1. Trang chủ
  2. » Mầm non - Tiểu học

NHUNG MAU CHUYEN LICH SU T2

167 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 179,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người Hi Lạp rất sợ các ngài không phá huỷ nó mà đưa nó vào để ở trong thành do đó sẽ làm cho Tơ-roa trở thành một thành phố không thể công phá được và làm cho người Hi Lạp sẽ bị thất bạ[r]

Trang 1

NHỮNG MẪU CHUYỆN LỊCH SỬ LỚP 10

Dùng cho giáo viên và học sinh

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 2

Việc đổi mới phương pháp dạy - học lịch sử hiện nay theo hướng tíchcực hoá nhận thức của học sinh đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Mộttrong những vấn đề khẩn thiết có liên quan trực tiếp đến hiệu qủa của việcđổi mới là làm sao bên cạnh cuốn sách giáo khoa cần có ngay các tài liêutham khảo để bổ trợ kiến thức lịch sử cho đội ngũ thầy, cô giáo và học sinh.

Để đáp ứng đũi hỏi đó chúng tôi cho ra mắt cuốn “Những mẩu chuyện

lịch sử lớp 10 ” Với 85 mẩu chuyện từ “Giở lại gia phả loài người” đến

chuyện "Hồ Xuõn Hương nhà thơ lớn đầu thế kỷ XIX", các tác giả đó theosát chương trỡnh Lịch sử lớp 10 (chương trỡnh mới) để cung cấp cho thầy

và trũ những mẩu chuyện lịch sử tiờu biểu dưới một hỡnh thức sinh động

Vỡ vậy cú thể xem đây là những đơn vị kiến thức cần thiết cho việc dạy học Lịch sử có chiều sâu và hứng thú Hy vọng cuốn sách sẽ là nguồn tư liệuquan trọng để giáo viên và học sinh tham khảo, lựa chọn, sử dụng phự hợplàm cho việc dạy- học Lịch sử thờm sõu sắc, hấp dẫn

-Tuy đó cú sự gia cụng đúng mức trong tỡm kiếm, sưu tầm, tuyển chọn

và biên soạn thành những câu chuyện nhỏ nhưng cuốn sách chắc chắn vẫncũn nhiều thiếu sót Mong bạn đọc xa gần góp ý kiến trao đổi cho các tác giả

để cho cuốn sách ngày càng có chất lượng hơn./

Cỏc tỏc giả

GIỞ LẠI GIA PHẢ LOÀI NGƯỜI

Ngày nay, khụng cũn ai nghi ngờ tớnh đúng đắn và khoa học của thuyếttiến hoá Sự sống được bắt đầu từ những hạt abumin nguyên sinh lơ lửngtrong nước (cũn gọi là hạt Cua xenva) Từ cỏc hạt này xuất hiện cỏc nguyờnsinh động vật nguyên thuỷ, rồi từ đó xuất hiện các loại lưỡng thể bũ sỏt,

Trang 3

chim cỏ cỏ động vật có vú cấp thấp đến các loại động vật có vú cấp cao vàcuối cùng, sự đột biến, bùng phát sinh học đẫ biến một loài vượn ngườithành người:Tổ tiên loài người Cho đến nay những nhà nghiên cứu cổ sinh

và nhân chủng trên thế giới đó thu thập được khá nhiều tài liệu đủ để viết lạicuốn gia phả của loài người

Những tổ tiên xa nhất của vượn và người là những con vượn dạng nhỏ

có mũi hẹp mang tên Parapitec Chúng xuất hiện trong những khu rừng thưa

ở giữa thời kỳ Đệ tam, cách đây chừng 30 triệu năm Ít lâu sau, sang đến nửasau của thời kỳ Đệ tam bắt đầu xuất hiện những dạng to hơn Tổ tiên chungcủa loài vượn người và người được gọi là Prôpliôpitec Bọn này vẫn cũnsống ở trờn cõy

Trong thời kỳ đầu của kỷ Đệ tứ những hoạt động sông băng mạnh mẽ

đó cuốn những lớp băng dày từ phía bắc tràn xuống những vùng rộng lớncủa Bắc châu Âu và châu Á ở Tây Âu băng tiến tới tận dóy nỳi Anpơ.Chính những sông băng này đó đưa chế độ khí hậu lạnh lẽo xuống nhữngvùng ấm áp, làm chết lụi những dải rừng mênh mông ở đó Không chịu đượclạnh, những con thú khoẻ di cư xuống những miền ấm ở phớa nam, cũnnhững con thỳ yếu bị chết sạch Nhưng cũng có một số con vật chịu đượclạnh Trong số đó có những con vượn

Rừng đó bị khớ lạnh phỏ trụi Những bầy vượn đông đúc ở vùng cósông băng hoạt động đó phải từ bỏ đời sống trên cây xuống sống lang thangtrên mặt đất Chúng chiếm các hang động để ở

Cuộc sống ở mặt đất trong thời kỳ đầu của các cụ tổ của loài ngườikhó khăn biết bao nhiêu Các thói quen leo trèo cũ không cũn được việc nữa,thức ăn thỡ vừa hiếm, vừa khú kiếm Cú thể núi lỳc đó những con vượn ấy

đó phải đứng trước một ngó ba mà chọn lấy một con đường: bị tiêu diệt haythích ứng để tồn tại Nhưng nhờ ở cấu tạo cơ thể khá phát triển và hoànthiện, chúng đó thớch ứng được

Trang 4

Kiểu hoạt động trên mặt đất dần dần đem đến cho các con vượnnhững bước quyết định để trở thành người Dần dần chúng có dáng đi thẳngtrên hai chân, chạy được nhanh và giữ thăng bằng thân thể được tốt Trongviệc săn tỡm nguồn ăn, dần dần chúng biết dùng đá, gậy, phát triển dần lênthành vũ khí Các công cụ đó đó chắp thờm tay cho chúng Thức ăn bằng thịtphong phú không những đó giỳp cho cơ thể thêm khoẻ mạnh mà cũn làmcho cỏc mụ thần kinh được phát triển Dần dần bầy vượn ấy thích ứng vớikiểu sống mới và phát triển lên thành những con người nguyên thuỷ - cácngười vượn đầu tiên.

Việc biết dùng lửa là một bước phát triển tiếp theo của loài người Từkhi có lửa loài người thay đổi kiểu sống và cách ăn uống cho tốt hơn Haihàm không phải cử động vất vả như trước, không cần phải ra sức nhainghiền các thức ăn thô như trước, do đó hàm dưới trở nên ngắn và nhẹ hơn,phần mặt của đầu nhỏ đi, vành xương mắt trở nên bằng và xương sọ cũng trởnên mỏng hơn

Đời sống thành bầy, thành bộ lạc đũi hỏi sự phối hợp hành động giữacác thành viên Cùng với việc sử dụng và cải tiến công cụ, đời sống tập thể

đó phỏt triển, sự suy nghĩ của người vượn Bộ óc đó trải qua một quỏ trỡnhphỏt triển đặc biệt mạnh mẽ Kích thích của nó tăng dần từ một dung tích là

500 - 600 centimét khối lên đến 1 400 - 1 600 centimét khối Và cuối cùngchính đời sống tập thể đó làm cho con người có tiếng nói

Cách đây chỉ chừng vài triệu năm xuất hiện giống vượnAuxtralôpitecm đó biết đi bằng hai chân trên mặt đất Bộ xương của bọnvượn người này tỡm thấy ở Nam Phi

Khoảng gần một triệu năm trước xuất hiện dạng chuyển tiếp cổ nhất

từ vượn dạng người, ông tổ đầu tiên thực thụ của loài người, được gọi tên làPitêcantrôp Bộ xương của loại người vượn này tỡm được ở đảo Giava thuộcquần đảo Inđônêxia Dựa theo cấu tạo bộ xương, các nhà bác học dự đoán là

Trang 5

người Pitêcantrôp đó biết dựng gậy hay đá trong lúc săn bắt thú và họ biếtchế ra công cụ đá thô sơ nhất như lưỡi rỡu.

Một bước phát triển thêm của loài người là giống Xi-nantrôp, sốngcách đây trên 50 vạn năm Hoá thạch xương của người Xinantrôp tỡm thấycựng với những dụng cụ bằng đá rất thô sơ trong những hang động ở vùngChu Khẩu Điếm, gần Bắc Kinh Những lớp tro và xương bị cháy của cácđộng vật làm thức ăn cho những người cổ Trung Quốc này tỡm thấy ở tronghang chứng tỏ họ đó biết dựng lửa Cũng giống như ở Pitêcantrôp, bộ mặtngười Xi-nan-trôp có vành xương lông mày nhỏ cao và cằm chưa hỡnhthành

Một tổ tiên gần hơn của chúng ta là người Nê-an-đec-tan Bộ xươngcủa loại người này tỡm thấy trong hang động ở vùng Nêanđectan, gần cửasông Đuxen ở miền Tây Đức Người Nêanđectan không cao lắm, đàn ôngchỉ khoảng 1,60m, trán rất vát, vành xương lông mày vẫn cũn cao, mũi khỏ

to và cằm cũng chưa hỡnh thành rừ Phần mặt của đầu so với phần óc thỡ tonhưng không nhô nhiều về phía trước, trái lại phần gáy lại lồi về phớa sau

vỡ bắp thịt gỏy cần phải khoẻ để đỡ cái đều đó nặng nề và để giữ thăng bằngvới phần mặt to Dáng đi của người Nêanđectan cũn vụng về, giữ nhiềudỏng đi của vượn Chân cũn hơi cong ở phần đầu gối

Gần gũi hơn cả với chúng ta có người Crômanhông Bộ xương củaloại người này tỡm thấy ở Phỏp Đó là những người cao to vạm vỡ đàn ôngcao tới 1,70 - 1,80m Mặt người Crômanhông đó cú đầy đủ những nét cơ bảncủa mặt người kiểu châu Âu hiện đại, trán bớt vát, vành xương lông màykhông nhô cao, mũi gồ và cằm đó hỡnh thành rừ

Nhờ tỡm thấy sọ và cỏc bộ xương của người cổ ở những khoảng thờigian tiếp theo về sau, người ta cho rằng trong khoảng 10 vạn năm gần đây

đó xuất hiện đủ các giống người khác nhau về màu sắc của da, tóc và mắt vàmột số đặc điểm bề ngoài khác, chủ yếu là những phần thịt mềm ở mắt như

mi mắt, mũi, môi Những giống người ấy tồn tại cho đến nay được phân làm

Trang 6

ba loại chính: loại người Á - Âu (Êurôpêôit), người Mỹ - Á (Môngôlôit) vàngười Xích đạo (Auxtralônêgrôit)

Như vậy, bằng những phỏt hiện hoỏ thạch cỏc nhà cổ sinh và nhậnchủng học đó chứng minh tổ tiờn của loài người từ một loài vượn Loàivượn người có may mắn được hưởng sự" đột biến"này là một nhánh vượnnhân hỡnh ở Đông và Nam Phi, nhờ có hoạt động lao động, chế tỏc cụng cụsản xuất và tỡm ra lửa, người vượn tự phát triển, hoàn thiện dần qua nhiềuloài người trung gian mà trở thành người hiện đại

BẦY NGƯỜI NGUYÊN THUỶ

Trong lịch sử phát triển của xã hội nguyên thuỷ giai đoạn bầy người nguyênthuỷ chiõm mét thêi gian hõt sức lâu dài có thể bắt đầu từ khi con ngườithoát thai khỏi giới động vật, tức là khi con người biết lao động và chế tạocông cụ Về mặt khảo cổ học, giai đoạn bầy người nguyên thuỷ kéo dài suốt

từ thời sơ kì đến hết thời trung kì đá cũ, còn về mặt nhân chủng học thì đây

là thời kì tồn tại của những dạng người vượn trung gian đang trong quá trìnhchuyển biến thành Người hiện đại

Tuy chưa loại bỏ hết dấu tích vượn trên cơ thể, nhưng những dạngNgười tối cổ này đã là người Buổi đầu họ sống tõng nhãm nhá đi lang thangdọc theo bê sông, hồ và ở sâu trong các khu rừng rậm nhiệt đới, họ ngủ tronghang động, mái đá Do trình độ thấp kém, công cụ thô sơ, lại trong điềukiện thiên nhiên hoang dã, người nguyên thuỷ không thể sống đơn lẻ mà đãbiết tập hợp lại với nhau thành từng bầy, cùng lao động tìm kiếm thức ăn vàchống các thú dữ để tự vệ Nhưng khác với các bầy động vật chỉ có quan hệhợp đoàn được hình thành một cách tự nhiên, trong bầy người nguyên thuỷ

đã có quan hệ hợp quần xã hội Mỗi bầy người đều có người đứng đầu, có sựphân công công việc giữa nam và nữ, mọi người đều có nghĩa vụ đi săn bắt,

Trang 7

tìm kiếm thức ăn, bảo vệ lẫn nhau và trông nom con cái Bầy người nguyênthuỷ là tổ chức xã hội đầu tiên của loài người.

ở thời kì bầy người, con người đã biết chế tạo công cụ lao động Từchỗ chỉ biết dùng những cành cây, hòn đá nhặt để làm công cụ, Người tối cổ

đã biết lấy những viên cuội hay hai hòn đá ghè vào nhau tạo nên cạnh sắc vàvừa tay cầm, gọi là những chiếc rìu tay Với những rìu đá đó, Người tối cổdùng để chặt cây, làm vũ khí tự vệ và tấn công các con thú khi săn bắt, dùng

để đào bới cây củ kiếm ăn Đồng thời, họ còn biết dùng cả những mảnh tướcđược tách từ hạch đá thành những chiếc dao nạo gỗ.Từ khi biết chế tạo công

cụ, người nguyên thuỷ đã bắt đầu biết suy nghĩ và có ngôn ngữ, tiếng nóiđược xuất hiện đánh dấu bước phát triển của bầy người nguyên thuỷ

Vào cuối thời kì bầy người nguyên thuỷ, loài người đã có một bướctiến lớn lao, một phát minh quan trọng, đó là việc dùng lửa và lấy lửa Trongbuổi bình minh của lịch sử loài người , con người sống không khác động vật

là mấy, họ chỉ biết ăn sống nuốt tươi Dần dần, họ biết giữ lửa tự nhiên vàdùng lửa để sưởi ấm, để đuổi thú dữ và nướng chín thức ăn Về sau, conngười biết tự làm ra lửa bằng cách cọ xát mạnh hai cành cây khô hay hai hòn

đá Trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt Bầy người nguyên thuỷ vẫn cònsống trong tình trạng" ăn lông ở lổ" một cuộc sống tự nhiên, bấp bênh, triềnmiên hàng triệu năm

LỬA - MỘT PHÁT MINH VĨ ĐẠI CỦA LOÀINGƯỜI

Cho đến nay, việc nghiên cứu tìm hiểu xem con người đã bắt đầu biếtdùng lửa từ lúc nào vẫn còn gặp nhiều khó khăn Vì khác với công cụ bằng

đá, hoặc di cốt hoá thạch là những vật tồn tại lâu bền với thời gian, lửa chỉ

để lại dấu vết gián tiếp mà thôi Đó là những vật bị cháy do lửa gây ra, hoặcnhững đồ vật làm ra lửa Những vật cháy thường ít để lại dấu vết vì dễ bị gió

Trang 8

và nước cuốn đi mất Còn vật làm ra lửa thường là các chất hữu cơ dễ bị pháhuỷ với thời gian.

Những di cốt người vượn cổ đào được ở châu Phi cho đến nay đã khánhiều, song chưa hề thấy dấu vết chứng tỏ họ đã biết dùng lửa, mặc dầu họ

đã biết chế tạo công cụ đá Có thể vì khí hậu châu Phi cách đây 2 - 3 triệunăm nóng nực nên người vượn cổ không cần đến lửa chăng? Hay vì chúng tachưa phát hiện ra những di tích dùng lửa của họ?

Nhưng đến giai đoạn người tối cổ cách đây khoảng 50 vạn năm thì đã

có bằng chứng là họ đã biết dùng, giữ và sản xuất ra lửa Ở Vectetxôlôp(Hungari) cùng với di cốt người cổ, người ra đã tìm thấy các lò lửa đượcquây bằng các tảng đá to Ở Chu khẩu điếm (gần Bắc Kinh), người ta cũng

đã tìm thấy những đám tro cùng với di cốt người Pitêcăngtrôp Bắc kinh.Những đám tro ở Etsôcan, cửa sông Rôn, cũng đã cho thấy vết tích lửa cóniên đại vào cuối giai đoạn băng hà Minđen nghĩa là cách đây chừng 60 vạnnăm đồng thời với người Pitêcăngtrôp Vết tích lửa cũng đã được tìm thấy ởTorralba và Ambrona (Tây Ban Nha), Swanconbe (Úc), v.v Như vậy, ítnhất là con người đã tìm ra lửa từ sơ kỳ thời đại đã cũ cách đây khoảng 50vạn năm

Từ hậu kỳ thời đại đá cũ trở đi nhất là đến giai đoạn đá giữa thì lại có

sự nhảy vọt trong kỹ thuật dùng lửa Lò lửa có đá quây quanh tìm thấy ởMakarôvô thuộc Xibêri (Liên xô) là một bằng chứng.Vào thời đại đá mới,lửa đã trở thành phương tiện sản xuất thường xuyên của người để làm các đồgốm nung đủ hình, đủ kiểu Quá trình tìm ra lửa trải qua nhiều giai đoạn.Giai đoạn đầu có thể là một sự tình cờ

Chúng ta hãy tưởng tượng vào một ngày nào đó, cách đây mấy chụcvạn năm, tại một khu rừng mà những người tối cổ đang sống xảy ra mộtđám cháy rừng Họ sợ hãi chạy trốn Nhưng rồi đám cháy hết, họ lân la trởlại Tình cờ họ nhặt được một con thú đang bị thui dở trong đống tro tàn:bụng đói dạ khát, họ ăn thử và lạ thay, thật là tuyệt diệu một mùi vị thơmngon mà họ chưa từng được thưởng thức bao giờ

Trang 9

Thế là họ thấy tác dụng của lửa Từ chổ sợ hãi, họ tìm cách lợi dung

nó nhân mỗi lúc có đám cháy rừng Nhưng không phải dễ, họ chờ đợi hếtngày này qua tháng khác, rồi một hôm tình cờ, vẫn lại tình cờ, nhân lúc ghèđẽo đá để làm công cụ, một tia lửa bật ra giữa hai mảnh đá đập vào nhau bắtvào một đám bùi nhùi hay một đống lá khô cạnh đó và một đám lửa như họ

đã nhìn thấy trước kia xuất hiện Họ đã tìm ra cách lấy lửa, mở đầu một kỷnguyên mới trong buổi bình minh của loài người

Di tích những viên đá Pirit hoặc silíc mà người tối cổ đã dùng để làm

ra lửa là những bằng chứng cụ thể Người ta đã tìm thấy cả những sừnghươu, những xương, những gậy gộc đã được đốt hoặc tôi bằng lửa để dùnglàm vũ khí trong nhiều hang thuộc thời đại đá cũ ở châu Âu và châu Á

Quá trình tìm ra lửa như trên không phải trải qua một quá trình laođộng cực nhọc, quan sát, suy nghĩ và đấu tranh để tồn tại và thích nghi vớimột môi trường sống phức tạp quanh mình, con người mới làm chủ đượcngọn lửa Cho tới nay, nhiều người cho rằng phải tới gần 2 triệu năm sau khibiết chế tạo công cụ, con người mới biết dùng lửa Biết dùng lửa, con ngườibiết ăn thức ăn chín và tăng cường ăn thêm nhiều thịt Đó là điều kiện quantrọng đẩy nhanh sự tiến hoá của con người Ănghen đã nói rằng "thức ănthịt" chứa đựng hầu như sắn sàng những chất cần thiết cho sự chuyển hoácủa cơ thể Cùng với sự tiên hoá nó rút ngắn thời gian của các quá trình đờisống thực vật diễn ra trong cơ thể, do đó tiết kiệm được thời gian, đượcnhiều chất và năng lượng cho sự thể hiện của đời sống động vật theo đúngnghĩa của nó Việc tìm ra lửa bằng cách cọ xát đã đánh dấu một bước nhảyvọt trong lịch sử loài người Ph.Ăng-ghen viết: "Mặc dầu máy hơi nước đãthực hiện trong thế giới xã hội một cuộc giải phóng vĩ đại, cuộc cách mạngnày chưa hoàn thành một nửa, nhưng chắc chắn là tác dụng giải phóng loàingười (trên ý nghĩa lịch sử thế giới) của việc lấy lửa bằng cọ xát còn vượt xamáy hơi nước Vì rằng lửa do cọ xát làm ra khiến con người lần đầu tiên chiphối được tự nhiên, và do đó đã tách con người ra khỏi giới động vật"

Trang 10

LUẬT HAM-MU-RA-BI, BỘ LUẬT THÀNH VĂN ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI

Ham-mu-ra-bi (1792-1750) là vị vua thứ bảy thuộc vưong triều thứnhất Ba bi lon, ở ngôi 43 năm khoảng năm 1728- 1686 Tr.CN Vương quốccủa ông vốn nhỏ, sau xâm chiếm mở rộng gần như bao gồm toàn bộ lãnh thổ

I Rắc ngày nay cho nên việc biên soạn bộ luật nhằm thống nhất lãnh thổ làđiều tối cần thiết Mặt khác để củng cố nền thống trị của giai cấp chủ nôHam-mu-ra-bi đem những tục lệ, tập quán ở khu vực Lưỡng Hà lúc bấy giờsửa sang, thêm bớt xây dựng một bộ luật mới hoàn chỉnh với 282 điềukhoản, đề cập dến hầu hết các vấn đề về quan hệ kinh tế-xã hội đương thời:vấn dề gia đình, của cải, quyền thừa kế tài sản, nô lệ, lĩnh canh ruộng đất vàviệc bảo vệ những công trình thuỷ lợi mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt là bảo vệquyền lợi của giai cấp hữu sản, công cụ để duy trì, củng cố bộ máy nhà nướcquân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Luật quy định việc xét xử phải

có bằng chứng cụ thể và đặc biệt đã có một điều luật nói về quan toà Điều

5 "Nếu quan toà xử án đưa ra phán quyết rồi sau đó lại thay đổi phán quyết, thì phải vạch tội thay đổi phán quyết của ông ta, phạt gấp 12 lần số tiền phạt của nguyên án Hội nghị thẩm phán cách chức quan toà này không được xếp vào hàng ngũ quan toà nữa, đưa ra khỏi hội nghị thẩm phán" Luật còn quy định nếu ai trộm cắp mà bị bắt được thì phải đền tiền

hoặc lĩnh canh ruộng đất để canh tác mà thóc lúa không mọc lên được,mà bịvạch ra là không chịu bỏ sức lao động (cần thiết) trên cánh đồng thì người

đó phải nộp cho chủ ruộng số thóc lúa ngang với những người làm ruộng ởbên cạnh.( Điều 42) Mặt khác luật cũng bảo vệ những người dân tự dobằng cách quy định thời hạn làm nô lệ vì nợ không được quá ba năm Quanội dung của một số điều trên chứng tỏ tính nghiêm minh của luật Ham-mu-

Trang 11

ra-bi Đây là bộ luật cổ thành văn đầu tiên của nhân loại, được các nhà khảo

cổ (năm 1902 ) đã tìm thấy một cột bia lớn bằng đá lửa màu đen được màinhẵn, trên đó có khắc những hình người và những ký hiệu chữ hình góc (văn

tự tiết hình) kì dị Chiếc cột bia này cao gần 2 mét và bị gãy thành nhiềuđoạn Nhà bác học Pháp Sây-le đã đọc được những dòng chữ trên mặt cộtđá

Mặt phải của cột đá,về phía trên, có khắc nổi hình hai người đàn ôngrâu rậm trông rất oai vệ, mặc quần áo dài đến tận gót chân Một trong haingười ấy ngồi trên ngai, đầu quấn chiếc khăn hình chóp nhọn, hai tay có đeovàng, tay phải cầm chiếc gậy con hơi đưa về phía trước Đó là thần Mặt TrờiSa-mát - thần công lý của người Ba-bi-lon đang phê chuẩn bộ luật do vuaHam-mu-ra-bi soạn và cho phép nhà vua thay mặt thần lập toà án để xét xửnhững người dân của mình phạm pháp Còn người kia đứng trước vị thầntrong tư thế kính cẩn, đó là vua Ham-mu-ra-bi Bộ luật Ham-mu-ra-bi là tưliệu quý để nghiên cứu xã hội Ba-bi-lon, toàn bộ nền văn minh Nhà nước vàPháp luật phương Đông cổ đại

Cột đá tạc toàn bộ nội dung bộ luật Ham-mu-ra-bi hiện được lưu giữtại Bảo tàng Lu-vơ-rơ(Pa-ri, Pháp)

SÔNG NIN HÙNG VĨ

Khi đề cập đến lịch sử, văn hoá của Ai Cập cổ đại chúng ta không thể

không nhắc đến một con sông nổi tiếng đó là Sông Nin Nhà sử gia Hi Lạp

cổ đại Hê-rô-đốt đã từng viết: "Ai Cập là tặng phẩm của sông Nin", ý nóirằng sông Nin tạo nên đất nước Ai Cập, lại có tác dụng rất lớn đối với sựphát triển kinh tế , xã hội, văn hoá và lịch sử của nguời Ai Cập

Trang 12

Sông Nin là một trong những con sông lớn nhất thế giới, dài khoảng6.500km với bảy nhánh đổ ra Địa Trung Hải, phần chảy qua Ai Cập là700km Mọi người đều biết Ai Cập là một quốc gia nằm ở Đông Bắc ChâuPhi, ngoài vùng phía Bắc ven bờ Địa Trung Hải ra, các vùng còn lại đều có

sa mạc vây quanh, khí hậu nóng và khô, quanh năm hầu như không có mưanhưng nhờ sông Nin có lưu lượng cao vào bậc nhất thế giới nên ở đây khôngchỉ tạo nên ở vùng thung lũng một dải đất phù sa màu mỡ, có nơi dày tới10m mà còn ngập tràn nước, thuận lợi cho việc trồng trọt Rất nhiều loàithực vật như đại mạch, tiểu mạch, chà là, cây pa-py-rút làm giấy sinh sôi nảy

nở quanh năm Các loài động vật cũng rất phong phú Các loài thuỷ sản cónhiều là cơ sở ra đời nghề đánh cá Mặc dù hàng năm cứ từ tháng sáu đếntháng mười nước sông Nin dâng cao gây nên những trận lũ lụt lớn, biến AiCập thành như một biển cả mênh mông Thành quách, làng mạc lập trênnhững đồi cao nổi lên, nhấp nhô như những hòn đảo Sang tháng mười một,nước sông rút đi, để lại cả một lớp phù sa màu mỡ dày đặc, rất thích hợp choviệc gieo trồng các loại ngũ cốc Bởi vậy dân cư sống từ thời viển cổ ở haibên bờ sông Nin đã biết nghề nông từ rất sớm Từ tháng mười một đến thánghai là mùa gieo hạt và mùa luá chín, đồng ruộng, hoa quả tốt tươi Đến tháng

ba là bắt đầu mùa gặt Gặt xong là đến mùa khô khan, cát bụi Người ta nói"

Ai Cập liên tiếp là một đồng cát bụi, một biển nước và một vườn hoa" Hai

bờ sông Nin và trong các hồ, đầm, mọc rất nhiều loại cây sậy- cây pa-py-rút

mà người Ai Cập xưa thường dùng làm giấy viết Ở nhữngdãy núi phía đông

và phía tây dọc theo thung lũng sông Nin có nhiều loại đá: đá vôi, đá huyền

vũ, đá hoa cương, đá vân mẫu dùng làm vật liệu kiến trúc quan trọng nhấtcủa người cổ Ai Cập Là nguồn nuôi sống nguời dân Ai Cập, sông Nin còn

là trục giao thông chủ yếu của nước này Chiếc thuyền là hình ảnh được ghỉtrong hầu hết các chữ tượng hình liên quan đến du hành Tất cả những gì

Trang 13

nặng nề đều có thể vận chuyển bằng đường sông và phương tiện giao thông

dễ dàng đó đã góp phần tạo nên sự thống nhất của Ai Cập cũng như hệ thốngmương, lạch chằng chịt ở vùng châu thổ bảo đảm tuới tiêu cho ruộng đồngtrong những tháng khô hạn Quả thật sông Nin như dòng sữa mẹ nuôi dưỡng

Ai Cập Đúng như lời bài ca của người Ai Cập:

Sông Nin cuồn cuộn, đất đen màu mỡ.

Sông Nin tưới mát đất đen, đất đen nuôi dưỡng người Ai Cập.

Đất đen là mẹ, sông Nin là dòng sữa

Nằm trong lòng mẹ, những đứa con bú dòng sữa ngọt ngào.

Chúng lớn lên, trở thành thông minh, giàu trí tuệ.

Vì thế, người Ai Cập cổ đã coi sông Nin và Mặt trời làm cho muônvật sinh sôi là hai nguồn sống lớn lao Trong đời sống kinh tế xã hội củangười Ai Cập cổ, sông Nin có một vai trò quan trọng và trong tín ngưỡng đathần của họ thì thần Mặt Trời luôn đứng hàng thứ nhất Mặt trời mọc ởphương Đông lặn ở phương Tây, nước sông Nin định kỳ dâng lên, nhữngđặc trưng tự nhiên đó đã có địa vị đặc thù trong tâm thức người Ai Cập cổ

Ở thời kỳ xa xưa, khả năng cải tạo tự nhiên của loài người còn thấp, cáchquan sát thế giới còn đơn giản thì hoàn cảnh địa lí lại thường có tác dụngtrọng yếu đối với sự phát triển của xã hội loài người lúc đó Hoàn cảnh địa lí

ưu việt của Ai Cập đã mang lại sự phồn vinh cho văn minh Ai Cập, đồngthời cũng làm cho người Ai Cập cổ hình thành trong đầu óc mình khái niệm

về thuyết tuần hoàn Họ cho rằng cuộc sống của con người như mặt trời lặnrồi lại mọc, như nước sông Nin cạn rồi lại dâng tràn, là một vòng tuần hoànquay lại từ đầu Đây cũng chính là cơ sở để người cổ Ai Cập phát minh raphép làm lịch sớm nhất thế giới

Trang 14

Kim tù tháp là một loại công trình kiến trúc đồ sé xuất hiện từ thời Cổ

vương quốc (khoảng 2740 đến 2200 TCN), chủ yếu là lăng mộ của mộtvị.vua hay hoàng hậu Việc xây dựng kim tự tháp bắt đầu có từ Vương triềuthứ III Lúc bấy giờ, nền kinh tế xã hội của Ai Cập cổ đại đang phồn thịnh,nền văn hoá dân tộc cũng theo đà phát triển đi lên Những tham vọng trongđời sống của các pharaon (vua) càng nhiều hơn, việc xây dựng lăng mộ do

đó cũng mở rộng hơn Để xây dựng Kim tự tháp, hàng trăm nghìn con người

đã được huy động Theo lệnh nhà vua các thần dân phải tạm thời đình chỉhoặc giảm bớt nhiều công việc trong nước thậm chí đóng cữa cả đền đàikhông cho tế thần để tập trung toàn bộ nhân lực, vật lực vào việc xây dựnglăng mộ nhà vua Cứ ba tháng là có một kíp gồm chừng mười vạn ngườithay phiên nhau làm việc không ngừng trên các công trường Họ phải mangvác những tảng đá lớn từ dãy A-ráp tới sông Nin (khi chuyển đá qua sôngphải dùng mảng lớn) Những con đường chuyển đá cũng thu hút hàng ngànngười Con đường này tạo nên bằng những tảng đá được đẽo gọt theo hìnhdáng của nó và hoàn thành trong 10 năm Công việc xây dựng Kim tự thápkéo dài 20 năm nữa Tài nghệ xây dựng Kim tự tháp của người Ai Cập đượcthể hiện trước hết ở việc đẽo đá, mài đá và lắp ghép đá Thời đó, trong tay

họ chỉ có những công cụ rất thô sơ bằng đá, gỗ Nhưng thật kỳ diệu vớihàng triệu tầng đá được ghè đẽo theo kích thước đã định, rồi được mài nhẳn

Trang 15

và xếp chồng lên nhau hàng trăm tầng, không có bất cứ một loại vật liệu nào

mà vẫn đứng vững hàng ngìn năm Một công trình to lớn, đó là Kim tử thápKê-ốp ở Gi-da, được coi là 1 trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại Kim tửtháp này cao 146,6m và cạnh đáy dài 230 m Trong khoảng thời gian gần

4000 năm, chưa có một công trình nào đạt được chiều cao như nó Chỉ mãiđến cuối thời trung cổ mới một vài ngọn tháp nhà thờ là vượt cao hơn mộtchút Khối lượng của tháp này là 2600.000 m3, tính ra phải 6 triệu tấn, baogồm các phiến đá khổng lồ nặng đến hai, ba tấn, lấy từ núi đá chuyên chở

về nới xây dựng, được đẽo, gọt rồi nâng lên cao, gắn với nhau bằng nhữngđệm nối rất khít ghép lại thành từng lớp làm cốt, trước khi có thể tiến hànhviệc lát đá quanh 4 mặt tháp Kim tự tháp là một khối đá hình tháp, đáyvuông, bốn mặt phẳng của tháp là hình tam giá cân theo đúng bốn hướngĐông-Tây-Nam-Bắc

Đồng thời, kiến trúc của Kim tự tháp cũng mang đậm tính chất tôngiáo Thiên 267 của bài văn khắc trên đá trong một kim tự tháp có đoạn giảithích rằng: "Quốc vương nằm yên giấc trên bệ nhìn lên Thiên đường Người

có thể từ đây bước lên Thiên đường" Kim tự tháp với bốn mặt nghiêng caovút lên không trung, dưới con mắt của các pharaon, đó là những bậc thangmây để bước lên, là con đường linh hồ phải đi qua để tới Thiên đường.Ngoài ra, trên đỉnh kim tự tháp thường có đặt một tảng đá hình chóp bọcđồng hoặc vàng Những tia sáng mặt trời rực rõ bị khúc xạ phản chiếuxuống mặt đất, tượng trưng cho ân đức của Thần Mặt Trời ban cho khắp bàndân thiên hạ Đó cũng là một hình thức sùng bái Thần Mặt Trời của người

Ai Cập cổ xưa

Ngày nay nhắc đến Ai Cập, người ta liên tưởng ngay đến những kim

tự tháp đứng sừng sững giữa sa mạc mênh mông, thi gan với thời gian

Trang 16

Chúng như những tấm bia khổng lồ ghi lại một thời đại huy hoàngtrong lịch sử kiến trúc của nhân loại.

ƯỚP XÁC NGƯỜI CHẾT Ở AI CẬP

Theo tín ngưỡng của người cổ Ai Cập, người tuy chết rồi, nhưng linhhồn là bất tử Họ cho rằng trong mỗi người đều có linh hồn"ka" đi theo thânthể người như hình với bóng Khi người chết thì"ka" mới rời khỏi xác người,bắt đầu cuộc sống độc lập Chỉ khi nào xác người bị hoàn toàn huỷ hoại thì

"ka" mới chết theo Nhưng nếu giữ được xác chết lâu bền thì "ka' có ngàyquay trở về với thể xác, người chết sẽ sống lại Vì tin như vậy, nên người cổ

Ai Cập có tục ướp xác người chết Thuật ướp xác ở Ai Cập được ra đời từthời Cổ vương quốc khoảng năm 2700 Tr.cn và tồn tại mãi đến thế kỷV sau

CN Về nguyên tắc đó là kỹ thuật làm khô thi thể.Lấy các bộ phận dễ phânhuỷ như não , nội tạng ra bằng cách hút qua mũi hay giải phẩu bụng Sau đóướp thi thể vào khối natron khô, một loại Carbonate hydrate de sonde có rấtnhiều ở Ai Cập Ướp như thế trong 70 ngày Rữa ,nhồi cỏ thơm vào đầu vàbụng thay cho óc và nội tạng đã lấy ra Xoa dầu thơm và một chất gọi làMyrrhe Dùng vải lanh bó từng bộ phận cơ thể Riêng các ngón tay lồng vàobằng vàng để khỏi rơi rụng Não và nội tạng chứa và 4 bình Tất cả việc yhọc này đều khoác áo ma thuật do các thần Isis, Nephtys và A nu bis chủ trì,bởi vì thần Isis đã từng gữi thi thể Osiris không huỷ hoại

Nhà bác học Hê-rô-đốt đã ghi lại công việc của những thợ ướp xácchuyên nghiệp ở Ai Cập như sau:

Đối với xác ướp kiểu hạng nhất, người ta làm rất công phu Đầu tiên,

họ dùng móc sắt thông qua lỗ mũi móc hết óc rồi cho một chất nước đặc biệt

Trang 17

vào rửa sạch sọ; sau đó, dùng dao sắc rạch bụng, moi tất cả ruột gan, rửasạch bụng bằng rượu vang và nước thơm, nhồi các chất thơm vào bụng,khâu lại Xác được ngâm vào nước múi xút trong 70 ngày Xác teo lại chỉcòn da và xương Họ bó chặt xác bằng những băng vải rồi đặt trong mộtquan tài gỗ hoặc đá, trông như một cái hộp theo hình dáng người nằm Mặtngoài phần đầu được chạm trổ theo khuôn mặt người chết, phần thân chạmhay vẽ hoa văn như quần áo Nhìn xa, quan tài giống như một bức tượngngười không chân, tay.

Xác ướp kiểu này có thể để được mấy nghìn năm Gần đây, người taphát hiện được xác ướp của một nhạc trưởng chết cách đây 4500 năm, nhàvua Nip-phe chết trẻ cách đây 5000 năm

Thành phố Ba-bi-lon một thời tráng lệ

ở miền bắc Lưỡng Hà vào đầu thế kỉ XIX TCN đã xuất hiện một quốcgia mới của người A - mô - rít là Ba - bi - lon Vương quốc Ba-bi-lon dầndần hưng thịnh và thống nhất được Lưỡng Hà Nằm ở trung tâm Lưỡng Hà,Ba-bi-lon còn là nơi tiếp cận của hai con sông Ti-gơ-rơ và Ơ-phơ-rát Dovậy, đây là nơi gặp gỡ của những con đường thương mại quan trọng nhấtchạy từ vịnh Ba Tư tới Tiểu á và ngoại Cáp-ca-dơ, và từ Xi-ri đến caonguyên I-ran Ba-bi-lon trở thành thủ đô của một quốc hùng mạnh, là trungtâm kinh tế, thương mại và văn hoá quan trọng nhất của Lưỡng Hà Trongsuốt thời gian dài nó vẫn luôn là trung tâm của khu vực Cận Đông

Vào thời Tân Ba-bi-lon (605-539 TCN), Lưỡng Hà đã đạt tới một sự pháttriển rực rỡ chưa từng thấy, làm cho nó có một vị trí vinh quang ở Tây á Sựvinh quang của thời kì Tân Ba-bi-lon được biểu hiện rõ nhất ở sự sầm uấtchưa từng có trước đó của chính thành phố Ba-bi-lon Sự vinh quang đó đãtừng bước được các sử gia Hi Lạp cổ đại như Hê-rô-đốt, Đi-ô-đô-rơ, Stra-

Trang 18

bon nói tới trong các tác phẩm của mình Nhiều truyền thuyết của người HiLạp cũng nói đến sự vĩ đại của thành phố nổi tiếng này Theo những ghichép của Hê-rô-đốt, thành phố Ba-bi-lon có chu vi 90Km, có những bứctường dày 50m, cao 100m Dọc theo những bức tường đó, người ta dựng 50tháp canh và xây dựng 100 cửa Thành Ba-bi-lon có tám cổng, mỗi cổngmang tên một vị thần Cổng chính phía Bắc (cao 12m) là một cổng kép,mang tên nữ thần I-sơ-ta, xây bằng gạch men màu xanh và được trang tríbằng các hình chạm nổi các thú vật như bò thần, rồng Cánh cổng được đúcbằng đồng Từ cổng I-sơ-ta có một con đường thẳng lớn, thẳng tắp, gọi làĐường rước lễ dẫn thẳng xuống phía Nam Bên phải đường, ngay sau cổngI-sơ-ta có các bức tường thành bao bọc cung điện nhà vua Tiếp sau là cáckhu phố, các chợ lớn, cuối cùng là ngôi đền chính của thành Ba-bi-lon: đềnthờ thần Mác-đúc; người Ba-bi-lon gọi là "ngôi nhà của người sáng tạo rabầu trời và mặt đất".Tượng thần Mác-đúc bằng vàng được đặt trong ngôi đềnnhỏ ở tầng tầng trên cùng, phía trước có một chiếc bàn lớn và ngai, tất cảđều làm bằng vàng nguyên chất, tượng thần Mác-đúc nặng tới 24 tấn.

Bên cạnh ngôi đền, ngưêi ta còn xây dựng một cái tháp vĩ đạimang tên Ba-hen Tháp này có đáy vuông chu vi 91m, chiều cao tháp cũngkhoảng 90 m, gồm cả thảy 7 tầng chồng lên nhau Theo các sử giả Hi Lạp cổđại, thì người Ba-bi-lon dựng tháp Ba-ben để cho các nhà chiêm tinh quansát

Trong thành còn có vườn treo Ba-bi-lon nổi tiếng do vua đô-nô-so (605-562 TCN) xây dựng để chiều lòng người vợ yêu của mình -công chúa Xê-mi-ra-mít; vì vậy còn được gọi là vườn treo Xê-mi-ra-mít

Na-bu-khô-Về hình dáng, vườn treo tựa như một cái tháp lớn cao 25 mét gồm bốntầng, sân nằm trên những dãy cột đá Tầng dưới cùng có chiều dài 42 m,

Trang 19

rộng 34 m Các tầng được nối với nhau bằng những cầu thang rộng Mặt sân

là những phiến đá to, phẳng, ghép lại với nhau

Để chống thấm nước, người ta rải một lớp cói mỏng trên các sân đárồi đổ một lớp vữa lên trên, tiếp theo là hai lớp gạch này được ghép lại vớinhau bằng vữa thạch cao Trên lớp gạch này được đặt những tấm chì lớn,trên cùng là một lớp đất dày để trồng hoa và cây cảnh

Một guồng nước từ sông Ơ-phơ-rát được dẫn lên bể chứa mỗi tầng.Hàng trăm nô lệ hằng ngày dùng gầu múc nước ở các bể chứa tưới cho cây

cỏ Vườn treo bốn mùa cây cối xanh tươi Đứng trên vườn treo có thể thấytoàn cảnh Ba-bi-lon lộng lẫy Điều lí thú khi nhìn nhận tổng thể kiến trúcBa-bi-lon là ở chỗ nó được kết hợp hài hoà với cảnh sắc tự nhiên Sông Ơ-phơ-rát chảy ngang qua thành phố Hai bên của nó được xây bằng ghạch rấtđẹp và có nối với nhau bằng một cái cầu, đã làm cho cảnh quan thành phốthêm thơ mộng Với kiến trúc kỳ vĩ như vậy, thành phố Ba bi lon xứng đáng

là di sản có một không hai của thế giới cổ đại

TRUYỀN THUYẾT VỀ BIỂN Ê- GIÊ

Giữa Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì ngày nay có một biển nhỏ, một bộ phậncủa Địa Trung Hải, gọi là biển Ê -Giê Tại sao biển này lại được đặt tên nhưvậy? Việc đó được xuất phát từ sự tích dưới đây

Truyền thuyết kể rằng từ xa xưa, ở trên đảo Crét tại phía Nam Hi Lạp

có một nước rất hùng mạnh Đứng đầu nhà nước ấy là vua Mi-nốt Ông vuanày có một mê cung, trong đó có rất nhiều phòng và lối đi ngoắt ngoéo Đó

là nơi ở của con quái vật Mi-nô-to mình người đầu bò, đứa con riêng của vợvua Mi-nốt Để nuôi Mi-nô-to, cứ 10 năm,người A-ten ở trên đất liền HiLạp phải nộp cho vua Mi-nốt 7 đôi thanh niên nam nữ

Đã 3 lần, người A-ten phải chịu thảm hoạ ấy của nhân dân, hoàng tửTê-dê con vua Ê -giê ở A-ten khẩn thiết xin vua cha cho mình cùng đi đểgiết con quái vật ấy, chấm dứt cảnh đau khổ cho người A-ten Sau nhiều lần

Trang 20

thuyết phục, vua Ê-giê phải chấp nhận và giao hẹn rằng, nếu thành công thìkhi trở về, chiếc buồm đen sẽ được thay bằng cánh buồm trắng, để từ xa vuaÊ-giê đứng trên bờ mong đợi có thể nhìn thấy và biết con mình còn sống.

Sang đến đảo Crét, chàng hoàng tử Tê-dê khôi ngô tuấn tú được côngchúa con vua Mi-nốt là A-ri-át-nơ đem lòng yêu thương nên đã tặng chàngmột thanh kiếm và một cuộn chỉ Tê-dê buộc một đầu chỉ ở cửa rồi vừa đivừa mở chỉ để tiến sâu vào mê cung Trải qua một trận chiến đấu quyết liệtvới Mi-nô-to, cuối cùng Tê-dê nắm chặt được sừng nó rồi đâm thẳng vàongực nó Thế là con quái vật ấy bị giết chết

Sau đó, Tê-dê cùng những nam nữ thanh niên A-ten được cứu thoát.Lần theo sợi chỉ trở ra theo lối cũ, khi vua Mi-nốt chưa kịp phát hiện, chàng,công chúa và những thanh niên A-ten vội vàng lên thuyền về Hi Lạp Đểkhỏi bị truy đuổi, họ không quên đục thủng đáy tất cả các thuyền của đảoCrét

Khi thuyền gần về đến Hi Lạp, vì quá vui mừng, Tê-dê quên bẵng mấtviệc thay buồm đen bằng buồm trắng Trong khi đó, vua Ê-giê hằng ngàyvẫn đứng trên bờ biển để ngóng trông con, nay bỗng thấy thuyền trở về vàvẫn với chiếc buồm đen nên tưởng rằng Tê-dê đã chết Trong cơn tuyệtvọng, vì thương nhớ đứa con trai yêu quý của mình, vua Ê-giê nhảy xuốngbiển tự vẫn Để ghi nhớ cái chết bi thảm của nhà vua, người Hy Lạp đã đặttên cho biển đó là biển Ê-giê

ALÊCHXAN ĐẠI ĐẾ NHÀ QUÂN SỰ TÀI BA

CỦA THẾ GIỚI CỔ ĐẠI.

Alêchxan Alexandros sinh vào tháng 7- 356 TCN, là con của vuaMacedonia Philip II và vợ thứ tư của nhà vua là công chúa Olympias xứEpirus Alêchxan được hưởng thụ một nền giáo dục toàn diện, không chỉgiỏi về võ nghệ mà còn rất yêu thích văn học Ông được nhà triết học nổitiếng nhất thời cổ đại là Arixtốt bồi dưỡng cho những tinh hoa của nền vănhóa Hi Lạp cổ đại

Năm 336 TCN, Philip II bị ám sát, Alêchxan lên kế nghiệp vua cha,năm 20 tuổi Ông là một người chỉ huy quân sự tài giỏi, một nhà chính trị và

Trang 21

tổ chức giầu năng lực Sau khi đàn áp các cuộc khởi nghĩa của các thànhbang Hi Lạp, ông đã đem quân đội liên minh Hi Lạp - Makêđônia chinhphục đế quốc Ba Tư Quân đội của ông thực hiện chiến thuật "Phương trận"(Phalange) hay hình khối vuông Bộ binh xếp thành từng khối dày đặc, hàngtrước mang giáo ngắn, hàng sau giáo dài (có ngọn giáo dài tới 5 mét), tua tủanhư những con nhím Binh sĩ còn có mộc che bảo vệ Kị binh tinh nhuệđược bố trí hai bên sườn của bộ binh Khi tác chiến, bộ binh có nhiệm vụcông kích chính diện, còn kị binh nhanh nhẹn thì vòng sang hai bên đối thủ

và bao vây đằng sau lưng nhằm tiêu diệt hoàn toàn quân địch Nhờ có mộtđội quân tinh nhuệ và một chiến thuật tiên tiến nhất thời bấy giờ, trong vòng

4 năm (từ 334 đến 331 TCN), ông đã tiêu diệt toàn bộ đế quốc Ba Tư, xâmchiếm một lãnh thổ rộng lớn từ Ai Cập đến Ba Tư Ông còn kéo quân vàomiền tây Bắc Ấn Độ, nhưng không giành được thắng lợi phải quay trở về,đóng kinh đô tại Babilon

Cuộc viễn chinh của A-lếch-xăng mang tính chất xâm lược cướp bóccực kỳ dã man Y đã từng hạ lệnh thiêu huỷ nhiều thành thị chiếm được trênđường hành quân, đem hàng trăm ,hàng vạn người bán làm nô lệ và cướpsạch của cải ở các miền bị chinh phục Tuy vậy về khách quan mà nói cáccuộc chiến tranh ấy đã có tác dụng xúc tiến sự giao lưu kinh tế , văn hoágiữa Đông và Tây Bản thân A-lếc xăng cũng có những đóng góp khôngnhỏ vào việc truyền bá nền văn hoá Hi Lạp sang Phương Đông như: xâydựng nhiều thành thị kiểu Hi Lạp tại đây (các thành thị này đều mang tên A-lếch-xan-đri-a) Những tướng sĩ, quân đội của ông được khuyến khích kếthôn với phụ nữ châu Á Bản thân A-lếc xăng cũng cưới một công chúa Ba tưlàm hoàng hậu Ông còn bắt ba vạn thiếu niên Ba Tư về Ma-kê-đô-ni-a huấnluyện quân sự và giáo dục theo kiểu Hi Lạp Công cuộc Hi Lạp hoá các miềnTrung Cận Đông bắt đầu được đẩy mạnh Từ đây nền văn hoá rực rỡ Hy -

La có điều kiện toả sáng đến các khu vực khác

Trong khi đang chuẩn bị cuộc viễn chinh mới, thì Alêchxan bị mắcbệnh sốt ác tính, và mất ở Babilon lúc mới 33 tuổi (323 TCN) Sau khi ôngmất, không có con thừa kế, đế quốc ruộng lớn đã bị các tướng tranh giành và

Trang 22

cuối cùng chia xẻ thành ba vương quốc: Hi Lạp - Makêđônia, Ai Cập và BaTư.

NGỌN HẢI ĐĂNG CAO NHẤT THẾ GIỚI VÀ THƯ VIỆN ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI Ở A-LẾCH-XAN-ĐRIA

A-Lếch-Xan-Đria, vua của Vương quốc Ma-xê-đoan, một quốc gia ởbắc bán đảo Hi Lạp, đã mang quân xâm lược Ai Cập năm 332 TCN Trongthời gian ở Ai Cập, ông tự xung là con của thần mặt trời và có ý đồ xây dựng

ở Ai Cập một thành phố lớn và sẽ lấy tên ông đặt tên cho thành phố

Sau khi A-Lếch-Xan-Đrơ mất (323 TCN), một bộ tướng người HiLạpcủa ông là Ptô-lê-mê đã đặt quyền cai trị của mình ở Ai Cập và cho xâydựng thành phố A-lếch-xan-đria Thành phố này sau đó trở thành một đô thịquốc tế Dân cư ở đây, ngoài người Ma-xê-đoan, người Ai Cập, ngườiHiLạp, còn có người Do Thái, người Ba Tư Kiến trúc A-lếch-xan-đria hùng

vĩ lạ thường với những cung điện nguy nga, trải dài trên bờ cát mịn Đườngphố A-lếch-xan-đria rộng rãi, có trường đấu xảo, có rạp hát mĩ lệ, có hảicảng rộng lớn với những vườn hoa đẹp

ở A-lếch-xan-đria có hai công trình kiến trúc khiến nhân loại khâmphục là ngọn hải đăng và thư viện A-lếch-xan-đria

Ngọn Hải đăng được xây dựng trên đảo Pha-rốt, để hướng dẫn tàu bècập bến hải cảng A-lếch-xan-đria Đó là một cái tháp cao 3 tầng, xây dựngtrên một diện tích vuông, mỗi cạnh dài khoảng 170-180m Trên diện tíchnày, người ta xây dựng một cung điện rất lớn, khối vuông, mỗi cạnh dài30m, bốn cạnh trùng với bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, được xây dựngbằng đá vôi, là tầng thứ nhất của hải đăng Tầng thứ hai được xây dựng theokiểu giác, tám mặt theo hướng tám chiều gió chính Tường được xây dựngbằng đá hoa Tầng thứ ba là một khối trụ, trên có một cái vòm, do những cột

đá chống đỡ, trông rất thoáng và không có tường bao quanh Đèn để dưới

Trang 23

vòm mây, toả ánh sáng khắp bốn phía Một pho tượng thần biển đông - thần biển trong thần thoại HiLạp) bằng đồng, tay cầm đinh ba, cao 7

(Pô-xây-m được dựng trên nóc của tháp

Trong nhiều thế kỷ, tàu biển nhận ra cảng khi thấy ngọn hải đăng này.Ban đêm nó được đốt lửa, ban ngày dù cách xa 50 km tàu vẫn thấy nhờnhững tia nắng mặt trời phản xạ lại qua gương Hai trận động đất năm 1320

và 1323 đã khiến cho ngọn hải đăng trở thành đống đổ nát Năm 1994, ViệnKhảo cổ học phương Đông đã phát hiện được địa điểm này giữa đủ loại đátrầm tích chìm sâu dưới đáy biển

Thời bấy giờ, hải đăng A-lếch-xan-đria còn có một cơ quan khoa họclấy tên là Muy-dê, nghĩa là các thần bảo vệ khoa học và nghệ thuật Vua Ptô-lê-mê I và những người kế tục có ý muốn bảo vệ và nâng đỡ cho khoa học,văn học, nghệ thuật phát triển nên đã thành lập ở đây một thư viện côngcộng đầu tiên trong lịch sử nhân loại Thư viện là một toà nhà hình chữ nhật,bốn hàng cột đẹp có tượng trang trí bốn mặt và giữa các cột có tạc tượng cácnhà văn, nghệ sĩ, các nhà khoa học Lối vào phòng làm bằng đá hoa trắng ởđây, người ta kê bàn để đọc và viết Phía sau phòng là kho chứa sách và một

số phòng phụ cho người thủ thư, người phiên dịch v.v

Từ thế kỉ III TCN, khối lượng tác phẩm viết bằng chữ Hilạp đã khánhiều Tất cả các tác phẩm này đều là những bản viết tay, thường thuộcquyền của cá nhân Ptô-lê-mê đã cử người đi mua các tác phẩm đó Cácthuyền bè đến A-lếch-xan-đria đều phải trình báo số tác phẩm văn học, nghệthuật, khoa học có trên tàu và thường phải bán cho thư viện Do vậy, thưviện đã có một số lượng sách lớn Đầu thế kỉ I TCN, số sách ở đây lên tớikhoảng 700.000 cuốn ở đây có các tuyển tập kịch của các nhà soạn kịch vĩđại như Xô-phốc-lơ, Ơ-ri-pit, A-ri-xtô-phan và thơ ca của nhiều thi sĩ xuấtsắc thời cổ đaị Một số tác phẩm của các học giả cổ đại, đặc biệt là A-ri-xtốt,Hi-pô-crát và học trò của ông còn tồn tại cũng nhờ thư viện này

ở thư viện A-lếch-xan-đria chỉ tồn tại khoảng 200 năm Năm 48 - 47TCN, khi quân đội Rô-ma do Xê-da lần đầu tiên đột nhập vào A-lếch-xan-

Trang 24

đria , một trận chiến xảy ra, A-lếch-xan-đria bị đốt cháy, thư viện cũngthoát khỏi sự tàn phá này Một số sách bị đốt thành tro bụi; một số khác,theo lệnh của Xê-da, được đưa về La Mã như những chiến phẩm lợi phẩm.Nhưng rất tiếc, trên cuộc hành trình tàu bị đắm và sách cũng không còn.

Cuối thế kỉ IV, các tín đồ đạo Thiên Chúa đấu tranh ác liệt chống lạinhững người khác đạo ở A-lếch-xan-đria, thư viện lại bị tàn phá một lầnnữa Tai hoạ lớn nhất là vào năm 641, sau khi đánh chiếm A-lếch-xan-đria ,quân đội A-rập đã lấy tất cả sách của thư viện đưa vào nhà tắm của thànhphố đốt để đun nước tắm Sáu tháng sau, thư viện A-lếch-xan-đria hoàn toàn

bị thiêu huỷ

CON NGỰA THÀNH TƠ-ROA

Liệu ngày nay có ai không biết đến truyền thuyết nổi tiếng về conngựa thành Tơ roa, về việc Ô đi xê đã mách cho người Hy Lạp một mưu kếtuyệt diệu, khi họ vây hãm thành Tơ roa suốt mười năm trời mà không thểcông phá nổi

Truyền thuyết kể lại rằng: Cách đây hơn 3 000 năm, các nước nhỏ HiLạp đã đem quân sang tấn công thành Tơ-roa ở Tiểu Á, thuộc Thổ Nhĩ Kìngày nay Cuộc chiến tranh kéo dài 10 năm (từ 1194-1184 TCN) nhưngquân Hi Lạp vẫn chưa hạ được thành Tơ- roa Bỗng một hôm, quân Hi Lạp

tự phá bỏ doanh trại, toàn bộ rút xuống thuyền về nước Chỉ có một vật rấtlớn họ không mang theo, đó là con ngựa gỗ Một số người đề nghị với nhàvua thành Tơ-roa nên chất củi đốt con ngựa gỗ ấy đi Trong khi đó, có mấyngười chăn cừu bắt được một tù binh Hi Lạp, tên là Xi nôn, quần áo ráchrưới, mình dính đầy bèo và bùn đất dẫn đến nộp cho vua thành Tơ-roa Xinôn khai rằng: "Do chiến tranh kéo dài mệt mỏi, quân Hi Lạp muốn trở về

Trang 25

nhưng vì ngược gió thuyền không đi được Các thầy cúng nói các thần đòihỏi phải dùng người làm lễ cúng, nếu không thì gió không lặng, không thể

về Hi Lạp được Vì vậy họ đã chọn tôi để làm vật hi sinh ấy Nhân khi bọnlính gác lơ là, tôi đã trốn được, nấp dưới ao Sáng nay thấy quân Hi Lạp đãrút hết, tôi mới ra khỏi chổ ẩn nấp thì bị người của các ngài bắt"

Một chiến sĩ của thành Tơ-roa hỏi Xi nôn: "Người Hi Lạp làm conngựa gỗ ấy để làm gì và vì sao khi rút quân họ không mang đi?"

Xi nôn nói: "Đó là vật người Hi Lạp tạo ra để cúng thần Người HiLạp cố ý để con ngựa lại vì họ đoán rằng thế nào các ngài cũng sẽ phá huỷ

nó và như vậy sẽ làm cho các thần nổi giận Người Hi Lạp rất sợ các ngàikhông phá huỷ nó mà đưa nó vào để ở trong thành do đó sẽ làm cho Tơ-roatrở thành một thành phố không thể công phá được và làm cho người Hi Lạp

sẽ bị thất bại trong chiến tranh, vì vậy họ phải làm con ngựa ấy rất cao lớn

để không thể đưa qua cổng thành được"

Thế là người Tơ-roa quyết đinh phá một đoạn thành, lắp bánh xe vàochân ngựa, buộc dây thừng vào mình ngựa để kéo ngựa vào trong thành Vuimừng vì chiến tranh đã kết thúc và thu được món chiến lợi phẩm đặc biệt ấy,người Tơ-roa ca hát, nhảy múa cho đến khuya rồi về nhà ngủ, chỉ để mấyngười ở lại canh thành

Trong khi đó, trên biển Ê-giê, quân Hi Lạp quay thuyền trở lại ThànhTơ-roa rồi bí mật đổ bộ lên bờ Từ trong bụng ngựa gỗ, các chiến sĩ Hi Lạpchui ra, giết mấy người lính gác, mở toang cổng thành cho đại quân Hi Lạp

ào vào Quân đội và cư dân thành Tơ-roa bàng hoàng tỉnh dậy chống cự mộtcách bị động Quân Hi Lạp thẳng tay chém giết đốt phá Thành Tơ-roa bị hạ.Thế là cuộc vây hãm uổng công vô ích suốt mười năm dai dẵng của người

Hy lạp đã đạt được thành công trong một đêm

KHỞI NGHĨA XPÁC - TA – CÚT

Khoảng thế kỷ I trước công nguyên, chế độ chiếm hữu nô lệ La Mãbước vào thời kỳ tan rã và suy vong Một trong những nguyên nhân là donhững cuộc khởi nghĩa của nô lệ và dân nghèo liên tiếp nổ ra, điễn hình làcuộc khởi nghĩa Xpác-ta-cút

Trang 26

ta-cút quê ở miền Tơ-ra-xơ thuộc bắc bán đảo Hy Lạp, ta-cút bị đem bán làm nô lệ ở Ý, được học tập thuật đánh kiếm trong mộtdoanh trại nô lệ ở Ca-pu và trở thành đấu sĩ Tiền đồ duy nhất của đấu sĩ là

Xpác-sẽ giết chết đối phương hay bị đối phương giết chết tại đấu trường để muavui cho bọn quý tộc chủ nô Căm phẫn chế độ dã man ấy, năm 73 trước côngnguyên, Xpác-ta-cút cùng với 200 đấu sĩ khác đứng lên khởi nghĩa nhưng kếhoạch bị lộ, ông cùng với các đồng đảng của mình vượt trại nô lệ, cướp đoạtmột số khí giới chạy lên miền núi lửa Vê-duy-vơ, dựa vào vị trí hiểm trở ởđây để xây dựng căn cứ Hoảng sợ trước khí thế của nghĩa quân, bọn thốngtrị La Mã liên tiếp phái nhiều đạo quân tiến đánh, song trước sau bọn chúngđều bị thất bại

Từ khi Xpác-ta-cút phất cao cờ khởi nghĩa, đông đảo nô lệ và dânnghèo hưởng ứng và chạy lên căn cứ để gia nhập nghĩa quân Do đó lựclượng nghĩa quân ngày càng lớn mạnh, có lúc lên đến 10 vạn người, cuộckhởi nghĩa ngày càng lan rộng khắp nơi Đi đến đâu họ cũng đốt cháy nhàcửa, lâu đài của bọn quý tộc giải phóng nô lệ và giúp đỡ dân nghèo Cuộckhởi nghĩa làm lung lay tận gốc cơ sở của đế quốc La Mã, nghĩa quân kiểmsoát cả miền nam nước Ý, có lần tiến quân đến miền phụ cận La Mã khiếncho bọn quý tộc chủ nô, hễ nghe nhắc đến tên Xpác-ta-cút là hồn bay pháchlạc, rụng rời tay chân

Đến năm 72 trước Công nguyên, mặc dù nghĩa quân đã nhiều lầnđánh bại những đội quân La Mã - do những viên chấp chính quan có kinhnghiệm chỉ huy, nhưng Xpác-ta-cút thấy được lực lượng của nô lệ không thểnào đánh tan toàn bộ quân đội của bọn thống trị nên ông đã nghĩ đến kếhoạch rút nghĩa quân ra khỏi đất Ý

Lần xuất chinh thứ nhất, kế hoạch của Xpác-ta-cút là định xuyên quanước Ý từ nam lên bắc, dọc theo dãy núi A-pen-nin, rồi vượt qua núi An-pơ,tạo điều kiện cho nô lệ tham gia nghĩa quân trở về quê hương của họ ở HyLạp và xứ Gô-lơ (nước Pháp ngày nay) Nhưng những khó khăn đã gặp phảilúc vượt qua núi An-pơ làm cho Xpác-ta-cút phải sửa đổi lại kế hoạch

Trang 27

Lần thứ hai, Xpác-ta-cút dự tính nghĩa quân sẽ vượt sang đảo Xi xin,phát động khởi nghĩa ở đấy rồi nhờ sự giúp đỡ của người bản xứ, nghĩa quân

sẽ vượt biển trở về Hi Lạp Song kế hoạch chuyển quân đến Hi Lạp cũngkhông thành vì bọn cướp biển đánh lừa nghĩa quân, không chịu cung cấpthuyển chở nghĩa quân sang Xi-xin Xpác-ta-cút đành phải cho nghĩa quânlàm nhiều bè gỗ chắc chắn trong một thời gian ngắn để vượt biển, chẳngmay một cơn bão biển lớn bất ngờ xuất hiện đã cuốn phăng tất cả bè mảngcủa nghĩa quân khiến cho kế hoạch vượt biển lại bị tan vỡ Trong lúc đóquân đội La Mã do tên tướng Cơ-rát-sút chỉ huy vẫn bám riết nghĩa quân, cắtđường rút lui về căn cứ cũ Xpác-ta-cút đã dũng cảm lãnh đạo nghĩa quân

mở một đường máu, vượt qua hào luy của quân La Mã để tiếp thẳng đến hảicảng Bô-rum-đi Si-um ở Đông Nam đất Ý hi vọng từ đó sẽ vượt biển trở về

Hi Lạp nhanh chóng, dễ dàng Những cuộc hành quân liên miên, lâu dài giankhổ đã làm cho lực lượng nghĩa quân ngày càng suy yếu Hơn nữa từ sauthất bại về kế hoạch vượt biên, trong đội ngũ Xpác-ta-cút bắt đầu có sự rạnnứt, mâu thuẫn nhau về ý kiến ở lại nước Ý hay ra khỏi Ý? Những nô lệ quê

ở Hi Lạp và ở Gô-lơ thì mong được trở về quê hương để làm người dân tự

do, dân nghèo ở Ý thì chỉ đòi hỏi ruộng đất và không muốn rời khỏi tổ quốcmình Điều đó càng làm giảm sút ý chí chiến đấu của nghĩa quân

Năm 71 trước Công nguyên sau một trận kịch chiến dữ dội quân khởinghĩa bị đội quân của tướng Cơ-rát-sút và Pông-pê của La Mã đánh bại.Thấy không còn cơ cứu vãn nổi tình thế, Xpác-ta-cút đã tự tay đâm chết conngựa chiến thân yêu của mình Đến khi bị thương nặng Xpác-ta-cút vẫn tiếptục chỉ huy chiến đấu, cho đến hơi thở cuối cùng Trận đánh lịch sử kết thúc,trên 6000 nghĩa quân bị bắt, bị chặt đầu và đóng đinh lên giá chữ thập cắmsuốt dọc đường từ Ca-pu cho đến La Mã nhằm uy hiếp tinh thần của nhândân Tuy vậy một số vẫn trốn thoát và tiếp tục cuộc chiến đấu mãi đến năm

63 trước Công nguyên cuộc khởi nghĩa mới bị hoàn toàn dập tắt

Mặc dù Xpác-ta-cút hi sinh và cuộc khởi nghĩa bị thất bại nhưng sựnghiệp của Xpác-ta-cút vẫn sáng ngời chính nghĩa Hình ảnh Xpác-ta-cút

Trang 28

vẫn sống mãi với thời gian, ông là tấm gương sáng chói đối với những ngườilao động bị áp bức.

Các Mác đã viết: "Xpác ta-cút là nhà quân sự vĩ đại có cốt cách cực kìcao thượng, một đại biểu chân chính của giai cấp vô sản cổ đại"

ARIXTOT-NHÀ KHOA HỌC LỚN CỦA THẾ GIỚI CỔ ĐẠI

Arixtôt sinh ở Xtagia, một thành phố của nước Makêđônia, trên bờĐông bắc biển Êgiê, con của một vị lương y tại triều vua Philip II xứMakêđônia Arixtôt đã sang Aten học tập với thầy Platôn và ở lại bên đó lâungày Nhờ đó, ông đã trở thành nhà bác học am hiểu, tinh thông nhiều ngànhkhoa học Ông đã được vua Philip II mời về làm thầy dạy Alêchxan đại đế

Đối với các môn khoa học đương thời, hầu như là không có môn nào

là ông không am hiểu và tinh thông.Về phương diện triết học ông đã từngchống lại chủ nghĩa duy tâm thần bí của Platôn Trong công tác nghiên cứukhoa học tự nhiên, ông cho rằng sự tồn tại của thế giới vật chất là rõ ràng,làkhông thể hoài nghi được Nhưng ông không giữ vững được lập trường duyvật ấy chỉ vì ông bị giao động giữa hai phái duy tâm và duy vật nên cuốicùng ông bị sa vào chổ sai lầm nhị nguyên luận không tài nào thoát ra được.Bản thân Arixtôt là cả một bộ bách khoa toàn thư sống Ông đã để lại chonhân loại nhiều tác phẩm về nhiều môn khoa học khác nhau: chính trị học,lôgích học, siêu hình học, tu từ học, thi học, sinh vật học, vật lý học, thiênvăn học Tác phẩm quan trọng nhất về mặt triết học của ông là cuốn "Lôgích học", trong đó ông đã khảo sát những hình thái quan trọng nhất của tưduy biện chứng, quy định những phạm trù triết học và những hình thức vận

động tư duy Ông đã biểu lộ tư tưởng chính trị của mình qua tác phẩm "Nền

Trang 29

chính trị Aten", ông cho rằng con người là một "sinh vật chính trị" chỉ có thể

sống một cách đạo đức trong khuôn khổ một đô thị, mà chế độ chính trị của

nó là chế độ cộng hoà ôn hoà Arixtôt là người sáng lập ra môn lôgic học vàmôn sinh vật học Ảnh hưởng của Arixtôt đối với nền văn minh thế giới rấtlớn lao

Học thuyết của Arixtôt đã chi phối cả thời trung đại ở châu Âu Giáohội Thiên chúa giáo đã biến học thuyết Arixtôt thành một thứ giáo điều, bắtmọi người phải tuyệt đối tuân thủ Nhưng thực ra, đúng như V Lênin nhậnxét: " Về sau ở châu Âu, chế độ tăng lữ đã bóp chết cái chất sống trong họcthuyết Arixtôt mà chỉ còn giữ lại cái chất chết của nó mà thôi".Ông xứngđáng là nhà khoa học lớn của thế giới cổ đại

PÊ RI CƠ LÉT NHÀ CẢI CÁCH LỚN

CỦA THÀNH BANG A TEN.

Pê ri cơ lét sinh vào khoảng năm 495 TCN tại A ten, xuất thân trong

một gia đình quý tộc dòng họ Alcmeonides, cháu ngoại của nhà cải cách dânchủ Cơ li xten Ông có quan hệ bạn bè thân thiết với nhiều nhà triết học vàvăn nghệ sĩ nổi tiếng thời bấy giờ Về tư cách cá nhân, ông là người cươngtrực, gương mẫu và có uy tín lớn trong quần chúng nhân dân

Pê ri cơ lét đã nắm chính quyền ở A ten trong suốt 31 năm từ 461TCN đến 430 TCN Suốt trong thời gian đó Pê ri cơ lét và đảng của ông đãtiến hành một loạt cải cách đưa nền dân chủ A ten lên đến đỉnh cao và phầnnào thoả mãn một số nguyện vọng của tầng lớp dân tự do ở A ten Trước hết

Pê ri cơ lét ban hành chế độ trả lương cho các công chức phục vụ trong bộmáy nhà nước A ten Chế độ này đã tạo điều kiện cho những người côngdân A ten lớp dưới có thể thoát ly sản xuất để tham gia thiét thực vào côngviệc quản lý nhà nước

Trang 30

Từ năm 457 Tr CN lần đầu tiên trong lịch sử người thuộc tầng lớptrung nông đã được bầu làm chấp chính quan, sau đó thì cả những ngườithuộc tầng lớp nghèo nhất cũng được giữ mọi chức tước lớn, nhỏ trong bộmáy nhà nước Ngoài chế độ trả lương cho công chức Pê ri cơ lét còn thựchành một cách rộng rãi các chế độ phúc lợi khác Ví như người nghèothường xuyên được cấp một món tiền để mua vé vào rạp hát người nghèothường được nhà nước đem thóc lúa cấp phát cho Pê ri cơ lét đặc biệt quantâm cải thiện đời sống cho dân nghèo A ten Ông thực hành việc di dân đếncác vùng nhượng địa, bằng cách này lúc bấy giờ đã có trên một vạn gia đìnhcông dân nghèo A ten di cư và được cấp phát ruộng đất ở nước ngoài.

Mặt khác Pê ri cơ lét còn tiến hành xây dựng nhiều công trình kiếntrúc quân sự và dân sự để tạo công ăn việc làm cho dân nghèo và người thấtnghiệp Nhưng đáng chú ý nhất là ông thực hiện rộng rãi chế độ bổ nhiệmbằng phương pháp bốc thăm, nếu trước kia chỉ có tầng lớp quý tộc giàu cómới được cử sung các chức vụ quan trọng thì từ nay các tầng lớp dân nghèonói chung là quần chúng dân tự do bằng bốc thăm có thể được giữ bất cứmột chức vụ gì trong bộ máy nhà nước kể cả chức chấp chính quan Pê ri cơlét còn được bầu làm Tướng quân trong suốt 15 năm Ông chủ truơngkhuếch trương thế lực của A ten ra bên ngoài, do đó đã dẫn đến cuộc chiếntranh giữa các thành bang Hy Lạp (chiến tranh Peloponnisos, 431 TCN 404TCN) Năm 430 TCN, bị quy trách nhiệm trước những thất bại đầu tiên củacuộc chiến tranh, Pê ri cơ lét bị gạt ra khỏi chính quyền Ít lâu sau (năm 429TCN), ông mất vì mắc bệnh dịch hạch

Mặc dù vậy, cuộc cải cách của Pê ri cơ lét có một ý nghĩa hết sức lớnlao, góp phần đưa thành thị A ten trở thành một quốc gia hùng mạnh Về sautên tuổi của ông đã được người Hy Lạp đặt tên cho một thời đại vẻ vang-

"thế kỷ vĩ đại" hay "thế kỷ Pê ri cơ lét"

HIPPOCRATES- "ÔNG TỔ" CỦA CÁC THẦY

THUỐC PHƯƠNG TÂY

Trang 31

Hippocrates sinh năm 460 TCN ở đảo Cos, một hòn đảo nằm trênbiển Aegean ở phía Đông Địa Trung Hải Ông ra đời trong một gia đình thầythuốc Ngoài những kiến thức do cha ông truyền lại, ông còn tiếp nhậnnhững kiến thức y học tại trường Y khoa Cos và chịu ảnh hưởng sau sắc nềnvăn hoá và y học Ai Cập Sau khi học xong, ông đi nhiều nơi vừa học hỏithêm vừa chữa bệnh Ông đã đi qua nhiều thành phố và làng mạc ở Tiểu Á ,ven bờ Biển Đen, Ai Cập và cuối cùng trở về hành nghề ở Athens (Hy Lạp).

Sử sách có ghi chép lại vụ dịch hạch khủng khiếp Athena vào những năm

431 TCN -404TCN và Hippocrates đã cho đốt lửa thật lớn cho toả ra nhữngchất sát trùng trong thành phố để dập tắt bệnh dịch Ông cũng cứu các thànhphố Abdere và Illyria khỏi sự tàn phá ghê gớm của bệnh dịch hạch

Hippocrates đã lập ra trường phái Hippocrates gồm nhiều người thân

trong gia đình (hai con trai, một con gái và con rể) và những môn đệ củaông Hippocrates và trường phái này đã để lại 87 bộ sách y học nhan đề

Công trình Hippocrates )các học giả sau này thừa nhận trong đó có khoảng

20 cuốn do chính Hippocrates viết), có thể coi đây là bộ Bách khoa toàn thư

về y học sớm nhất ở phương Tây

Hippocrates còn là một nhà triết học, phê phán mạnh mẽ tư tưởng mêtín, dị đoan trong chữa bệnh Ông cho rằng mọi bệnh tật đều do nhữngnguyên nhân trong giới tự nhiên gây ra, nên phải dùng phương pháp khoahọc để điều trị các chứng bệnh Ông rất chú ý đến vấn đề vệ sinh ăn uống vàthuốc thang cho bệnh nhân, và cũng đã biết dùng đến thuật mổ xẻ Phươnghướng nghiên cứu và phương pháp chữa bệnh của ông đã tạo một cơ sở khoahọc cho ngành y dược học Ngoài ra, Hippocrates cũng nói nhiều vấn đềđạo đức và nhiệm vụ cao quý của những người thầy thuốc Ông cho rằngngười thầy thuốc có trách nhiệm lớn đối với cuộc sống của con người, khôngđược dùng nghề của mình để trục lợi Các nhà y học vẫn dùng "lời thềHippocrates" làm phương châm nghề nghiệp của mình

Tuân theo những quan điểm y học trung thực của mình, Hippocrates

đã có lần từc chối không chữa trị cho những binh lính quân thù đang xâmlược nước ông Claude Galien (131-201) - một thầy thuốc lớn thời La Mã cổđại, đã ca ngợi Hippocrates là "người thầy thuốc lý tưởng", còn Platon (427

Trang 32

TCN -347 TCN) - nhà triết học lớn của Hy Lạp cổ đại, gọi ông là "con người

cứu và trau dồi tài năng Sau đó Acsimet sang Hy Lạp, rồi quay về định cư

tại thành phố Syracuse quê hương của mình trên đảo Sicilia Ông đượchoàng gia Hy Lạp tài trợ về tài chính, cho nên có thể tập trung hoàn toàn vàoviệc nghiên cứu khoa học Acsimet có nhiều cống hiến trong lĩnh vực vật lý,toán và thiên văn học Về vật lý, ông còn nhiều phát minh đặc sắc Ông đãsáng chế ra chiếc máy bơm dùng để tưới tiêu nước cho đồng ruộng Ai Cập.Ông là người đầu tiên sử dụng hệ thống các đòn bẩy và ròng rọc để nâng cácvật lên cao Ông đã tìm ra định luật về sức đẩy của nước Về toán học,Acsimet đã giải những bài toán về tính độ dài đường cong, đường xoắn ốc,tính diện tích và thể tích của hình cấu, hình trụ, hình tròn, hình nón , đặcbiệt đã tính ra số (pi) bằng cách đo hình nhiều góc nội tiếp và ngoại tiếp

Về thiên văn, ông đã nghiên cứu sự chuyển động của Mặt Trăng và các vìsao

Trang 33

Acsimet suốt cuộc đời say sưa học tập, nghiên cứu Tương truyềnrằng ông đã tìm ra định luật về sức đẩy của nước khi đang tắm Ông đã sungsướng nhảy ra khỏi bồn tắm, chạy thẳng về phòng làm việc, quên cả mặcquần áo, miệng kêu lớn: "Ơrêca! Ơrêca!" (Tìm thấy rồi! Tìm thấy rồi!).

Ông là người đầu tiên sử dụng hệ thống các đòn bẩy và ròng rọc để

nâng các vật lên cao Ông đã từng nói: "Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ bẩy

được trái đất đi"

Trong thời kỳ chiến tranh Punic lần thứ hai (chiến tranh giữa La Mã

và Cartago năm 218-201 TCN), thành Syracuse liên minh với Cartago chốnglại La Mã, quân đội La Mã hung hãn do viên tướng Marcellus (MarcusClaudius), một trong những tướng lĩnh tài ba nhất của La Mã chỉ huy, baovây, tấn công Syracuse Nhà bác học Acsimet đã tham gia vào việc phòngthủ thành phố - quê hương của mình, đã tìm tòi, nghiên cứu ra nhiều vũ khímới để đánh giặc và bảo vệ được thành phố trong suốt ba năm Nhà sử học

Hy Lạp cổ đại Plutarch đã ghi lại cuộc kháng chiến của quân dân thành

Syracuse đối với quân xâm lược La Mã như sau: "Marcellus ỷ vào vũ khí

của mình nhiều và tối tân, lại cậy mình thông minh mưu lược, nhưng hắn đã bất lực trước sự chống đỡ của Acsimet và những máy móc của ông Khi quân La Mã bắt đầu tấn công từ ngoài biển và từ đất liền vào những người Syracuse cho rằng không có cách nào chống cự lại được một đội quân hùng mạnh như thế! Nhưng ngay lúc đó, Acsimet kịp thời cho các máy móc và thiết bị đủ loại khác nhau hoạt động Trên đất liền, lục quân của địch bị tấn công bất ngờ bằng những tảng đá lớn nhỏ đủ tầm cỡ, lao ầm ầm, nhanh vun vút Đội ngũ địch bị đánh tơi bời xao xác Trong khi đó, trên mặt biển và trên các chiến thuyền, kẻ thù cũng bị tấn công bằng các loại xà nặng, rắn chắc, bằng những móc hình sừng bò Một số bị đánh tơi bời và bị dìm xuống

Trang 34

đáy biển; một số khác bị những cái móc hình mỏ sếu giống như những cánh tay sắt khổng lồ nhấc bổng lên, rồi thả lộn ngược xuống nước Đồng thời, một loại máy khác ném những con thuyền của kẻ thù lên các tảng đá gần tường thành, làm cho thuỷ thủ của chúng bị chết một cách thảm hại

Quân La Mã hoảng sợ đến nỗi chỉ cần nhìn thấy một sợi dây thừng hay một gậy gỗ ở trên tường là đã la hét thất thanh, cho là Acsimet đang quay những chiếc máy về phía mình và bỏ chạy thục mạng".

Plutarch còn kể tới một vũ khí mới của Acsimet đó là vũ khí quanghọc Khi những chiếc thuyền của Marcellus lọt vào khoảng tầm tên bắn, thìông già (chỉ Acsimet ra lệnh đưa đến một chiếc gương có sáu mặt do ônglàm ra Ở các vị trí đã tính trước, ông còn đặt nhiều chiếc gương khác giốngnhư vậy, nhưng nhỏ hơn Những chiếc gương đó tự quay được trên các bản

lề và đặt dưới ánh sáng mùa hè cũng như mùa đông Tia nắng phản chiếu từnhững chiếc gương gây ra những đám cháy rất mạnh, thiêu đốt các chiếnthuyền giặc

Khi thành Syracuse bị phá vỡ, bọn xâm lược đi lùng nhà bác học.Bọn chúng bắt gặp ông đang ngồi nghiên cứu những hình vẽ trên đất Chúngliền reo mừng, nhảy xổ tới túm lấy ông Không nghĩ gì đến cái chết sắp tới,Acsimet chỉ quan tâm đến công trình khoa học của mình và ông hét lên:

"Không được xoá những hình vẽ của ta" Tiếng thét chưa dứt, nhà bác học vĩ

đại đã gục xuống dưới mũi giáo của những tên giặc hung bạo (năm 212TCN) Asimet đã anh dũng hi sinh như một chiến sĩ kiên cường

XÊ-DA - NHÀ ĐỘC TÀI CỦA ĐẾ CHẾ LA MÃ

Xê-da sinh ở Rô-ma, con một quan chấp chính thuộc dòng dõi quýtộc và là chủ của một tài sản to lớn Nhưng trong hoàn cảnh xã hội Rômabấy giờ đang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa quý tộc và bình dân, màmuốn có được địa vị trên trường chính trị thì phải được bình dân ủng hộ, nênông đã đứng về phía những người bình dân, chống lại nền độc tài của quýtộc Trong thời gian đầu, khi thế lực cá nhân chưa đủ mạnh, để có khả năng

Trang 35

đối phó với Viện Nguyên lão, Xêda đã liên kết với hai viên tướng Pôm- pê-i-u xơ và C ơ- ra- xu- xơ tổ chức thành lập chính quyền tay ba Trong lịch sử

chính quyền đó gọi là chế độ Tam hùng lần thứ nhất (năm 60 T.C.N) Đây là

sự liên minh của ba lực lượng: quân sự, đại diện cho quý tộc chủ nô ruộngđất (Pôm- pê-i -u xơ), kị sỹ thương nhân đại diện cho quý tộc chủ nô côngthương (C ơ- ra- xu- xơ ) và bình dân (Xêda) nhằm lũng đoạn nền chính trịRôma Năm 59 T.C.N, Xêda được bầu làm Chấp chính quan thời gian đượcmột năm, Xêda dựa vào sự ủng hộ của Đại hội nhân dân, đã thông quanhững dự luật đem lại quyền lợi cho những người bình dân và binh sỹ như:giảm 1/3 tổng số tiền nộp thuế đấu thầu, lấy đất đai ở khu vực Câmpnia(vùng Tây Nam Italia) chia cho hai vạn cựu binh sĩ và dân nghèo Ông cònđưa người thân tín của mình là C ơ- ra- xu- xơ lên làm Bảo dân quan Saukhi hết nhiệm kỳ chấp chính quan, năm 58 T.C.N, Xêda được cử làm Tổngđốc xứ Galia (nước Pháp ngày nay), với nhiệm kỳ 5 năm

Trong thời gian cai trị xứ Galia, Xêda đã đàn áp những cuộc khởinghĩa của nhân dân Galia và hai lần mang quân sang chinh phục đảo Anh.Trong những cuộc viễn chinh này, Xêda đã cướp được rất nhiều chiến lợiphẩm và bắt rất nhiều tù binh, thường dân bán làm nô lệ Xêda ban phát rộngrãi các tặng phẩm cho các tướng sĩ và binh lính, nhờ đó Xêda đã đào tạođược một đội quân tinh nhuệ chỉ phục tùng cá nhân ông ta Chế độ Tamhùng tồn tại không lâu C ơ- ra- xu- xơ bị tử trận ở phương Đông Pôm- pê-i-u xơ liên kết với bọn quý tộc chống lại Xê-da Y đã đánh bại Pôm- pê-i -u

xơ Khi truy kích tàn quân của Pômpê, Xêda đã sang Ai Cập, can thiệp vàocuộc xung đột trong nội bộ vương triều Ai Cập Pôtôlêmé, Xê-da thừa cơđánh lấy Ai Cập rồi ủng hộ cho một công chúa trẻ tuổi tên là Clêôpát lênlàm nữ hoàng Ai Cập Sắc đẹp và mưu trí của bà ta đã khiến cho một ngườitài hoa như Xê-da cũng phải xiêu lòng, cảm phục ông đã kết duyên vớiClêôpát Sau đó, Xêda kéo quân sang Tiểu Á, đàn áp cuộc nổi dậy củaPhácnác, con vua Mitơriđát

Tháng 9 - 45 T.C.N., Xêda toàn thắng trở về Rôma Nhân dân Rômađón tiếp long trọng và nồng nhiệt Viện Nguyên lão đành phải khuất phục

Trang 36

trước Xêda, tôn Xêda là "quốc phụ", trao cho những chức vụ cao quý nhất:

"Độc tài không thời hạn", "Bảo dân quan vĩnh viễn", "Tổng chỉ huy quânđội", "Tăng lữ tối cao" và được thường xuyên mặc áo đỏ là y phục của kẻchiến thắng Theo phong tục và truyền thống của người Rôma, bộ áo đỏ này

là bộ áo danh dự của thần Giupite (thần tối cao của người Rôma), chỉ dànhriêng cho người lãnh đạo cao nhất quốc gia mặc trong ngày lễ ăn mừngchiến thắng

Như vậy là Xê-da đã nắm trong tay mọi quyền hành về chính trị ,quân

sự, tôn giáo Tuy về hình thức chế độ cộng hoà chưa bị tuyên bố bãi bỏnhưng thực tế là mọi việc đều do Xê-da tự quyết đoán lấy một mình Xêda

đã từng nói: "Cộng hoà, chẳng phải cái gì khác là cái danh từ trống rỗng,không có nội dung mà lại hào nhoáng" Xê-da thực sự đã trở thành mộthoàng đế chuyên chế, một nhà độc tài quân sự

Để củng cố địa vị của mình, Xê-da đã tiến hành nhiều cải cách chínhtrị và xã hội quan trọng như tăng số nghị việnViện nguyên lão, mở rộngquyền công dân La Mã cho dân tự do, bãi bỏ việc dùng âm lịch thay thếbằng dương lịch Những chính sách trên đây của Xê-da đều có tác dụng củng

cố thêm một bước sự thống nhất của đế quốc La mã và thúc đẩy nhanhchóng công cuộc La mã hoá ở các tỉnh, các địa phương Tuy Xê-da đã cốgắng tìm cách ổn định tình hình xã hội, tỏ ra khoan dung đối với kẻ thù cũcủa mình, ban thưởng rộng rãi cho tướng sĩ và quân nhân, dành nhiều quyềnlợi cho những người cùng phe cánh, nhưng phe phái đối lập cũng chưa hoàntoàn khuất phục Bọn quý tộc thượng lưu vẫn còn luyến tiếc chế độ cộng hoàthời trước, trong đó có cả một số người phe Xêda Ngày 15 - 3 - 44 T.C.N.,trong một cuộc họp của Viện Nguyên lão, phe đối lập đã có âm mưu từtrước, gây tình thế hỗn độn thừa cơ xông lên đâm chết Xêda Tuy phe quýtộc đối lập đã giết hại được Xêda, nhưng quần chúng bình dân vẫn yêu mếnXêda Tang lễ Xêda được cử hành long trọng và trở thành một cuộc vậnđộng của phong trào bình dân

Trang 37

CHỢ BÁN NÔ LỆ Ở HY LẠP VÀ LA MÃ THỜI

CỔ ĐẠI

Trong lịch sử cổ đại đã từng tồn tại một chế độ nô lệ Dước con mắtcủa người Hy lạp thời cổ, nô lệ không phải là người, mà chỉ là một "thứ tàisản biết cử động" một "công cụ biết nói Nô lệ bị đem đi mua bán như một

đồ vật Không những họ không có một quyền lợi chính trị gì mà ngay quyềnlàm người cũng không có Nô lệ không có quyền lập gia đình, con cái của

nô lệ coi như thuộc quyền sở hữu cuả chủ nô Chủ nô có thể tuỳ ý đánh đập,hành hạ, thậm chí giết chết nô lệ mà không bị pháp luật trừng trị Việc muabán nô lệ là một trong những ngành kinh doanh thu nhiều lãi nhất Báy giờ ở

Hy Lạp đã mọc lên nhiều chợ buôn bán nô lệ lớn như: ở Ki-ốt; Đê-lốt, mốt, Ê-phe giơ Mỗi buổi sáng, bọn lái buôn dắt hàng nghìn nô lệ ra chợ,tập trung họ ở một bãi đất rộng có hàng rào vây bọc chung quanh, rồi bắt nô

Sa-lệ lần lượt bước lên trên một cái bục cao để quảng cáo rao hàng Giá cả nô Sa-lệcao thấp, đắt rẻ tuỳ theo luật cung cầu trên thị trường, tuỳ theo lứa tuổi, theogiới tính và nghề nghiệp Nô lệ đàn ông giá từ 70 - 300 đờ-gam, nô lệ đànbàn từ 135 -220 đờ-gam Nô lệ có nghề nghiệp như thợ thủ công lành nghề,

ca sĩ, nhạc công, vũ nữ, đầu bếp, văn sĩ thì đắt hơn nhiều

So với Hy-Lạp ở La-Mã số lượng nô lệ lại đông đảo hơn nhiều, bấygiờ ước tính rằng số lượng nô lệ chiếm khoảng một nửa số cư dân của đếquốc Rô-ma Những chủ nô giàu nhất thường có tới vài vạn nô lệ Nguồn nô

lệ bao gồm những người bị bắt trong chiến tranh, những người bị bọn cướpbiển bắt cóc, những người mắc nợ không trả được và con cái do nữ nô lệsinh ra Nô lệ là những người cực khổ nhất trong xã hội Họ không có tự do,gia đình, tài sản Bản thân họ bị biến thành tài sản của chủ và do đó bị coi làmột loại hàng hoá để mua bán Vì vậy ở Rô-ma cổ đại có rất nhiều chợ bán

nô lệ ở đây mỗi thành phố đều có chợ nô lệ Tại những chợ này, hằng ngày

có hàng nghìn nô lệ bị đem ra bán, có khi con số này còn lên đến một vạn.Những người nô lệ bị đem ra bán ở chợ đều trần truồng, mục đích để ngườimua thấy rõ chất lượng của món hàng Trên đầu họ được đội một cái mũ dacừu hoặc một vòng hoa Cổ họ đeo một cái biển trên đó ghi rõ quê quán, tuổi

Trang 38

tác, khả năng lao động, của họ Người bán còn phải nói cho người muabiết được những khuyết điểm của món hàng

Chợ nô lệ lớn nhất ở vùng biển Địa Trung Hải là chợ nô lệ ở Đê-lốt(biển Ê-giê), Ác-vi-le (I-ta-li-a), Ta-na-ít (cửa sông Đông) có chợ trong mộtngày bán tới 10.000 nô lệ Giá nô lệ có thể thay đổi thường thì một nô lệ cógiá từ 400 đến 500 đê-na-ri Nô lệ có nghề chuyên môn giá đắt hơn gấp mộtvài lần Tuy nhiên có thời kỳ bắt được nhiều tù binh trong chiến tranh đem

về thì giá nô lệ trên thị trường đột nhiên tụt xuống một cách khủng khiếp, Vínhư trong trận La mã đánh chiếm đảo Sác đen của Các ta giơ bắt hàng chụcvạn dân thường Sác đen đem về bán ở La mã, làm cho giá nô lệ lúc này trởnên rẻ mạt, một nô lệ giá chỉ có 4 đê-na-ri, Từ đó có câu tục ngữ" rẻ như nô

lệ Sác đen"

SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẠO KITÔ

Theo truyền thuyết thì Giêsu Crít là người sáng lập ra đạo Kitô (hayđạo cơ đốc, đạo thiên chúa nguyên thuỷ) trên đất Do Thái Palextin ở phíaĐông của đế quốc Rôma cổ đại Cha ngài là Giuse (Joseph), vốn làm nghềthợ mộc; mẹ ngài là Maria "Đức mẹ đồng trinh" Ngài sinh ra trong mộtchuồng súc vật ở thung lũng ngoài làng Betlêem, gần thị trấn Nadarêt xứGalilê (Palextin) vào năm 7 hoặc 6 T.C.N Đúng một năm sau, cha mẹ ngàilàm lễ xin đặt tên và được Thầy cả dặt cho tên là Giêsu ( có nghĩa là "thôngminh, tốt đẹp") Khi vua Do Thái Hêrôđê ra lệnh giết hết những đứa bé trai ởPalextin, gia đình Giêsu phải chạy sang lánh nạn bên Ai Cập Buổi thiếuthời, Giêsu là một cậu bé nhanh nhẹn, tháo vát Ngài thường mang đồ nghềthợ mộc ra chơi, mày mò đục đẽo những con thú bằng gỗ dưới chân có lắpbánh xe di chuyển được, khiến ai trong thấy cũng phải thán phục Năm mườibốn tuổi, Giêsu theo cha mẹ trở về quê hương bán quán, sống ở thị trấnNadaret Từ thời gian này, Ngài bắt đầu quan tâm đến việc tu hành, dứt bỏ lò

Trang 39

dục vọng, sống độc thân, không lấy vợ Đức mẹ đồng trinh Maria thươngcon, bỏ ăn uống hai ngày, cũng không làm ngài đổi ý.

Năm 30 tuổi Giêsu tự nhận mình là vị Chúa cứu thế, ông bắt đầu đitruyền giáo ở Giêrudalem tuyên truyền tư tưởng bình đẳng bác ái của conngười trước Chúa Trời, lòng tin ở cuộc sống tốt đẹp nơi thiên đàng, tố cáotội ác của giai cấp thống chủ nô đương thời Những lời rao giảng đó đã trởthành niềm an ủi đối với nô lệ và dân nghèo lúc bấy giờ, đáp ứng đượcnguyện vọng giải phóng họ thoát khỏi ách áp bức và cảnh sống đoạ đày đaukhổ nơi trần thế, hy vọng cuộc sống tốt đẹp hơn ở thiên đàng sau khi chết

Đi liền với lời báo Thiên đường sắp đến là những lời khuyên người ta ăn năn

và tin vào Phúc âm Những hứa hẹn vào thiên đường không phải dành chonhững kẻ khoe khoang về đạo đức của mình trước Chúa Trời, mà cho nhữngngười thành thật đau xót vì tội lỗi của mình

Điều răn đầu tiên của Giêsu là phải tin Chúa và yêu Chúa Điều răn

thứ hai là phải yêu thương người xung quanh mình Khi răn dạy tình yêuthương này, Giêsu đòi hỏi không chỉ biểu hiện bên ngoài (không giết người,không tà dâm), mà cả ý nghĩ bên trong (không thù hận, không động tình,không tham dục)

Nhờ tấm lòng nhân ái và những lời răn dạy hợp lẽ đời, Giêsu đã tậphợp được 12 môn đồ (thường gọi là Tông đồ) và đám đông dân chúng bìnhthường, nghèo khổ theo mình Mười hai Tông đồ theo Ngài bỏ cả gia đình

và nghề nghiệp, được Ngài phái đi giảng đạo ở các nơi Giêsu bị những giáo

sĩ đạo Do Thái và những người đại diện của chính quyền Rôma ở Palextinthù ghét Những người giáo sĩ ở Giêrusalem đã mua chuộc được một ngườimôn đồ của Giêsu là Giuđa và tên này chỉ vì 30 đồng bạc mà đã phản lạithầy của mình Giêsu bị bắt vào đêm trước lễ Phục sinh, dẫn đến toà án DoThái Trước toà án, Giêsu đã bị buộc tội đã tự xưng là "Vua của người DoThái" và bị kết án xử tử hình đóng đinh trên cây thập tự, lúc đó Giêsu mới

có 33 tuổi Đến xế chiều, các Tông đồ của Giêsu đã mang thi thể của Ngàitắm rửa sạch sẽ, rồi mai táng Ngài trên núi Gôngôtha, gần Giêrudalem.Nhưng chết được ba ngày thì bỗng nhiên Giêsu sống lại Các học trò của

Trang 40

Ngài tập hợp quanh Ngài Đến ngày thứ 41, Giêsu bay lên trời, ông đã lập 7phép tích để loài người được hưởng ân huệ của Thiên Chúa, Từ đó về sau,7phép tích được coi như những nghi lễ chính của đạo Kitô

Sau Giêsu những người kế nghiệp ông (các thánh tông đồ) đã bí mậttruyền bá giáo lý của ông khắp vùng Palextin sau đó lan rộng khắp đế quốc

Rô ma và đến thế kỷ IV đã trở thành quốc đạo của La mã

LĂNG MỘ TẦN THUỶ HOÀNG

Tần Thuỷ Hoàng là ông vua có công thống nhất Trung Quốc vào năm

221 TCN, nhưng đồng thời cũng là một vua tàn bạo và xa xỉ

Ngay khi mới lên ngôi hoàng đế, Tần Thuỷ Hoàng đã huy động 70vạn người trong tất cả đất nước rộng lớn đến núi Ly Sơn để xây dựng chomình một khu lăng mộ rộng hơn 66km2 Bên trong lăng mộ, Tần ThuỷHoàng bắt đào ba con suối rồi đổ đồng xuống, sai lấy thuỷ ngân làm mộttrăm con sông và biển lớn có các máy móc làm cho nước sông và biển chảyvào nhau ở trên có đủ thiên văn, ở dưới có đủ địa lí Những đồ quý báu củacác cung được đem vào đây, dùng mỡ hải báo để thắp sáng, trù tính làm sao

để cháy được lâu không tắt Lại sai thợ làm máy bắn tên, có ai đào đến gầnthì tự động bắn ra

Năm 210 TCN, Tần Thuỷ Hoàng chết Khi mai táng, những cung phichưa có con đều bị chôn theo Để bí mật trong hầm mộ không bị tiết lộ rangoài, sau khi chôn cất xong, cửa đường hầm đi đến huyệt bị đóng lại, vìvậy những người phục vụ việc mai táng phải vĩnh viễn ở lại trong đó Bêntrên toà cung điện dưới đất ấy, thì đắp đất rồi trồng cây cỏ trông giống nhưmột quả núi

Lăng mộ và những di tích kiến trúc xung quanh có quy mô to lớn,chiếm diện tích 120.750m2, gần như hình vuông, đỉnh mộ bằng phẳng, cácmặt bên hình thang cao khoảng 76m, chiều đông - tây dài 345, chiều nam -bắc 350

Khu mộ gồm 3 hầm mộ

Ngày đăng: 23/06/2021, 23:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Đức An (chủ biên) / Tỡm hiểu nhân vật lịch sử và danh nhân văn hoá thế giới - Nhà xuất bản Hà Nội, năm 2008 Khác
2. Đặng Đức An (chủ biên) / Những mẩu chuyện lịch sử thế giới: Tập 1 Tập 2; Nhà xuất bản Giáo dục năm 2002 Khác
3. Nguyễn Khắc Thuần / Việt sử giai thoại: Tập 1 - tập 8; Nhà xuất bản Giỏo dục năm 1997 Khác
4. Phan Kế Bớnh / Nghỡn xưa văn hiến; Nhà xuất bản Thanh niờn, năm 1998 Khác
5. Nguyễn Gia Phu, Bựi Tuyết Hương / Chuyện lịch sử Việt Nam và thế Giới: tõp1, 2; Nhà xuất bản Giỏo dục, năm 2005 Khác
6. Lịch sử Việt Nam: Tập 1; Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyờn nghiệp, năm 1883 Khác
7. Thỏi Hoàng, Ngụ Văn Tuyển / Lịch sử nhỡn ra thế giới; Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, năm 2002 Khác
8. Chiờm Tế / Lịch sử thế giới cổ đại: Tập 1, 2; Nhà xuất bản Giỏo dục, năm 1977 Khác
9. Lịch sử thế giới: Tập 1; Nhà xuất bản Giỏo dục, năm 1969 Khác
10.Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Văn Ánh / Lịch sử thế giới trung đại; Nhà xuất bản Giỏo dục, năm 1998 Khác
11.Nguyễn Văn Ánh, Trần Thỏi Hà, Trịnh Đỡnh Tựng / Tư liệu lịch sử 10;Nhà xuất bản Giỏo dục, năm 2007 Khác
12.Nguyễn Anh, Quỳnh Cư / Những vỡ sao đất nước: Tập 1- 5; Nhà xuất bản Thanh niờn, năm 1985 Khác
13.Nguyễn Anh, Quỳnh Cư / Danh nhõn đất Việt: Tập 1, 2; Nhà xuất bản Thanh niờn, năm 1993 Khác
14.Lờ Quốc Vinh (Chủ biờn) / Cỏc nhõn vật lịch sử trung đại; Nhà xuất bản Giỏo dục, năm 1997 Khác
15.Trần Bạch Đằng (Chủ biờn) / Lịch sử Việt Nam bằng tranh: Tập Khác
16.Lờ Minh Quốc / Chuyện tỡnh của cỏc danh nhõn Việt Nam; Nhà xuất bản Văn hoỏ thụng tin, năm 2005 Khác
17.DZUY - DZAO / Sự thật Thơ và đời Hồ Xuõn Hương; Nhà xuất bản Văn học, năm 1999 Khác
18.Đỗ Thanh Bỡnh (chủ biờn) / Một số vấn đề về lịch sử thế giới; Nhà xuất bản Giáo dục năm 1996 Khác
19.Trần Quốc Vượng- Nguyễn Cao Luỹ- Những mẫu chuyện lịch sử Tập 1; NXB Giáo dục 1976 Khác
20. Almanách / Những nền văn minh thế giới; Nhà xuất bản Văn hoá thông tin năm 1996 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w