ĐẶT VẤN ĐỀ 1- Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây quá trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước diễn ra chậm chạp, thực tế có nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chủ yếu là nh
Trang 1VŨ XUÂN THU
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, 2012
Trang 2VŨ XUÂN THU
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.10.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ MINH CHÍNH
HÀ NỘI, 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của khoa Sau đại học, trường Đại học Lâm Nghiệp, tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp tại Ban đổi mới và quản lý doanh nghiệp nông nghiệp ( Bộ Nông nghiệp và PTNT ) Sau một thời gian làm việc
cố gắng và nỗ lực hết mình, đến nay khóa luận đã được hoàn thành Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn bộ các cán bộ, công nhân viên viên chức làm việc tại Ban đổi mới và quản lý doanh nghiệp nông nghiệp ( Bộ Nông nghiệp và PTNT ), các thầy cô giáo trong khoa Sau đại học và đặc biệt
là thầy giáo – Tiến sĩ Lê Minh Chính công tác tại trường Đại học Lâm Nghiệp
đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Quá trình thực tập mặc dù đã có nhiều cố gắng của bản thân nhưng do thời gian và khả năng trình bày chưa được tốt đo đó luận văn của tôi không thể tránh khỏi những thiếu xót Tôi rất mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy
cô giáo để hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày …… tháng năm 2012
Học viên thực hiện
Vũ Xuân Thu
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vii
Danh mục sơ đồ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 4
1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước: 4
1.1.1 Định nghĩa doanh nghiệp nhà nước: 4
1.1.2 Vai trò và thực trạng của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam: 4
1.2 Một số lý luận chung về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước: 7
1.2.1 Khái niệm và bản chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước: 7
1.2.2 Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước: 12
1.2.3 Tác động của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước: 13
1.2.4 Sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam: 16
1.3 Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài: 17
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới: 17
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước: 21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 27
Trang 62.1 Tiến trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua: 27
2.1.1 Giai đoạn thí điểm (từ năm 1992 – 1996): 27 2.1.2 Giai đoạn mở rộng (1996-2002): 27 2.1.3 Giai đoạn chủ động (bắt đầu từ tháng 6/2002 đến tháng 11/2004): 28 2.1.4 Giai đoạn đẩy mạnh (từ tháng 12/2004 đến nay): 29
2.2 Những thành tựu đạt được từ việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam: 29
2.2.2 Tác động của cổ phần hoá đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hoá: 32 2.2.3 Cổ phần hoá tạo thêm công ăn việc làm, thu hút thêm lao động
và tăng thu nhập cho người lao động: 33 2.2.4 Cổ phần hoá tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, giúp cơ cấu lại doanh nghiệp, huy động thêm vốn, tạo cho doanh nghiệp có chế quản lý năng động hiệu quả: 34
2.3 Những khó khăn của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước: 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 39 3.1 Kết quả thực hiện Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong 10 năm (2001-2011): 39
3.1.1 Thực trạng doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước tại thời điểm 01/01/2001 và thời điểm 31/12/2011: 39 3.1.2 Kết quả thực hiện Cổ phần hóa và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn 10 năm (2001- 2011): 41
Trang 73.1.3 Kết quả thực hiện sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm
trường quốc doanh: 42
3.14 Kết quả thí điểm cổ phần hoá vườn cây, rừng trồng gắn với cơ sở chế biến nông lâm trường quốc doanh và mô hình Công ty TNHH Hai thành viên: 46
3.2 Chương trình Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2015 47
3.2.1 Văn bản pháp lý thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Bộ giai đoạn 2011-2015 47
3.2.2 Thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Bộ giai đoạn 2011-2015 48
3.2.3 Chương trình Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2015 51
3.2.4 Lộ trình thoái vốn các Doanh nghiệp cổ phần hóa giai đoạn 2011-2015 59
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn 63
3.3.1 Các nhân tố tích cực có ảnh hưởng tới kết quả Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Bộ: 63
3.3.2 Các nhân tố tiêu cực làm ảnh hưởng tới kết quả Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Bộ: 66
3.4 Các giải pháp đề xuất 67
3.4.1 Cổ phần hóa phải nâng cao nhận thức và lãnh đạo chỉ đạo thực hiện 67
3.4.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến về cổ phần hoá 69
3.4.3 Phải có quyết tâm cổ phần hoá 71
3.4.4 Thực hiện cổ phần hoá từng bước vững chắc 71
Trang 83.4.5 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp cổ phần hoá 75 3.4.6 Xoá bỏ cổ phần hoá khép kín và lành mạnh hoá tình hình tài chính 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ 1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây quá trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước diễn ra chậm chạp, thực tế có nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chủ yếu
là những bất cập của chính sách về cổ phân hóa, còn các nguyên nhân khác như: trình độ, nhận thức của cán bộ công nhân viên về Cổ phần hóa; sự chỉ đạo, đôn đốc của cấp trên; tình hình thị trường chứng khoán liên tục giảm điểm từ đầu năm 2008 đến nay; chính sách thắt chặt tiền tệ, khó khăn của nền kinh tế thế giới cũng như trong nước…là những nguyên nhân chưa phải là cơ bản, làm ảnh hưởng đến việc chậm tiến độ Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Qua nghiên cứu tôi có một số nhận xét sau:
Thứ nhất: Việc Cổ phần hoá chưa gắn với sự phát triển thị trường
chứng khoán, thị trường vốn, sàn giao dịch chứng khoán mới hoạt động được
8 năm, nhưng đến nay hàng trăm doanh nghiệp đã Cổ phân hóa vẫn chưa đủ điều kiện niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, mặt khác chưa có sàn giao dịch cho cổ phiếu không niêm yết (cổ phiếu OTC), nhiều doanh nghiệp đã Cổ phần hóa nhưng chưa thực sự trở thành Công ty đại chúng Như vậy không khác nào muốn đẩy mạnh sản xuất ra nhiều hàng hoá nhưng chưa có chợ để bán hàng
Thứ hai: Mục tiêu của Cổ phần hóa không tập trung vào việc giải
quyết các vấn đề bản chất ưu việt do Cổ phần hóa mang lại, chưa lấy mục đích Cổ phần hóa để thay đổi cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp làm chủ yếu, trên cơ sở đa sở hữu; có giai đoạn cổ phần hóa (2005-2007) chú trọng nhiều đến việc bán phần vốn nhà nước để tăng thu thặng dư cổ phần thu về cho ngân sách nhà nước
Thứ ba: Chính sách về Cổ phần hóa thay đổi nhiều, từ khi bắt đầu cổ
phần hóa đến nay chúng ta đã ban hành 05 Nghị định về Cổ phần hóa:
Trang 12- Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần
- Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần
- Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về chuyển công ty nhà nước thành Công ty cổ phần
- Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần
- Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 26/6/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần
Trong 05 nghị định nêu trên, cũng có nhiều bất cập, tuy nhiên tôi chỉ nêu một vài sự bất cập về tính thống nhất giữa các Nghị định với nhau:
- Nghị định 44/1998/NĐ-CP, Nghị định 64/2002/NĐ-CP không thực hiện đấu giá cổ phần qua tổ chức tài chính trung gian; Nghị định 187/2004/NĐ-CP và Nghị định 109/2007/NĐ-CP thực hiện đấu giá công khai
cổ phần qua tổ chức tài chính trung gian hoặc đấu giá qua Trung tâm giao dịch chứng khoán
- Về ưu đãi giảm giá cho người lao động, Nghị định 44/1998/NĐ-CP, Nghị định 64/2002/NĐ-CP giảm giá 30% giá trị cổ phần ưu đãi (theo mệnh giá
cổ phiếu) tính theo năm công tác của người lao động; Nghị định
187/2004/NĐ-CP, Nghị định 109/2007/NĐ-CP giảm giá 40% theo giá đấu giá thành công bình quân
- Về đất đai, các Nghị định ban hành trước Nghị định 109/2007/NĐ-CP không tính giá trị lợi thế vị trí địa lý đối với trường hợp doanh nghiệp áp dụng hình thức thuê đất; riêng Nghị định 109/2007/NĐ-CP, doanh nghiệp nếu áp dụng hình thức thuê đất khi tiến hành cổ phần hóa phải tính giá trị lợi thế vị trí địa lý đối với đất đô thị, nếu giao đất thì phải tiến hành mua quyền sử dụng đất của Nhà nước với giá sát với giá thị trường
Trang 13- Các nghị định trước Nghị định 109/2007/NĐ-CP thì thặng dư bán cổ phần (kể cả phát hành thêm) là sở hữu của nhà nước; đến Nghị định 109/2007/NĐ-CP ban hành thì thặng dư khi bán cổ phần đối với trường hợp doanh nghiệp phát hành thêm vốn thì thặng dư đó được để lại cho Công ty cổ phần
Từ năm 2008 đến nay, tiến độ Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chậm, do nhà nước ban hành Nghị định 109/2007/NĐ-CP, đã bổ sung thêm nội dung giá trị lợi thế vị trí địa lý đối với trường hợp doanh nghiệp thuê đất tại đô thị và một số thành phố lớn, doanh nghiệp phải tính lợi thế vị trí địa lý
là đúng, nhưng Thông tư 146/2007/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 109/2007/NĐ-CP, hướng dẫn cách tính giá trị lợi thế vị trí địa lý không phù hợp với thực tế nên rất khó khăn trong việc thực hiện Cổ phần hóa, làm chậm tiến độ Cổ phân hóa, thậm chí một số doanh nghiệp nhà nước không thể tiến hành Cổ phần hóa được, làm ảnh hưởng và chậm tiến độ Cổ phần hóa
Với những lý do trên, được sự giúp đỡ tận tình của Thầy giáo- Tiến sĩ
Lê Minh Chính em đã mạnh dạn chọn đề tài:
văn tốt nghiệp của mình
2- Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
+ Đề xuất được các giải pháp Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 14Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước:
1.1.1 Định nghĩa doanh nghiệp nhà nước:
Khái niệm doanh nghiệp nhà nước được phát triển tương đối sâu trong định nghĩa và các quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 Điều
1 Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 định nghĩa:“ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức Công ty nhà nước, Công
ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn” Định nghĩa này của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 chứa đựng nhiều điểm mới phản ánh những thay đổi khá cơ bản trong nhận thức của các nhà lập pháp và hoạch định chính sách của nước ta đối với thành phần kinh tế nhà nước cũng như các thành phần kinh tế khác
Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đã đa dạng hoá các doanh nghiệp nhà nước trên tiêu chí quyền chi phối Khác với trước đây là doanh nghiệp nhà nước chỉ tồn tại dưới dạng doanh nghiệp nhà nước độc lập hoặc Tổng công ty nhà nước thì hiện nay doanh nghiệp nhà nước có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau Chính sự đa dạng về hình thức tồn tại của doanh nghiệp nhà nước sẽ làm sinh động thành phần kinh tế công, làm cho nó thích ứng hơn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.1.2 Vai trò và thực trạng của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam:
Hiến pháp năm 1992 và các văn bản Pháp luật khác của nhà nước ta đã khẳng định doanh nghiệp nhà nước có một vị trí quan trọng và đóng vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước Tồn tại với tư cách là nhân tố trọng yếu trong vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, tuy nhiên doanh nghiệp nhà nước
Trang 15đang phải đối mặt với mâu thuẫn giữa thực trạng hoạt động với tư cách vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước trước đây được gọi là Xí nghiệp quốc doanh (hoặc Liên hiệp xí nghiệp) đã phát triển với số lượng và quy mô lớn trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung và được xác định là thành phần kinh tế chủ đạo Doanh nghiệp nhà nước đã đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố nền tảng kinh tế, xã hội của nước ta, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà, xây dựng cơ sở vật chất cho Chủ nghĩa xã hội
Doanh nghiệp nhà nước hiện nay đang được quan tâm đặc biệt bởi vai trò và sứ mệnh của chúng trong nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa và đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Đảng ta nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với bộ phận chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước Kinh tế nhà nước được xác định là thành phần chủ đạo của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
và khẳng định sự cần thiết của nền kinh tế đa thành phần, đã tránh được tư duy máy móc về Chủ nghĩa xã hội với hai hình thức sở hữu tư liệu sản xuất chính là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể
Ngay từ những thập niên 60; 70; 80 các Xí nghiệp quốc doanh luôn hoạt động trong tình trạng kém hiệu quả kéo dài qua nhiều năm, gây bức xúc cho nền kinh tế, đòi hỏi phải có sự đổi mới về quản lý kinh tế trong đó có đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước để hoạt động có hiệu quả, góp phần đẩy mạnh phát triển nền kinh tế đất nước trong thời kỳ mới Đánh giá qua hơn
10 năm đổi mới, công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã có những bước phát triển tốt, thể hiện ở trong các nội dung sau:
- Doanh nghiệp nhà nước chi phối được những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, góp phần để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, giữ tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, thu nộp ngân sách, hợp tác đầu tư với nước ngoài,
Trang 16đảm bảo được các dịch vụ công ích, phục vụ tốt cho an ninh và quốc phòng của đất nước
- Doanh nghiệp nhà nước đang dần dần thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm được nâng cao, vốn được bảo toàn và phát triển
- Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã tăng được khả năng cạnh tranh và khả năng hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, xem xét một cách toàn diện thì những thành tựu trên của doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa thể khắc phục được những tồn tại của chúng trong hoạt động sản xuất kinh doanh Sự phát triển không bình thường về lượng cộng với những bất cập trong cơ chế quản lý đã dẫn doanh nghiệp nhà nước tới một số hạn chế sau đây:
- Thứ nhất, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, chưa tương xứng với
vị trí và sự đầu tư của ngân sách
- Thứ hai, quy mô nhỏ bé của doanh nghiệp nhà nước thể hiện ở cả trong
tiêu chí về sử dụng lao động Số doanh nghiệp nhà nước có lao động dưới 500 người chiếm 80% Do quy mô doanh nghiệp nhà nước rất nhỏ nên khả năng đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ rất hạn chế Nhìn chung, doanh nghiệp nhà nước chưa đủ sức tự mình đầu tư để vươn tới những công nghệ và
kỹ thuật tiên tiến Những hạn chế này dẫn đến tình trạng hàng hoá của doanh nghiệp nhà nước giá cao hơn hàng hoá cùng loại, cùng chất lượng của các doanh nghiệp khác
- Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước còn lạc hậu về công nghệ sản xuất, về
trình độ quản lý
- Thứ tư, cơ cấu phân bố chưa hợp lý Còn khá nhiều doanh nghiệp nhà
nước hoạt động trong các lĩnh vực mà ở đó chúng khó có thể cạnh tranh được
Trang 17như trong những dịch vụ thông thường Bên cạnh đó, có thể nhận thấy doanh nghiệp nhà nước được phân bố không hợp lý theo ngành và địa phương Có những địa phương, ngành như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, ngành công nghiệp, thương mại doanh nghiệp nhà nước tập trung với số lượng lớn trong lúc đó nhiều địa phương khác lại có rất ít các doanh nghiệp nhà nước Một số địa phương, nhất là cấp huyện thành lập rất nhiều doanh nghiệp nhà nước không phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và không đúng nhu cầu thực
tế của địa phương
- Thứ năm, cơ chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp cũng như cơ
chế quản lý trong bản thân doanh nghiệp còn cồng kềnh và kém hiệu quả
- Thứ sáu, doanh nghiệp nhà nước ít có khả năng cạnh tranh trên thị
trường Trong bối cảnh đất nước ta đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia nhiều hơn vào các khu vực mậu dịch tự do hoặc các hiệp định thương mại song phương, đa phương, tính cạnh tranh thấp của doanh nghiệp nhà nước sẽ là một thách thức khó khăn đối với nền kinh tế nước ta trong giai đoạn mới
1.2 Một số lý luận chung về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước:
1.2.1 Khái niệm và bản chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước:
1.2.1.1 Khái niệm về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước:
Cổ phần hoá là một trong những giải pháp sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Nó là một nội dung nằm trong chính sách cải cách doanh nghiệp nhà nước được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 18Sơ đồ 01: Chính sách cải cách doanh nghiệp nhà nước
Xét về bản chất pháp lý, cổ phần hoá là việc biến doanh nghiệp một chủ
sở hữu thành doanh nghiệp của nhiều chủ sở hữu, tức là chuyển từ hình thức
sở hữu đơn nhất sang đa chủ sở hữu, thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp sang cho nhiều người khác Những người này trở thành chủ
sở hữu của doanh nghiệp theo tỷ lệ cổ phần mà họ sở hữu trong doanh nghiệp
cổ phần hoá Xét dưới góc độ này thì cổ phần hoá dẫn tới sự xuất hiện của Công ty cổ phần dựa trên nền tảng của doanh nghiệp được cổ phần hoá
1.2.1.2 Khái niệm Công ty cổ phần:
Theo Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005, Công ty
cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là Cổ phần
Cho thuê DNNN
Cổ phần hoá DNNN
Cho thuê toàn bộ Bán toàn bộ
Cho thuê một phần
Trang 19- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân và số lượng cổ đông tối thiểu là ba
và không hạn chế số lượng tối đa
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn
a Các loại cổ phần:
- Cổ phần phổ thông, người sở hữu cổ phần phổ thông là Cổ đông phổ thông
- Cổ phần ưu đãi, người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là Cổ đông ưu đãi
- Cổ phần ưu đãi gồm: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức,
cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ Công ty quy định
Chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông Người được quyền mua cổ phần
ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ Công
ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông
b Cơ cấu tổ chức quản lý Công ty cổ phần:
Công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám
đốc hoặc Tổng giám đốc Đối với Công ty cổ phần có trên mười một cổ đông
là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của
Trang 20Công ty phải có Ban kiểm soát Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty được quy
định tại Điều lệ Công ty
Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty cổ phần
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị theo quy định tại Điều lệ Công ty Trường hợp Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị thì Chủ tịch được bầu trong số thành viên Hội đồng quản trị Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Công ty nếu Điều lệ Công ty quy định
Hội đồng quản trị bổ nhiệm một người trong số các thành viên Hội đồng quản trị hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp Điều lệ Công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty
Ban kiểm soát có từ ba đến năm thành viên nếu Điều lệ Công ty không
có quy định khác Nhiệm kỳ của Ban kiểm soát không quá năm năm, thành viên Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
Các thành viên Ban kiểm soát bầu một người trong số họ làm Trưởng ban kiểm soát Quyền và nhiệm vụ của Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ Công
ty quy định Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam và phải có ít nhất một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên Trong trường hợp vào thời điểm kết thúc nhiệm kỳ mà Ban kiểm soát nhiệm kỳ mới chưa được bầu thì Ban kiểm soát đã hết nhiệm kỳ vẫn tiếp tục thực hiện quyền và nhiệm vụ cho đến khi Ban kiểm soát nhiệm kỳ mới được bầu và nhận nhiệm vụ
Trang 21c Mục đích cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước:
Góp phần nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp
để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp
Huy động vốn của toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp
Phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động của các cổ đông, tăng cường sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp, bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động
d Yêu cầu của việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty
Cổ phần:
Chuyển đổi những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có đa chủ sở hữu, huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp
Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp đồng thời gắn với
sự phát triển của thị trường vốn, thị trường chứng khoán
1.2.1.3 Bản chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước:
Việc cổ phần hoá được thực hiện thông qua việc chia vốn của doanh nghiệp nhà nước ra thành nhiều cổ phần có mệnh giá giống nhau Một phần
cổ phần phát hành được bán cho tư nhân hoặc bán cho người lao động tại doanh nghiệp, một phần Nhà nước sở hữu Thông qua cổ phần hoá thì doanh
Trang 22nghiệp nhà nước được biến thành sở hữu chung của người lao động, của nhà đầu tư và của Nhà nước Như vậy doanh nghiệp nhà nước đã tư nhân hoá một phần, một phần giành cho nhà đầu tư và người lao động, có nghĩa là một phần tài sản của thành phần kinh tế công đã chuyển sang thành phần kinh tế tư nhân Thực tế này cho thấy cổ phần hoá là tư nhân hoá từng phần doanh nghiệp nhà nước Cũng chính vì lý do này nên nhiều quốc gia khi tiến hành cải cách thành phần kinh tế công đều coi cổ phần hoá là một trong những phương thức thực hiện tư nhân hoá
Có quan điểm đồng nhất cổ phần hoá với tư nhân hoá hay có quan điểm
cổ phần hoá chỉ liên quan đến doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, giữa cổ phần hoá và tư nhân hoá ở các nước đã tiến hành cải cách đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo mô hình tư nhân hoá vẫn có những điểm khác nhau cơ bản
Ngoài ra, với tư cách là sự kiện pháp lý của việc chuyển đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp, cổ phần hoá có thể áp dụng đối với bất cứ loại hình doanh nghiệp nào thuộc sở hữu của một chủ duy nhất Vì vậy, doanh nghiệp
tư nhân, doanh nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài đều có thể trở thành đối tượng của cổ phần hoá Doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp 100% vốn của một nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn thông qua cổ phần hoá
1.2.2 Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước:
Cổ phần hoá tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu trong đó
có sự tham gia của đông đảo người lao động Nhờ có sự tham gia của đông đảo các chủ sở hữu sẽ tăng cường được sự giám sát của các nhà đầu tư đối với nguồn vốn của doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả sử dụng các nguồn vốn của doanh nghiệp, thay đổi được cung cách quản trị doanh nghiệp đảm bảo giải quyết được hài hoà lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp của các nhà đầu tư và của người lao động
Trang 23Thông qua cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước sẽ huy dộng được nguồn vốn của cá nhân, của các tổ chức Kinh tế - Xã hội trong và ngoài nước
để doanh nghiệp có thể tái đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh
1.2.3 Tác động của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước:
Cổ phần hoá có vai trò to lớn trong việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước, nhất là ở những nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2.3.1 Cổ phần hoá với tăng trưởng kinh tế:
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP tổng quát cho giai đoạn 2011- 2015 theo đó nền kinh tế tăng ở mức 6.5% đến 7% mỗi năm Việc thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố quyết định là hiệu quả của khu vực kinh tế công mà nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước Điều này cũng có nghĩa là Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước có tác động rất lớn đối với việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng do Đại hội Đảng đề ra
- Thứ nhất, kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy ở các nước
có thành phần kinh tế công lớn thì tốc độ tăng trưởng không cao Chính vì thế, đối với đất nước ta, muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao thì cần cơ cấu lại thành phần kinh tế này Phân tích của các nhà kinh tế cho thấy ở Trung Quốc giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ cổ phần hoá tỷ lệ thuận với nhau rất
rõ Sở dĩ như vậy do là cổ phần hoá sàng lọc và đào thải những doanh nghiệp kém hiệu quả, tạo môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và động lực phát triển Những doanh nghiệp nhà nước kinh doanh không hiệu quả phần lớn là do khâu quản lý yếu kém, bộ máy điều hành thiếu năng động sáng tạo
- Thứ hai, việc giảm số lượng các doanh nghiệp nhà nước thuần tuý, tức
là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sẽ giảm bớt được một khoản bổ sung
Trang 24vốn từ ngân sách cho những doanh nghiệp này để dành đầu tư vào những nhu cầu phát triển khác
- Thứ ba, thông qua cổ phần hoá, Nhà nước thu được một phần giá trị tài
sản nhà nước trước đây giao cho các doanh nghiệp quản lý nhưng sử dụng kém hiệu quả
- Thứ tư, cùng với việc giảm đầu mối doanh nghiệp nhà nước sẽ làm
giảm nhu cầu hỗ trợ và ưu đãi về tín dụng của nhà nước Đặc biệt nó sẽ làm giảm bớt áp lực vay vốn lên các ngân hàng thương mại quốc doanh và các quỹ tín dụng nhà nước
- Thứ năm, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước gắn liền với xuất hiện của
hàng loạt các Công ty cổ phần Sự tồn tại của Công ty cổ phần với cơ chế lưu chuyển cổ phần thông qua thị trường chứng khoán tạo ra quá trình luân chuyển vốn từ nơi không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả cao
1.2.3.2 Cổ phần hoá với vần đề dân chủ hoá đời sống kinh tế và chống tham nhũng:
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta có tác dụng rất lớn trong việc đẩy lùi tình trạng lãng phí, tham nhũng đang khá phổ biến trong các doanh nghiệp nhà nước và những cơ quan quản lý chúng Sự bao cấp của nhà nước đối với nhiều doanh nghiệp, cơ chế xin cho là mảnh đất tốt lành cho những hành dộng lãng phí, tham nhũng
Cổ phần hoá sẽ là một giải pháp tích cực để hạn chế tình trạng tham nhũng, nâng cao dân chủ và công bằng xã hội Trong một doanh nghiệp cổ phần hoá, việc quản lý Công ty sẽ được đảm nhiệm bởi một guồng máy do các cổ đông lập ra Chính các cổ đông sẽ quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp, giám sát chặt chẽ, thường xuyên hoạt động sản xuất kinh doanh của nó Vì lợi ích của chính bản thân mình, cổ đông sẽ phát hiện và tự mình thông qua nền dân chủ cổ phần xử lý kịp thời các hành vi mờ ám, gian lận hay tham ô của những người quản lý và các cổ đông lớn trong công ty
Trang 251.2.3.3 Tác động xã hội của cổ phần hóa:
Bất kỳ chính sách kinh tế nào cũng tác động đến các vấn đề xã hội Cổ phần hoá tác động đến các vấn đề xã hội ở nhiều phương diện, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhiều đối tượng xã hội, làm phát sinh những mối quan
hệ mới Ảnh hưởng của cổ phần hoá có thể rất tích cực song cũng có thể chứa đựng những yếu tố tiêu cực nếu không được xử lý đúng
Một trong những mục tiêu của chính sách cổ phần hoá là thay đổi cơ cấu quản lý của doanh nghiệp cho hợp lý và hiệu quả hơn Những thay đổi này chắc chắn sẽ kéo theo sự thay đổi trong việc bố trí, sử dụng lao động Thêm vào đó, khi công nghệ, quy trình sản xuất và cơ chế quản lý lao động mới được áp dụng sau cổ phần hóa, nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp sẽ giảm Ngay cả khi nhu cầu lao động không giảm song do tính chất hiện đại của công nghệ lao động chưa qua đào tạo hay đào tạo không phù hợp với trình
độ mới trong các doanh nghiệp nhà nước sẽ phải được thay thế Việc làm là vấn đề sống còn đối với người lao động, đây thực sự là một thách thức không nhỏ trong quá trình cổ phần hoá
Tác động đáng lưu ý khác của cổ phần hoá là sự tiềm ẩn trong nó khả năng phân hoá xã hội và gia tăng khoảng cách giàu nghèo
1.2.3.4 Cổ phần hoá với sự phát triển của thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán và cổ phần hoá có mối liên hệ lẫn nhau không thể phủ nhận Cổ phần hoá có tác động rất lớn đối với thị trường chứng khoán thông qua việc xuất hiện thêm một số lượng Công ty cổ phần có tiềm lực do thừa kế vốn, công nghệ, lao động từ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc đẩy nhanh cổ phần hoá sẽ gắn chặt với việc phát triển thị trường chứng khoán Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước được tiến hành tốt sẽ làm cho thị trường chứng khoán phát triển sôi động Ngoài ra, sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá vào thị trường chứng khoán buộc chúng phải thực hiện chế độ tài chính kế toán minh bạch, công khai, phải công bố với các cổ đông và công chúng về tình
Trang 26hình sản xuất- kinh doanh, lợi nhuận và kế hoạch phát triển Công ty Những đòi hỏi này buộc những người quản lý Công ty phải điều hành tốt hơn, chú trọng đến sự phát triển sản xuất kinh doanh nhiều hơn Kết quả, hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá sẽ tốt hơn nhiều và đó là một trong những lực hút các doanh nghiệp nhà nước vào quỹ đạo cổ phần hoá
1.2.4 Sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam:
Đối với nước ta, do đặc trưng của nền kinh tế, do chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cổ phần hoá được coi là giải pháp cơ bản của sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước Điều này được
lý giải bởi sự hoá thân đầy đủ của cổ phần hoá vào trong những yêu cầu, những đặc trưng của sự phát triển đất nước ta trong giai đoạn hiện nay và cả trong tương lai
Việc thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã cho phép các doanh nghiệp thu hút được một lượng lớn nguồn vốn trong xã hội vào đầu tư phát triển sàn xuất
Cổ phần hoá tạo cho doanh nghiệp cơ chế quản lý năng động, hiệu quả, thích nghi với nền kinh tế thị trường Thông qua cổ phần hoá, bộ máy và phương pháp quản lý của các doanh nghiệp thích nghi, năng động và sát với thị trường hơn, phần nào làm tăng trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp, động lực lao động mới được tạo ra
Cổ phần hoá là con đường dẫn tới hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp Phần lớn các doanh nghiệp nhà nước sau khi thực hiện cổ phần hoá đều hoạt động có hiệu quả hơn trước xét tổng thể trên các mặt doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, tích luỹ vốn
Thực tế cổ phần hóa đã đem lại lợi ích cho Nhà nước, cho doanh nghiệp, cho người lao động trong doanh nghiệp và cả trong các cổ đông khác của doanh nghiệp Qua đây đã chứng minh rằng, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn
Trang 271.3 Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài:
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Các nhà nghiên cứu ở các nước tư bản phát triển bắt đầu quan tâm đến Công ty cổ phần và cổ phần hóa Công ty vào những năm đầu Thế kỷ XX Tuy nhiên, vào thế kỷ này người ta chỉ quan tâm đến Công ty tư nhân Phải đến cuối những năm 1970 thì các vấn đề cổ phần hóa Công ty, đặc biệt phát triển
cổ phần hóa các Công ty nhà nước mới được các nhà tư bản và các nhà nghiên cứu quan tâm mạnh mẽ Các nước như: Hoa Kỳ, Anh, Đức, Pháp, Canada là những nước đi đầu trong việc nghiên cứu về Công ty cổ phần và cổ phần hóa Công ty nhà nước Ban đầu những nước này nghiên cứu tập trung vào những vấn đề liên quan đến cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở các ngành công nghiệp và dịch vụ Các nhà nghiên cứu trong thời kỳ này đã xây dựng nên lý luận rằng cổ phần hóa các Công ty thuộc sở hữu nhà nước nhằm mục đích:
- Điều chỉnh cơ cấu sở hữu trong xã hội và từ đó tạo ra sự điều chỉnh cơ cấu sản xuất của xã hội
- Giảm vai trò trực tiếp tham gia của nhà nước vào quá trình sản xuất
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các Công ty nhà nước
- Tăng cường sở hữu cho người công nhân ở các Công ty nhà nước
- Giảm thiểu việc vay tiền của nhân dân để đầu tư vào hoạt động sản xuất của các Công ty nhà nước
Không chỉ dừng lại ở việc đưa ra các lý luận, các nghiên cứu về Công ty
cổ phần và cổ phần hóa Công ty nhà nước, còn tập trung vào việc giải quyết các vấn đề vận dụng các lý luận vào phục vụ sự phát triển sản xuất của xã hội, như: nhà nước nên cổ phần hóa những doanh nghiệp nào, các hình thức tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và cơ cấu cổ phần của các Công ty sau khi tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước…Những nghiên cứu
Trang 28này đã góp phần hình thành nên phong trào cổ phần hóa các Công ty nhà nước đầu những năm 1980 ở nhiều nước trên thế giới
Nghiên cứu về cổ phần hóa Công ty nhà nước hoạt động trong ngành Lâm nghiệp và Công ty cổ phần trong Lâm nghiệp hình thành muộn hơn so với nghiên cứu cổ phần trong ngành Công nghiệp và Dịch vụ, do ảnh hưởng của tư tưởng lo ngại rằng cổ phần hóa Công ty Lâm nghiệp với sự tham gia của thành phần kinh tế tư nhân vào quản lý và sử dụng rừng của nhà nước sẽ mất đi những lợi ích công cộng (môi trường, đa dạng sinh học, văn hóa…) Nghiên cứu về cổ phần hóa Công ty Lâm nghiệp nhà nước xuất hiện đầu tiên ở các nước, như: Hoa Kỳ, Thụy Điển, Newzealand, Canada vào những năm 1980 với cách tiếp cận từ góc độ sở hữu và tổ chức sản xuất đã xóa bỏ đi sự lo ngại về lợi ích công cộng Những nghiên cứu tiếp cận từ góc độ sở hữu và tổ chức sản xuất đã ra tranh luận rằng nguồn gốc của suy thoái rừng, đất rừng, sự trì trệ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh rừng và gánh nặng đầu tư của ngân sách nhà nước là do chế độ sở hữu nhà nước và hình thức tổ chức sản xuất yếu kém của các Công ty nhà nước Để khắc phục tình trạng này, các nghiên cứu cũng đã đưa ra lý luận về thay đổi chế độ sở hữu về rừng, đất rừng và đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, trong đó có sự đa dạng về sở hữu và các Công ty kinh doanh rừng của nhà nước phải chuyển đổi thành các Công ty cổ phần hoặc Công ty tư nhân
- Các nước Hoa Kỳ, Thụy Điển, Newzealand, Canada cũng là những nước đi đầu trong quá trình thực hiện cổ phần hóa và tư nhân hóa các nhành nông, lâm nghiệp Theo nghiên cứu của Hyde và Stuart (1999), Cashore (1999) hay Wilson và Arthur (1999) cho thấy Chính phủ các nước Hoa Kỳ, Thụy Điển, Newzealand, Canada đã thực hiện các chính sách lâm nghiệp theo hướng tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân và hộ gia đình vào các hoạt động kinh doanh lâm nghiệp và cả các giá trị phi vật chất của rừng Đồng
Trang 29thời các Công ty lâm nghiệp chỉ tồn tại, thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh ở những nơi mà khu vực tư nhân và hộ gia đình không muốn tham gia, hoặc ở những nơi mà rừng cần được quản lý sử dụng để đáp ứng cả những giá trị công cộng Theo Hyde và Stuart, trong khoảng 07 năm (1985-1992) Chính phủ Hoa Kỳ đã chuyển hàng chục triệu ha rừng của các Công ty lâm nghiệp nhà nước cho tư nhân phát triển rừng thương mại và kinh doanh các dịch vụ
từ rừng Ở Newzealand, Chính phủ bắt đầu tiến hành chuyển nhượng, giao hoặc cho thuê rừng và đất rừng cho tư nhân vào đầu những năm 1990 Kết quả của chính sách tư nhân hóa ở Newzealand theo đánh giá chung là rất tích cực với việc đến năm 2000 thì 94% diện tích rừng trồng của Newzealand do
tư nhân đầu tư phát triển và diện tích rừng này đã có vai trò quan trọng trong cung cấp gỗ cho thị trường trong nước và thế giới
Sau khi từ bỏ việc vận hành nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, một số nước trước đây thuộc khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã thực hiện quá trình đổi mới trong hoạt động lâm nghiệp theo hướng chuyển đổi phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp của thành phần kinh tế tư nhân Chính phủ cộng hòa Czech đã thực hiện giao cho tư nhân tiến hành tổ chức sản xuất kinh doanh trên đại bộ phận diện tích rừng sản xuất và 50% diện tích rừng bảo vệ (rừng đặc dụng và rừng phòng hộ) Theo báo cáo của tổ chức FAO (2005) Cộng hòa Czech đã thu được kết quả rất tích cực về bảo vệ và phát triển rừng từ quá trình cổ phần hóa
Trong vài năm gần đây xuất hiện những lý luận về cổ phần hóa các Công
ty lâm nghiệp của nhà nước tại Trung Quốc, một nước có diện tích rừng lớn (280 triệu ha) và hệ thống quản lý, tổ chức kinh doanh rừng dựa trên các Công ty lâm nghiệp nhà nước Nhìn chung các nghiên cứu ở Trung Quốc đã đóng góp vào lý luận và tìm ra giải pháp để giải quyết các vấn đề của ngành lâm nghiệp Trung Quốc, như:
Trang 30- Cải tiến chế độ sở hữu tài nguyên rừng và đất rừng để tăng cường sự công bằng trong chia sẻ lợi ích có được từ nguồn tài nguyên rừng giữa các bên liên quan theo hướng tăng cường lợi ích người lao động
- Cải cách hệ thống chính sách để thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp theo hướng tạo việc làm, cải thiện đời sống và giảm nghèo ở vùng nông thôn
- Khai thác lâm sản bền vững kết hợp với phát triển các sản phẩm dịch
vụ lâm nghiệp
- Đẩy mạnh thương mại hóa gỗ và các sản phẩm lâm nghiệp ngoài gỗ để nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng rừng
Có một số đánh giá cho rằng các nghiên cứu này đã thúc đẩy quá trình
cổ phần hoá công ty lâm nghiệp nhà nước của Trung Quốc trong thời gian qua Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại khẳng định quá trình cổ phần hoá công ty lâm nghiệp của Nhà nước ở Trung Quốc trên thực tế là chưa có gì Nghiên cứu của Liu Dachang (2008) là một ví dụ Trong nghiên cứu của mình, Liu Dachang chỉ rõ cái gọi là quá trình cổ phần hoá trong lâm nghiệp ở Trung Quốc thực chất chỉ là việc giao diện tích rừng và đất lâm nghiệp tập thể cho nông dân và quá trình mở rộng quyền tổ chức sản xuất kinh doanh rừng của hộ nông dân, sự gia tăng nhu cầu về gỗ (cả của thị trường nội địa và quốc tế) và tự do hoá lưu thông gỗ trên thị trường Đồng thời là cho phép các công ty lâm nghiệp Nhà nước có quyền thực hiện các hình thức liên doanh,
rằng hoạt động lâm nghiệp của Trung Quốc hiện rất trì trệ do những mâu thuẫn giữa chế độ đất đai với nhu cầu phát triển sản xuất của lực lượng đông đảo nông dân Lâm nghiệp Trung Quốc sẽ không đạt được sự phát triển như mong muốn của chính phủ nếu như không cỏ cách tiếp cận mới về quyền về tài sản, quyền sử dụng và đồng thời giảm bớt chức năng chính trị xã hội của rừng và đất rừng
Trang 311.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Ở Việt Nam, nghiên cứu về cổ phần hóa doanh nghiệp và đặc biệt là cổ phần hóa lâm trường quốc doanh (hiện nay gọi là Công ty lâm nghiệp nhà nước) đã được đề xuất và thực hiện vào cuối những năm 1980 Những người đầu tiên đề xuất và thực hiện nghiên cứu về cổ phần hóa lâm trường quốc doanh là một số nhà nghiên cứu của Viện Kinh tế Lâm nghiệp Tuy nhiên ý tưởng nghiên cứu đã bị phản đối với những tranh cãi như: Nước Nga, nước đi đầu trong khối xã hội chủ nghĩa, chưa nghiên cứu và thực hiện cổ phần hóa các xí nghiệp lâm nghiệp của họ, cổ phần hóa là đồng nghĩa với tư nhân hóa
và sẽ làm mất khả năng lãnh đạo của nhà nước, lợi nhuận của quá trình khai thác rừng sẽ rơi vào túi tư nhân, sự tham gia của tư nhân sẽ làm cho sự mất rừng thêm nhanh hơn vì họ chỉ quan tâm đến lợi nhuận Cùng lúc đó, những người đã đưa ra ý tưởng và thực hiện nghiên cứu này thì bị phê phán là "chơi trội" hay "con người đi trước thời đại" Và cuối cùng là nghiên cứu về cổ phần hóa lâm trường quốc doanh đã được cho là "thất bại" Sau sự thất bại của nghiên cứu này thì gần như không có ý tưởng nghiên cứu nào về cổ phần hóa lâm trường quốc doanh được đề xuất nữa Các nghiên cứu về lâm trường quốc doanh trong gần 30 năm qua chỉ tập trung vào giải quyết các vấn đề liên quan đến sử dụng đất đai và giao đất cho lâm trường, cải cách chính sách tài chính cho lâm trường (như nghiên cứu của Alan J Ogle, K Jay Blakeney và Hoàng Hòe, 1999), liên doanh và liên kết trồng rừng với hộ gia đình (nghiên cứu của JICA, 2001)…
Các nhà nghiên cứu Việt Nam bắt đầu qua tâm đến nghiên cứu về cổ phần hóa vào năm 1992, khi Đảng và nhà nước có chủ trương cổ phần hóa và làm thí điểm cổ phần hóa một số doanh nghiệp của nhà nước với mục đích là tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có chủ sở hữu là người lao động, để quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tạo cơ chế quản
lý năng động cho doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp có thể huy động
Trang 32vốn trong toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp Những quan tâm nghiên cứu về cổ phần hóa đã đưa ra rất nhiều những lý luận và giải pháp về cổ phần hóa các doanh nghiệp của nhà nước Việc tổng hợp và phân tích kết quả nghiên cứu, những
ưu điểm và hạn chế của các nghiên cứu về cổ phần hóa doanh nghiệp là việc làm mang lại nhiều ý nghĩa, có ảnh hưởng lớn đến tư duy về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Nghiên cứu về "Đổi mới kinh tế Việt Nam" năm 1997 của Đặng Đức Đạm sau khi phân tích thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước dưới tác động của các chính sách đổi mới đã tranh luận rằng: cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là hình thức đa dạng hóa sở hữu, phù hợp với nền kinh tế chuyển đổi từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Tuy nhiên đây là quá trình liên quan đến những mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội phức tạp giữa nhà nước với các chủ thể khác nên phải giải quyết đồng bộ bằng các chính sách và cơ chế quản lý Quá trình
cổ phần hóa không nên thực hiện một cách ồn ào, vội vã, nhưng cũng không nên quá thận trọng với sự lo sợ trách nhiệm
Nghiên cứu của Vũ Trọng Khải và Nguyễn Thắng (2006) tiếp cận từ góc độ sở hữu rằng cồ phần hóa doanh nghiệp nông lâm nghiệp đã trở thành một phong trào phổ biến ở các nước đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Việt Nam đã thực hiện quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong 15 năm qua, đã có nhiều doanh nghiệp, trong đó có cả các doanh nghiệp nông nghiệp được cổ phần hóa, nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu có hệ thống, có cơ sở lý luận và thực tiễn về cổ phần hóa doanh nghiệp nông, lâm nghiệp nhà nước Hơn thế, nhiều vấn đề lý luận về
sở hữu, quyền tài sản, quy luật hình thành và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chưa được làm sáng tỏ Hậu quả của những hạn chế này
Trang 33là quá tình cổ phần hóa các doanh nghiệp nông lâm nghiệp diễn ra rất chậm, đồng thời không giải quyết được mâu thuẫn để thúc đẩy sản xuất theo hướng quy mô lớn, tập trung, chuyên môn hóa cao để tạo ra hàng hóa nông lâm sản
có số lượng lớn, chất lượng cao cho công nghiệp chế biến và cung cấp sản phẩm cho thị trường cả trong nước và xuất khẩu Vũ Trọng Khải và Nguyễn Thắng cũng chỉ ra rằng để tồn tại và phát triển, nhiều doanh nghiệp đã tự tìm tòi và áp dụng một số hình thức liên kết và đóng góp cổ phần Song do thiếu hướng dẫn và không có cơ sở pháp lý nên hiệu quả của hoạt động không cao Hai tác giả đã kết luận việc tổng kết thực tiễn để khái quát hóa lên thành lý luận làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng và khi chưa có cơ sở lý luận một cách khoa học thì quá trình cổ phần hóa sẽ còn trì trệ
- Công trình của Thế Phan (2007) cho rằng sắp xếp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) mà trọng tâm là cổ phần hóa DNNN được coi là xương sống của công cuộc đổi mới về kinh tế Theo đó là đổi mới cơ chế, chính sách nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực hoạt động, đồng thời dần tiến tới hoạt động trên cùng một mặt bằng pháp lý với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác trong cơ chế thị trường Tuy nhiên, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp ở
Việt Nam đang bị trì trệ bởi những lý do chính như: Một là, nhiều người vẫn
giữ quan điểm cho rằng cổ phần hóa làm mất đi sự lãnh đạo nên không muốn
cổ phần hóa Hai là, nhiều lãnh đạo doanh nghiệp không muốn thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp của mình vì sợ mất đi những lợi ích cá nhân Ba là, quá
trình cổ phần hóa trong những năm qua phần lớn là quá trình khép kín, tức là nhà nước vẫn nắm giữ phần lớn cổ phần và chỉ có một số lượng không đáng kể bán cho người lao động, sau đó được họ bán lại chui lủi ra ngoài Kết quả là doanh nghiệp nhà nước mang tên là doanh nghiệp cổ phần nhưng bộ máy quản
Trang 34lý vẫn thế, người lao động vẫn vậy (không được sa thải) Từ những phân tích vừa nêu Thế Phan cho rằng thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp không phải là vấn đề chuyển đổi tên của doanh nghiệp mà phải là một cuộc cách mạng cả về
tư duy đến ý chí và thực hiện
- Cùng tiếng nói với công trình của Thế Phan, công trình của Nguyễn Văn Nam (2008), một người có nhiều năm kinh nghiệm trong việc xây dựng các chính sách và thực hành các chính sách cổ phần hóa, đã đưa ra phân tích
cổ phần hóa có ba mục tiêu cơ bản: huy động vốn, thay đổi cơ chế quản lý, và quan trọng hơn là tìm được những ông chủ có trách nhiệm, đủ năng lực để nhà nước giao doanh nghiệp cho họ cải tổ, phát triển Hiểu được mặt tốt của
cổ phần hóa, đặt ra mục tiêu rất đúng, nhưng việc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp ờ nước ta hiện nay đang bộc lộ ba nghịch lý:
* Nghịch lý thứ nhất là tư duy, nhà nước đã công nhận những doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước thường làm ăn không hiệu quả, muốn nó tốt lên, muốn tài sản nhà nước không mất đi, không còn cách nào khác là phải cải cách Đã có nhiều cải cách nhưng hiệu quả đều không như mong muốn và cuối cùng nhận ra chỉ còn con đường cổ phần hóa mới cứu được doanh nghiệp, cứu được nguồn vốn nhà nước, tăng được nội lực, sự năng động cho nền kinh tế Nhưng dù cổ phần của nhà nước đang được bán cho những cá nhân, những tổ chức của một nhóm cá nhân nhưng chúng ta lại đang cho rằng
cổ phần hóa không phải tư nhân hóa Chính vì sự không chấp nhận cổ phần hóa có một phần là tư nhân hóa nên quá trinh cổ phần hóa vẫn còn gượng gạo, nhiều nơi không thống nhất cách làm, dẫn đến tình trạng có địa phương
hô hào về chủ trương nhưng khi tiến hành cổ phân hóa thì lại hạn chế Đồng thời có các hàng rào được lập nên những ai được cổ phần, chỉ cho những doanh nghiệp làm ăn yếu kém cổ phần hóa, còn những Công ty có lãi thì không cho
Trang 35* Nghịch lý thứ hai là chúng ta muốn cổ phần hóa để tăng vốn cho
doanh nghiệp nhưng lại giới hạn quyền góp vốn của người dân với tỉ lệ cố định ở mức thấp Có rất nhiều doanh nghiệp không nhạy cảm về an ninh quốc phòng, cũng không thuộc ngành ngân hàng, nhưng các cơ quan chủ quản doanh nghiệp hoặc bản thân ban lãnh đạo doanh nghiệp vẫn không cho bán quá 49% vốn để giữ quyền lãnh đạo và những lợi ích thiển cận Nếu ta muốn định hướng tiến tới một nền kinh tế tri thức thì phải đầu tư cho ngành công nghệ cao, chứ không phải hô hào, rồi vẫn giữ chặt vốn để nắm các doanh nghiệp mì, bia, sợi như thế nguồn lực vừa phân tán, vừa không hiệu quả Nếu biết tập trung đầu tư vào những ngành then chốt, tạo điều kiện để nó phát triển, sức mạnh sẽ lớn lên rất nhiều Còn cách làm hiện tại của ta, vì định giá đã kém, nếu cứ giữ cổ phần chi phối để rồi cái cổ phần ấy nó không tăng lên thì đó là thất thoát lớn tiếp theo Nhà nước cũng là một nhà đầu tư, mà đã đầu tư thì phải tìm biện pháp hiệu quả nhất, có lợi nhất cho tài sản của Nhà nước, của dân
Nghịch lý thứ ba là cổ phần hóa đặt ra mục tiêu thay đổi cơ chế quản lý
nhưng thực tế với cách làm "giữ cổ phần chi phối" nên doanh nghiệp về cơ bản vẫn là ban điều hành và cơ chế điều hành cũ Có nơi, ông giám đốc làm doanh nghiệp thua lỗ nhiều năm liên tiếp, nhưng sau khi cổ phần hóa vẫn tiếp tục làm đại diện sở hữu nhà nước và làm giám đốc Thậm trí có nơi hầu như giữ nguyên toàn bộ ban lãnh đạo cũ của doanh nghiệp Điều này tạo ra tình trạng cổ phần hóa rồi nhưng tổ chức sản xuất theo kiểu trông chờ, trong khi
đó chỗ dựa là Nhà nước không còn, nên nhiều Công ty cổ phần hóa xong vẫn thua lỗ như trước
Bên cạnh 3 nghịch lý từ tư duy đến cơ chế và thực hành của nhà nước, Nguyễn Văn Nam còn nêu ra 3 “lý do đen”, cụ thể:
Trang 36Một là, cái cốt lõi khiến nhiều đơn vị mặn mà với việc cổ phần hóa thời
gian qua không phải do yêu cầu về chính trị, yêu cầu phát triển sản xuất mà là
vì “tiềm hàng” có thể chia chác tài sản quốc gia Rất nhiều “ông chủ” đang đại diện nhà nước nắm quyền sở hữu doanh nghiệp khi nghĩ đến cổ phần hóa
là nghĩ ngay đến lợi ích cá nhân, đến chia chác, chiếm hữu Mà tại Việt Nam, người quyết định tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp không phải người lao động, có một số ít là do cấp trên, còn lại do chính những ông giám đốc doanh nghiệp Nếu thấy những tài sản, bất động sản, vị trí độc tôn, có thể định giá thấp để sau này mình được lợi, thì họ sẽ tiến hành cổ phần hoá rất nhanh Thế
là tài sản nhà nước, sau khi cổ phần hoá xong biến thành của một số cá nhân trong Công ty
Hai là, nhiều Công ty tìm đủ cách để cổ phần hóa là do món nợ quá lớn
Nói một cách khác là cồ phần hóa nhằm trút nợ, hoặc là tìm cách để được khoanh, giãn nợ và sau đó khoản nợ được trút lên đầu cổ đông
Ba là, một số doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa là vì ông giám đốc sắp
đến tuổi nghỉ hưu Khi thành Công ty cổ phần, ông ta làm thủ tục nghỉ hưu bên nhà nước và làm thủ tục trở thành giám đốc Công ty cổ phần
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM 2.1 Tiến trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong
những năm qua:
Tiến trình cổ phần hoá gần 20 năm qua có thể chia làm 4 giai đoạn Đó
là giai đoạn: thí điểm, giai đoạn mở rộng, giai đoạn chủ động và giai đoạn đẩy mạnh
2.1.1 Giai đoạn thí điểm (từ năm 1992 – 1996):
Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước được bắt đầu từ tháng 11/ 1991 khi hội nghị TW2 khoá 7 của Đảng đưa vào chủ trương cổ phần hoá Giai đoạn thí điểm từ 1992-1996, nhà nước chỉ thí điểm thực hiện cổ phần hoá những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, mang tính chất tự nguyện, việc bán cổ phần cũng chỉ giới hạn trong những đối tượng là nhà đầu tư trong nước, trong đó ưu tiên bán cổ phần cho người lao động Chính vì vậy, mới chỉ
có 5 doanh nghiệp hoàn thành cổ phần hoá trên tổng số khoảng 16 doanh nghiệp được thí điểm trong giai đoạn này
dù các cơ quan quản lý nhà nước vẫn phải trực tiếp tham gia rất nhiều công đoạn và tổ chức điều hành Đó là việc mở rộng thêm diện bán cổ phần cho người Việt Nam định cư tại nước ngoài và người nước ngoài định cư lâu dài tại Việt Nam; mở rộng mức ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp; có
Trang 38thể bán 100% vốn nhà nước tại doanh nghiệp…Kết quả là giai đoạn này với một cơ chế cổ phần hoá ngày càng được hoàn thiện, sự hưởng ứng đối với tiến trình sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp ngày càng tăng lên, chúng ta
đã tiến hành cổ phần hoá được 868 doanh nghiệp nhà nước, bộ phận doanh nghiệp nhà nước
2.1.3 Giai đoạn chủ động (bắt đầu từ tháng 6/2002 đến tháng 11/2004):
Giai đoạn này gắn với cơ sở pháp lý quan trọng là Nghị định số 64/2002/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần Đây là giai đoạn Nhà nước chủ động giao cho các Bộ, ngành, địa phương trách nhiệm lựa chọn và triển khai cổ phần hoá đối với các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý mà không trông chờ sự tự nguyện của các doanh nghiệp cấp dưới như trước đây Trong giai đoạn này, Nhà nước cũng giao thêm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp và phê duyệt phương
án cổ phần hoá cho Bộ trưởng các Bộ, chủ tịch UBND các tỉnh (trừ trường hợp giảm trên 500 triệu đồng vốn nhà nước phải có ý kiến của Bộ tài chính) Bắt đầu áp dụng biện pháp nhằm công khai, minh bạch hoá quá trình cổ phần hoá như cho phép thuê các tổ chức trung gian xác định giá trị doanh nghiệp; dành tối thiểu 30% số cổ phần (sau khi trừ số lượng cổ phần nhà nước nắm giữ, cổ phần bán ưu đãi cho người lao động) để bán cho các nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp…
Về số lượng, giai đoạn này chúng ta đã tiến hành cổ phần hoá được 1.435 doanh nghiệp nhà nước, bộ phận doanh nghiệp nhà nước nhưng theo đánh giá các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá thực sự quy mô vẫn còn khá nhỏ bé chưa chiếm đến 5% tổng số vốn nhà nước trong các doanh nghiệp, quá trình cổ phần hoá còn khép kín, chưa thực sự gắn với thị trường nên vừa hạn chế công tác huy động vốn của doanh nghiệp vừa làm giảm sự giám sát của xã hội đối với hoạt động của doanh nghiệp; việc giải quyết lợi ích giữa các bên trong một doanh nghiệp được cổ phần háo cũng chưa được hài hoà…
Trang 392.1.4 Giai đoạn đẩy mạnh (từ tháng 12/2004 đến nay):
Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc ban hành Nghị định số 187/2004/NĐ-CP, Nghị định 109/2007/NĐ-CP và Nghị định 59/2011/NĐ-CP của chính phủ về việc chuyển Công ty nhà nước thành Công ty cổ phần Trong giai đoạn này đã xuất hiện các Công ty nhà nước có quy mô vốn lớn không thuộc diện nhà nước giữ 100% vốn được cổ phần hoá như : Bảo Minh, Vinamilk, Vĩnh Sơn… và cổ phiếu được niêm yết rộng rãi trên thị trường chứng khoáng, làm tăng đáng kể quy mô của thị trường chứng khoán Các giải pháp để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp cổ phần hoá và các cơ quan nhà nước trong xử lý nợ, tài sản tồn đọng, lao động dôi dư được tiến hành song song với việc bổ sung các quy định để nâng cao tính khách quan, minh bạch, tính chuyên nghiệp trong quá trình cổ phần hoá như: thực hiện đấu giá công khai cổ phần qua tổ chức tài chính trung gian hoặc đấu giá qua Trung tâm giao dịch chứng khoán theo nguyên tắc thị trường, tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp, ưu đãi giảm giá cho người lao động giảm giá 40% theo giá đấu giá cổ phiếu thành công bình quân ( không theo mệnh giá cổ phiếu) Về đất đai, doanh nghiệp nếu áp dụng hình thức thuê đất khi tiến hành cổ phần hóa phải tính giá trị lợi thế vị trí địa lý đối với đất
đô thị, nếu giao đất thì phải tiến hành mua quyền sử dụng đất của Nhà nước với giá sát với giá thị trường Trong giai đoạn này, chúng ta đã tiến hành cổ phần hoá được 1.854 doanh nghiệp nhà nước
2.2 Những thành tựu đạt được từ việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam:
Sau 20 năm triển khai và tập trung thực hiện 5 năm vừa qua, công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã đạt được kết quả trên nhiều mặt được thể hiện như sau:
Trang 402.2.1 Những thành tựu mang tính chất định lượng:
Qua kết quả báo cáo của các Địa phương, Bộ, Ngành thì đến 30/6/2010
cả nước đã sắp xếp được 4.917 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp Trong
đó, cổ phần hoá 4.157 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp; giao bán, khoán kinh doanh và cho thuế 310 doanh nghiệp, sáp nhập hợp nhất 450 doanh nghiệp…Kết quả các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá qua từng năm như sau:
Qua những con số trên đây ta thấy rõ tiến trình cổ phần hóa đã trải qua những bước thăng trầm, nhưng nói chung là theo xu hướng mỗi ngày càng được đẩy mạnh Từ chỗ thực hiện chậm chạp trong những năm đầu tiên (mỗi năm vài ba doanh nghiệp đến vài trăm doanh nghiệp) và cho đến những năm gần đay tiến trình cổ phần hoá được đẩy mạnh hơn, do đó số doanh nghiệp và
bộ phận doanh nghiệp được cổ phần hoá tương đối nhiều
Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, hình thức cổ phần hoá phổ biến nhất là bán một phần doanh nghiệp kết hợp phát hành thêm cổ phiếu (chiếm 42.4%) , tiếp đó là bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp (27%), còn lại là bán toàn bộ vốn nhà nước tại doanh nghiệp (15.5%) và giữ nguyên vốn nhà nước và phát hành thêm cổ phiếu (15.1%) Trong số các doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành công nghiệp giao thông vận tải và xây dựng chiếm tỷ trọng 65.5%, thương mại dịch vụ chiếm 28.7% và ngành nông lâm ngư nghiệp chiếm 5.8% Nếu phân chia theo địa phương thì tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chiếm 65.7%, bộ ngành trung ương chiếm 25.8%, Tổng công ty 91 chiếm 8.5%
Nhìn lại quá trình, qua đó có thể nhận thấy chúng ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận:
- Hầu hết các doanh nghiệp thuộc loại nhỏ, yếu, hiệu quả kinh doanh thấp, sức cạnh tranh kém đã được đưa bớt ra khỏi hệ thống các doanh nghiệp nhà nước Như vậy có thêm điều kiện để củng cố các doanh nghiệp nhà nước khác