1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn tăng hứng thú học tập bằng hình thức lồng ghép các mẩu chuyện lịch sử trong dạy học lịch sử việt nam lớp 10- thpt

56 620 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song môn Sử mà chúng ta đang học chẳng có gì mới, chẳng có gì để khám phá, việc dạy học vẫn theo công thức “ta thắng địch thua”, các tiết học không có sự phản biện, không có sự linh hoạt

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI

Đơn vị : Trường THPT Chu Văn An

Mã số:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TĂNG HỨNG THÚ HỌC TẬP BẰNG HÌNH THỨC LỒNG GHÉP CÁC MẨU CHUYỆN LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT

Trang 2

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1 Họ và tên: Nguyễn Thị Huế

2 Ngày tháng năm sinh: 31/03/1981

3 Nam, nữ: Nữ

4 Địa chỉ: A9/12- KP Nội Hóa I- Phường Bình An- Thị Xã Dĩ An- Tỉnh Bình Dương

5 Điện thoại: Cơ quan: 061.3825386 Di động: 0987.086.869

6 Fax: Email: huekhanhminh0911@yahoo.com

7 Chức vụ: Giáo viên

8 Đơn vị công tác: Trường THPT Chu Văn An

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:

- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân

- Năm nhận bằng: 2004

- Chuyên ngành đào tạo: Lịch Sử

III KINH NGHIỆM KHOA HỌC:

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy bộ môn Lịch Sử

- Số năm có kinh nghiệm: 07 năm

Trang 3

TĂNG HỨNG THÚ HỌC TẬP BẰNG HÌNH THỨC LỒNG GHÉP CÁC MẨU CHUYỆN LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT

NĂM LỚP 10- THPT

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong thời đại ngày nay khi kinh tế ngày càng phát triển, các quốc gia trên thế giới ngày càng xích lại gần nhau thì văn hóa dân tộc ngày càng trở thành trung tâm của sự chú ý Những năm gần đây, văn kiện của Đảng, Nhà nước nhiều lần khẳng định vai trò của văn hóa trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người, đồng thời đặt mục tiêu xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Quả thật, ai đã từng đặt chân đến Việt Nam mới thấy lịch sử dân tộc Việt Nam hào hùng, vẻ vang, một mảnh đất, “địa linh nhân kiệt”, “ngàn năm văn hiến”… và ai đã từng yêu lịch sử dân tộc Việt thì mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm niềm tự hào quá đỗi

Lịch sử là môn học đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo, giáo dục truyền thống yêu nước, hình thành nhân cách con người Những kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc từ cổ đến kim đều có tác động không chỉ đến trí tuệ

mà cả trái tim học sinh Các con người thực, việc thực trong quá khứ sẽ gợi dậy trong học sinh những tư tưởng tình cảm đúng đắn, mà những tư tưởng tình cảm này là hành trang tối cần thiết cho thế hệ trẻ trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới

Sử học muôn đời có quy luật hấp dẫn của nó Song môn Sử mà chúng ta đang học chẳng có gì mới, chẳng có gì để khám phá, việc dạy học vẫn theo công thức “ta thắng địch thua”, các tiết học không có sự phản biện, không có sự linh hoạt, tương tác giữa thầy và trò, giữa các cá nhân trong lớp học…chủ yếu các em chỉ nghe từ một phía giáo viên…không có sự hứng thú trong quá trình học nên các

em ngày càng rời xa môn lịch sử nhiều hơn, trong khi mục đích của việc học Sử là

để thấu hiểu những thăng trầm của dân tộc, lĩnh hội những kinh nghiệm bao hàm

cả kinh nghiệm thành công lẫn thất bại Và điều các em lý giải là học Sử quá khó,

Trang 4

sự kiện dài, mốc thời gian nhiều…điều đó khiến các em mệt mỏi, thụ động, có học cũng chỉ là để đối phó, hay vì điểm.

Trước thực trạng như vậy, trong những năm gần đây đã có rất nhiều phương pháp đổi mới quá trình dạy- học được đưa ra như: dạy học lấy học sinh làm trung tâm, cho học sinh làm nhóm, sử dụng kiến thức liên môn… , nhằm giải quyết vấn

đề nâng cao chất lượng dạy học mang tính sáng tạo, tránh sự khô khan, máy móc

Trên thực tế, việc đổi mới không dễ, vì các em vẫn cho rằng Lịch Sử cũng chỉ là môn phụ, còn giáo viên cũng vì tâm lý chung xem nó là môn phụ nên việc tìm tòi, nghiên cứu bài dạy còn sơ sài, chưa nắm rõ nội dung chính của bài học, phương pháp dạy còn chưa phù hợp với tâm lí học sinh

Muốn phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử trong việc giáo dục học sinh, cần nâng cao hiệu quả dạy học Trong đó, mục đích của dạy học là nâng cao hiệu quả bài học Phương pháp tốt sẽ nâng cao hiệu quả bài học Vậy thế nào là hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông?

Để môn Lịch sử có vị trí quan trọng trong trường THPT hiện nay, bản thân tôi nhận thấy việc tăng hứng thú trong bộ môn Lịch sử là yêu cầu mang tính cấp thiết Trước hết cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy để học sinh thực sự hào hứng trong mỗi tiết học Tất cả các bài giảng đều có trích đoạn những thước phim tài liệu, phim truyện, âm nhạc, hình ảnh minh họa, thông qua những sự kiện, mẩu chuyện, mà giáo viên trình chiếu, diễn đạt, sẽ giúp học sinh lắng nghe và hiểu tường tận những kiến thức lịch sử Trong năm học cần tổ chức cho học sinh tham quan các di tích lịch sử, bảo tàng, ngoài ra trong giảng dạy Lịch sử giáo viên nên

sử dụng các mẫu chuyện thật về nhân vật lịch sử sẽ giúp học sinh nghe thấu và nhìn kỹ hơn về những trang sử hào hùng của dân tộc, từ đó nắm bắt kiến thức lịch sử một cách tự nhiên, nhẹ nhàng Thông qua đó học sinh sẽ hình dung cụ thể

về những sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử….để giáo dục tư tưởng, nhân cách cho học sinh

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Cơ sở lý luận.

Trang 5

Tạo hứng thú cho người học luôn là vấn đề quan trọng trong giảng dạy, bởi

lẽ dạy học là hoạt động phức tạp, trong đó chất lượng, hiệu quả phụ thuộc vào chủ thể nhận thức của người học Điều này phụ thuộc vào nhiều yêu tố: môi trường học tập, người tổ chức, năng lực, động cơ, sự hứng thú…

Hứng thú học làm tăng hiệu quả quá trình nhận thức, sáng tạo, tăng chất lượng học tập, là yếu tố thôi thúc học sinh nắm bắt tri thức nhanh hơn, sâu sắc hơn, nhớ lâu hơn…khi có hứng thú học, học sinh sẽ thích học hơn, sẽ say mê nghiên cứu và lĩnh hội tri thức dễ dàng hơn…từ đó hình thành nhân cách đạo đức, giáo dục tư tưởng cho học sinh hiệu quả hơn

Trong phạm vi dạy học bộ môn Lịch Sử đã có nhiều hội nghị bàn về vấn đề nâng cao hiệu quả dạy học Cuốn “Giáo dục học” của Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt cũng đề cập đến việc sử dụng tài liệu tham khảo để minh họa và làm phong phú thêm bài giảng Hay tác giả Nguyễn Thị Côi trong cuốn: “Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường PT”, cho rằng: Một trong những biện pháp để nâng cao là việc trình bày hình ảnh, xúc cảm lịch sử cho học sinh

Ở nước ngoài, vấn đề sử dụng tài liệu về các mẩu chuyện, câu chuyện lịch

sử để cụ thể hóa lịch sử được đề cập đến nhiều trong chương trình nghiên cứu Ông

Glenn Koh (giám đốc khu vực VN - Lào - Campuchia, Tổng cục Du lịch Singapore):

chia sẻ: Lịch sử sẽ kém thú vị khi dừng ở trang sách Cá nhân tôi cho rằng Lịch sử còn hơn cả một môn học, bởi tìm hiểu Lịch sử người ta có thể tìm hiểu về gốc rễ

văn hóa, cuộc sống của một con người, đất nước Ở Singapore, học sinh được học môn Lịch sử từ cấp trung học đến cao đẳng và đại học, dưới nhiều hình thức khác nhau Chúng tôi tin rằng Lịch sử sẽ kém thú vị nếu chỉ dừng lại trên trang sách nên Singapore luôn cố gắng sử dụng công nghệ vào việc giảng dạy, cho học sinh đi tham quan thực tế Hầu hết giáo viên dạy Sử đều mang theo nhiều dụng cụ hỗ trợ khi lên lớp, cho học sinh xem phim, diễn kịch để sau đó mọi người có thể cùng nhau thảo luận, gợi mở vấn đề Giáo viên cho học sinh đóng kịch để các em thỏa sức tưởng tượng cùng nhân vật và vì vậy sẽ nhớ lâu hơn (dĩ nhiên giáo viên sẽ dõi theo và góp

ý, chỉnh sửa) Quốc gia chúng tôi đã đầu tư xây nhiều viện bảo tàng - nơi mọi người

có thể tìm hiểu sâu, mở rộng vấn đề từ những điều được học trong trường Nói

Trang 6

chung, chúng tôi luôn nỗ lực biến môn Lịch sử mỗi ngày một sống động, gần gũi

hơn với mọi người Và thành công nhất, không thể không nhắc tới tiến sỹ khoa học

N.Đ.Đairi trong cuốn: “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” Ông đã đề cập đến tính đa dạng của kiến thức và cần thiết phải trang bị cho giờ học các phương tiện dạy học, sử dụng tài liệu….để gây hứng thú với giờ học nhằm mang lại hiệu quả cao nhất

2 Cơ sở thực tiễn

Trong thực tế, hầu hết học sinh chưa ham học, chưa yêu thích môn Lịch Sử, hay nói đúng hơn là không yêu môn Sử nước nhà, các em tỏ ra thờ ơ khi đến tiết học Như khi tỉnh nhà (tỉnh Đồng Nai) phát động cuộc thi : Tìm hiểu giá trị văn hóa lịch sử, các em làm bài cũng chỉ để có nộp cho đủ số lượng yêu cầu…không có

sự say mê, tìm tòi về nguồn gốc, văn hóa lịch sử địa phương Giờ lên lớp các em học chỉ đối phó tức thời,… năng lực tiếp thu còn hạn chế, điều kiện học tập của các em còn chưa đáp ứng với yêu cầu nội dung và đổi mới giáo dục hiện nay Chất lượng của môn Lịch sử đã đến lúc báo động, kết quả tuyển sinh đại học năm 2006-

2007 đã chứng minh điều này: dưới điểm trung bình chiếm hơn 80%, hàng trăm bài thi vào các trường Đại học năm gần đây chỉ đạt điểm không, đặc biệt hơn ngày 30- 3-2013, hàng trăm học sinh xé đề cương Lịch sử vì không thi tốt nghiệp tại trường THPT Nguyễn Hiền (Thành phố Hồ Chí Minh) đó là tất cả những vấn đề đáng lo ngại và mang tính cấp thiết hiện nay cần được xem xét và giải quyết

Việc hàng trăm học sinh Trường THPT Nguyễn Hiền (TPHCM) xé đề cương môn Sử trắng xóa sân trường khi biết môn này không thi tốt nghiệp khiến chúng ta phải nhìn lại cách dạy và học môn Sử ở Việt Nam

Trang 7

Đề cương sử bị xé ném trắng xóa sân trường THPT Nguyễn Hiền.

Hơn nữa trong chương trình sách giáo khoa phổ thông hiện quá ôm đồm Giáo viên vẫn chưa được phép giảm bớt thời gian nói- viết để mở rộng kiến thức Rồi còn ít nhiều giáo viên lên lớp chưa soạn bài chu đáo, chưa xác định đúng trọng tâm nội dung tiết học, thậm chí chưa tâm huyết với nghề….nên khi dạy không truyền được lửa, không tạo được sự sinh động, đam mê, hứng thú, yêu thích cho học sinh, nên khi học cảm thấy gò bó, học một cách bắt buộc, uể oải…mệt mỏi trong việc lĩnh hội kiến thức

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Lịch sử, tôi thực sự lo lắng trước vấn đề học tập của các em Vậy phải làm thế nào để nâng cao hiệu quả giảng dạy, hiệu quả giáo dục trong bộ môn đối với người dạy và cả người học? Trò phải hứng thú khi học, phải say mê tìm tòi những điều ý nghĩa của lịch sử dân tộc, thầy phải phát huy được tính tích cực, sáng tạo , tư duy ở trò…

Trong quá trình dạy, tôi cũng đã cố gắng học hỏi, và được sự hỗ trợ của bạn

bè, đồng nghiệp, cộng với lòng nhiệt tình yêu nghề, nên tôi xin được đưa ra giải pháp nhằm “ Tăng khả năng hứng thú học tập bằng hình thức lồng ghép các mẩu

Trang 8

chuyện lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 - THPT” để nâng cao hiệu quả, chất lượng giờ học.

I TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1 Quy trình lồng ghép, sử dụng các mẩu chuyện lịch sử trong dạy học

Trước khi tìm hiểu về hiệu quả bài học lịch sử, ta cần hiểu rõ về bài học lịch

sử ở trường phổ thông (hay còn gọi là giờ học, tiết học, giờ lên lớp) là một khâu trong quá trình dạy học Nhiệm vụ của nó là thực hiện một phần chương trình, sách giáo khoa, góp phần từng bước hoàn thành mục tiêu môn học, cấp học và khóa trình Đó là hình thức cơ bản của việc tổ chức quá trình thống nhất giữa giảng dạy

và học tập: giáo viên tiến hành các công việc truyền đạt kiến thức, giáo dục, phát triển học sinh; tổ chức, hướng dẫn học sinh tích cực hoạt động nhận thức để lĩnh hội kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng đạo đức, rèn luyện kĩ năng… Vì thế, tiến hành bài học là điều tất yếu và bắt buộc trong việc dạy học ở trường phổ thông

Trong giảng dạy, phương pháp lồng ghép các mẩu chuyện lịch sử thông qua các tiết học trên thực tế hoạt động này vẫn chưa được giáo viên đứng lớp chú ý nhiều, nhằm mang lại hứng thú trong quá trình dạy- học Hiệu quả bài học lịch sử bao giờ cũng gắn với một thời kỳ, một giai đoạn, gắn liền với đối tượng sư phạm được đảm bảo Một giờ học nói chung, giờ học lịch sử nói riêng bỏ ra ít công sức nhất, ít tốn thời gian nhất, nhưng lại đem lại hiệu quả cao nhất Đó chính là hiệu quả của bài học Như thế, hiệu quả của một bài học lịch sử cũng gắn với đối tượng lớp học, trường học cụ thể, gắn với công sức, thời gian của thầy và học sinh Sự tiến bộ của mỗi học sinh sau một giờ học là thước đo căn bản đánh giá hiệu quả của một bài học lịch sử

Khó khăn lớn nhất khi thực hiện phương pháp này, là khung thời gian quy định trong giờ học quá ít, trong khi lượng kiến thức phải truyền tải lại quá nhiều, dường như thời gian chỉ để dành cho nội dung chính của bài, thêm nữa ở trường những tư liệu về lịch sử rất khó tìm…

Chính vì vậy khi thực hiện lồng ghép những mẩu chuyện, cần phải hiểu

rõ được mục đích, ý nghĩa, nội dung bài học lịch sử, để lựa chọn mẩu chuyện

Trang 9

sao cho phù hợp mới đảm bảo được chất lượng giờ dạy đúng, đủ, mới có

những tác động tích cực để mỗi lần đến giờ học, các em mới có cảm giác mong muốn được học hơn, chủ động hơn khi tìm hiểu giá trị lịch sử dân tộc

Qua việc nghiên cứu cơ sở lí luận về sử dụng tài liệu nói chung, về việc sử

dụng mẩu chuyện lịch sử, để việc lồng ghép có hiệu quả cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

Bước 1: Tìm hiểu lý luận về sử dụng tài liệu lịch sử nói chung, tài liệu về mẩu chuyện lịch sử nói riêng để cụ thể hóa các sự kiện, hiện tượng lịch sử theo

sự hướng dẫn của giáo viên.

Bước 2 : Khai thác nội dung cơ bản của lịch sử từng giai đoạn, từng chương, từng bài Đề xuất một số phương pháp về sử dụng mẩu chuyện lịch sử trong từng giai đoạn lich sử, xác định mẩu chuyện cần giới thiệu tới học sinh để các em hiểu rõ lịch sử.

Bước 3: Căn cứ vào mục tiêu, nội dung bài học để lựa chọn mẩu chuyện phù hợp: một sự kiện, một nhân vật ( có thể cho học sinh sưu tầm tài liệu trước để rèn luyện kỹ năng sưu tầm, tìm tòi, định hướng, chọn lọc tài liệu), mẫu chuyện phải khoa học, tài liệu phải chính xác, nhằm giáo dục tư tưởng, nhân cách cho các em.

Bước 4: Ngoài mẩu chuyện lịch sử, chọn thêm hình ảnh minh họa, hoặc các thước phim ngắn có liên quan nội dung tiết học tùy thời lượng giờ dạy

Bước 5: Mỗi sự kiện bao giờ cũng diễn ra trong một hoàn cảnh cụ thể, sinh động, có hình ảnh bao nhiêu thì càng hấp dẫn và hứng thú bấy nhiêu Mỗi mẩu chuyện với một cốt truyên rõ ràng, tình tiết ly kỳ sẽ lôi cuốn học sinh vào bài học.

- Có thể cho học sinh kể chuyện (có sự chuẩn bị trước để rèn luyện kỹ năng độc lập ), chọn học sinh có lời kể hùng hồn, sinh động, giọng kể lúc trầm, lúc bổng đúng nội dung, chi tiết mẫu chuyện, nhằm truyền tải một cách sâu sắc, làm cho bài học trở nên ý nghĩa hơn, biến kiến thức sách vở thành những hiểu biết cụ thể về cuộc sống hiện thực Học sinh có thể thảo luận bổ sung về kiến

Trang 10

thức liên quan bài hoc, giáo viên là người cố vấn, trọng tài giúp học sinh hoàn thiện mục tiêu tiết học đạt chất lượng cao

- Cần sử dụng tài liệu một cách phù hợp, để khai thác trực tiếp nội dung bài học, nhằm nâng cao hiệu quả bài học

Bước 6: Chuẩn bị cơ sở vật chất cần thiết để phục vụ cho việc dạy, học

Bước 7: Cho học sinh đánh giá, nhận xét cách kể chuyện, nội dung mẩu chuyện, và rút ra bài học Liên hệ thực tế để giáo dục tư tưởng cho học sinh.

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Tiến hành nghiên cứu học sinh hai lớp 10A1, 10A5 - Chương trình cơ bản

- Các bài học có nội dung về: phim ảnh , hình ảnh, tư liệu lịch sử, mẩu chuyện phù hợp với nội dung của từng bài, từng mục, từng giai đoạn cụ thể

3 Quá trình thực hiện

(gồm: Các bài, nội dung và ý nghĩa các mẩu chuyện)

Giáo viên có thể áp dụng đề tài này trong các bước khác nhau và ở những dạng nội dung bài học khác nhau sao cho phù hợp: có thể sử dụng để kiểm tra bài cũ, dạy bài mới và củng cố kiến thức và giao bài tập về nhà; giáo viên cũng có thể sử dụng đề tài ở những dạng nội dung bài học khác nhau, như: diễn biến của cuộc kháng chiến, ý nghĩa bài học Lịch Sử

Môn Lịch sử trong chương trình phổ thông, có rất nhiều bài học có thể sử dụng được phương pháp lồng ghép các mẩu chuyện lịch sử, tuy nhiên vì thời gian có hạn, khung giờ dạy quá ít, trong quá trình giảng dạy tôi đã căn cứ vào nội dung của từng bài học, từng mục trong bài học, và thời gian, chọn lọc, để lồng ghép những mẩu chuyện phù hợp sao cho bài học trở nên hấp dẫn, có ý nghĩa

Tôi xin đưa ra một số mẩu chuyện tôi đã thực hiện được việc lồng ghép tại

trường THPT Chu Văn An đó là : Các mẩu chuyện ở phần hai Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX của Lớp 10 THPT với các bài:

Bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam - (Sách giáo khoa-

lớp 10 trang 74)

Trang 11

Bài 16: Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc (tiếp theo) - (Sách giáo khoa- lớp 10 trang 83)

Bài 17: Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến ( từ thế kỷ X đến thế kỷ XV) – (Sách giáo khoa- lớp 10 trang 87)

Bài 19: Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỷ X – XV

(Sách giáo khoa- lớp 10 trang 96)

Bài 20: Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc trong các thế kỷ X- XV-

(sách giáo khoa- lớp 10 trang 101)

Bài 23: Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc cuối thế kỷ XVIII – (Sách giáo khoa- lớp 10 trang 116)

Bài 25: Tình hình chính trị , kinh tế, văn hóa dưới triều Nguyễn (nữa đầu thế kỷ XIX) – (Sách giáo khoa- lớp 10 trang 125)

Cụ thể như sau:

3.1 Bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam

3.1.1- Khi học mục I Quốc gia Văn Lang –Âu Lạc, đến phần Văn hóa

của cư dân Việt cổ, (Lớp 10 - Sách giáo khoa trang 76), giáo viên lồng ghép ( hoặc có thể cho các em tìm hiểu ở nhà trước), cho học sinh biết: Vì sao người Việt có tục xăm mình?

Trang 12

Một trong những tục cổ xưa nhất của người Việt là xăm mình Tục này phải kéo dài cho đến cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV mới chấm dứt Về nguyên nhân xuất hiện của tục xăm mình, sách Lĩnh Nam Chích quái ( phần Hồng Bàng thị truyện) viết như sau: “Bấy giờ dân trên núi xuống đánh cá thường thuồng luồng gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với Vua Vua nói: Các giống ở trên núi khác với các giống ở dưới nước, các loài ở dưới nước chỉ ưa những gì giống với mình và ghét những gì khác mình, vì vậy ta mới bị gây hại Nói rồi vua ra lệnh cho

ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thủy quái vào người Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương tích nữa Tục vẽ mình của dân Bách Việt có từ đó….”

- Kể xong, giáo viên hỏi học sinh, qua mẩu chuyện cô vừa kể, các em rút ra bài học gì cho bản thân?

3.1.2 Ý nghĩa:

Học sinh qua mẫu chuyện có thể rút ra được bài học là: chinh phục thiên nhiên vùng đồng bằng sông nước là cả một quá trình khó khăn, lâu dài, cũng giống như việc học tập, nó là cả một quá trình phấn đấu không ngừng, đòi hỏi bản thân

phải vượt khó Đồng thời cũng giáo dục học sinh đi giữa giang sơn gấm vóc, xin

đừng quên tổ tiên ngàn đời.

3.2

Bài 16: Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc

Trang 13

3.2.1 Khi học mục 3 Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng 938 (lớp 10 -

sách giáo khoa trang 85), giáo viên kể cho các em tìm hiểu về sông Bạch Đằng, về

trận đánh trên sông Bạch Đằng 938

Tháng 4- 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn, hào trưởng đất Phong Châu giết chết để đoạt chức Tiết độ sứ Ngô Quyền, vừa là bộ tướng, vừa là con rể của Dương Đình Nghệ tiến quân ra Bắc để trừ kẻ phản bội Trước sự phẫn nộ của nhân dân, Kiếu Công Tiễn nhanh chóng cầu cứu vua Nam Hán Nắm lấy cơ hội, vua Nam Hán dù được triều thần can ngăn nhưng vẫn quyết tâm chiếm nước ta cho bằng được

Thần tích và truyền thuyết dân gian các làng Nam Hải, Đằng Hải đều nói rõ:

từ Bình Kiều, Hạ Đoạn tới Lương Khê (thuộc An Hải, Hải Phòng) là khu vực đóng quân của Ngô Quyền Đại bản doanh của Ngô Quyền đóng tại thôn Lương Xâm- Gia Viễn (cũng thuộc An Hải) Trước mưu đồ xâm lược trở lại của phong kiến phương Bắc, ngọn cờ cứu nước của Ngô Quyền trở thành ngọn cờ đoàn kết cả dân tộc Đội quân của Ngô Quyền từ một đội binh ở Ái Châu nhanh chóng trở thành đội binh dân tộc Truyền thuyết dân gian còn ghi chuyện 38 chàng trai làng Gia Viễn (An Hải) do Nguyên Tất Tố và Đào Nhuận dẫn đầu đã tự vũ trang xin theo Ngô Quyền phá giặc Trai tráng các làng Lâm Động (Thủy Nguyên, Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động, Hải Hưng) người mang vũ khí, kẻ mang chiến thuyền tìm đến cửa quân xin diệt giặc

Quân đội chủ lực của Ngô Quyền chiến đấu trong sự phối hợp với các đội dân binh và sự tham gia phục vụ chiến đấu của toàn dân

Vùng cửa sông và vùng hạ lưu sông Bạch Đằng được Ngô Quyền chọn làm

chiến trường quyết chiến Sông Bạch Đằng có tên nôm là sông Rừng Dân gian ở đây đã có câu ca dao:

Trang 14

Con ơi nhớ lấy lời cha: Gió to sóng cả động qua sông Rừng

Sông Rừng thường có sóng bạc đầu nên mới có tên gọi Bạch Đằng giang

Bạch Đằng là cửa ngõ phía Đông Bắc và là đường giao thông quan trọng từ biển Đông vào nội địa nước ta Cửa biển Bạch Đằng to rộng, rút nước từ đồng bằng Bắc

Bộ đổ ra Vịnh Hạ Long Từ cứa biển ngược lên gần 20km là đến cửa sông Chanh Phía hữu ngạn có dãy núi đá vôi Tràng Kênh với nhiều hang động, sông lạch và thung lũng Hạ lưu sông Bạch Đằng chịu ảnh hưởng của thủy triều khá mạnh

Ngô Quyền đã huy động quân dân vào rừng đẵn gỗ, vót nhọn, bịt sắt rồi đóng xuống dòng sông, bãi cọc tạo thành bãi chướng ngại ở hai bên cửa sông Khi nước triều lên, cả bãi cọc ngập chìm dưới nước nhằm chặn đường rút của thủy quân địch Cả một đoàn binh thuyền cửa Hoằng Tháo vượt biển tiến vào sông Bạch

Trang 15

Đằng Ngô Quyền cho quân thủy dùng thuyền nhẹ đón đánh địch từ xa, quân ta giả thua rút chạy Hoằng Tháo cho quân đuổi theo, vượt qua bãi cọc, tiến sâu vào thế trận quân ta đã dàn sẵn Khi thủy triều xuống, quân ta bất ngờ tiến công mãnh liệt Quân địch bị chặn bởi bãi cọc, không rút chạy được bị Quân giặc phần bị giết, phần bị chết đuối, thiệt hại đến quá nửa Hoằng Tháo đã bỏ mạng theo Kiều Công Tiễn, đội quân xâm lược hoàn toàn tan rã Vua Nam Hán đang điều quân sang tiếp viện cho con nhưng nửa đường nghe tin Hoằng Tháo chết trận quá đau xót, y thu nhặt tàn quân rút chạy Ý chí xâm lược của nhà Nam Hán bị đè bẹp.

Kể xong, giáo viên hỏi: Nghe xong mẫu chuyện các em suy nghĩ gì? Qua

chiến thắng này thể hiện tài năng lãnh đạo như thế nào của Ngô Quyền?

3.2.2. Ý nghĩa :

Vua Nam Hán đã mắc phải sai lầm vô cùng lớn cũng chi vì lòng tham không đáy Nuôi mộng bành trướng, chiếm lĩnh nước ta, chúng không biết suy xét thực tế rằng Kiều Công Tiễn là một kẻ “vô luân, bất nhân”, nhẫn tâm giết hại chủ tướng là

“bất nghĩa”, hại cha nuôi của mình là “bất hiếu’, lại đang tâm bán nước là “bất trung”; chính vì thế y không được lòng bộ tướng, binh sĩ cũng như lòng dân, cả nước lên án kẻ tội đồ; vậy thì làm sao có khả năng “giúp sức” cho quân xâm lược tiến vào lãnh thổ Cái chết của Kiều Công Tiễn, Hoằng Tháo, sự thua trận của quân Nam Hán là tất yếu

Chiến thắng Bạch Đằng đã thể hiện tài năng quân sự và ý chí quyết thắng

của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền Thắng lợi ấy nói lên sự lớn mạnh của nhândân ta về trí tuệ và khả năng đánh bại kẻ địch không những chỉ bằng du kích

mà cả bằng chính quy, không những chỉ ở trên bộ mà cả bằng thủy chiến Chiến thắng Bạch Đằng là một ví dụ điển hình về tinh thần mưu trí và có tính toán một cách chính xác trong nghệ thuật chiến dịch của lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc ta Nó đã khẳng định quyền làm chủ của nhân dân ta trên vùng đất của

tổ tiên thời Văn Lang – Âu Lạc và tạo thêm một niềm tin, một niềm tự hào sâu sắc lên bước đường xây dựng đất nước độc lập, tự chủ sau này

Trang 16

3.2.3 Sau khi học xong Bài 16 , giáo viên có thể cho học sinh về nhà tìm

hiểu trước những chiến thắng tiếp theo được diễn ra trên Sông Bạch Đằng ở những giai đoạn lịch sử sau (bài 19 SGK trang 76)

3.3

Bài 19: Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỷ X –

XV (Lớp 10 - Sách giáo khoa trang 96),

3.3.1 Giáo viên cho học sinh kể chuyện về các Trận Bạch Đằng mà các

em đã chuẩn bị ở nhà (mỗi em kể về một trận đánh) Theo các nhà nghiên cứu thì

có thể tạm coi rằng đã có ít nhất 4 lần thủy quân Việt chiến thắng giặc ngoại xâm

phương Bắc trên khúc sông lừng danh này cụ thể: Sông Bạch Đằng

Các Trận Bạch Đằng:

Năm 981: Kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê

Trang 17

Đến tháng 2 năm Tân Tỵ (tức tháng 3 năm 981), sau hơn hai tháng chiếm đánh Bạch Đằng – Hoa Bộ, cả hai cánh quân thủy bộ của nhà Tống hầu như vẫn dậm chân tại chỗ Chúng liên tục bị quân chủ lực của triều đình, nhất là dân binh các làng xã tập kích quấy rối, làm cho lực lượng bị tiêu hao tinh thần, binh lính bị suy giảm Chờ mãi không thấy viện binh của Lưu Trừng và Trần Khâm Tộ, khoảng trung tuần tháng 2 năm Tân Tỵ (tháng 3 năm 981), Hầu Nhân Bảo quyết định cùng Quách Tiến kéo toàn bộ quân thủy bộ dưới quyền tiến từ sông Bạch Đằng đến sông Luộc để phá thành Bình Lỗ mà vào chiếm Hoa Lư Nhưng tại đây, quân và dân Đại

Cồ Việt đã chiến đấu rất dũng cảm, giáng cho đảo thủy binh Hầu Nhân Bảo một đòn nặng nề, buộc chúng phải quay binh thuyền rút về sông Bạch Đằng Quân Tống thảm bại nặng nề, quân lính hao hụt, vũ khí chiến thuyền hư hỏng, mất mát nhiều, lương thực thiếu thốn Ý chí xâm lược của tướng sĩ giặc bị giảm sút Ý đồ muốn lập công chiếm Hoa Lư khi viện quân Tống chưa sang của Hầu Nhân Bảo bị đập tan

Sau khi thất bại ở Lục Giang trở lại sông Bạch Đằng, đạo thủy binh Hầu Nhân Bảo rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan Tuy viện binh Tống đã kéo sang từ tháng ba năm Tân Tỵ (tức tháng 4 năm 981) nhưng “Giao Châu hanh doanh” vẫn không sao thực hiện được kế hoạch hợp điểm, hội sư để cùng tiến chiếm Hoa Lư Liên quan Lưu Trừng – Tôn Toàn Hưng tiến quân đến thông Đa La (Đa Ngư) nhưng không gặp chủ lực quân ta để giao chiến, lại vội vã rút về nằm ở Hoa Bộ Cánh quân do Trần Khâm Tộ chỉ huy tiến xuống Tây Kết theo sự phân công của Tôn Toàn Hưng cũng trở thành đạo quân bị cô lập, ở vào tình thế dễ bị đối phương truy kích, tiêu diệt Cánh quân thủy của Hầu Nhân Bảo từ sau trận Lục Giang vốn

đã bị tiêu hao sinh lực, phương tiện chiến đấu, lại bị chia cắt

Theo dõi sát sao tình hình địch, Lê Hoàn một mặt viết thư giả vờ xin hàng, khiến cho bọn Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng “cứ tưởng là thật” mà lơ là việc phòng bị Một mặt, ông bí mật tăng cường lực lượng, chuẩn bị một trận quyết chiến, giáng đòn quyết định vào đội quân viễn chinh Tống Ông chọn một khúc sông hiểm yếu rồi bố trí quân mai phục chờ sẵn Ngày Kỷ Mùi tháng ba năm Tân

Tỵ (tức ngày 28 tháng 4 năm 981), Lê Hoàn cho một cánh quân ra khiêu chiến với

Trang 18

quân Hầu Nhân Bảo Chiến sự đang diễn ra quyết liệt thì quân ta giả thua bỏ chạy, quân Tống thừa thắng đuổi theo Khi chiến thuyền của Hầu Như Bảo lọt vào trận địa mai phục của ta, Lê Hoàn tung quân ra đánh ráo riết Các chiến binh Đại Cồ Việt từ khắp các trận địa mai phục và từ các nẻo đường đổ về sông Bạch Đằng vây đánh quân Tống quyết liệt Hầu Nhân Bảo bị giết chết trong đám loạn quân Lưu Trừng vội vã dẫn đám tàn quân tháo lui ra biển.

Ý nghĩa: Trong trận phản công chiến lược ngày 28 tháng 4 năm 981, quân

và dân Đại Cồ Việt đã giết được tên chủ tướng nguy hiểm, hiếu chiến nhất của giặc

và đánh bại hoàn toàn đạo thủy quân Tống Chiến thắng đó đã mở đầu cho một thế

trận mới, thế trận tiến công chiến lược và tập kích chiến lược của quân và dân ta

trên khắp các chiến trường

Năm 1077: Kháng chiến chống Tống thời Lý

Ngày 11 tháng Chạp năm Bính Thìn (8 – 1 – 1077) Quách Quỳ dẫn quân vượt biên ải tiến công Đại Việt Trong lúc đó Dương Tùng Tiên cũng đã được lệnh xuất phát từ căn cứ theo tuyến ven biển tiến xuống nước ta Thủy binh địch tập trung ở cửa biển Khâm Châu rồi vượt biển tiến vào nước ta Theo sách Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi (một tác giả đời Tống) thì từ Khâm Châu thuyền đi theo hướng tây nam một ngày đến Vĩnh An ở địa đầu nước ta Từ Vĩnh An thuyền đi theo sông Đông Kênh vào cửa Bạch Đằng lên Vạn Xuân rồi đến Thăng Long

Sông Đông Kênh là dải nước khá rộng ven biển giữa đất liền và các hải đảo vùng biển Đông Lực lượng thủy binh do Lý Kế Nguyên chỉ huy dựa vào thế hiểm của miền biển Vĩnh An lập thế trận mai phục dài tới hàng chục dặm Dương Tùng Tiên không phát hiện được quân ta mai phục ở sông Đông Kênh, cho quân tiến gấp vào cửa sông Bạch Đằng Các thủy đội ta đồng thời tiến ra đánh mạnh vào đội hình hành quân của địch Bị đánh bất ngờ, Dương Tùng Tiên chống đỡ không nổi Các tướng thuộc hạ như Bùi Cảnh, Trương Thuật, Bành Tôn, vv… tuy rất hăng hái chống đỡ nhưng cũng không tiến lên được, lại bị tổn thương nhiều Trận thủy chiến diễn ra quyết liệt Thủy binh Tống đông, có nhiều thuyền nhưng là loại thuyền mành cỡ lớn, nặng nề, chậm cơ động Chiến thuyền Đại Việt thon, nhỏ nhẹ, cơ động nhanh nhẹn Thủy binh Tống đông nhưng phần lớn mới tuyển mộ, ô hợp

Trang 19

Thủy binh Đại Việt là quân thiện chiến Đang cơ động trên sông Đông Kênh, nơi

có nhiều hải đảo hiểm trở, đội hình tiến quân trải dài, lại bị đánh bất ngờ, đội hình địch bị chia cắt, không ứng cứu cho nhau được Mọi trận giao chiến với quân ta quân Tống đều thất bại lớn Vô số chiến thuyền và thuyền lương Tống bị đánh chìm Hàng vạn thủy binh Tống bị giết và bị bắt

Dương Tùng Tiên thua đau, ra lệnh cho tàn quân tháo chạy theo hướng đông

để tránh bị bao vây Y tập trung được một số thuyền nhưng trong thế tiến thoái lưỡng nan Tùng Tiên không lọt vào được sông để trợ chiến cho lục quân được Không có liên lạc với Quách Quỳ, Tùng Tiên đỗ thuyền ngoài cửa sông đợi Đến lúc có lệnh đón về mới biết đã bị thất bại rồi

Trận Đông Kênh chứng tỏ khả năng phán đoán địch tình của bộ chỉ huy mà người tiêu biểu là Lý Thường Kiệt Do nắm chắc được âm mưu của quân Tống, Lý Thường Kiệt đã phán đoán chính xác các hướng tiến công và âm mưu sử dụng thủy quân của giặc Vì vậy Lý Thường Kiệt đã có kế sách hợp lí, khi cử Lý Kế Nguyên chỉ huy thủy quân ta bố tró mai phục chặn đạo quân của Dương Tùng Tiên ở vùng cửa biển phía Đông Bắc Kế hoạch phối hợp giữa hai đạo bộ binh và thủy binh của quân Tống vì thế không thực hiện được Chiến thuật tập kích đánh chặn bất ngờ của thủy quân Đại Việt đã thành công

Ý nghĩa: Thắng lợi của cuộc chiến tranh chống Tống năm 1075 – 1077

có một phần đóng góp lớn của thắng lợi trong trận thủy chiến trên sông Đông Kênh Trận thủy chiến Đông Kênh có ý nghĩa rất lớn cả trên lĩnh vực chiến thuật

và chiến lược Đó là một chiến công rất đáng tự hào của quân đội Đại Việt thời Lý trong cuộc kháng chiến chống Tống của quân và dân ta, viết tiếp một trang mới trong pho sử truyền thống anh hùng của thủy quân nước Việt

Trang 20

Năm 1288 : Trận Bạch Đằng (1288) – Cơn ác mộng của quân Nguyên Mông

Nhà Trần nổi tiếng trong lịch sử dân tộc với những chiến tích võ công chói lọi, ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông hung bạo Có lẽ, đây là triều đại có nhiều võ tướng tài ba nhất: Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái, Trần Bình Trọng, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản, Trần Khát Chân và nhiều võ tướng khác được lịch sử ghi nhận như những bậc anh hùng dân tộc Trận quyết chiến chiến lược nổi tiếng nhất đó là Trận Bạch Đằng năm 1288 gắn liền với tên tuổi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

Trang 21

Trận thắng có thể coi là lớn nhất trong các trận Bạch Đằng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã lặp lại kì tích mà Ngô Quyền đã thực hiện đúng 350 năm trước đó Thế trận cọc nhọn một lần nữa đã lại hủy diệt đạo quân thủy xâm lược Tướng Ô Mã Nhi của nhà Nguyên bị bắt sống, khoảng 4 đến 6 vạn lính Nguyên bị loại khỏi vòng chiến.

- Học sinh kể xong, cho học sinh khác nhận xét cách kể chuyện, nội dung

mẩu chuyện, và giáo viên đặt câu hỏi: Sau các chiến công vang dội của các anh hùng dân tộc, bản thân các em có suy nghĩ như thế nào? ( Để giáo dục tư tưởng cho học sinh)

Ý nghĩa: Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 khắc đậm trong ký ức dân tộc

ta như 1 chiến công huyền thoại của lịch sử dân tộc Người Việt Nam qua nhiều triều đại đều tự hào về chiến thắng vẻ vang của tổ tiên và ghi nhận là chiến công

đỉnh cao nhất trong 3 lần đọ sức của quân dân Đại Việt đối với quân xâm lược

Nguyên – Mông thế kỷ XIII

Chiến thắng vinh quang của quân Đại Việt trong trận sông Bạch Đằng năm

1288 được xem là một trận đánh hủy diệt và thủy chiến lớn nhất trong lịch sử kháng chiến của dân tộc Việt Nam

Chiến thắng Bạch Đằng 1288 đã thể hiện tập trung nghệ thuật quân sự của quân dân Đại Việt thế kỷ 13 và tài thao lược của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, vị anh hùng kiệt xuất, nhà chiến lược lỗi lạc của dân tộc Hòa trong vũ công hiển hách 3 lần đánh bại quân Nguyên – Mông của dân tộc ta, trận Bạch Đằng nổi lên như 1 kiểu mẫu của nghệ thuật “dùng đoản binh đánh trường trận” và là đỉnh

cao của sức mạnh và nghệ thuật quân sự Việt nam thời đó.

Trong bài 19: Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỷ

Trang 22

Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, ông là tướng luôn ở bên cạnh, xông pha nhiều trận đánh hiểm nguy Bấy giờ nghĩa quân Lam Sơn lực lượng còn yếu, thiếu lương,

thường bị quân Minh đánh bại Theo sách Đại Việt thông sử (trang 156, 157), cuối

tháng 4 năm 1418 Lê Lợi bị thua trận ở Mường Một, chạy thoát về Trịnh Cao, quân Minh đuổi theo vây chặt các lối hiểm yếu

Trong tình thế nguy cấp, Lê Lợi họp các tướng lại hỏi:

Nay thế trận hiểm nguy, có ai dám làm như Kỷ Tín đời Hán, thân khoác

hoàng bào mà hi sinh thay ta không?Các tướng đều ngồi yên không ai dám thưa

Lê Lai đứng dậy nói rằng:

Thần nay nguyện được tử trận thay cho chúa công Ví như sau này giành được giang sơn thì xin nghĩ đến công lao của thần, khiến cho con cháu muôn đời được nhờ quốc ân, được vậy thần chết cũng nhắm mắt Lê Lợi rất thương cảm Lê Lai nói:

Tình hình nguy khổn, nếu ngồi khư khư, quân thần chung mạng, bao công sức đây hãy còn gì Nếu theo kế này, may ra có thể thoát được Kẻ trung thần chết

vì nước nào có tiếc gì? "Lê Lợi vái trời khấn rằng:

Lê Lai có công đổi áo, nếu sau này khôi phục nghiệp xưa, nếu không nhớ đến công lao ấy, thì xin cho cung điện biến thành rừng núi, ấn triện biến thành cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn

Lê Lai vâng mệnh mang 2 voi và 500 quân kéo ra trại quân Minh khiêu chiến Quân Minh đổ ra đánh Lê Lai thúc ngựa xông thẳng vào giữa trận hô to: Ta

là chúa Lam Sơn đây! Quân Minh ngỡ là Lê Lợi nên xúm lại đánh kịch liệt Lê Lai xung trận giết giặc rồi kiệt sức, bị quân Minh bắt và đem hành hình Hôm ấy là

ngày 29 tháng 4 âm lịch.

3.3.3 Ý nghĩa:

Vẫn biết lúc xông pha trận mạc, thật khó để bảo toàn tính mạng, nhưng đi vào chỗ mà cái chết chỉ còn trong gang tấc, cổ kim nào có được mấy người như vậy! Phí phách và lòng trung nghĩa của Lê Lai, khỏi bà cũng quá rõ thật đáng để chúng ta noi gương Song, có lẽ cũng không nên quên rằng, chỉ có những người như Lê Lợi, mới quy tụ được những người như Lê Lai dám hy sinh tính mạng vì

Trang 23

Lê Lợi Vua ấy, dũng tướng đấy thật cảm động làm sao Ai mà chẳng chết, nếu được chọn nên chết như thế nào đó thôi Lẫm liệt thay, Lê Lai!

3.3.4 Hay trong bài 19 (sách giáo khoa 10 trang 99), mẩu chuyện: Sự

tích Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm)

Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi có chép:

Vào thời giặc Minh đặt ách đô hộ ở nước Nam, chúng coi dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược, thiên hạ căm giận chúng đến xương tủy Bấy giờ ở vùng Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng trong buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần nghĩa quân bị thua Thấy vậy, đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để họ giết giặc

Hồi ấy, ở Thanh Hóa có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ Khi kéo lưới lên, chàng thấy nằng nặng, trong bụng mừng thầm, chắc là có cá to Nhưng khi thò tay vào bắt cá, Thận chỉ thấy có một thanh sắt; chàng vứt luôn xuống nước, rồi lại thả lưới ở một chỗ khác Lần thứ hai cất lưới lên cũng thấy nặng tay; Thận không ngờ thanh sắt vừa rồi lại chui vào lưới mình Chàng lại nhặt lên và ném xuống sông Lần thứ ba, lại vẫn thanh sắt ấy mắc vào lưới Lấy làm quái lạ, Thận đưa lại mồi lửa nhìn xem Bỗng chàng reo lên:

Ha ha! Một lưỡi gươm!

Về sau Thận gia nhập đoàn quân khởi nghĩa Lam Sơn Chàng hăng hái gan

dạ không nề nguy hiểm Một hôm chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận Trong túp lều tối om, thanh sắt hôm đó tự nhiên sáng rực lên ở xó nhà Lấy làm lạ, Lê Lợi cầm lấy xem và thấy có hai chữ "Thuận Thiên" khắc sâu vào lưỡi gươm Song tất cả mọi người vẫn không biết đó là báu vật

Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng chạy tháo thân mỗi người một ngả Lúc đi qua một khu rừng, Lê Lợi bỗng thấy một ánh sáng lạ trên ngọn cây đa Ông trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc Nhớ đến lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi rút lấy chuôi giắt vào lưng

Ba ngày sau, Lê Lợi gặp lại tất cả các bạn trong đó có Lê Thận Lê Lợi mới đem chuyện bắt được chuôi gươm kể lại cho mọi người nghe Khi đem tra gươm vào chuôi thì vừa như in Lê Thận nâng gươm lên ngang đầu nói với Lê Lợi: Ðây

Trang 24

là Trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh gươm thần này để báo đền Tổ quốc!

Từ đó nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng tiến Trong tay Lê Lợi, thanh gươm thần tung hoành khắp các trận địa, làm cho quân Minh bạt vía Uy thanh của nghĩa quân vang khắp nơi Họ không phải trốn tránh như trước mà xông xáo đi tìm giặc

Họ không phải ăn uống khổ cực như trước nữa, đã có những kho lương của giặc mới cướp được tiếp tế cho họ Gươm thần đã mở đường cho họ đánh tràn ra mãi, cho đến lúc không còn bóng một tên giặc trên đất nước

Một năm sau khi đuổi giặc Minh, một hôm Lê Lợi - bấy giờ đã làm vua - cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng trước kinh thành Nhân dịp đó, Long Quân sai rùa vàng lên đòi lại thanh gươm thần Khi chiếc thuyền rồng tiến ra giữa

hồ, tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi mặt nước Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại Ðứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm thần đeo bên người tự nhiên động đậy Con rùa vàng không sợ người, nhô đầu lên cao nữa và tiến về phía thuyền vua Nó đứng nổi trên mặt nước và nói: "Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!" Vua rút gươm quẳng về phía rùa vàng Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước Gươm và rùa đã chìm đáy nước, người ta vẫn còn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh

Từ đó hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm

Trang 25

Bài 17: Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước phong

kiến từ thế kỷ X –XV

3.4.1 Mục I Bước đầu xây dựng nhà nước độc lập thế kỷ X (Lớp 10 -

Sách giáo khoa trang 87

Khi học tới phần nhà Đinh( Đinh Tiên Hoàng ), giáo viên có thể lồng ghép mẩu chuyện thứ nhất: Gươm đeo cổ ngựa

Tương truyền ở động Hoa Lư quê Đinh Bộ Lĩnh có cái đầm rất sâu Mẹ ông thường vẫn vào trong đầm tắm giặt Ở đầm có con rái cá to lớn sống lâu đã thành tinh Một hôm, bà bị con rái cá ấy hãm hiếp mà thụ thai Đến kỳ mãn nguyệt khai hoa, Đinh Bộ Lĩnh được sinh hạ Ít lâu sau cha ông Đinh Công Trứ qua đời, con rái

cá cũng bị người dân bắt được đem làm thịt, bỏ xương vào một xó Hay tin ấy bà vội đến, nhặt xương và gói ghém để trên gác bếp, bảo với Đinh Bộ Lĩnh đấy là hài cốt của cha

Đinh Bộ Lĩnh lớn lên khỏe mạnh, có biệt tài bơi lội

Bấy giờ có một thầy địa lý Tàu sang nước ta xem thế đất Đến Hoa Lư thầy địa lý thấy một tia sáng màu hồng tựa như dải lụa từ đáy đầm chiếu thẳng lên sao Thiên Mã Đoán ở dưới đầm có linh vật bèn thuê người lặn xuống xem sao Đinh

Bộ Lĩnh nghe tin liền nhận lời ngay Khi lặn xuống, chàng thấy con ngựa đá đứng dưới đáy đầm, bèn trở lên báo lại Thầy địa lý bảo chàng lặn xuống mang theo nắm

cỏ bỏ vào miệng ngựa, quả nhiên nó há miệng ngậm lấy Thầy địa lý nói: Dưới đầm ắt có ngôi huyệt quý Rồi đưa vàng bạc trả cho Đinh Bộ Lĩnh, lại dặn: Nay tạm trả chừng này, sau sẽ trả thêm Ta có việc phải về bản quốc mấy tháng, sẽ gặp sau

Đinh Bộ Lĩnh biết là huyệt quý ấy ở ngay trong miệng con ngựa bèn về nói chuyện với mẹ, xem mả cha ở đâu, để đem táng vào huyệt ấy Bà mẹ lấy nắm xương ở gác bếp đưa cho, chàng bèn cầm lấy bọc cỏ non ở bên ngoài lặn xuống chỗ con ngựa Khi ngựa vừa há miệng liền đút cả vào Ngôi huyệt quý về tay mẹ con Đinh Bộ Lĩnh

Trang 26

Từ đó, Đinh Bộ Lĩnh sinh ra bạo tợn, các trẻ chăn trâu đều sợ bầu lên làm tướng, bẻ hoa lau làm cờ, chặt tre làm khí giới, đi đánh nhau với trẻ làng khác Tiếng tăm ông lừng lẫy, xa gần theo về, lại bầu làm trại trưởng của vùng.

Ít lâu sau, thầy địa lý Trung Quốc sang đem hài cốt của tổ tiên định táng vào miệng ngựa Nhưng tới nơi thấy kẻ lặn thuê cho mình ngày trước đã trở thành bậc

có danh tiếng lừng lẫy, biết là huyệt quý đã bị mất, căm giận lắm mới tìm cách trả thù Hắn tìm đến Đinh Bộ Lĩnh, giả thác nói:

- Ngôi huyệt quý đã về tay ông Nhưng, ngựa quý mà chưa có kiếm thì chưa toàn bị Xin biếu ông một số thanh kiếm quý đeo vào cổ ngựa Từ nay, ông sẽ ngang dọc khắp thiên hạ, kiếm chỉ tới đâu, giặc tan tới đó

Đinh Bộ Lĩnh không hiểu hết được phong thuỷ bèn lấy kiếm lặn xuống đầm sâu, đeo vào cổ ngựa đá Từ đấy đánh đâu được đó, tự xưng là Vạn Thắng Vương, bình định 12 sứ quân và thống nhất giang sơn, mở ra triều Đinh, ở ngôi 12 năm rồi

bị sát hại Người đời cho rằng do Đinh Tiên Hoàng đã mắc mưu thầy địa lý, bởi vì trong khoa Địa lý xưa có câu: “Mã đầu hữu kiếm đới sát” (đầu ngựa mà có gươm

là mang sát khí)

3.4.2 Trong mục I Bước đầu xây dựng nhà nước độc lập thế kỷ X Khi

học tới phần nhà Tiền Lê, (bài 17 - Lớp 10 - sách giáo khoa trang 87), có thể lồng

ghép mẩu chuyện thứ hai là: Chuyện Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế

( hoặc cho học sinh tìm hiểu trước ở nhà, sau đó gọi học sinh lên bảng kể)

Trang 27

Năm 979, khi Đinh Tiên Hoàng và con trai trưởng bị giết hại, con thứ Đinh Toàn (6 tuổi) được đưa lên nối ngôi Lê Hoàn là Phó Vương, giữ quyền nhiếp chính Các quan trong triều như Đinh Điền, Phạm Hạp… nghi ngờ Lê Hoàn sẽ làm việc mờ ám bèn dấy binh để đánh, nhưng rốt cuộc lại bị Lê Hoàn đánh bại và giết chết.

Sau vận nước lâm nguy, nhà Tống đưa quân sang xâm lược nước ta, xã tắc không thể phó thác cho Đinh Toàn bé nhỏ Triều đình đứng trước một thực tế rất khó xử, rằng ai sẽ là người đủ uy tín, đủ năng lực để điều khiển vận mệnh quốc gia

Tháng 7 năm Canh Thìn (980), một sự kiện lớn đã diễn ra tại kinh đô Hoa

Lư Sự kiện này được sách Khâm định việt sử thông giám cương mục (chính biên, quyển 1, tờ 13) chép lại như sau:

Quan giữ đất Lạng Châu đem việc đó tâu lên, Dương Thái Hậu bèn sai Lê Hoàn tuyển lựa dũng sĩ để chống lại

Triều đình cho Phạm Cự Lượng làm Đại tướng, được quyền bày mưu tính kế đánh giặc Phạm Cự Lượng cùng các tướng, mặc nguyên quân phục, vào thẳng nội điện, nói thẳng với mọi người rằng: Thưởng người có công, trị người phạm tội, ấy

Trang 28

là phép dùng binh Vậy thì chi bằng trước hãy tôn ngay quan Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn lên ngôi

Quân sĩ nghe vậy thì tung hô “vạn tuế”, Dương Thái hậu cũng một lòng mến phục, liền sai lấy tấm Long Cổn (áo Long Bào) khoác lên người Lê Hoàn, rồi cũng chính Dương Thái Hậu khuyên Lê Hoàn lên ngôi Lê Hoàn lên ngôi trước hết là để nhận lấy sứ mệnh vinh quang mà cực kỳ khó khăn, đó là chỉ huy cuộc chiến đấu chống quân Tống xâm lăng, bảo vệ nền tự chủ và thái bình cho xã tắc

Mẩu chuyện được kể xong, giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh việc Thái Hậu Dương Vân Nga tôn Lê Hoàn lên làm vua có ý nghĩa gì? Các em rút ra được bài học gì?

Chiếc áo Hoàng bào mà Dương Vân Nga khoát lên vai Thập Đạo tướng quân, không phải là trao tặng ngôi báu, mà đó là khoác lên vai ông sức nặng ngàn cân của cả một dân tộc Và chính Lê Hoàn đã hoàn thành nhiệm vụ dân tộc

giao phó một cách vẻ vang, đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tống

Ngày đăng: 28/02/2015, 07:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sách Lịch sử 10- Phan Ngọc Liên, Lương Ninh, Trương Hữu Quýnh, Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Hồng Liên, Nguyễn Cảnh Minh, Nghiêm Đình Vỳ- Nhà XBGD năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Lịch sử 10
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Lương Ninh, Trương Hữu Quýnh, Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Hồng Liên, Nguyễn Cảnh Minh, Nghiêm Đình Vỳ
Nhà XB: Nhà XBGD
Năm: 2006
3. Việt sử giai thoại – Nguyễn Khắc Thuần – NXBGD 1999 4. Đại cương LSVN tập 1-NXBGD 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử giai thoại
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1999
9. Lý luận dạy học của Phan Ngọc Liên – Trần Văn Trị - NXBGD 2004 10. Đanilop M.A và Xcatkin M.N, (1980), Lí luận dạy học ở trưởng phổ thông, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học ở trưởng phổ thông
Tác giả: Đanilop M.A, Xcatkin M.N
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1980
5. Sách giáo viên Lịch Sử nâng cao – NXBGD 2006 6. Cơ sở văn hóa Việt Nam – NXBGD 1997 Khác
7. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Lịch Sử lớp 10 – Nhà xuất bản Giáo dục – Năm 2010 Khác
8. Một số mẫu chuyện do HS lớp 12A2 và 10A1 sưu tầm Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w