Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, qua 10 năm thực hiện Luật Ngân sách nhà nước 2002 với cơ chế phân cấp quản lý ngân sách, các cấp chính quyền từ tỉnh đến xã đã tăng tính chủ động tích cực, p
Trang 1HOÀNG VĂN KIÊN
PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2014
Trang 2-
HOÀNG VĂN KIÊN
PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60620115
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ THU HÀ
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả Các
số liệu thu thập và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được nghi rõ nguồn ngốc
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Hoàng Văn Kiên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu với sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô giáo, các cấp, các ngành, gia đình, đồng nghiệp và bàn bè để hoàn thành Luận văn thạc sĩ của mình
Qua đây cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Lâm Nghiệp cùng với các giảng viên đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn thạc sĩ
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Trần Thị Thu Hà – Giảng viên trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn thạc sĩ
Nhận dịp này cho phép tôi được gửi lời cảm ơn đến Sở Tài chính, UBND thành phố Ninh Bình, UBND huyện Hoa Lư, UBND huyện Nho Quan, đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu, tổng hợp, hỗ trợ cung cấp số liệu hoàn thành Luận văn thạc sĩ
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình, bàn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành Luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Hoàng Văn Kiên
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 4
1.1 Ngân sách địa phương trong hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam 4
1.1.1 Những vấn đề cơ bản về ngân sách nhà nước 4
1.1.2 Ngân sách địa phương, vị trí ngân sách địa phương trong hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam 8
1.1.3 Vai trò của Ngân sách địa phương đối với phát triển kinh tế địa phương 11
1.2 Phân cấp quản lý ngân sách địa phương 11
1.2.1 Phân cấp quản lý ngân sách địa phương và sự cần thiết phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương 11
1.2.2 Nội dung phân cấp quản lý ngân sách địa phương 15
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân cấp quản lý ngân sách địa phương 17
1.2.4 Nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách địa phương 19
1.2.5 Các tiêu chí đánh giá công tác phân cấp quản lý ngân sách địa phương 21
1.3 Tình hình giải quyết vấn đề nghiên cứu 22
1.4 Kinh nghiệm phân cấp quản lý NSĐP của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 26
Trang 61.4.1 Kinh nghiệm phân cấp quản lý NSĐP của một số nước trên thế giới 26
1.4.2 Kinh nghiệm phân cấp quản lý ngân sách địa phương tại tỉnh Nam Định 29
1.4.3 Bài học rút ra cho phân cấp quản lý NSĐP trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 32
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình 35
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 35
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 43
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 43
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Thực trạng phân cấp quản lý NSĐP trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 46
3.1.1 Phân cấp ban hành chế độ chính sách, tiêu chuẩn định mức ở địa phương 46
3.1.2 Phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách giữa các cấp ngân sách ở địa phương 49
3.1.3 Phân cấp quản lý ngân sách địa phương tại 03 huyện khảo sát 68
3.2 Đánh giá thực trạng phân cấp quản lý ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 81
3.2.1 Những kết quả và thành tựu đạt được trong phân cấp và điều hành ngân sách trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 81
3.2.2 Những tồn tại, hạn chế trong phân cấp ngân sách 84
3.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong phân cấp và điều hành ngân sách trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 88
3.3 Định hướng phân cấp quản lý ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm 2015, tầm nhìn 2020 89
3.3.1 Dự báo tình hình KT-XH ảnh hưởng đến phân cấp quản lý NSĐP và mục tiêu của phân cấp quản lý ngân sách địa phương của tỉnh đến năm 2015, tầm nhìn 2020 89
Trang 73.3.2 Định hướng phân cấp ngân sách địa phương 93
3.4 Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm 2015, tầm nhìn 2020 96
3.4.1 Hoàn thiện quy trình ngân sách địa phương 96
3.4.2 Hoàn thiện cơ chế phân cấp nguồn thu và tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa các cấp chính quyền địa phương trên địa bàn tỉnh 97
3.4.3 Hoàn thiện cơ chế phân cấp nhiệm vụ chi 100
3.4.4 Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan Thuế, Kho bạc nhà nước các cấp 101
3.4.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra phân cấp NSĐP 103
3.4.6 Một số giải pháp khác 104
3.5 Một số kiến nghị nhằm bổ sung, sửa đổi Luật NSNN về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 105
3.5.1 Về khoản thu xổ số kiến thiết và tiền sử dụng đất 106
3.5.2 Về phân cấp nguồn thu 106
3.5.3 Về thẩm quyền ban hành chế độ, chính sách 109
3.5.4 Về vấn đề sau mỗi kỳ ổn định ngân sách, phải thực hiện giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên 110
3.5.5 Về chi chuyển nguồn ngân sách sang năm sau 111
3.5.6 Về việc ngân sách địa phương hỗ trợ cho các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn 111
KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DNNN Doanh nghiệp nhà nước GTGT Giá trị gia tăng
HĐND Hội đồng nhân dân
KBNN Kho bạc nhà nước
NSNN Ngân sách nhà nước NSTW Ngân sách trung ương NSĐP Ngân sách địa phương
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Dân số và lao động của tỉnh Ninh Bình 2010-2013 39
3.1 Danh mục văn bản trong lĩnh vực thu, chi, phân cấp ngồn thu
3.2 Tổng hợp thu NSNN trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn
3.6 Tổng hợp chi ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh
3.7 Tổng hợp chi ngân sách cấp huyện giai đoạn 2010-2013 66 3.8 Tổng hợp chi ngân sách cấp xã giai đoạn 2010-2013 67
3.9 Tổng thu ngân sách trên địa bàn 03 đơn vị khảo sát từ năm
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
3.2 So sánh cơ cấu nguồn thu NSNN năm 2010 và năm 2013 51
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Xu hướng phân cấp quản lý đã và đang được thực hiện rộng khắp trên thế giới Về bản chất, đó là sự chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức nhà nước ở nhiều cấp độ theo các mục tiêu khác nhau tuỳ vào đặc điểm chính trị, kinh tế ở mỗi quốc gia Phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp cơ quan nhà nước về các vấn đề liên quan đến việc quản lý và điều hành ngân sách nhà nước Đây là nội dung cốt lõi trong phân cấp quản lý của nhà nước Ở Việt Nam quá trình này đã được thực hiện từ nhiều năm trước đây, được luật hoá lần đầu trong Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 và được bổ sung hoàn thiện gần đây nhất trong Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 (có hiệu lực thi hành
từ năm 2004) Theo đó, nhiều vấn đề tồn tại của phân cấp quản lý ngân sách địa phương đã được xử lý, khắc phục
Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, qua 10 năm thực hiện Luật Ngân sách nhà nước 2002 với cơ chế phân cấp quản lý ngân sách, các cấp chính quyền từ tỉnh đến xã đã tăng tính chủ động tích cực, phát huy cao độ tính tự chủ trong quản lý ngân sách cấp mình, bước đầu quan tâm khai thác, nuôi dưỡng nguồn thu, hạn chế bớt tình trạng thụ động, trông chờ ỷ lại vào ngân sách cấp trên Tuy nhiên, do bối cảnh kinh tế liên tục thay đổi, xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, cải cách hành chính địa phương , nên phân cấp quản lý ngân sách địa phương chưa kịp thích ứng, chưa tạo động lực khai thác tốt nguồn thu, tình trạng dây dưa, trốn lậu thuế, thất thu thuế còn diễn ra khá phố biến Mặt khác, một số chính sách của Nhà nước thay đổi như: Thuế bảo vệ môi trường thay thế cho khoản thu phí xăng dầu, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thay thế cho luật thuế nhà đất, cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện phân cấp quản lý ngân sách địa phương
Trang 12Để phát huy tính chủ động, sáng tạo, nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp cơ sở trong việc quản lý khai thác và nuôi dưỡng nguồn thu đáp ứng yêu cầu chi thực hiện các nhiệm
vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, việc hoàn thiện phân cấp quản lý thu, chi ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương cho phù hợp với đặc điểm tình hình thực tiễn của tỉnh Ninh Bình là rất cần thiết
Trước những yêu cầu thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên
cứu: “Phân cấp quản lý ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình: Thực trạng và giải pháp” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên
ngành Kinh tế
Đề tài nghiên cứu trả lời các câu hỏi chính sau:
- Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn vừa qua (2010-2013) như thế nào?
- Cần có giải pháp gì để hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian đến năm 2015, tầm nhìn 2020?
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu tổng quát của đề tài là nhằm góp phần
hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
trong thời gian sắp tới
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp góp phần hoàn thiện
Trang 13phân cấp quản lý ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian đến năm 2015, tầm nhìn 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu công tác phân cấp quản lý ngân sách địa phương ở tỉnh Ninh Bình dưới góc độ Kinh tế Đó là vai trò của các cấp chính quyền địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương, góp phần quan trọng đảm bảo nguồn lực ngân sách để phát triển kinh tế xã hội
Kết quả nghiên cứu của luận văn cho thấy được thực trạng công tác phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh, các giải pháp được đề xuất sẽ góp phần phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp chính quyền địa phương, tạo lập môi trường tài chính lành mạnh nhằm giải phóng và phát triển các nguồn lực, phân bổ ngân sách một cách hợp lý, đảm bảo công bằng và sử dụng có hiệu quả nguồn NSNN phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phân cấp quản lý ngân sách địa
phương trong điều kiện cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 141.1.1 Những vấn đề cơ bản về ngân sách nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước
Trong lịch sử, thuật ngữ ngân sách nhà nước (NSNN) xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, nghĩa là khi nền sản xuất xã hội
đã phát triển đến một giai đoạn nhất định Sự xuất hiện của phạm trù NSNN gắn liền với sự xuất hiện của nền kinh tế hàng hóa và nhà nước Chính vì vậy NSNN vừa là một phạm trù kinh tế vừa mang bản chất chính trị Từ khi xuất hiện đến nay, xoay quanh khái niệm về NSNN vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau
Theo Philip.E.Taylor [15]: “NSNN là chương trình tài chính chủ yếu của Chính phủ, tập trung các dữ liệu thu và chi trong khoảng thời gian tài khoá bao hàm các chương trình hoạt động phải thực hiện và các phương tiện tài trợ cho các hoạt động ấy” Quan niệm này đã lột tả được nội dung thực chất của hoạt động NSNN là các hoạt động thu, chi tài chính nhằm bảo đảm cho Nhà nước thực hiện được các chức năng của mình Song, quan niệm này chưa nêu được mục đích của NSNN, do đó bản chất của NSNN chưa được thể hiện rõ
Theo tác giả Trần Đình Ty [19] : “NSNN là dự toán hàng năm về toàn bộ các nguồn tài chính được huy động cho Nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính đó nhằm bảo đảm thực hiện chức năng của Nhà nước do Hiến pháp quy định” Quan niệm này khá toàn diện, vừa bao quát được đặc tính dự toán thu, chi của NSNN, vừa nêu bật được đặc trưng tài chính công của NSNN với hai
Trang 15điểm nhấn: NSNN do luật định và mục đích của NSNN là để thực hiện chức năng của Nhà nước Tuy nhiên, quan niệm này chưa phản ánh được mối quan
hệ giữa NSNN với các loại tài chính khác trong nền kinh tế thị trường Do đó vai trò của NSNN chưa được thể hiện rõ
Theo Điều 1, Luật NSNN được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2 [2] , năm 2002: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” Quan niệm này tiếp cận NSNN theo giác độ nghiệp vụ hẹp, nêu rõ tính thời hạn, tính dự toán và tính pháp định của NSNN Tuy nhiên, dưới giác độ nghiên cứu, quan niệm này không phản ánh được bản chất kinh tế - xã hội và vị trí của NSNN trong hệ thống tài chính quốc gia
Theo tác giả Nguyễn Thanh Tuyền [14] : “NSNN là một hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước”
Trong quan niệm này đã phản ánh rõ vị trí của NSNN và vai trò của nó Tuy nhiên, tính pháp định và tính dự toán cũng như cân đối thu, chi của NSNN chưa được đề cập
Theo giáo trình Lý thuyết tài chính của Học viện Tài chính [9]: “NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định” Giống như quan niệm trên, nhưng quan niệm này đã nhấn rõ tính thu, chi NSNN, tính động của NSNN
Tiếp thu các nhân tố hợp lý của các quan niệm nêu trên về NSNN, ta thấy rằng khái niệm NSNN nên được xem xét dưới hai giác độ:
Trang 16Xét về hình thức: NSNN là một bản dự toán thu, chi theo chế độ chính
sách do Nhà nước quy định; các khoản thu, chi trong bản dự toán đều được cụ thể hoá và định lượng Chính phủ là cơ quan lập dự toán NSNN, Quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện
Như vậy, xét về hình thức, khi nói đến NSNN người ta thường đề cập đến các dấu hiệu cơ bản:
- Hình thức biểu hiện: NSNN được phản ánh dưới dạng văn bản, tập hồ sơ
- Tính pháp lý: NSNN được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định
- Tính kinh tế: NSNN phản ánh các khoản thu và các khoản chi
- Tính niên độ: NSNN được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất
định (thông thường là một năm)
Xét về bản chất: NSNN phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước
và các chủ thể khác trong quá trình phân phối giá trị sản phẩm thặng dư xã hội Các chủ thể trong xã hội, hộ gia đình và doanh nghiệp là người tạo ra nguồn lực tài chính, nhưng trong tiêu dùng họ chỉ được hưởng một phần nguồn lực tài chính do mình tạo ra, một phần phải nộp NSNN Như vậy, bằng quyền lực công cộng của mình, Nhà nước chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể xã hội thành thu nhập của Nhà nước Phần đã nộp vào NSNN sẽ được phân phối đến các đối tượng trong xã hội thông qua các khoản cấp phát của ngân sách cho mục đích tiêu dùng và đầu tư
Mối quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội là mối quan hệ không bình đẳng Tuy nhiên, Nhà nước không thể dựa vào quyền lực của mình để bắt buộc các chủ thể xã hội đóng góp nguồn tài lực với bất kỳ giá nào Tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong mỗi giai đoạn nhất định mà mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội cũng khác nhau Vì vậy, việc giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và xã hội trong quá trình phân phối lại sản phẩm thặng dư xã hội có ý nghĩa rất quan trọng
Trang 17Từ những phân tích trên, có thể khái quát về bản chất NSNN như sau:
NSNN là một phạm trù kinh tế phản ánh các mối quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong phân phối tổng sản quốc dân, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền ở các chủ thể kinh tế khác thành thu nhập của Nhà nước và phân phối chuyển dịch nguồn thu nhập đó đến các đối tượng sử dụng
để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
1.1.1.2 Nguyên tắc quản lý NSNN
Một là, Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ: Điều 6 Hiến pháp nước
cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992 quy định: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân
và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”
Hai là, Nguyên tắc công khai minh bạch: Công khai là để mọi người đều
được biết, minh bạch là làm cho mọi việc trở nên rõ ràng, dễ hiểu Quản lý ngân sách phải công khai, minh bạch xuất phát từ đòi hỏi chính đáng của người dân với
tư cách là người nộp thuế cho nhà nước Quy tắc chung về tính minh bạch gồm các nội dung chủ yếu là:
- Ngân sách phải đảm bảo tính toàn diện: Điều này có nghĩa là các hoạt động trong và ngoài ngân sách đều được phản ánh vào tài liệu trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định
- Đảm bảo tính khách quan độc lập: Các cấp, các đơn vị dự toán, các tổ chức, cá nhân được NSNN hỗ trợ phải công khai dự toán và quyết toán ngân sách; nội dung công khai theo các biểu mẫu quy định, thời gian công khai được quy định rõ đối với từng cấp ngân sách
Ba là, Nguyên tắc đảm bảo trách nhiệm: Nhà nước phải đảm bảo trách
nhiệm trước nhân dân về toàn bộ quá trình quản lý ngân sách Chịu trách nhiệm hữu hiệu bao gồm khả năng điều trần và gánh chịu hậu quả
Bốn là, Nguyên tắc đảm bảo cân đối NSNN: Cân đối NSNN ngoài sự cân
bằng về thu, chi còn là sự hài hoà hợp lý trong cơ cấu thu, chi giữa các khoản
Trang 18thu, chi; các lĩnh vực, các ngành; các cấp chính quyền thậm chí ngay cả giữa các thế hệ (ví dụ: vay nợ) Đảm bảo cân đối ngân sách là một đòi hỏi khách quan xuất phát từ vai trò nhà nước trong can thiệp vào nền kinh tế thị trường với mục tiêu ổn định, hiệu quả và công bằng Vì vậy tính toán nhu cầu chi sát với khả năng thu trong khi lập ngân sách là rất quan trọng Các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn bù đắp
1.1.2 Ngân sách địa phương, vị trí ngân sách địa phương trong hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam
1.1.2.1 Ngân sách địa phương
Trong các văn bản pháp lý về quản lý NSNN nước ta từ năm 1945 đến nay, thuật ngữ NSĐP được sử dụng theo nghĩa đầy đủ lần đầu tiên trong Điều
lệ tạm thời của Hội đồng Chính phủ ngày 01/8/1967 về ban hành quy chế tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Điều lệ này quy định các tỉnh, thành phố có ngân sách riêng (gọi là NSĐP) do chính quyền địa phương trực tiếp quản lý và sử dụng, NSĐP là một bộ phận cấu thành của NSNN Luật NSNN năm 2002 tiếp tục khẳng định rằng NSNN bao gồm NSTW và NSĐP, NSĐP bao gồm ngân sách của các cấp có tổ chức HĐND
Ngân sách địa phương là công cụ tài chính quan trọng của chính quyền các cấp địa phương trong việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn địa phương Khi xem xét khái niệm NSĐP không thể tách rời khỏi NSNN, nhưng cũng không được đồng nhất NSNN với NSĐP
Tiếp cận dưới giác độ nghiệp vụ hẹp, có thể hiểu NSĐP là toàn bộ các khoản thu, chi được quy định đưa vào dự toán trong một năm, do HĐND địa phương quyết định và giao cho UBND các cấp địa phương tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương
Quan niệm trên có thể giúp chúng ta hình dung được NSĐP, cơ quan quyết định và cơ quan chấp hành NSĐP Nhưng quan điểm trên chưa phản ánh
Trang 19được mối quan hệ bản chất, quan hệ lợi ích kinh tế chứa đựng trong NSĐP
Thực tiễn cho thấy, khi các khoản thu và chi của NSĐP diễn ra, tất yếu
sẽ nảy sinh sự vận động của nguồn tài chính từ chủ thể (người nộp) đến NSĐP và từ NSĐP (quỹ) đến những mục đích sử dụng nhất định nào đó Toàn bộ quá trình thu tác động đến lợi ích, nghĩa vụ của người nộp và toàn bộ các khoản chi sẽ mang lại lợi ích cho người hưởng (doanh nghiệp, hộ gia đình) Sự vận động của các nguồn tài chính vào NSĐP và từ NSĐP đến các mục đích sử dụng khác nhau chứa đựng các mối quan hệ:
- Quan hệ giữa chính quyền các cấp địa phương với chính quyền trung ương, thể hiện trong việc xác định cho địa phương nguồn thu được phân chia giữa cấp NSTW và NSĐP và thể hiện trong sự hỗ trợ, bổ sung từ NSTW cho NSĐP
- Quan hệ giữa chính quyền các cấp địa phương với các tổ chức kinh tế ở địa phương được thể hiện trong việc các tổ chức này nộp thuế, phí, lệ phí cho NSĐP và ngược lại NSĐP cũng phải chi trực tiếp hoặc gián tiếp cho các tổ chức này
- Quan hệ giữa chính quyền địa phương với các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước Đó là mối quan hệ thông qua việc cho, biếu, tặng, giúp đỡ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân đó đối với NSĐP và là một khoản thu của NSĐP
- Quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương với các tổ chức Đảng,
tổ chức chính trị xã hội, xã hội khác trong việc hình thành và sử dụng quỹ ngân sách Quan hệ này được thể hiện ở chỗ NSĐP cấp kinh phí cho hoạt động của Đảng và các tổ chức chính trị, xã hội ở các cấp địa phương
Tất cả các mối quan hệ phản ánh qua các nội dung thu và chi của NSĐP
Như vậy, có thể hiểu NSĐP là kế hoạch tài chính cơ bản, vừa là quỹ tiền tệ tập trung của địa phương được hình thành bằng các nguồn thu và các khoản chi của địa phương Nó phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa một bên là chính quyền các cấp địa phương với một bên là các chủ thể khác thông qua
sự vận động của các nguồn tài chính, nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các cấp chính quyền địa phương
Trang 201.1.2.2 Vị trí của Ngân sách địa phương trong hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam
Theo Luật NSNN năm 2002, hệ thống NSNN Việt Nam gồm NSTW và NSĐP NSĐP bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND
và UBND theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND Theo quy định hiện hành, NSĐP bao gồm:
- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh
- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện) bao gồm: ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn
- Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã)
Hình 1.1: Ngân sách nhà nước Việt Nam
Như vậy, NSNN Việt Nam có sự “lồng ghép” nhất định (ngân sách cấp dưới là một bộ phận của ngân sách cấp trên) Điều đó khiến cho quá trình lập, tổng hợp và phân bổ, chấp hành và quyết toán ngân sách vừa khó bảo đảm
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Ngân sách cấp tỉnh
Ngân sách cấp huyện
Ngân sách cấp
xã
Trang 21đúng thời gian, vừa cản trở tính chủ động, sáng tạo của mỗi cấp chính quyền Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản giữa NSNN Việt Nam với NSNN của các nước trên thế giới Ở các nước việc phân cấp ngân sách không thực hiện theo nguyên tắc tổng hợp từ dưới lên Ngân sách cấp dưới không thể hiện vào ngân sách cấp trên và ngân sách cấp trên không bao gồm ngân sách cấp dưới
Trong NSNN Việt Nam, NSTW giữ vai trò chủ đạo, thực hiện các nhiệm
vụ quan trọng, chiến lược của quốc gia như an ninh, quốc phòng, ngoại giao, ổn định kinh tế vĩ mô NSĐP có vai trò quan trọng, cung cấp nguồn tài chính bảo đảm cho chính quyền địa phương thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao Trong mối quan hệ với NSTW, NSĐP thường đóng vai trò phụ thuộc Điều đó thể hiện ở chỗ, nhiệm vụ chi giao cho địa phương luôn lớn hơn khả năng nguồn thu Để đảm bảo cân đối ngân sách, tức là nguồn thu đủ để đáp ứng các nhu cầu
và nhiệm vụ chi, NSĐP phải nhận trợ cấp bổ sung từ NSTW
1.1.3 Vai trò của Ngân sách địa phương đối với phát triển kinh tế địa phương
Ngân sách địa phương có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, cụ thể là:
- Bảo đảm các nguồn vốn để thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế và các hoạt động văn hóa xã hội trong địa phương
- Đảm bảo huy động, quản lý và giám đốc một phần vốn của NSTW phát sinh trên địa bàn địa phương
- Điều hòa vốn về NSTW trong những trường hợp cần thiết để cân đối
hệ thống ngân sách quốc gia
1.2 Phân cấp quản lý ngân sách địa phương
1.2.1 Phân cấp quản lý ngân sách địa phương và sự cần thiết phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương
1.2.1.1 Khái niệm về phân cấp quản lý ngân sách địa phương
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 26) có quy định nguyên tắc: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân, có phân
Trang 22công trách nhiệm và phân cấp quản lý nhà nước giữa các ngành, các cấp Điều này cũng được thể hiện trong tổ chức hệ thống NSNN, tạo nên các cấp ngân sách tương ứng với các cấp chính quyền nhà nước
Luật NSNN năm 2002 quy định: NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn và trách nhiệm (Điều 3)
Phân cấp quản lý NSNN chính là giải quyết các mối quan hệ giữa chính quyền Nhà nước Trung ương và các cấp chính quyền địa phương liên quan đến hoạt động thu chi NSNN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của NSNN
Phân cấp quản lý NSĐP là phân định trách nhiệm và quyền hạn, nghĩa
vụ và lợi ích giữa cơ quan chính quyền nhà nước các cấp ở địa phương trong việc xử lý các vấn đề của hoạt động NSNN
Khi nói tới phân cấp quản lý ngân sách địa phương người ta thường hiểu theo nghĩa trực diện, dễ cảm nhận đó là việc phân giao nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp chính quyền địa phương Thực chất nội dung phân cấp rộng hơn nhiều Nó giải quyết các mối quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động của NSNN bao gồm 3 nội dung sau: Quan hệ về mặt chế độ, chính sách; Quan hệ vật chất về nguồn thu
và nhiệm vụ chi; Quan hệ về quản lý chu trình ngân sách
Về chế độ, chính sách trong phân cấp quản lý NSĐP cần làm rõ những câu hỏi sau: Cơ quan Nhà nước nào có thẩm quyền ra các chế độ, chính sách, định mức, tiêu chuẩn thu, chi và đó là những loại chế độ nào?
Về quan hệ vật chất trong phân chia nguồn thu và nhiệm vụ chi đây luôn là vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất, gây nhiều sự bất đồng nhất trong quá trình xây dựng và triển khai các đề án phân cấp quản lý ngân sách Sự khó khăn này bắt nguồn từ sự phát triển không đồng đều giữa các địa phương,
sự khác biệt về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội giữa các vùng, miền
Trang 23trong cả nước Vì vậy, bất kỳ phương án phân chia, trợ cấp nào cũng khó làm hài lòng các cấp chính quyền địa phương Ổn định ngân sách trong một khoảng thời gian và bổ sung theo mục tiêu có lẽ là phương thức hữu hiệu để giảm bớt sự ỷ lại cũng như điều hòa lợi ích giữa các địa phương
Mối quan hệ trong chu trình ngân sách nhà nước qua 3 khâu: lập ngân sách; chấp hành và quyết toán ngân sách cũng cần được phân định rõ ràng, tránh tình trạng đùn dẩy trách nhiệm giữa các cấp chính quyền
1.2.1.2 Sự cần thiết phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương
Khi tổ chức hệ thống NSNN gồm nhiều cấp thì việc phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương là một tất yếu khách quan Điều đó xuất phát từ những lý do sau đây:
- Theo mô hình tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam, chính quyền được
tổ chức thành 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện, xã Mỗi cấp chính quyền đều
có chức năng và nhiệm vụ cụ thể Do vậy, cần có nguồn tài chính nhất định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đó Để phù hợp với cơ chế kinh
tế mới, phù hợp với phân cấp quản lý hành chính, việc phân cấp quản lý ngân sách cho các cấp chính quyền địa phương sẽ làm cho việc bố trí chi tiêu hiệu quả hơn so với việc áp đặt từ trên xuống
- Việc phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương tạo động lực khuyến khích các cấp chính quyền địa phương chủ động, sáng tạo khai thác các nguồn lực trên địa bàn một cách có hiệu quả, phát huy tính độc lập, tự chủ cũng như lợi thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa bàn ở địa phương nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
- Phân cấp quản lý ngân sách là một bộ phận cấu thành của phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, có tác động qua lại lẫn nhau Việc đẩy mạnh phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương sẽ góp phần đẩy mạnh phân cấp quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn
- Theo lý thuyết kinh tế học công cộng, hàng hoá công cộng được phân
Trang 24chia làm hai loại: Hàng hoá công cộng có tầm ảnh hưởng toàn quốc hay liên vùng như quốc phòng, an ninh, ngoại giao… thì do NSTW đảm nhiệm; những hàng hoá công cộng gắn với một khu vực nhất định ở địa phương như: Đường
xá nông thôn, chiếu sáng, cấp thoát nước, vệ sinh… chỉ có chính quyền địa phương mới biết rõ nguyện vọng, số lượng, chất lượng, những loại cần cung cấp và khả năng ngân sách tài trợ Do vậy, chỉ có chính quyền địa phương mới thực hiện cung cấp loại hàng hoá công cộng này có hiệu quả nhất Để có nguồn tài chính cung cấp hàng hoá công cộng ở địa phương thì phải phân định quyền và nhiệm vụ thu, chi cho cấp chính quyền đó
Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình mới, đất nước ta đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt ra những yêu cầu mới phải tăng cường phân cấp quản lý nhà nước về kinh tế nói chung,
về phân cấp quản lý tài chính ngân sách nói riêng Cụ thể là:
Thứ nhất, phân cấp chính là điều kiện để kinh tế cả nước nói chung,
kinh tế vùng miền nói riêng, phát huy tính năng động, chủ động, khơi thông các nguồn lực tiềm tàng và xử lý các vấn đề phát sinh kịp thời, có hiệu quả
Thứ hai, yêu cầu hết sức cấp thiết của cải cách hành chính hiện nay đặt
ra vấn đề phải tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý, xem phân cấp quản lý là tiền đề, là phương tiện thực hiện cải cách hành chính; đảm bảo cải cách hành chính đạt hiệu quả cao
Thứ ba, phân cấp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tài chính
Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý ngân sách giữa chính quyền địa phương các cấp nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trên cơ sở phân định rõ,
cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy chính
quyền Nhà nước, bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất và thông suốt của
Trang 25Chính phủ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu và lợi ích của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương
1.2.2 Nội dung phân cấp quản lý ngân sách địa phương
Phân cấp quản lý nhân sách địa phương bao gồm các nội dung sau:
- Phân cấp ban hành chế độ, chính sách thu, chi và quản lý ngân sách
Đây là một nội dung quan trọng trong phân cấp quản lý ngân sách Qua phân cấp phải phân định rõ quyền hạn ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức, phạm vi, mức độ và quyền hạn của mỗi cấp chính quyền ở địa phương trong quản lý ngân sách Giải quyết thoả đáng và quy định rõ ràng thẩm quyền của các cấp chính quyền ở địa phương, trong vấn đề này sẽ góp phần bảo đảm tính ổn định, tính minh bạch và tránh được sự rối loạn trong quản lý ngân sách ở địa phương
Luật NSNN năm 2002 đã phân cấp rộng hơn cho chính quyền cấp tỉnh trong công tác quản lý và điều hành ngân sách các cấp ở địa phương Trong lĩnh vực thu, HĐND cấp tỉnh được quyền quy định đối với một số loại phí gắn với quản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên, gắn với chức năng quản lý hành chính nhà nước của chính quyền địa phương Trong lĩnh vực chi ngân sách, HĐND cấp tỉnh được quyền ban hành một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi theo đặc thù và khả năng ngân sách của địa phương
- Phân cấp về vật chất (phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp NSĐP)
Phân cấp vật chất là nội dung cốt lõi trong cơ chế phân cấp ngân sách
Cơ sở của phân cấp vật chất trong quản lý NSNN là phân cấp quản lý kinh tế -
xã hội, khả năng nguồn thu trên từng địa bàn mà chính quyền đó quản lý để từ
đó sử dụng các biện pháp điều hoà thích hợp Đồng thời, khi phân cấp vật chất, cần căn cứ vào khả năng cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng của mỗi cấp chính quyền ở địa phương
Trang 26Luật NSNN năm 2002 quy định: “Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn”
Trong Luật ngân sách nhà nước cũng quy định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được ổn định từ 3 - 5 năm Bao gồm các khoản thu mà từng cấp được hưởng 100%; Các khoản thu phân phân chia theo tỷ lệ % cũng như nhiệm vụ chi của từng cấp trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc phân cấp trên đây
Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu để đảm bảo chủ động thực hiện những nhiệm vụ được giao, gắn trực tiếp với công tác quản lý tại địa phương như: Thuế nhà đất, thuế môn bài, thuế chuyển quyền sử dụng đất…
Chi ngân sách địa phương chủ yếu gắn liền với nhiệm vụ quản lý kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh do địa phương trực tiếp quản lý Việc đẩy mạnh phân cấp quản lý ngân sách trong điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ quản lý ở các vùng miền khác nhau là động lực quan trọng để khơi dậy các khả năng của địa phương, xử lý kịp thời các nhiệm vụ của Nhà nước trên phạm vi từng địa phương
Ngân sách cấp trên thực hiện nhiệm vụ bổ sung ngân sách cho ngân sách cấp dưới dưới hai hình thức: Bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu
- Phân cấp về chu trình ngân sách:
Tức là phân cấp về trách nhiệm và quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương trong việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Yêu cầu chung của cơ chế phân cấp chu trình ngân sách là phải đơn giản, khoa học, vừa nâng cao trách nhiệm quản lý ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, vừa phát huy tính năng động, sáng tạo của chính quyền cơ sở
Trang 27Mặc dù, ngân sách Việt Nam vẫn nằm trong tình trạng ngân sách lồng ghép giữa các cấp chính quyền trong chu trình ngân sách nhưng quyền hạn, trách nhiệm HĐND các cấp trong việc quyết định dự toán ngân sách, phân bổ ngân sách và phê chuẩn quyết toán ngân sách đã được tăng lên đáng kể Ngoài các quyền có tính chất truyền thống như: Quyết định dự toán ngân sách địa phương; phân bổ ngân sách địa phương; phân bổ chi ngân sách cho các sở, ban, ngành theo từng lĩnh vực cụ thể, quyết định số bổ sung từ ngân sách cấp mình cho từng ngân sách cấp dưới; trực tiếp phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương HĐND tỉnh còn có nhiệm vụ:
- Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương
- Quyết định tỷ lệ (%) phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương đối với phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương và các khoản thu có phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương
Ngoài ra, việc tổ chức lập dự toán ngân sách ở các địa phương được phân cấp cho UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định cụ thể cho từng cấp ở địa phương Thảo luận về dự toán ngân sách với cơ quan tài chính chỉ thực hiện vào năm đầu của thời kỳ ổn định, các năm tiếp theo chỉ tiến hành khi địa phương có đề nghị
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân cấp quản lý ngân sách địa phương
Một là, hình thức cấu trúc nhà nước: Hình thức cấu trúc nhà nước là sự
cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính theo vùng, lãnh thổ, xác lập những mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước Trung ương với cơ quan nhà nước địa phương Căn cứ hình thức cấu trúc, bộ máy nhà nước được phân chia thành từng cấp, gắn với địa bàn, lãnh thổ và được giao nhiệm và quyền hạn nhất định trong quản lý kinh tế - xã hội
Trang 28Hai là, trình độ tổ chức, quản lý kinh tế - xã hội của các cấp chính
quyền và mức độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội
Phân cấp là việc phân công chức năng, phân định nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp hành chính, nếu nhìn từ chế độ quản lý thì bản chất của phân cấp
là việc cấp trên chuyển giao những nhiệm vụ quyền hạn do mình nắm giữ cho cấp dưới thực hiện một cách thường xuyên, liên tục bằng phương pháp ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hoặc bằng cách chuyển cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn bằng các quyết định cụ thể
Thực chất của quá trình phân cấp quản lý NSNN là quá trình phân giao nguồn lực tài chính quốc gia cho các cấp chính quyền phân phối, sử dụng Trình độ tổ chức, quản lý của các cấp chính quyền về kinh tế - xã hội nói chung và tài chính nói riêng có tính quyết định đến hiệu quả việc sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia
Ba là, nhiệm vụ cung cấp các hàng hoá công cộng
Ngoài chức năng trấn áp, chức năng kinh tế và các hoạt động khác nhà nước còn là người cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng cho xã hội Việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng sao cho có hiệu quả và đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân cũng cần phải được giao cho một cấp chính quyền nào đó thực hiện Những hàng hoá, dịch vụ đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn, khả năng quản lý cao (an ninh, quốc phòng, môi trường ) thường do chính quyền nhà nước trung ương đảm bảo; những hàng hoá, dịch vụ mang tính phổ cập (giáo dục, phòng bệnh, kiến thiết thị chính, vệ sinh công cộng ) thường giao cho chính quyền địa phương thực hiện, đảm bảo tính hiệu quả trong việc thực hiện và phù hợp với nhu cầu sử dụng của các địa phương Việc quyết định phân cấp về cung ứng hàng hoá và dịch vụ công cộng là tiền
đề để phân định nhiệm vụ thu và nghĩa vụ chi cho từng cấp, từng địa phương
Trang 29Bốn là, đặc điểm tự nhiên
Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến phân cấp quản lý NSĐP Nó thể hiện khả năng thu trong tương lai, nhưng rất dễ trở thành hiện thực trong hiện tại Trong nguồn thu tương lai thì điều kiện về nguồn tài nguyên và khoáng sản có ý nghĩa quan trọng nhất Các địa phương giàu tài nguyên khoáng sản có điều kiện để phát triển sản xuất và xuất khẩu,
từ đó tạo nên tiềm năng nguồn thu ngân sách lớn Thu NSNN cao thì sẽ thuận lợi trong việc phân cấp quản lý nguồn thu giữa các cấp ngân sách chính quyền địa phương và ngược lại
Năm là, đặc điểm về kinh tế - xã hội
Những đặc điểm kinh tế - xã hội là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến phân cấp quản lý ngân sách địa phương Những địa bàn có sự phát triển về kinh tế là điều kiện để tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách và ngược lại Trong khi đó, những địa bàn có đặc điểm về xã hội phức tạp cần được tập trung nguồn lực ngân sách để tăng cường nhiệm vụ chi ngân sách nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý xã hội
1.2.4 Nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách địa phương
Để đảm bảo phân cấp quản lý ngân sách địa phương đem lại kết quả tốt cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất: Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh của nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn
Việc phân cấp ngân sách phải phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội; gắn với nhiệm vụ và khả năng quản lý của từng cấp, đảm bảo nguồn thu để chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý; khuyến khích các cấp tăng cường quản lý thu, chống thất thu; hạn chế phân chia các nguồn thu có quy mô nhỏ cho nhiều cấp; hạn chế việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách
Trang 30cấp dưới; hạn chế sử dụng nhiều tỷ lệ phân chia khác nhau giữa các khoản thu, trong cùng một khoản thu và giữa các đơn vị hành chính trên địa bàn
Thứ hai: Phân cấp ngân sách đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách tỉnh trong hệ thống NSĐP
Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ vị trí quan trọng của chính quyền cấp tỉnh trong quản lý hành chính - kinh tế - xã hội giữa các cấp chính quyền ở địa phương; ngân sách tỉnh thu các khoản thu tập trung, có tỷ trọng lớn trên địa bàn tỉnh và đảm nhiệm các nhiệm vụ chi tác động đến quá trình phát triển kinh - tế xã hội tỉnh, đảm bảo quốc phòng an ninh
Thứ ba: Phân cấp ngân sách đảm bảo phân định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi của từng cấp ngân sách
Làm rõ nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa cấp các cấp ở địa phương, từ
đó làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, tạo điều kiện cho các cấp chính quyền địa phương, nhất là các cấp cơ sở chủ động thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, hạn chế tình trạng trông chờ ỷ lại của ngân sách cấp dưới vào ngân sách cấp trên, gắn quyền lợi chi và trách nhiệm thu cho từng cấp chính quyền
Việc phân cấp không rõ ràng sẽ dẫn đến trùng lắp giữa các nguồn thu nhiệm vụ chi và bị chi phối bởi nhiều cấp, dẫn đến tình trạng co kéo nguồn thu, chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ chi, thất thoát, lãng phí ngân sách
Thứ tư: Đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp NSNN
Đảm bảo sự công bằng, công khai, minh bạch, phát triển cân đối giữa các khu vực trên địa bàn để chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, vừa đảm bảo tập trung điều hành của ngân sách các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh Ngân sách cấp tỉnh giữ vai trò chủ đạo; tăng cường nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã
Trang 311.2.5 Các tiêu chí đánh giá công tác phân cấp quản lý ngân sách địa phương
Công tác phân cấp quản lý ngân sách địa phương được đánh giá dựa trên các tiêu chí sau đây:
* Tiêu chí đánh giá công tác phân cấp ban hành chế độ, chính sách thu chi và quản lý ngân sách
- Chính sách được ban hành đúng thẩm quyền
- Chính sách được ban hành tuân theo hướng dẫn thực hiện, phù hợp theo khung quy định của nhà nước
- Hệ thống chính sách ban hành đầy đủ
* Tiêu chí đánh giá công tác phân cấp nguồn thu nhiệm vụ chi
- Gắn nguồn thu với nhiệm vụ chi và khả năng quản lý của từng cấp chính quyền địa phương
Bao gồm các khoản thu ngân sách nhà nước về thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức, cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác của ngân sách các cấp chính quyền địa phương trên địa bàn được quy định tại Khoản 2 Điều 30, Khoản 1, Khoản 3 Điều 32 Luật Ngân sách nhà nước
Đây là tiêu chí nhằm đảm bảo nguồn lực để các cấp chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý; khuyến khích các cấp tăng cường quản lý thu, chống thất thu; hạn chế phân chia các nguồn thu có quy mô nhỏ cho nhiều cấp; hạn chế sử dụng nhiều tỷ lệ phân chia khác nhau đối với từng khoản thu cũng như giữa các đơn vị hành chính trên địa bàn
- Tăng cường nguồn thu cho ngân sách cấp dưới: Điều này giúp cho các cấp chính quyền địa phương tăng tính chủ động trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn, tránh tình trạng thụ động, trông chờ vào ngân sách cấp trên, nâng cao hiệu quả hoạt động ngân sách
Trang 32- Tăng thu ngân sách một cách ổn định, bền vững: Chính quyền địa phương phải có chính sách nuôi dưỡng nguồn thu, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng khả năng phát triển kinh tế- xã hội
- Cơ cấu nguồn thu chuyển dịch theo hướng tích cực, đó là nâng dần tỷ trọng nguồn thu thuế, phí, lệ phí trong cơ cấu nguồn thu của địa phương, giảm
tỷ trọng nguồn thu tiền sử dụng đất
- Phân cấp nguồn thu phải đảm bảo tiêu chí phục vụ tốt công tác quản
lý, kiểm tra, theo dõi nguồn thu của các cấp ngân sách
Không thực hiện phân cấp và phân chia khoản thu thuế vừa theo tỷ lệ phần trăm (%) vừa theo giá trị tuyệt đối Không thực hiện Tỷ lệ phân chia của các khoản thu có số thu nhỏ khác với khoản thu có số thu lớn
- Đảm bảo tuân thủ tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu
Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu cho ngân sách cấp mình
và ngân sách các cấp dưới không được vượt quá tỷ lệ phần trăm (%) phân chia quy định của cấp trên về từng khoản thu được phân chia Riêng ngân sách xã, thị trấn và ngân sách thị xã, thành phố thuộc tỉnh được hưởng tỷ lệ (%) phân chia tối thiểu về một số khoản thu theo quy định tại Khoản 1 Điều
34 Luật Ngân sách nhà nước
* Tiêu chí đánh giá công tác phân cấp chu trình ngân sách
- Đảm bảo đúng quy trình theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước
và các văn bản pháp luật
* Tiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác phân cấp quản lý ngân sách địa phương
- Kết quả huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính
- Sự phát triển về mặt kinh tế- xã hội của địa phương
1.3 Tình hình giải quyết vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, xu hướng tăng cường phân cấp quản lý ngân sách đang được thực hiện mạnh mẽ Vấn đề này cũng được nhiều nhà
Trang 33nghiên cứu và cán bộ hoạt động thực tiễn quan tâm, nghiên cứu dưới những góc độ, phạm vi khác nhau:
* Những công trình, đề tài nghiên cứu lý luận chung về phân cấp quản lý ngân sách:
- Luận án Tiến sỹ kinh tế [16] “Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý NSNN” của tác giả Nguyễn Việt Cường, năm 2001 Luận án đưa ra những phân tích, đánh giá về cơ chế phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt Nam, từ trung ương đến các cấp chính quyền địa phương Từ đó đưa ra những giải pháp đổi mới
cơ chế phân cấp ngân sách nhà nước thực sự hiệu qủa và đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra Luận án có phạm vi nghiên cứu rộng, đó là cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nói chung, không đi vào nghiên cứu tình hình phân cấp của địa phương Bên cạnh đó giai đoạn nghiên cứu từ năm 2001 nên đã lạc hậu so với tình hình hiện nay
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế [26] “Hoàn thiện cơ chế phân cấp NSNN cho các cấp chính quyền địa phương” của tác giả Đào Xuân Liên, năm 2007 Từ những lý luận chung về phân cấp ngân sách nhà nước và kinh nghiệm phân cấp cho các địa phương ở một số nước trên thế giới, tác giả đã phân tích thực trạng phân cấp ngân sách ở nước ta giai đọan 2003-2007, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường phân cấp ngân sách nhiều hơn cho chính quyền địa phương ở nước ta Luận văn nghiên cứu tổng quát công tác phân cấp NSNN cho các cấp chính quyền địa phương Tuy nhiên mỗi địa phương lại có đặc thù riêng nên công tác phân cấp NSNN cho từng địa phương cũng khác nhau
* Các công trình nghiên cứu về quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn các địa phương khác:
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế [27] “Hoàn thiện quy trình và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Dương Ngọc Anh, năm 2001
Trang 34Luận văn phân tích và làm rõ những yêu cầu cơ bản phải hoàn thiện quy trình và phân cấp quản lý NSNN đáp ứng yêu cầu quản lý trong giai đoạn hiện nay Thông qua việc tập hợp số liệu, tư liệu và khảo sát thực tiễn trên địa bàn nghiên cứu, luận văn đã phân tích đặc điểm thu, chi NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 1998- 2001 Trên cơ sở đó, đi sâu nghiên cứu thực trạng tổ chức quy trình và phân cấp quản lý NSNN của tỉnh, đưa ra đánh giá chung, đồng thời trên cơ sở phương hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2002-2005, luận văn đề xuất phương hướng quản lý NSNN và các giải pháp hoàn thiện quy trình và phân cấp quản lý NSNN của tỉnh Quảng Ngãi
Như vậy, luận văn có phạm vi nghiên cứu rộng hơn là công tác phân cấp ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh, chứ không đi vào nghiên cứu cụ thể
về ngân sách địa phương Bên cạnh đó thời gian nghiên cứu của luận văn đã cách đây 12 năm, từ khi chưa ra đời Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 nên nội dung của luận văn đã lạc hậu so với tình hình hiện nay
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế [28] “Hoàn thiện quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, năm 2007
Luận văn đã trình bày những lý luận chung về quản lý thu, chi ngân sách nhà nước và đưa ra một số vấn đề lý luận cụ thể về quản lý thu, chi ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố trực thuộc tỉnh như: nội dung, đặc điểm
và các nhân tố ảnh hưởng Đồng thời luận văn cũng đi sâu đánh giá thực trạng, phân tích những nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu, chi NSNN ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà
Luận văn đi sâu nghiên cứu công tác thu, chi ngân sách nhà nước, chỉ
là một nội dung của công tác phân cấp ngân sách và phạm vi nghiên cứu chỉ
là ngân sách cấp huyện
Trang 35* Các công trình nghiên cứu về quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình:
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế [7] “Đổi mới quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” của tác giả Đỗ Tiến Dũng, năm 1999
Luận văn chủ yếu nghiên cứu quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trên cơ sở Luật ngân sách nhà nước năm 1996, Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật ngân sách nhà nước năm 1998
Hiện tại công tác quản lý ngân sách đựơc thực hiện trên cơ sở Luật NSNN năm 2002 nên đối tượng nghiên cứu của luận văn đã không còn phù hợp với tình hình hiện nay
- Luận văn Thạc sỹ Quản lý kinh tế [6]“Hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” của tác giả Dương Đức Quân, năm 2007 Luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2002-2007 và vận dụng những kiến thức lý luận về quản lý ngân sách nhà nước nói chung, quản lý ngân sách địa phương nói riêng, luận văn đã đề xuất hệ thống các phương hướng, giải pháp
và những kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trên các mặt: phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp ngân sách địa phương, quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh, quản
lý chi ngân sách địa phương
Luận văn cũng nghiên cứu về công tác quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nhưng thời gian nghiên cứu là giai đoạn 2002-2007 Trong thời gian vừa qua, nhiều chế độ, chính sách đã thay đổi, công tác quản lý ngân sách của tỉnh hiện đang thực hiện theo những quy định của thời kỳ ổn định ngân sách 2011-2015 nên một số nội dung của luận văn đưa ra đã không còn phù hợp
- Luận văn Thạc sỹ Kinh doanh và quản lý [11]“Quản lý ngân sách nhà nước của thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình” của tác giả Nguyễn Thanh
Hà, năm 2012
Trang 36Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện, giai đoạn 2008-2011 Luận văn đã hệ thống hoá được sự hình thành, tồn tại và phát triển của ngân sách huyện qua các thời kỳ lịch sử, vai trò của
nó đối với sự phát triển cũng như sự nâng cao hiệu lực quản lý của hệ thống chính trị địa phương trong phát triển kinh tế- xã hội Phân tích thực trạng về quản lý ngân sách thị xã Tam Điệp và các hoạt động tài chính trên địa bàn để làm rõ những ưu điểm, tồn tại cơ bản và nguyên nhân của nó Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra một số mục tiêu định hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách địa phương trên địa bàn trong giai đoạn tới
Luận văn nghiên cứu về công tác quản lý ngân sách nhà nước trong giai đoạn gần đây 2008-2011, tuy nhiên phạm vi chỉ đề cập đến ngân sách cấp huyện- một cấp trung gian trong hệ thống ngân sách địa phương
Tình hình nêu trên cho thấy, tuy đã được chú ý, nhưng đề tài về phân cấp quản lý ngân sách mới được đề cập ở các khía cạnh, góc độ nhất định hoặc chỉ
ở một số đơn vị, địa phương nhất định, hoặc khá lạc hậu so với tình hình hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về phân cấp quản
lý ngân sách tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề ra các giải pháp góp phần hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách của tỉnh Vì vậy, tác giả lựa
chọn đề tài: “Phân cấp quản lý ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình: Thực trạng và giải pháp” là phù hợp và có ý nghĩa lý luận, thực
tiễn
1.4 Kinh nghiệm phân cấp quản lý NSĐP của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm phân cấp quản lý NSĐP của một số nước trên thế giới
Cơ chế phân cấp quản lý NSĐP ở các nước phụ thuộc vào mô hình tổ chức nhà nước của các nước đó nhưng xu hướng chung trong phân cấp quản lý thu chi NSNN ở các nước là tạo cho ngân sách trung ương quyền quản lý những
Trang 37nội dung thu chi trọng yếu Chính phủ trung ương thâu tóm các nguồn thu quan trọng nhất và đảm nhận các nhiệm vụ chi chủ yếu nhất Kết quả của việc phân cấp này dẫn đến là NSĐP lệ thuộc vào NSTW Nguồn thu của NSĐP thường là các khoản thuế, phí nhỏ lẻ, các khoản phụ thu Phần thu rất quan trọng đối với
các địa phương là bổ sung từ NSTW Tình trạng phổ biến là nhiệm vụ chi mà
các địa phương phải đảm nhiệm thường lớn hơn khả năng thu Chính vì vậy, NSĐP hoặc là phải nhận bổ sung từ NSTW hoặc phải tiến hành các biện pháp vay nợ để bù đắp thiếu hụt ngân sách Từ đó chính quyền địa phương luôn bị phụ thuộc và chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ trung ương
* Về phân cấp nguồn thu:
Phân cấp nguồn thu, nói chung, được xem xét dựa trên các tiêu chí sau:
- Các sắc thuế thường được phân cấp cho ngân sách địa phương đó là: Các sắc thuế có cơ sở thu ít biến động, các sắc thuế cụ thể, phạm vi và mức
độ tác động dễ nhận thấy và các sắc thuế, các loại phí có liên quan trực tiếp tới lợi ích từ các dịch vụ được cung ứng (Thuế tài sản, thuế thu nhập cá nhân
và thuế thu nhập công ty)
- Các sắc thuế thường phân cấp cho NSTW: các sắc thuế mà cơ sở thuế phân bố không đồng đều trong phạm vi quốc gia, các sắc thuế qui mô tăng theo hiệu quả quản lý hành chính và các sắc thuế có tính biến động chu kỳ lớn (thuế VAT, thuế xuất nhập khẩu)
Phân cấp nguồn thu là phải đảm bảo quyền tự chủ về tài khoá của mỗi cấp chính quyền: Mỗi cấp chính quyền có quyền hạn và trách nhiệm đảm bảo cho các dịch vụ của địa phương bằng nguồn của cấp chính quyền đó
- Trong thực tế, có 2 xu hướng về phân cấp nguồn thu: Một số nước phân cấp phân cấp 100% sắc thuế cho NSTW, NSĐP và không có thu phân chia giữa các cấp ngân sách (Thái Lan, Hàn Quốc, Canada, Malaysia…) Tuy nhiên, có một số nước bên cạnh các khoản thu 100% cho mỗi cấp ngân sách,
Trang 38còn có một số sắc thuế phân chia giữa trung ương và địa phương (Trung quốc, Đức, Hungari, Mỹ…)
* Về phân cấp nhiệm vụ chi:
- Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới đều có nguyên tắc chung khi phân
cấp nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách là: Ngân sách Chính phủ giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia, điều phối hoạt động kinh tế vĩ mô của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hỗ trợ những địa phương khó khăn Ngân sách địa phương được phân cấp để đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước của địa phương và những dịch vụ công cơ bản, gắn trực tiếp với địa phương như giáo dục từ trung học cơ sở trở xuống, các cơ sở khám chữa bệnh của địa phương,
- Về mức độ phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cho ngân sách địa phương, có thể phân ra 3 cấp độ sau:
+ Các nước tập trung nguồn thu và nhiệm vu chi tại ngân sách Trung ương, để cấp ngân sách này đóng vai trò chủ đạo và điều tiết nguồn thu, cũng như hỗ trợ cho ngân sách cấp dưới, tỷ lệ nguồn thu và nhiệm vụ chi tập trung
ở Trung ương lớn như: Thái Lan thu 83% - chi 84%, Hungari: 85% - 87%, Anh Quốc: 91% - 93%
+ Các nước có mức độ tập trung vừa phải đối với nguồn thu và nhiệm
vụ chi ở cấp trung ương, chủ yếu tập trung ở các nước kinh tế phát triển, nguồn thu lớn như Mỹ (50% - 55%), Canada (47%-48%), Úc (57%-58%)
+ Nước phân cấp mạnh cho ngân sách địa phương đó là Trung Quốc, tỷ
lệ nguồn thu và nhiệm vụ chi tại trung ương (31% và 33%)
* Đánh giá chung về kinh nghiệm phân cấp của các nước trên thế giới:
- Ở tất cả các nước, cơ sở pháp lý cho vấn đề phân cấp quản lý NSNN đều rõ ràng, ổn định và đồng bộ giữa chính sách về tài chính với các chính sách khác
Trang 39- Hệ thống ngân sách của các nước độc lập với nhau, ngân sách cấp nào
do cấp đó quyết định và giao cho chính quyền cùng cấp thực hiện Quốc hội chỉ quyết định Ngân sách trung ương Trên cơ sở đó, các cấp hoàn toàn tự chủ trong việc quyết định ngân sách của mình, nhờ đó cũng chủ động trong việc
tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chi, hạn chế ỷ lại vào cấp trên Cơ chế lồng ghép ngân sách (Quốc hội quyết định ngân sách nhà nước, bao gồm ngân sách các cấp chính quyền địa phương), HĐND cấc cấp lại quyết định ngân sách đã được Quốc hội phê duyệt Đây là một sự chồng chéo, không rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn
- Xu hướng chung trong phân cấp quản lý thu chi NSNN ở các nước là luôn đảm bảo vai trò tập trung của NSTW, NSĐP được thiết kế thu không đủ chi cần sự hỗ trợ của NSTW, chính sự hỗ trợ này đảm bảo tính thống nhất của nền tài chính quốc gia thông qua sự chi phối, điều tiết của NSTW
- Việc quản lý vay nợ của các cấp chính quyền địa phương được quản lý hết sức chặt chẽ và thường do Chính phủ Trung ương quy định trong những trường hợp cụ thể
1.4.2 Kinh nghiệm phân cấp quản lý ngân sách địa phương tại tỉnh Nam Định
Tỉnh Nam Định trong thời kỳ ổn định ngân sách 2011-2015 thực hiện phân cấp quản lý ngân sách theo Nghị quyết số 146/2010/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 của HĐND tỉnh
* Về phân cấp nguồn thu:
- Đối với các khoản thu thuế môn bài; thuế giá trị gia tăng; thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hóa dịch vụ trong nước; thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp từ các hoạt động chính của các đơn vị hạch toán toàn ngành); thuế tài nguyên; tiền thuê mặt đất, mặt nước của các doanh nghiệp nhà nước Trung ương, địa phương trên địa bàn thành phố Nam Định thực hiện phân chia cho ngân sách cấp tỉnh 100%
Trang 40Trong khi đó thuế môn bài; thuế giá trị gia tăng; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp từ các hoạt động chính của các đơn vị hạch toán toàn ngành); thuế tài nguyên của các doanh nghiệp nhà nước Trung ương và địa phương, doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện (trừ các doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố Nam Định) phân chia cho ngân sách cấp huyện 100%
Thuế môn bài; thuế giá trị gia tăng; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế tài nguyên; tiền thuê mặt đất, mặt nước của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Nam Định, ngân sách tỉnh: 50%, ngân sách thành phố 50%
Thực hiện phân cấp nguồn thu từ các doanh nghiệp trên địa bàn cho thấy tỉnh Nam Định đã xây dựng phân chia phù hợp với sự phát triển kinh tế -
xã hội và nguồn thu phát sinh trên địa bàn
Toàn bộ khoản thu từ doanh nghiệp trên địa bàn các huyện thực hiện điều tiết cho ngân sách huyện 100%, có tác dụng động viên khuyến khích cấp huyện đẩy mạnh quản lý khai thác nguồn thu một cách bền vững
Đối với số thu từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Nam Định (tỉnh lỵ) có số lượng doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, số thu nộp ngân sách lớn cần thiết phải phân chia giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách thành phố
để đảm bảo ngân sách tỉnh giữ vai trò chủ đạo
Đối với nguồn thu tiền sử dụng đất: Tỉnh Nam Định thực hiện phân chia nguồn thu hướng về cấp xã để có nguồn xây dựng nông thôn mới Cụ thể: Trích 30% để chi cho Quỹ phát triển đất theo Nghị định số 69/2009/NĐ-CP; số còn lại được để lại toàn bộ cho ngân sách huyện, ngân sách xã: Ngân sách huyện, thành phố 20%; Ngân sách xã, thị trấn 50%
Riêng số thu tiền sử dụng đất tại thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thuỷ
và thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu: Ngân sách tỉnh 30% (để chi cho Quỹ