Lí do chọn đề tài Trong thời kì nền kinh tế phát triển mạnh mẽ dưới sức ép của toàn cầu hóa, sự phát triển vũ bảo của công nghệ và sự mở cửa của các thị trường mới, marketing ngày càng
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA MARKETING
NGUYỄN LÊ MY MSSV: 1521001100 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2i
BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA MARKETING
NGUYỄN LÊ MY MSSV: 1521001100 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
TP.HCM, ngày 08 tháng 12 năm 2018
Giảng viên hướng dẫn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của quý thầy cô khoa Marketing trường Đại học Tài chính Marketing, sau gần ba tháng thực tập em đã hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp “Xây dựng kế hoạch truyền thông marketing cho thiết bị quan trắc môi trường Công ty
Cổ phần KHKT Phượng Hải năm 2019”
Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản thân còn có sự hướng dẫn tận tình của thầy cô, cô chú, anh chị tại doanh nghiệp
Em chân thành cảm ơn thầy giáo – T.S Nguyễn Xuân Trường, người đã hướng dẫn cho em trong suốt thời gian thực tập Mặc dù thầy bận nhưng không ngần ngại chỉ dẫn em, định hướng để em hoàn thành tốt nhiệm vụ Một lần nữa em chân thành cảm ơn thầy và chúc thầy dồi dào sức khoẻ
Xin cảm ơn bạn bè, công ty đã giúp đỡ, dìu dắt em trong suốt thời gian qua Tất cả các mọi người đều nhiệt tình giúp đỡ, đặc biệt ở Công ty Cổ phần KHKT Phượng Hải, mặc dù số lượng công việc của công ty ngày một tăng lên nhưng công ty vẫn dành thời gian để hướng dẫn rất nhiệt tình
Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên nội dung của báo cáo không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên tại các doanh nghiệp để báo cáo này được hoàn thiện hơn
Một lần nữa xin gửi đến thầy cô, bạn bè cùng các cô chú, anh chị tại các doanh nghiệp lời cảm ơn chân thành và tốt đẹp nhất!
HCM, tháng 12 năm 2018
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan :Khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Xây dựng kế hoạch truyền thông marketing cho thiết bị quan trắc môi trường Công ty Cổ phần KHKT Phượng Hải năm 2019” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình !
HCM, ngày 08/12/2018 Người cam đoan
Nguyễn Lê My
Trang 6MỤC LỤC CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING VÀ CHIẾN
LƯỢC TRUYỀN THÔNG 1
1.1 Tổng quan về hoạt động marketing 1
1.1.1 Khái niệm Marketing 1
1.1.2 Khái niệm về chiến lược marketing 1
1.1.3 Vai trò của marketing 2
1.1.4 Chức năng của marketing 2
1.2 Tổng quan về truyền thông 3
1.2.1 Khái niệm truyền thông 3
1.2.2 Vai trò của truyền thông 3
1.3 Chiến lược truyền thông – Phối thức truyền thông 5
1.3.1 Khái niệm chiến lược truyền thông 5
1.3.2 Mô hình truyền thông 6
1.3.3 Các hình thức truyền thông 10
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC TRUYỀN THÔNG MARKETING TẠI CÔNG TY 18
2.1 Tổng quan về ngành công nghệ môi trường tại Việt Nam 18
2.1.1 Tổng quan thị trường 18
2.1.3 Cạnh tranh 22
2.1.4 Khách hàng 23
2.2 Giới thiệu về công ty Cổ phần Khoa học Kỹ thuật Phượng Hải 24
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty 24
Trang 72.2.2 Tầm nhìn và sứ mệnh 25
2.2.3 Cơ cấu tổ chức hành chính nhân sự 25
2.2.4 Các đặc điểm chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của công ty 25
2.3 Phân tích môi trường marketing của doanh nghiệp 27
2.3.1 Môi trường vĩ mô 27
2.3.2 Môi trường vi mô 33
2.4 Hoạt động Marketing của Công ty Cổ phần KHKT Phượng Hải 35
2.4.1 Sản phẩm 35
2.4.2 Giá 37
2.4.3 Truyền thông: 40
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG MARKETING CÔNG TY CỔ PHẦN KHKT PHƯỢNG HẢI 48
3.1 Tóm tắt điều hành 48
3.2 Giới thiệu 48
3.3 Bối cảnh thị trường 49
3.3.1 Xu hướng phát triển và dự báo thị trường 49
3.3.2 Khách hàng 53
3.3.3 Đối tác 53
3.3.4 Đối thủ cạnh tranh 53
3.3.5 Doanh nghiệp 53
3.3.6 Phân tích SWOT 54
3.4 Mục tiêu hành động trong năm 2019 55
3.5 Insight và Research 56
Trang 83.6 Công chúng mục tiêu 56
3.7 Thiết kế thông điệp 56
3.8 Kế hoạch truyền thông cho từng giai đoạn 57
3.8.1 Giai đoạn nhận biết 57
3.8.2 Giai đoạn chấp nhận, thử 58
3.8.3 Giai đoạn mua 61
3.8.4 Giai đoạn mua lại 65
3.9 Ngân sách 66
3.10 Đánh giá 66
3.11 Kiểm soát 68
3.12 Đánh giá 76
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1: Các yếu tố phối thức chiêu thị 4 Hình 1 3: Các giai đoạn sẵn sàng của người mua 8 Hình 2.1: Biểu đồ AAU của 4 thương hiệu cung cấp thiết bị quan trắc trên thị trường 42 Hình 2.2: Thị phần theo doanh thu của các doanh nghiệp 45 Hình 2.4: Sơ đồ định vị các thương hiệu trên thị trường 46
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải giai đoạn 2015 - 2018 20 Bảng 2.3: Các chỉ số đo lường của 4 thương hiệu 42
Bảng 2.4: Doanh thu và doanh số 4 thương hiệu trong lĩnh vực quan trắc nước thải tính đén 2018 44 Bảng 3.1: Dự báo nhu cầu phát triển của ngành CNMT 50
Bảng 3.2: Tỷ lệ gia tăng ngành nước thải giai đoạn 2015 - 2018 và dự báo 2019 52
Bảng 3.3: Chi phí chuẩn bị cho triển lãm 61
Bảng 3.4: Chi phí cho hoạt động tổ chức hội nghị chuyên đề và chạy quảng cáo Google Ads 64
Bảng 3.5: Ngân sách kế hoạch truyềnth ôgn năm 2019 66
Bảng 3.6: Checklist 72
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 11i
a Lí do chọn đề tài
Trong thời kì nền kinh tế phát triển mạnh mẽ dưới sức ép của toàn cầu hóa, sự phát triển vũ bảo của công nghệ và sự mở cửa của các thị trường mới, marketing ngày càng trở thành một hệ thống chức năng có vị trí quan trọng đối với doanh nghiệp trên nhiều góc độ Đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam thành công đến ngày nay
đã phát triển và trưởng thành từ một bối cảnh thị trường rất đặc thù của tình hình kinh tế và chính trị Việt Nam Thị trường Việt Nam những năm đầu mở cửa mở ra những cơ hội cho những người tiên phong khai phá do sự mất cân đối cung cầu nghiêm trọng doanh nghiệp sản xuất ra bao nhiêu thì có người bao tiêu bấy nhiêu
Về nhu cầu tiêu dùng, do từ chỗ không có giải pháp đáp ứng nhu cầu, đến khi có người đáp ứng nhu cầu, người tiêu dùng dễ dàng chấp nhận sản phẩm, dịch vụ Trong điều kiện phát triển như ngày nay, những thuận lợi của giai đoạn đầu phát triển dần dần mất đi mà thay vào đó là sự cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Các doanh nhiệp phải thuyết phục, phải chứng minh cho người tiêu dùng thấy tính ưu việt của sản phẩm mình so với sản phẩm khác Không chỉ thế, doanh nghiệp còn phải xây dựng mối quan hệ với khách hàng nhằm đảm bảo sự ổn định của thị trường Và để làm được điều đó, doanh nghiệp cần xây dựng hình ảnh thân thiện với khách hàng Những yếu tố đã giúp các doanh nghiệp Việt Nam thành công trong quá khứ không còn phù hợp để giúp họ tiếp tục phát triển thành công trong điều kiện thị trường mới, một thị trường cạnh tranh khốc liệt, một thị trường mà các đối thủ là những tập đoàn đa quốc gia đã có kinh nghiệm hàng chục năm, nguồn vồn dồi dào và nguồn nhân lực được trang bị đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm dày dặn Vì vậy, để có thể đứng trong thị trường mới một cách hiệu quả, các doanh nghiệp cần phải có đầy đủ kiến thức và nắm trong tay các kỹ năng phù hợp với yêu cầu thị trường, đặc biệt là năng lực marketing - năng lực quan trọng nhất tạo nên lợi thế cạnh tranh ngày nay
b Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu này chủ yếu làm rõ các vấn đề sau:
Trang 12ii
- Tìm hiểu đặc điểm thị trường công nghệ quan trắc Việt Nam
- Nghiên cứu kế hoạch chiêu thị đối với thương hiệu SmartpH từ 2015 – 2018 cũng như mối quan hệ giữa chiêu thị với sản phẩm, giá, phân phối
- Đưa ra đề xuất nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kế hoạch chiêu thị đối với thương hiệu SmartpH
c Phương pháp ngiên cứu
Phương pháp quan sát: quan sát các mẫu quảng cáo thực tế trên các phương tiện truyền thông như internet, báo chí…kết hợp với quan sát thị hiếu, thái độ của khách hàng đối với thương hiệu SmartpH
Phương pháp nghiên cứu tại bàn: truy cập vào các trang web của doanh nghiệp, các bài báo online, các bài viết nhận định, báo cáo hoạt động của doanh nghiệp… để thu thập thông tin, số liệu Thu thập thông tin từ các bài báo quảng cáo, bài báo về doanh nghiệp, các bản tin về doanh nghiệp
Phương pháp nghiên cứu tổng hợp
d Kết cấu đề tài
Nội dung bài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về chiến lược Marketing và chiến lược truyền thông
Marketing
Chương 2: Phân tích, đánh giá hoạt động truyền thông Marketing công ty Cổ phần
Khoa học Kỹ thuật Phượng Hải giai đoạn 2015 - 2018
Chương 3: Xây dựng kế hoạch truyền thông Marketing cho Công ty Cổ phần
KHKT Phượng Hải năm 2019
Bài báo cáo này được hoàn thành với sự tận tình hướng dẫn, giúp đỡ của thầy Nguyễn Xuân Trường
Trang 13NỘI DUNG
Trang 141
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING
VÀ CHIẾN LƯỢC TRUYỀN THÔNG 1.1 Tổng quan về hoạt động marketing
1.1.1 Khái niệm Marketing
Theo Ngô Thị Thu (2011) trích dẫn khái niệm của Hiệp hội Marketing Mỹ - AMA:
“Marketing là quá trình hoạch định định và thực hiện các ý tưởng, định giá, phân phối, chiêu thị cho các SP và dịch vụ tạo ra sựu trao đổi nhằm thỏa mãn mục tiêu của các cá nhân và tổ chức”
Markeitng tập trung vào sự trao đổi: Định nghĩa của AMA nhấn mạnh đến trao đổi, khi trao đổi xảy ra, phải có ít nhất hai bên tham gia trao đổi vật có giá trị để lấy vật khác và phải thông tin cho nhau Như vậy, quảng cáo và chiêu thị đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi nhằm thông tin cho hai bên tham gia
Marketing đáp ứng mong muốn của cả người bán và người mua
Hoạt động marketing phải hướng vào KH, thỏa mãn nhu cầu, tạo ra và duy trì mối quan hệ với KH
Một lý do khác khiến cho marketing phải nhấn mạnh đến mối quan hệ: là tính hiệu quả nếu giữ được KH đã có hơn là tìm kiếm KH mới Các nhà marketing còn quan tâm đến giá trị suốt đời của một KH Kết quả của một cuộc nghiên cứu đã chứng tỏ rằng: nếu giảm bớt 5% số khách hàng rời bỏ SP của công ty có thể làm tăng thêm lợi nhuận từ 30 – 90% Do đó các công ty phải quan tâm đến sự phát triển mối quan hệ với các KH của mình
1.1.2 Khái niệm về chiến lược marketing
Chiến lược marketing là bước căn bản nhằm đạt được mục tiêu là tăng doanh số bán hàng và có một lợi thế cạnh tranh bền vững Chiến lược marketing bao gồm tất cả các hoạt động cơ bản, ngắn hạn và dài hạn trong lĩnh vực marketing nhằm giải quyết các phân tích về một tình huống chiến lược mở đầu của công ty; lập công
Trang 152
thức tính toán, đánh giá và lựa chọn các chiến lược tiếp thị phù hợp đến thị trường, tất cả đều nhằm một mục đích chung là tạo ra lợi nhuận cho công ty
1.1.3 Vai trò của marketing
Theo quá trình phát triển kinh tế xã hội, các doanh nghiệp ngày càng nhận thức cao
về vai trò của marketing trong kinh doanh Vai trò của marketing có thể khái quát như sau:
Thứ nhất, marketing hướng dẫn các DN nghệ thuật phát hiện nhu cầu khách hàng cũng như nghệ thuật làm hài lòng khách hàng, marketing định hướng cho hoạt động kinh doanh và tạo thế chủ động cho doanh nghiệp
Thứ hai, marketing là cầu nối giúp DN và khách hàng có thể hiểu nhau hơn, dung hòa được lợi ích giữa DN với NTD và xã hội
Thứ ba, marketing là một công cụ cạnh tranh giúp doanh nghiệp tạo được chỗ đứng cho mình trên thị trường
Thứ 4, marketing là kim chỉ nam cho tất cả các hoạt động cũng như các phòng ban trong doanh nghiệp Các quyết định trong doanh nghiệp đề phần lớn phụ thuộc vào marketing như: Sản xuất cái gì? Bán cho thị trường nào? Sản xuất như thế nào? Số lượng bao nhiêu?
1.1.4 Chức năng của marketing
Nếu nói hoạt động sản xuất là tạo ra sản phẩm thì hoạt động marketing tạo ra khách hàng và thị trường Vai trò này xuất phát từ những chức năng đặc thù của marketing Những chức năng đó là:
- Nghiên cứu thị trường và phát hiện nhu cầu
- Thích ứng/ đáp ứng nhu cầu thường xuyên thay đổi
- Thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao
- Hiệu quả kinh tế
- Phối hợp
Trang 163
1.2 Tổng quan về truyền thông
1.2.1 Khái niệm truyền thông
Truyền thông, về bản chất là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra
Truyền thông đòi hỏi phải có người gửi, thông điệp, phương tiện truyển tải và người nhận, mặc dù người nhận không cần phải có mặt hoặc nhận thức về ý định của người gửi để giao tiếp tại thời điểm việc truyền thông này diễn ra; do đó thông tin liên lạc có thể xảy ra trên những khoảng cách lớn trong thời gian và không gian Truyền thông yêu cầu các bên giao tiếp chia sẻ một khu vực dành riêng cho thông tin được truyền tải Quá trình giao tiếp được coi là hoàn thành khi đã đạt được
sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông và người nhận hiểu thông điệp của người gửi
1.2.2 Vai trò của truyền thông
Truyền thông marketing được định nghĩa như là: sự phối hợp các nỗ lực nhằm thiết lập kênh truyền thông và thuyết phục KH để bán SP dịch vụ hay cổ động cho các ý tưởng
Các công cụ cơ bản được sử dụng để đạt được các mục tiêu truyền thông của tổ chức được gọi là phối thức chiêu thị/truyền thông (promotional-mix), đó là quảng cáo, khuyến mại, marketing trực tiếp, PR và chào hàng cá nhân
Trang 174
Hình 1 1: Các yếu tố phối thức chiêu thị
Một chương trình truyền thông tổng hợp I.M.C thành công đòi hỏi doanh nghiệp biết các kết hợp đúng đán các kỹ thuật và công cụ truyền thông, xác định rõ vai trò
và sự mở rộng các yếu tố này trong việc phối hợp; sử dụng chúng Để đạt được điều này, người chịu trách nhiệm về hoạt động truyền thông của các công ty phải hiểu rõ vai trò của truyền thông marketing trong một kế hoạt chung marketing
Vai trò của truyền thông marketing thể hiện như sau:
Là công cụ thực hiện chức năng truyền thông, đáp ứng nhu cầu KH
Phối hợp với các công cụ khác trong marketing – mix để đạt mục tiêu marketing
Là công cụ canh tranh trong kinh doanh: gia tăng giá trị SP, thông tin, xây dựng nhận thức về SP, nâng cao uy tín nhãn hiệu, duy trì niềm tin, thái dộ tốt đẹp ở công chúng về công ty,
Chiêu thị có thể:
Thông tin về lợi thế SP
Thiết lập sự nhận thức và thái độ thuận lợi đối với SP, công ty
Tạo sự yêu thích nhãn hiệu
Tăng số lượng bán hiện tại
Củng cố hoạt động phân phối tại các điểm bán lẻ
Đạt sự hợp tác từ các trung gian và lực lượng bán hàng
Động viên lực lượng bán hàng
Trang 185
Xây dựng hình ảnh tốt về công ty
Chiêu thị không thể:
Thuyết phục NTD mua SP không phù hợp với nhu cầu
Làm cho KH mua SP với mức giá cao hơn
Thuyết phục KH tìm mua SP trong khi nó phân phối hạn chế
Chức năng của truyền thông:
Truyền thông: thông tin, thuyết phục, nhắc nhở
Kích thích tiêu thụ, gia tăng giá trị
Thiết lập quan hệ, liên kết
1.3 Chiến lƣợc truyền thông – Phối thức truyền thông
1.3.1 Khái niệm chiến lƣợc truyền thông
Theo Philip Kotler (2005), “truyền thông marketing (marketing communication) là các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về SP và bản thân
DN tới KH nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào DN cũng như SP, và mua SP của DN” Ở một phương diện khác, chiến lược truyền thông marketing còn là một quá trình phát triển và duy trì một phối thức truyền thông sử dụng các nguồn lực của công ty ở mức tối đa để thu hút các thị trường tiềm năng đóng góp cho các mục đích tiếp thị ngắn hạn hay dài hạn của công ty và mục đích của tổ chức
Ngô Thị thu (2011) trích dẫn khái niệm của Hiệp hội các đại lý quảng cáo Mỹ 4As
về định nghĩa về truyền thông marketing tổng hợp (I.M.C) như sau:
“I.M.C là khái niệm về sự hoạt định truyền thông marketing nhằm xác định giá trị gia tăng của một kế hoạch tổng hợp, đánh giá vai trò chiến lược của các thành phần khác nhau trong truyền thông như: quảng cáo, khuyến mại, tuyên truyền và sự kết hợp các thành phần này để tạo ra một sự truyền thông rõ ràng, đều đặn hiệu quả tối đa.”
Quan điểm của 4As tập trung vào quá trình sử dụng các hình thức chiêu thị để đạt tác động truyền thông tối đa
Trang 196
1.3.2 Mô hình truyền thông
1.3.2.1 Mô hình truyền thông
Hoạt động chiêu thị thực hiện chức năng truyền thông, do đó để thực hiện hoạt động truyền thông hiệu quả cầ hiểu rõ quá trình truyền thông và các yếu tố cơ bản trong quá trình đó
Hình 1 2: Mô hình truyền thông
Mô hình này bao gồm 9 yếu tố của quá trình truyền thông:
Người gửi/ Nguồn phát (Sender): là ca nhân hay tổ chức có thông tin muốn chia sẻ,
phân phát thông tin của mình tới một các nhân hay nhiều người khác Nguồn phát
có thể là một cá nhân (nhân viên chào hàng, phát ngôn viên, người nổi tiếng xuất hiện trong mẫu quảng cáo của công ty), hay có thể là một tổ chức
Mã hóa (Encoding): mã hóa là chọn lựa những từ ngữ, biểu tượng, hình ảnh để
trình bày thông điệp, tượng trưng hóa các ý tưởng hay thông tin Người gửi phải mã hóa thông tin muốn gửi sao cho đối tượng nhận sẽ hiểu được thông điệp dễ dàng
Thông điệp (Message): quá trình mã hóa tạo ra thông điệp chứa đựng thông tin có ý
nghĩa mà nguồn phát muốn chuyển tải Thông điệp này có thể được diễn tả băng lời hoặc lằng hình ảnh, chữ viết, hay có thể là biểu tượng
Phương tiện (Media): là kênh truyền thông qua đó thông ddieenpj được truyền đi từ
nguồn phát hay người gửi đến đối tượng nhận Có 2 loại kênh truyền thông là trực tiếp và gián tiếp
Trang 207
Người nhận (Reciever): là người mà người gửi muốn chia sẻ, phân phát thông tin
tới
Giải mã (Decoding): là quá trình chuyển thông điệp được mã hóa của người gửi
thành ý nghĩa Quá trình này là ảnh hưởng mạnh bởi kinh nghiệm, nhận thức, thái
độ của người nhận
Nhiễu (Noise): trong suốt quá trình truyền thông, thông điệp còn chịu ảnh hưởng
của các yếu tố không mong đợi, nó còn có thể bóp méo thông điệp hay cản trở đối tượng nhận thông điệp Những méo mó hay cản trở này được gọi là nhiễu
Đáp ứng (Pesponse): đáp ứng là tập hợp những phản ứng của người nhận sau khi
thấy, nghe hoặc đọc thông điệp
Phản hồi (Feedback): Là một phần đáp ứng của người nhận sau khi thấy, nghe hoặc
đọc thông điệp được thông tin trở lại cho người gửi
Qua mô hình truyền thông, khi lập kế hoạch chiêu thị các nhà marketing cần phải xác định rõ đối tượng truyền thông là ai, họ có nhận thông điệp không, phương tiện lựa chọn chính xác chưa, họ tiếp nhận và giải mã thông điệp như thế nào, cần thoe dõi phản hồi của đối tượng để đánh giá kết quả truyền thông
1.3.2.2 Các bước phát triển kế hoạch truyền thông
Để phát triển có hiệu quả một chương trình truyền thông marketing đòi hỏi xem xét các bước sau:
- Xác định đối tượng mục tiêu
Quá trình truyền thông khởi đầu bằng việc xác định rõ ràng đối tượng mục tiêu, họ
có thể là KH tiềm năng hoặc KH hiện tại, họ có thể là người ra quyết định mua hoặc chỉ là người ảnh hưởng Đối tượng mục tiêu có thể là một cá nhân, một nhóm, một
tổ chức hoặc nhóm công chúng nào đó Việc xác định đối tượng mục tiêu ảnh hưởng mạnh đến các quyết định như: thông điệp sẽ nói là gì? Nói khi nào? Ở đâu?
Ai sẽ nói?
Trang 218
- Xác định mục tiêu truyền thông
Sau khi xác định đối tượng mục tiêu, bước kế tiếp chúng ta cần phải làm là xác định mục tiêu truyền thông – chính là xác định những phản ứng mà ta muốn có ở đối tượng Mục tiêu truyền thông thường gắn với mục tiêu marketing và mục tiêu cuối cùng thường gắn với mục tiêu mua hàng Tuy nhiên trong nhiều trường hợp việc mua hàng là kết quả của một quá trình dài trong việc ra quyết định của NTD Khi truyền thông ta cần biết chính xác NTD đang ở vị trí nào trong quá trình sẵn sàng mua của họ
Hình 1 3: Các giai đoạn sẵn sàng của người mua
Thông thường NTD có thể rơi vào bất cứ giai đoạn nào trong 6 giai đoạn của quá trình sẵn sàng của người mua Ở các giai đoạnkhác nhau, người truyền thông sẽ đặt
ra các mục tiêu truyền thông thích hợp
Thiết kế thông điệp
Sau khi đã xác định được mục tiêu, bước kế tiếp là thiết kế thông điệp cần truyền đi Thông điệp trước hết phải giải quyết các mục tiêu truyền thông đã xác định, phải phù hợp với đối tượng truyền tin Để có một thông điệp hiệu quả, khi mã hóa thông tin thành các thông điệp cần cân nhắc đặc điểm đối tượng và phương tiện sẽ sử dụng để phát tin.thiết kế thông điệp phải giải quyết 3 vấn đề: nói cái gì? Nội dung
nói như thế nào? Cấu trúc và hình thức thông điệp là gì?
Lựa chọn phương tiện truyền thông
Người truyền thông sẽ lựa chọn 2 kênh truyền thông: cá nhân (personal communication) và phi cá nhân (non-personal communication)
Tiếp nhận thông tin phản hồi
Trang 229
Đây là bước cuối để đánh giá tác động và kết quả của chương trình truyền thông marketing Thường tác động này không phát sinh tức thì mà có thể về lâu dài Để đánh giá hiệu quả các chương trình truyền thông marketing phải tiến hành các cuộc khảo sát chuyên sâu nhắm vào các đối tượng của kế hoạch truyền thông,từ thông tin phản hồi có thể điều chỉnh cho những kế hoạch kỳ sau
Lựa chọn phối thức truyền thông
Việc lựa chọn và phối hợp các hoạt động truyền thông cần phải xem xét nhiều yếu tố: loại SP đang kinh doanh, chu kỳ sống của sản phẩm, chiến lược mà DN sử dụng
để tác động là chiến lược kéo hay đẩy, mức độ sẵn sàng của người mua
- Loại SP kinh doanh
Vai trò của các công cụ truyền thông khác nhau tùy theo loại SP hay loại thị trường
Sự khác biệt này do đặc điểm SP và hành vi mỗi nhóm KH khác biệt nhau
- Chiến lược đẩy và kéo
Các công cụ chiêu thị cũng có hiệu quả khác nhay tùy theo chiến lược đẩy hay kéo
sử dụng trong chiêu thị Để thực hiện việc tiêu thụ SP, các DN thường sử dụng chiến lược kéo hoặc chiến lược kéo, hoặc có khi sử dụng cả hai chiến lược này
Hình 1 4: Chiến lược đẩy và kéo
Trang 2310
o Chiến lược đẩy:
Đưa SP vào các kênh tiêu thụ bằng việc sử dụng quảng cáo, có các chương trình khích lệ dành cho trung gian và nhân viên chào hàng để tác động và đây sản phẩm vào kênh phân phối
Trong chiến lược đẩy, các hoạt động chiêu thị tập trung vào các trung gian để thông tin, thuyết phục các trung gian và từ các trung gian sẽ thông tin đến KH, các công
cụ khuyến mại thương mại, chào hàng cá nhân thường có hiệu quả hơn
o Chiến lược kéo:
Thu hút NTD đến với SP bằng các chiến lược quảng cáo nhằm tạo sự chú ý và hình thành nhu cầu ở NTD, họ sẽ yêu cầu nhà phân phối bán hàng cho họ, từ đó tạo ra sức hút SP về phía nhà sản xuất
Với chiến lược kéo, hoạt động chiêu thị lại ưu tiên tập trung vào các hoạt động truyền thông, quảng cáo, khuyến mại đến NTD Các công cụ như quảng cáo, PR lại
có hiệu quả hơn
Trang 2411
1.3.3.1 Quảng cáo (Advertising):
Quảng cáo là hình thức tuyên truyền được trả phí hoặc không để thực hiện việc giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng, quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người mà trong đó người muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa thông tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận thông tin Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán Quảng cáo là một hình thức truyền thông phải trả tiền, là một hoạt động truyền thông phi cá thể Một doanh nghiệp muốn tạo nên sự khác biệt của sản phẩm, nhằm thuyết phục hoặc tạo ảnh hưởng tác động vào đối tượng sẽ phải trả phí cho các công ty chịu trách nhiệm quảng cáo Các sản phẩm quảng cáo sẽ được chuyển đến đối tượng tiếp nhận bằng nhiều phương tiện truyền thông khác nhau và sẽ có tác dụng tiếp cận đến một đại bộ phận đối tượng khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp Quảng cáo là một hình thức truyền thông khá phổ biến, hiện nay có rất nhiều phương tiện quảng cáo giúp cho doanh nghiệp lựa chọn và giúp cho khách hàng được tiếp cận một cách dễ dàng Cụ thể:
Quảng cáo trên truyền hình: là phương tiện tác động đến người tiêu dùng đa dạng
và toàn diện nhất, bằng âm thanh, hình ảnh sống động Chi phí hình thức này thường là đắt nhất Đôi khi gián tiếp bằng hình thức bảo trợ các show, hay kèm theo logo quảng cáo trên nền sàn, hay treo trên tường đằng sau diễn viên, MC
Quảng cáo qua báo, tạp chí, ấn phẩm: là hình thức tác động bằng hình ảnh và
khẩu hiệu Đôi khi bằng những bài viết giả như tường thuật bằng những phóng viên được mướn
Quảng cáo trên internet: Khi công nghệ thông tin và internet phát triển loại hình
báo mạng cũng phát triển nên các công ty thường khai thác phương tiện này Còn có thể gửi vào các hòm email để quảng cáo, hay gọi là thư rác hay các đoạn phim quảng cáo trên các trang mạng Ngày nay internet rất phổ cập đến nhiều gia đình,
Trang 25 Tặng quà: là hình thức tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không
thu tiền
Giảm giá: là hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng,
giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng
ký hoặc thông báo Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ
Chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí: là hình thức tổ chức cho khách hàng
tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại Trong thực tế, các hình thức này được các doanh nghiệp áp dụng khá linh hoạt và có sự kết hợp giữa nhiều hình thức một lúc, như vừa giảm giá vừa tặng quà, vừa giảm giá vừa bốc thăm trúng thưởng, giảm giá hoặc tặng quà trong những "giờ vàng mua sắm" nhất định trong ngày (thường là giờ thấp điểm để kích
Trang 2613
thích tiêu dùng) Trong đó, giảm giá thường là hình thức được các doanh nghiệp
áp dụng nhiều nhất cho chiến lược xúc tiến thương mại của mình
Khuyến mại là một hình thức xúc tiến thương mại không mang tính chất rầm rộ hoặc tốn lượng chi phí lớn như quảng cáo, tuy nhiên để tránh việc khách hàng bị thiệt hại về quyền lợi khi tham gia các chương trình khuyến mại, các nhà soạn luật
đã có những chỉnh lý và nguyên tắc thích hợp để đảm bảo nguyên tắc khi thực hiện khuyến mại
- Quan hệ công chúng (PR)
Quan hệ công chúng (tiếng Anh: public relations, viết tắt là PR) là việc một cơ quan
tổ chức hay doanh nghiệp chủ động quản lý các quan hệ giao tiếp cộng đồng để tạo dựng và giữ gìn một hình ảnh tích cực của mình Các hoạt động quan hệ công chúng bao gồm các việc quảng bá thành công, giảm nhẹ ảnh hưởng của các thất bại, công
bố các thay đổi, và nhiều hoạt động khác Hơn thế nữa PR còn là một trong những công cụ hỗ trợ bán hàng hữu hiệu đối với tất cả các doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân Những người muốn tạo ra một tầm ảnh hưởng nhất định của mình đối với những đối tượng nhất định Tuỳ vào mục đích của mình và đối tượng mà mình muốn tác động, các tổ chức hoặc cá nhân này sẽ có những cách thức và hình thức tiếp cận khác nhau: có thể tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội như các hoạt động từ thiện, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng do các tổ chức hoạt động nhằm mục đích xã hội tổ chức nhằm tạo ra hình ảnh một tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm với công đồng; hoặc cũng có thể tham gia dưới hình thức một nhà tài trợ mạnh tay luôn thấy xuất hình ảnh trong các chương trình có quy mô lớn như các cuộc thi hoa hậu, các hội chợ triển lãm tầm cỡ Tất cả những hình thức đó nhằm tạo ra một hình ảnh đẹp, nổi bật và rộng khắp về bản thân tổ chức hoặc cá nhân với mong muốn thông qua những hình ảnh được đánh bóng đó, công chúng sẽ trở nên gần gũi và dành nhiều thiện cảm, quan tâm hơn tới họ Khi mà quảng cáo mất đi một số khả năng xây dựng thương hiệu, và khuyến mại phát triển vượt quá quy mô tối ưu của
nó, các công ty có thể nhận ra nhiều tiềm năng hơn đối với quan hệ công chúng
Trang 27có thể được xây dựng một cách tốt đẹp hơn trong lòng công chúng Tuy nhiên số người tham gia vào chương trình quan hệ công chúng bị hạn chế, nguồn lực không dồi dào khiến cho hiệu quả truyền thông có thể bị giảm sút
Quan hệ công chúng gồm một loạt các công cụ được viết tắt bằng các chữ đầu tiên
S có nghĩa là các hoạt động về trách nhiệm đối với xã hội (tạo dựng uy tín tốt cho công ty về trách nhiệm đối với xã hội)
1.3.3.3 Chào hàng cá nhân
Bán hàng cá nhân là sự giao tiếp mặt đối mặt của nhân viên bán hàng với khách hàng tiềm năng để trình bày giới thiệu và bán sản phẩm Đây là hình thức yểm trợ
Trang 2815
quan trọng từ nhân viên của doanh nghiệp tới những người mua hàng hiện tại và tiềm năng Nỗ lực truyền đạt thông tin của người bán hàng tập trung vào việc thuyết phục khách hàng nhằm mục tiêu doanh thu Bán hàng cá nhân là làm sao có thể nắm bắt đúng nhu cầu của người mua, tạo ra sản phẩm, hướng tới thoả mãn nhu cầu ấy,
và sau đó là thuyết phục khách hàng mua sản phẩm Bán hàng cá nhân tạo sự chú ý của mỗi khách hàng và chuyển tải nhiều thông tin Giữa người bán và người mua có một sự tương tác linh hoạt, thích ứng cho những yêu cầu riêng biệt của khách hàng
và có thể dẫn đến hành vi mua hàng Đây là những việc mà quảng cáo không thể làm được Nhân viên bán hàng cũng có thể thuyết phục và giải quyết thắc mắc của khách hàng Ngoài ra, bán hàng cá nhân có thể thiết lập và phát triển những mối quan hệ bán hàng
Mục tiêu của bán hàng cá nhân chủ yếu là hướng dẫn khách hàng đến với sản phẩm Bán hàng cá nhân có vai trò giúp doanh nghiệp tạo sự truyền thông uyển chuyển, linh hoạt, ghi nhận nhiều thông tin phản hồi chính xác, đánh giá hiệu quả việc chào hàng qua phản ứng khách hàng, quảng bá, giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp tới người tiêu dùng và giải đáp thắc mắc của khách hàng về sản phẩm từ đó đánh giá lại sản phẩm để có các phương pháp cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm
Trang 2916
Marketing trực tiếp qua thư: trong hình thức này người làm Marketing sẽ gửi trực
tiếp thư qua bưu điện tới các khách hàng trong khu vực hoặc đến với các khách hàng trong danh mục của họ
Marketing qua thư điện tử: trong hình thức này thì nhà làm Marketing sẽ gởi thư
qua email cho các khách hàng của mình Một điều lo âu trong hình thức Marketing này là thư rác, những thư này sẽ đẩy lùi những thư điện tử hợp pháp khác Kết quả
là sự phát triển rất nhanh chóng của thư rác, nhiều nhà cung cấp dịch vụ email và IPS đã tăng hiệu quả của các chương trình chống lại nó
Bán hàng qua điện thoại: trong hình thức những người làm Marketing sẽ gọi trực
tiếp qua điện thoại, ưu điểm vì điện thoại là một phương tiện giao tiếp không thể thiếu, nhanh chóng và tiện lợi không gì thay thế được, giúp tiếp cận với khách hàng, cũng như giúp khách hàng tiếp cận với nhà marketing bất kể khoảng cách, thời gian, thời tiết,…
Trang 3017
Tóm tắt chương 1
Chương 1 tóm tắt toàn bộ phần cơ sở lý thuyết về marketing cũng như về truyền thông marketing Thông qua chương 1, chúng ta có cơ sở lý thuyết để phân tích, đánh tình hình doanh nghiệp ở chương 2
Trang 3118
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC TRUYỀN THÔNG
MARKETING TẠI CÔNG TY 2.1 Tổng quan về ngành công nghệ môi trường tại Việt Nam
2.1.1 Tổng quan thị trường
Theo Phạm Ngọc Thiện (2014), Công nghiệp môi trường (Environmental Industries) là một thực thể kinh tế có từ rất sớm tại nhiều nước Đây là ngành công nghiệp tạo ra các giá trị gia tăng từ chính việc giải quyết các vấn đề môi trường, đã
và đang có những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho phát triển theo hướng bền vững, chiếm vị thế quan trọng trong cơ cấu công nghiệp
Ở Hoa Kỳ: CNMT bao gồm toàn bộ các hoạt động tạo ra giá trị liên quan tới thực
hiện các quy định môi trường; đánh giá phân tích và bảo vệ môi trường; kiểm soát ô nhiễm không khí, quản lý chất thải, làm giảm ô nhiễm; cung cấp và phân phối tài nguyên môi trường: nước, nguyên liệu tái tạo, năng lượng sạch và công nghệ và các hoạt động góp vào việc tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và nguyên liệu, sản phẩm chất lượng cao và phân phối tài nguyên môi trường: nước, nguyên liệu tái tạo, năng lượng sạch và công nghệ và các hoạt động đóng góp vào việc tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và nguyên liệu, sản phẩm chất lượng cao và phát triển kinh tế bền vững
(Phạm Ngọc Thiện, 2014)
Kinh tế - xã hội ngày càng phát triển đặt ra những yêu cầu về môi trường ngày càng lớn, liên tục và không ngừng tạo ra các nhu cầu mới kích thích phát triển CNMT thế giới chính vì thế những năm gần đây phát triển bùng nổ với nhiều năng lực và sản phẩm mới, không chỉ đáp ứng nhu cầu nội tại của mỗi quốc gia mà còn tạo đóng góp tăng trưởng trao đổi xuất nhập khẩu toàn cầu Thị trường ngành CNMT thế giới ngày càng phát triển và lớn mạnh Năm 1992, thị trường ngành CNMT ước khoảng
300 tỷ USD, năm 1996 đạt 453 tỷ USD, năm 2004 tăng lên 628,5 tỷ USD và dự báo đến năm 2010 quy mô thị trường ngành CNMT thế giới đạt khoảng 688 tỷ USD Các nước công nghiệp hàng đầu như Hoa Kỳ, Nhật Bản và một số nước Tây Âu
Trang 3219
chiếm hầu hết thị phần ngành CNMT thế giới (chiếm tới 85%), trong đó Hoa Kỳ là
quốc gia đứng đầu thế giới, chiếm 38% thị phần của toàn thế giới (Vietbao.vn,
2010)
Tổng cục Môi trường Bộ Tài nguyên và Môi trường có bài tham luận giới thiệu về
“Hợp tác quốc tế để phát triển công nghiệp môi trường ở Việt Nam” (2015) tại Hội thảo Triển lãm Quốc gia về Sản phẩm Công nghiệp Môi trường trong ngành Công Thương Trong đó, Tổng cục Môi trường nhận xét: “Ở Việt Nam, khái niệm ngành CNMT vẫn còn rất mới, doanh nghiệp môi trường được biết đến chỉ với ý nghĩa đơn giản là các công ty môi trường đô thị, một số doanh nghiệp tư vấn, cung cấp các dịch vụ bảo vệ môi trường quy mô nhỏ, cần phải "nhanh chóng xây dựng ngành công nghiệp môi trường" phù hợp với điều kiện của một nước đang phát triển và có
nhiều hạn chế về nguồn lực tài chính như nước ta"
Những năm gần đây, bức tranh về doanh nghiệp môi trường cũng có những thay đổi quan trọng với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần, trong nước, ngoài nước, tư nhân và nhiều hình thức liên kết với quy mô ngày càng lớn CNMT ngày nay không mang tính công ích thuần tuý mà ngày càng thể hiện rõ tính kinh tế trong các hoạt động của nó, đặc biệt khi chuyển từ cách tiếp cận "xử lý cuối đường ống", xử lý chất thải sang cách tiếp cận ngăn ngừa ô nhiễm tại nguồn, đồng thời coi chất thải như tài nguyên để tái sử dụng tạo ra các giá trị mới
Công nghiệp môi trường của Việt Nam bao hàm các hoạt động và doanh nghiệp đặc thù, chuyên sản xuất hàng hóa và cung ứng dịch vụ đáp ứng nhu cầu bảo vệ và phòng ngừa các tác động xấu tới môi trường Điều nay đang tạo động lực để phát triển và mở rộng các lĩnh vực mới và gia tăng số lượng các doanh nghiệp môi trường Kinh doanh môi trường ngày càng được xem là ngành "siêu lợi nhuận" vì những lợi ích kép mà nó mang lại
Trang 33thải; tái chế phế liệu 107,6 105,7 107,8 103,2 Thu gom rác thải không độc hại 107,6 105,7 105,4 109,5
(Nguồn: Báo cáo thường niên Bộ Tài nguyên Môi trường, 2018)
Nhìn chung, tình hình phát triển lĩnh vực cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng đều qua các năm Tỷ lệ tăng trưởng mỗi năm đạt từ 7 – 8% so với năm trước
đó Trong đó, lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải có tỷ lệ tăng trưởng vượt bậc
từ 2017 – 2018 Sau 4 năm tính từ 2015 – 2018, tỷ lệ tăng trưởng trong lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tăng từ xấp xỉ 2% mỗi năm lên mức 10%/năm Đây là dấu hiệu cho thấy các doanh nghiệp đã bắt đầu có các động thái quan tâm đến vấn
Trang 3421
yếu so với máy móc, thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài Có khoảng 10 doanh nghiệp chuyên sản xuất chế tạo thiết bị CNMT như hệ thống lọc khí, bụi, lò đốt chất thải nguy hại và thông thường, các thiết bị công nghệ phân loại rác, sản xuất phân compost, viên nhiên liệu
- Sử dụng bền v ng tài nguyên và phục hồi môi trường
Sử dụng bền vững tài nguyên và phục hồi môi trường chủ yếu liên quan đến tính chất khan hiếm của nguồn tài nguyên thiên nhiên Vì vậy, nòng cốt của lĩnh vực này
là phát triển công nghiệp tái chế Công nghiệp tái chế là lĩnh vực có sự giao thoa, chồng lấn với lĩnh vực dịch vụ CNMT có gắn với xử lý chất thải thông thường, xử
lý chất thải nguy hại và lĩnh vực công nghiệp sản xuất có gắn với nguồn phế liệu tái chế là nguyên liệu như công nghiệp sản xuất giấy, nhựa và thép
Tham luận tại Hội nghị với nội dung "Thực trạng phát triển các doanh nghiệp CNMT", ông Nguyễn Đình Hiệp (2016), Phó Chủ tịch Hiệp hội CNMT Việt Nam cho biết: “Các doanh nghiệp môi trường nói chung và doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ môi trường nói riêng phần lớn được xếp vào doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, ít doanh nghiệp lớn Theo số liệu điều tra, khảo sát tại 493 doanh nghiệp cho thấy, vốn đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp trung bình là 35.856.404.908/1 đơn vị” Ông Nguyễn Đình Hiệp khẳng định: “CNMT Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển, đóng góp trong tổng sản lượng công nghiệp cũng như GDP còn rất khiêm tốn, kể cả so với mức trung bình của thế giới lẫn so với chính các ngành công nghiệp Việt Nam” Điều này dẫn tới hai kết luận: (1) ngành CNMT của Việt Nam còn quá nhỏ, đồng nghĩa với công tác bảo vệ môi trường được đáp ứng ở mức rất thấp so với nhu cầu; (2) nhu cầu phát triển CNMT
là rất lớn, dư địa để phát triển còn nhiều (Bộ Công Thương, 2016)
Tiềm năng lớn nhưng ngành CNMT Việt Nam cũng đứng trước những thách thức không nhỏ, cụ thể: Đến nay, năng lực ngành CNMT mới đáp ứng được 2-3% nhu cầu xử lý nước thải đô thị, 15% nhu cầu xử lý chất thải rắn, khoảng 14% nhu cầu xử
Trang 35Giá dịch vụ môi trường ở mức thấp, ít hấp dẫn đối với nhà đầu tư Đây là trở ngại lớn đối với sự phát triển của ngành CNMT.
Năng lực và sự liên kết giữa nghiên cứu và triển khai sản xuất hàng loạt các thiết bị môi trường còn hạn chế Nhiều doanh nghiệp môi trường của nhà nước còn yếu về đầu tư vốn công nghệ Trong một số lĩnh vực, các doanh nghiệp ngoài nước đóng vai trò chi phối; các doanh nghiệp tư nhân không có cơ hội để phát triển
Số liệu thống kê chưa đầy đủ về ngành CNMT dẫn đến những tác động tiêu cực trong quá trình giám sát và hoạch định chính sách
Phát triển CNMT chưa nhấn mạnh vào khía cạnh hiệu quả kinh tế đạt được cũng như chưa xem xét đến tính chất khan hiếm của nguồn tài nguyên thiên nhiên - động lực chính của sự phát triển ngành công nghiệp tái chế
2.1.3 Cạnh tranh
Như trong bài viết của Mạnh Nguyễn (2016), tại hội nghị trực tuyến toàn quốc về bảo vệ môi trường năm 2016, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường Trần Hồng Hà cho biết, cả nước hiện có 615 cụm công nghiệp nhưng chỉ khoảng 5% trong số đó
có hệ thống xử lý nước thải tập trung Hơn 500.000 cơ sở sản xuất, trong đó có nhiều loại hình sản xuất ô nhiễm môi trường, công nghệ sản xuất lạc hậu; hơn 4.500 làng nghề; hơn 13.500 cơ sở y tế hằng ngày phát sinh hơn 47 tấn chất thải nguy hại
và 125.000m3 nước thải Đặc biệt, 787 đô thị thải ra khoảng 3.000.000m3 nước
thải/ngày đêm nhưng hầu hết chưa được xử lý
Trang 3623
Với tình hình thị trường bức thiết như hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu đầu
tư vào lĩnh vực công nghệ môi trường Đa số các doanh nghiệp này nhập hàng hóa
từ các nước châu Âu, châu Mỹ để phân phối lại trong thị trường Việt Nam Vì vậy giá của những mặt hàng này thường rất cao Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho bộ phận R&D để nghiên cứu và phát triển các sản phẩm
“Made in VietNam” Những sản phẩm này có giá thành khá hợp lý, tuy nhiên phải đối mặt với một thách thức lớn là nhiều khách hàng còn nghi ngờ vào chất lượng
của sản phẩm
2.1.4 Khách hàng
Đa số doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp trên cả nước) hiện chưa gắn hoạt động sản xuất, kinh doanh với bảo
vệ môi trường Chỉ tính riêng năm 2016, trên toàn quốc đã xảy ra hơn 50 vụ việc
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây bức xúc dư luận (Bộ Tài nguyên Môi
trường, 2016)
Theo Nguyên Hoài (2016) đã đề cập đến trong bài báo “Có thể kiện các doanh nghiệp gây ô nhiễm”, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường Hoàng Văn Thức cho biết có tới 50% doanh nghiệp mắc lỗi thủ tục hành chính về bảo vệ môi trường;
gần 30% doanh nghiệp xả thải vượt quy chuẩn cho phép
Thực tế đã chỉ ra một số trở ngại chính đối với sự phát triển CNMT ở Việt Nam:
Một là: Nhận thức của doanh nghiệp về bảo vệ môi trường chưa cao, nhiều doanh
nghiệp không tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, do đó chưa tạo thành động lực quan trọng để công nghiệp, dịch vụ môi trường được phát triển Hệ quả là, chưa có nhiều nhà đầu tư sản xuất thiết bị, công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường
Hai là: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT)
chưa đầy đủ, chưa đồng bộ; các chế tài xử phát chưa đủ mạnh mẽ bắt buộc mọi người dân, tổ chức phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, làm cho thị trường về dịch vụ môi trường chưa phát triển tương xứng với yêu cầu về công tác bảo vệ môi trường và phát triển ngành CNMT
Trang 3724
Các cơ chế, chính sách khuyến khích chưa rõ ràng, chưa đủ hấp dẫn để thu hút đầu
tư vào phát triển CNMT Nhà nước chưa có định hướng cụ thể để phát triển lĩnh vực công nghiệp này
Ba là: Uy tín của các nhà cung cấp công nghệ, thiết bị và dịch vụ trong nước chưa
đủ thuyết phục Đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ môi trường còn yếu và thiếu, đặc biệt là chuyên gia có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm
2.2 Giới thiệu về công ty Cổ phần Khoa học Kỹ thuật Phƣợng Hải
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty Cổ Phần KH-KT Phượng Hải với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực cung cấp thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị khoa học kỹ thuật, nội thất phòng thí nghiệm Ban giám đốc và toàn thể nhân viên công ty CP KHKT Phượng Hải nhận thức rất rõ chất lượng sản phẩm là điều kiện tiên quyết để công ty tồn tại và phát triển, được thể hiện qua slogan:
“a Pioneer of High quality!” (nhà tiên phong về chất lƣợng cao)
Thị trường đã rất quen thuộc với các dòng sản phẩm mang thương hiệu PH Scientific và dòng sản phẩm cao cấp BestLab Tất cả các logo và mẫu mã sản phẩm đều được đăng ký bản quyền tại Cục Sở Hữu Trí Tuệ Việt Nam và đăng ký tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn cơ sở theo đúng qui định
Từ 2015, Phượng Hải tiếp tục lkinh doanh thêm thiết bị quan trắc môi trường, đặc biệt là thiết bị quan trắc nước thải tự động Đa số các thiết bị này đều được nhập khẩu tuef các nước châu Âu, châu Mỹ và có giấy chứng nhận về chất lượng Năm
2018, Phượng Hải mạnh dạn đầu tư trang thiết bị để tự nghiên cứu và phát triển thiết bị quan trắc môi trường với tên gọi SmartpH Đây là sản phẩm quan trắc tự đầu đâu tiên do người Việt tự nghiên cứu và sản xuất
Trang 3825
2.2.2 Tầm nhìn và sứ mệnh
Tầm nhìn của Phượng Hải là “Với tất cả các nỗ lực, Phượng Hải phải trở thành Doanh nghiệp tiên phong ứng dụng công nghệ cao để đem đến các sản phẩm chất lượng tốt nhất trong lĩnh vực phòng thí nghiệm và lĩnh vực đo lường tự động”
Để thực hiện được mục tiêu cũng như tầm nhìn của mình, Phượng Hải đặt ra các sứ mệnh:
- Mang đến sự trải nghiệm vượt trội về phòng thí nghiệm thông minh và sản phẩm thiết bị đo lường tự động có độ chính xác cao
- Tạo ra ngôi nhà thứ hai với đời sống sung túc, hạnh phúc và cơ hội phát triển cho toàn thể nhân viên
- Nghiên cứu, thiết kế và sản xuất những sản phẩm nội thất phòng thí nghiệm
và thiết bị đo lường đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, được kết tinh từ những "Giá trị Việt"
- Ưu tiên phát triển các sản phẩm công nghệ cao hướng đến phục vụ cho cộng đồng
- Xây dựng mối quan hệ kinh doanh bền vững cùng 04 đối tác:
Khách hàng – Nhân viên – Nhà cung cấp – Nhà đầu tư
2.2.3 Cơ cấu tổ chức hành chính nhân sự
2.2.4 Các đặc điểm chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của công ty
2.2.4.1 Lĩnh vực hoạt động
Lĩnh vực hoạt động chính của Phượng Hải chủ yếu tập trung vào 2 mảng chính: nội thất phòng thí nghiệm và thiết bị quan trắc môi trường Trong đó có thể kể đến:
- Cung cấp thiết bị khoa học kỹ thuật
Thiết bị nghiện cứu quan trắc, kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường
Thiết bị nghiên cứu, kiểm tra chất lượng sản phẩm cho các ngành nông nghiệp, thủy sản, dược phẩm, thực phẩm
Trang 3926
Thiết bị cho ngành công nghệ sinh học
Thiết bị y tế - thiết bị an toàn lao động
Bàn ghế phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn GMP
- Tư vấn và chuyển giao Công nghệ
Tư vấn thiết kế xây dựng phòng thí nghiệm hoàn chỉnh
Tư vấn chuyển giao công nghệ trong các ngành công nghiệp
Trang 4027
2.3 Phân tích môi trường marketing của doanh nghiệp
2.3.1 Môi trường vĩ mô
2.3.1.1 Môi trường pháp luật chính trị
Theo quy định tại Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT (2015) của Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường có quy định ngoài việc giám sát định kỳ, các chủ cơ sở phải lắp đặt trạm quan trắc tự động đối với nước thải và khí thải để giám sát tự động liên tục truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên và Môi trường để kiểm soát và quản lý.Đối với các cơ sở sản xuất phát sinh nước thải có lưu lượng 1.000 m3/ngày đêm trở lên (không bao gồm nước làm mát thiết bị) phải lắp đặt trạm quan trắc nước thải và truyền dữ liệu trược tiếp về Sở Đối với cơ sở sản xuất nằm trong Khu, cụm công nghiệp nếu được đấu nối nước thải đến Trạm xử lý nước thải tập trung của Khu, cụm công nghiệp thì không phải lắp đặt trạm quan trắc tự động
Đối với các cơ sở sản xuất xi măng, nhà máy nhiệt điện, nhà máy sản xuất phôi thép công suất trên 200.000 tấn SP/năm, nhà máy sản xuất phân bón hóa học công suất trên 10.000 tấn SP/năm, nhà máy sản xuất dầu mỏ công suất 10.000 tấn SP/năm nhà máy sản xuất có lò hơi công nghiệp công suất 20 tấn hơi/giờ cũng bắt buộc phải lắp đặt hệ thống này
Đến ngày 01/9/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 24/2017/TT-BTNMT (2017) quy định về kỹ thuật quan trắc môi trường, trong đó có hướng dẫn rõ hơn về thực hiện quan trắc tự động đối với nước thải và khí thải Một
số quy định về các yêu cầu cơ bản và đặc tính kỹ thuật của Hệ thống quan trắc nước thải và khí thải tự động liên tục được cụ thể như sau:
- Đối với Hệ thống quan trắc tự động đối với nước thải: được quy định tại mục
1 của chương IV, Thông tư 24/2017/TT-BTNMT
o Thành phần cơ bản Hệ thống bao gồm: thiết bị quan trắc tự động (gồm các đầu dò đo thông số); thiết bị thu thập , lưu giữ và truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên
và Môi trường; thiết bị lấy mẫu tự động; camera; nhà trạm; bơm lấy mẫu,…