm 1954, các nghiên cứu về nguồn lợi cá biển ở Việt Nam chủ yếu được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu đến từ nước ngoài Có thể kể đến như: công trình nghiên cứu nổi tiếng của tiến sĩ Gilbert Tirant về cá ở khu vực sông Hương vào năm 1883 (Tirant, 1929), hay công trình nghiên cứu của P Chabanaud đã đưa ra danh mục cá Việt Nam gồm 375 loài vào những năm của thế kỷ XX, hoặc công trình nổi bật của J.Durant (1940) đã nghiên cứu và công bố một danh mục cá bao gồm cá nước ngọt và cá nước mặn bao gồm 1.236 loài thuộc 133 họ
Nhìn chung, ở giai đoạn này những công trình nghiên cứu về nguồn lợi cá biển ở Việt Nam còn sơ khai và chưa đầy đủ do bị hạn chế về mặt khoa học, kỹ thuật cũng như phương tiện đi lại Tuy nhiên, nó đã góp phần tạo nên một nền tảng dữ liệu phục vụ cho công tác điều tra, nghiên cứu nguồn lợi cá biển ở Việt Nam trong các giai đoạn sau này
Giai đoạn từ năm 1954 – 1975, số lượng và chất lượng các nghiên cứu về nguồn lợi cá ở Việt Nam đã tăng lên so với giai đoạn trước năm 1954 Đặc biệt, sau năm 1955 khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc chính phủ Việt Nam đã chú trọng tới việc hợp tác với các nước phát triển trong lĩnh vực nghiên cứu nguồn lợi cá
Cụ thể, từ năm 1959 – 1961, chính phủ Việt Nam đã hợp tác với Trung Quốc nghiên cứu hải dương học và nguồn lợi cá ở vịnh Bắc Bộ Cũng trong giai đoạn này, chính phủ Việt Nam cũng hợp tác với Liên Xô nhằm nghiên cứu nguồn lợi cá ở vịnh Bắc
Bộ và các vùng biển lân cận gồm khu vực Hoàng Sa, Trường Sa và xuống phía nam qua đường xích đạo Thông qua đợt hợp tác đó, năm 1961, Bexedov đã công bố danh mục cá biển Vịnh Bắc Bộ gồm 748 loài thuộc 150 họ
Bên cạnh những công trình nghiên cứu hợp tác của chính phủ Việt Nam vẫn có những nghiên cứu được tiến hành độc lập bởi các nhà nghiên cứu đến từ nước ngoài như: năm 1963 P.Foumamoir thuộc văn phòng nghiên cứu hải ngoại của Pháp (ORSTOM) đã đến viện Hải Dương học Nha Trang để nghiên cứu về cá và đã công bố một danh mục gồm 306 loài cá mới đối với Việt Nam, trong số đó thì có 10 loài cá mới đối với khoa học Năm 1974 trên cơ sở tài liệu khác, James J.Orsi đã công bố bảng danh mục cá biển và cá nước ngọt ở Việt Nam gồm 1.448 loài
Trang 4Giai đoạn 1975 cho đến nay, sau khi nước nhà được thống nhất (1975), đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển khoa học kỹ thuật, phương tiện đi lại, giúp cho việc nghiên cứu nguồn lợi cá ở Việt Nam đạt được những kết quả to lớn hơn Đặc biệt, thời kỳ này đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về nguồn lợi cá ở Việt Nam do các nhà nghiên cứu trong nước công bố Những nghiên cứu đó thực sự có đóng góp to lớn đối với công tác điều tra và nghiên cứu nguồn lợi cá ở nước ta Một trong những công trình có giá trị được đánh giá cao trong những năm đầu của giai đoạn này là đề tài “Đa dạng sinh học” do Nguyễn Hữu Phụng chủ trì và các cộng tác viên thực hiện đã giúp khẳng định giá trị khoa học từ việc công bố các loài cá và đã xác định được khu hệ cá biển Việt Nam chỉ có khoảng 1.600 loài thông qua cuốn sách “Cá biển Việt Nam” tập I, II, III, IV và V Ngoài
ra, còn phải kể đến “Động vật chí Việt Nam” của Nguyễn Nhật Thi (2000) đã mô tả 92 loài cá bống Năm 2005, Nguyễn Nhật Thi và Nguyễn Văn Quân đã công bố danh mục thành phần loài cá rạn san hô biển Việt Nam với 1.191 loài
Riêng ở khu vực miền Trung, trong giai đoạn từ năm 1975 đến nay, vấn đề nghiên cứu khu hệ cá và nguồn lợi thủy sinh vật đã được các tác giả quan tâm thực hiện và chủ yếu các công trình nghiên cứu tập trung ở các đầm phá ven biển Từ năm 1976 – 1977 thì tại phá Tam Giang có công trình nghiên cứu nổi bật như Vũ Trung Tạng, Đặng Thị Sy về
“Nguồn lợi thủy sản các đầm phá phía nam Sông Hương và những vấn đề khai thác hợp
lý nguồn lợi đó” Hoàng Đức Đạt, Võ Văn Phú, Lê Văn Miên (1977) tiếp tục công bố kết
quả nghiên cứu về khu hệ cá ở phá Tam Giang Và công trình của Võ Văn Phú (1995) đã
bổ sung thêm vào kết quả nghiên cứu khu hệ cá ở phá Tam Giang gồm 163 loài, sau đó đến năm 2005 ông lại tiếp tục bổ sung thêm 8 loài cho khu hệ cá ở đây Ở các vùng khác như ở đầm Thị Nại (Bình Định), Nha Phú (Khánh Hòa) việc nghiên cứu nguồn lợi thủy sinh vật được Nguyễn Đình Mão tiến hành vào năm 1978, 1979, 1980 Và nổi bật trong
số đó là năm 1998, trong luận án của mình Nguyễn Đình Mão đã công bố danh mục các loài cá trong ba đầm Thị Nại, Ô Loan và Nha Phu gồm 184 loài thuộc 115 giống, 76 họ Ở khu vực đầm Lăng Cô, Võ Văn Phú, Trần Hồng Đinh (2000) đã công bố khu hệ cá ở đây gồm 151 loài thuộc 88 giống, 50 họ và 12 bộ Đến năm 2007 thì Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Phi Loan, Hồ Thị Hồng đã công bố danh mục thành phần loài cá ở đầm Ô Loan thuộc tỉnh Phú Yên với 108 loài thuộc 67 giống, 46 họ và 13 bộ Năm 2009, trong cuốn “Đa dạng sinh học ở phá Tam Giang – Cầu Hai” của Tôn Thất Pháp (chủ biên), Nguyễn Văn Hoàng
đã công bố nhóm cá gồm 168 loài thuộc ngành dây sống (Chordata)
Nhìn chung, trong nước ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn lợi cá được các nhà khoa học tiến hành và công bố Một trong số đó đã góp phần tạo nên một dữ liệu hữu ích để phục vụ các lĩnh vực khoa học khác, đặc biệt là lĩnh vực quản lý và khai thác thủy sản bền vững
Trang 51.1.2 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá mú ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu về nguồn lợi cá Mú hầu như chưa có, những thông tin cơ bản về loài này chưa được tập hợp thành các báo cáo chuyên đề mà mới chỉ dừng lại ở việc thống kê danh sách loài nằm trong các báo cáo tổng hợp của các đề tài, dự án
Theo số liệu điều tra 1992 – 1993, trong toàn vùng biển Việt Nam hằng năm khai thác được khoảng 30 – 40 vạn cá mú giống và 150 – 200 tấn cá mú thương phẩm
Theo Đào Mạnh Sơn (1994) đã nghiên cứ đối với họ cá Mú là một trong những họ
cá san hô điển hình, phân bố trong vùng biển nhiệt đới và ôn đới Trong vùng biển Việt Nam, cá mú phân bố chủ yếu trong các rạn đá và rạn san hô quanh các đảo, nhưng một số loài cũng thường phân bố rộng trong các vùng biển xa đảo, thậm chí vào cả vùng cửa sông Do đó trong thành phần cá đáy đánh bắt bằng lưới giã, sản lượng cá Mú ở vịnh Bắc
Bộ chiếm 1,6% tổng sản lượng trên tàu điều tra (Hợp tác Việt – Trung 1959 – 1965) hay 1,2 – 1,89% tổng sản lượng trong toàn vùng biển Việt Nam
Theo Lê Trọng Phấn (1997), Việt Nam có 11 giống và 48 loài Trong khi đó, Đào Mạnh Sơn & Đỗ Văn Nguyên (1998) cho rằng họ cá Mú Việt Nam có 13 giống và trên 40
loài Tuy nhiên, cá có giá trị kinh tế chỉ có 23 loài thuộc 6 giống Anyperodon,
Cromilepter, Plestropomus, Variola, Epinephelus.
Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã có những nghiên cứu và tổng kết đưa ra một hệ thống phân loại họ cá Mú riêng trong vùng biển nước ta Trong cuốn “Các loài cá kinh tế
ở biển Việt Nam”, có 23 hình ảnh và thông tin về đặc điểm hình thái cơ bản của 23 loài thuộc 6 giống Hay một số công trình có đề cập đến đặc điểm sinh học như “Sơ bộ nghiên
cứu họ cá Mú (Serranidae) ở vùng biển Việt Nam” của Lê Trọng Phấn.
Riêng vùng cửa sông Thu Bồn và vùng biển Cù Lao Chàm thuộc quản lý của tỉnh Quảng Nam – Việt Nam chưa có nghiên cứu về nguồn lợi cá Mú, đặc biệt là cá Mú đen
chấm nâu Epinephelus coioides, những thông tin cơ bản về loài này chưa được tập hợp
thành các báo cáo chuyên đề mà mới chỉ dừng lại ở việc thống kê danh sách loài nằm trong các báo cáo tổng hợp của các đề tài, dự án Vì vậy, nước ta cần có sự quan tâm và đầu nghiên cứu cho đối tượng còn khá mới này Sau đây là một số nghiên cứu có liên quan đến cá Mú tại vùng cửa sông Thu Bồn và vùng biển Cù Lao Chàm:
Theo nghiên cứu của Võ Sĩ Tuấn (2004 – 2008), Tập hợp các kết quả nghiên cứu
đã xác định được 270 loài thuộc 105 giống và 40 họ cá trên các rạn san hô trong vùng nước của Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm Các họ cá có số lượng loài cao là họ cá Thia
Pomacentridae và họ cá Bàng chài Labridae (46 loài) Tiếp theo là họ cá Bướm
Trang 6Chaetodontidae (25 loài), họ cá Mó Scaridae (15 loài), họ cá Đuối gai Acanthuridae (13
loài), họ cá Mú Serranidae (11 loài) và họ cá Dìa Siganidae (10 loài).
Nguyễn Đăng Ngải (2009) cho thấy sự suy giảm về diện tích và độ phủ của rạn san
hô đồng nghĩa với việc nguồn lợi sinh vật biển cũng giảm theo, do mất nơi cư trú của các sinh vật biển Các kết quả nghiên cứu tại Bãi Bắc và Bãi Hương từ trước và sau khi bị suy thoái của san hô cho thấy sự suy giảm về số lượng loài cá rạn từ 28,57 – 34,21% và Bãi Hương từ 18,51 – 22,35% Đặc biệt là nhóm cá giữ như cá Hồng, cá Kẽm, cá Mú có mật
độ thấp hoặc hầu như không bắt gặp
1.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.2.1 Cửa sông Thu Bồn
1.2.1.1 Vị trí địa lý
1.2.1.2 Địa hình
1.2.1.3 Đặc điểm khí hậu
1.2.1.4 Điều kiện thủy văn
1.2.1.5 Các sinh cảnh đặc trưng
a, Thảm cỏ biển
Thảm cỏ biển là một trong những hệ sinh thái rất đặc trưng và quan trọng của vùng cửa sông Thu Bồn Các thảm cỏ biển không chỉ là những tấm đệm giúp ổn định nền đáy
Trang 7của cửa sông mà còn là các bãi ươm giống lý tưởng của các loài động vật biển, cụ thể là
đối với cá Mú đen chấm nâu Epinephelus coioides
Theo Cao Văn Lương, trong báo cáo “Hiện trạng thảm cỏ biển Cửa Đại (Hội An,
Quảng Nam)” (2011) đã chỉ ra: ở vùng cửa sông Thu Bồn có 3 loài cỏ biển sinh trưởng và
phát triển đó là cỏ lươn Nhật Zostera japonica, cỏ Nàn Halophila beccarii và cỏ Hẹ ba răng Halodule uninervis Trong đó, loài Z japonica chiếm ưu thế, loài H beccarii phân
bố ở mép nước gần bờ, loài H uninervis phát hiện ở trong bãi dừa nước So với năm
2006, trong báo cáo tổng kết đề tài “Đánh giá nguồn lợi thảm cỏ biển vùng ven biển
Trung Bộ, Tây Nam Bộ và đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi” chỉ nhắc tới
2 loài là Z japonica và H uninervis ở cửa sông Thu Bồn.
Điều đặc biệt, cỏ Nàn Halophila beccarii là loài nằm trong “Danh lục đỏ - Red
list” của IUCN – 2010, là loài có nguy cơ suy thoái và tuyệt chủng trên thế giới lại xuất
hiện rất nhiều tại cửa sông Thu Bồn
Cũng trong báo cáo “Hiện trạng thảm cỏ biển Cửa Đại (Hội An, Quảng Nam)”
(2011) của Cao Văn Lương, diện tích phân bố thảm cỏ biển đang có sự biến động lớn theo chiều hướng suy giảm Ở một số khu vực như Cạn Lại (xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên) năm 2006, diện tích 120 ha, đến 2010 chỉ còn 4,4 ha, giảm 96%; ở Cẩm Thanh (Hội An) năm 2006, diện tích 160 ha, đến 2010 chỉ chỉ còn 30 ha, giảm 81% Theo dự báo, diện tích thảm cỏ biển sẽ còn suy giảm nguyên trọng trong những năm tới đây do sự phát triển của các hoạt động du lịch dịch vụ ven bờ ở Hội An, khai thác titan, vàng ở thượng nguồn,
sự cố tràn dầu, bão lũ, Điều này cũng sẽ kéo theo sự suy giảm diện tích cư trú, nguồn
thức ăn của các loài động vật biển, trong đó có loài cá Mú đen chấm nâu Epinephelus
coioides
1.2.2 Vùng biển Cù Lao Chàm
1.2.2.1 Vị trí địa lý
Trang 8Cù Lao Chàm nằm ở tọa độ: 15o15’20’’ đến 15o55’15’’ vĩ độ Bắc và 108o22’ đến
108o44’ kinh độ Đông, thuộc phạm vi hành chính xã Tân Hiệp – thành phố Hội An - tỉnh Quảng Nam Đây là một quần đảo có hình cánh cung nghiêng theo hướng Tây Bắc-Đông Nam gồm 8 đảo lớn nhỏ theo thứ tự từ Bắc vào Nam: Hòn Ông (còn gọi là hòn Nồm), hòn Tai, hòn Lao, hòn Dài, hòn Mồ, hòn Lá, hòn Khô mẹ và hòn Khô con (trong đó Hòn Lao là hòn đảo lớn nhất và duy nhất có con người sinh sống) với tổng diện tích là 15
km2[8] Các hòn đảo này quần tụ thành hình cánh cung hướng mặt ra Biển Đông, được hình tượng hoá như người hoa tiêu khổng lồ, như bức bình phong che chắn cho đất liền
Cù Lao Chàm là khu vực tiêu biểu của dải đất miền Trung có vị trí quan trọng về mặt quốc phòng cũng như nơi lánh nạn của các tàu thuyền khi gặp gió bão[8]
1.2.2.2 Địa hình
Quần đảo Cù Lao Chàm có địa hình chủ yếu là đồi núi thấp (độ cao lớn nhất so với mặt biển dao động từ 70 – 517m), có dạng hình chóp cụt[9] “Đảo lớn nhất là Hòn Lao có một dãy núi xếp theo hình cánh cung từ Tây Bắc xuống Đông Nam, chia Hòn Lao thành hai sườn có địa thế khác nhau: sườn Đông có độ dốc lớn, đá tảng bao quanh chân núi rất hiểm trở; sườn Tây dốc thoải, ít đá tảng, nhiều bãi bồi ven biển”[9]
1.2.2.3 Đặc điểm khí hậu
- Nhiệt độ
Nhiệt độ thấp nhất: 18,2oC, nhiệt độ cao nhất: 40,7oC, nhiệt độ trung bình: 25,6oC
- Lượng mưa
Lượng mưa trung bình năm: 2045 mm
Số ngày mưa trung bình năm: 145 ngày
Trang 9Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11 chiếm 80% tổng lượng mưa của năm.
Từ tháng 2 đến tháng 7 thường có mưa giông
Mùa mưa bão hàng năm vào khoảng tháng 9, 10 và 11
1.2.2.4 Điều kiện thủy văn
Chế độ gió phân thành 2 mùa rõ rệt: gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau với tốc độ 15-25m/s; gió mùa hè theo hướng đông và đông nam với những trận bão và áp thấp nhiệt đới nên tốc độ gió rất cao (40m/s) Tốc độ gió trên biển luôn luôn lớn hơn trên đất liền và hầu như không có thời kỳ lặng gió
Phụ thuộc vào chế độ gió, chế độ sóng ở vùng cửa biển Hội An – Cù Lao Chàm cũng bao gồm 2 hệ thống: sóng mùa đông có hướng đông bắc và đông, cao từ 1,5 - 3m (ngoài khơi) và khoảng 1,5m (ven bờ); song mùa hè nhỏ, có hướng tây nam (ngoài khơi)
và hướng đông, nam (ven bờ)
Chế độ dòng chảy cũng chuyển đổi theo 2 mùa: dòng chảy mùa đông (tháng 2) có hướng đông bắc – tây nam; dòng chảy mùa hè theo hướng tây nam – đông bắc
1.2.2.5 Các sinh cảnh đặc trưng
1.3 SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA CÁ MÚ ĐEN
CHẤM NÂU
1.3.2 Đặc điểm hình thái
Cá Mú đen chấm nâu (Epinephelus coioides) hay còn gọi là cá Mú chấm gai, cá Mú
đốm cam có kích thước chiều dài cơ thể từ 25 – 30 cm Kích thước chiều dài lớn nhất của loài cá này được ghi nhận lên tới 120 cm Khối lượng lớn nhất của cá Mú đen chấm nâu đạt 15.0 kg[2]
Cá có thân dẹt, thon dài, cân đối giống hình chiếc lược Miệng rộng, chếch, hàm dưới hơi nhô dài ra phía trước, ở hàm có nhiều răng nhỏ, sắc nhọn Đặc biệt, phần đầu, thân, đuôi và vây có nhiều chấm nhỏ màu cam nâu hoặc màu nâu đỏ Trên đầu, thân và đuôi cá có nhiều đốm loang đen Hai bên thân và đuôi, mỗi bên các đốm loang đen này xếp thành 5 vệt đen, nằm chéo Mỗi vệt có hình dạng giống chữ H[2]
Trang 10Nguồn [fishbase, 2011]
Hình 1.3.1.1 Cá Mú đen chấm nâu (Epinephelus coioides)
Cơ thể được bao bọc bởi vảy cycloid – vảy (tròn) cân[2]
Nguồn [diendancacanh.com] Hình 1.3.1.2 Vảy cycloid
Cá Mú đen chấm nâu (Epinephelus coioides) có vây đuôi tròn[2] Trên các vây
lưng, vây mang, vây bụng, vây hậu môn, vây đuôi đều có các tia vây Số lượng các tia vây trên mỗi vây cụ thể như sau:
Bảng 1.3.1.1 Số lượng tia vây trong các loại vây của cá Mú đen chấm nâu
(Epinephelus coioides)
Loại vây Số lượng tia vây