1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn sửa in sau bv PYen

118 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức về những tác động của thủy điện đến sinh kế của người dân Sa Pa và mong muốn tìm hiểu sự thích ứng văn hóa của người dân sau khi môi trườngsống bị thay đổi là những lý do để ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi Tài liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu sau này, có điều gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến

Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

cùng các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập.

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Nguyễn Trường Giang, những định hướng của thầy là những gợi ý quý báu

đểu tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin cảm ơn ban lãnh đạo xã và người dân xã Bản Hồ, huyện Sa Pa, lãnh đạo và chuyên viên Sở Công thương tỉnh Lào Cai, Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch tỉnh Lào Cai, cán bộ Phòng Kinh tế hạ tầng, Phòng Tài Nguyên Môi trường huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh.

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6

5 Câu hỏi nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Phương pháp xử lý tài liệu 9

8 Kết cấu của luận văn 10

NỘI DUNG 11

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11

1 1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11

1.2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 17

1.2.1 Thuyết Sinh thái văn hóa 18

1.2.2 Lý thuyết Sinh thái chính trị nhấn mạnh đến xung đột tài nguyên 19

Chương 2: ĐỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ CƯ DÂN BẢN HỒ, SA PA 23

2.1 Điều kiện tự nhiên 23

2.1.1 Đặc điểm sinh thái vùng Sa Pa 23

2.1.2 Đặc điểm sinh thái xã Bản Hồ 25

2.2 Các đặc điểm về cư dân địa bàn nghiên cứu 27

2.2.1 Đặc điểm về cư dân dân tộc Dao 27

2.2.2 Đặc điểm về cư dân dân tộc Tày 30

2.2.3 Đặc điểm cư dân dân tộc Hmông 32

2.3 Hoạt động sinh kế truyền thống của các tộc người 34

2.3.1 Sinh kế truyền thống người Dao 34

2.3.2 Sinh kế truyền thống người Tày 39

2.3.3 Sinh kế truyền thống người Hmông 44

Trang 6

Chương 3: CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN TẠI BẢN HỒ 51

3.1 Quan điểm của nhà nước và ý kiến từ phía người dân 51

3.1.1 Quan điểm của nhà nước, chính quyền 51

3.1.2 Quan điểm của các nhà khoa học và giới truyền thông 54

3.1.3 Ý kiến về thủy điện từ phía người dân 56

3.2 Quá trình xây dựng các dự án thủy điện ở xã Bản Hồ 60

3.3 Các dự án thủy điện hiện nay trong xung đột tài nguyên đất đai, biến đổi môi trường và tác động tiêu cực đến du lịch 64

Chương 4: TÁC ĐỘNG CỦA THỦY ĐIỆN ĐẾN SINH KẾ CÁC TỘC NGƯỜI KHU VỰC DỰ ÁN 71

4.1 Về kinh tế 71

4.1.1 Trồng trọt 71

4.1.2 Chăn nuôi 76

4.1.3 Thủ công nghiệp 78

4.1.4 Kinh tế tự nhiên 80

4.1.5 Kinh tế từ hoạt động du lịch 81

4.1.6 Các loại hình sinh kế mới 88

4.2 Về lối sống có tác phong theo hướng hiện đại 91

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 104

Trang 7

PHỤ LỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Các công trình thủy điện trên địa bàn xã Bản Hồ (Nguồn: Phòng Kinh tế Hạ tầng huyện

Sa Pa) 61 Bảng 3.2: Biến động diện tích theo mục đích sử dụng đất năm 2014 (đơn vị: ha)(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Sa Pa) 65

Bảng 4.1 Diện tích đất trồng trọt qua một số năm từ 2006 đến 2017 của xã Bản Hồ (Nguồn: Ủy

ban Nhân dân xã Bản Hồ) 72 Bảng 4.2 Thống kê gia súc, gia cầm qua các năm của xã Bản Hồ (Số liệu do UBND xã cung cấp) Đơn vị tính: con 77 Bảng 4.3 Thống kê số lượng khách đến tham quan và nghỉ lại qua đêm tại Sa Pa từ 2006 đến 2009 (Nguồn: Phòng Văn hóa Thông tin Sa Pa) Đơn vị: Lượt người 85 Bảng 4.4 Thống kê lượt khách và doanh thu du lịch xã Bản Hồ trong những năm qua (Nguồn: Công an xã Bản Hồ) 85

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, địa bàn miền núi là nơi được các nhà đầu tư trong nước và nướcngoài hết sức quan tâm với các dự án khác nhau Trong đó, các dự án về nănglượng, đặc biệt là thủy điện các nhà đầu tư có các kế hoạch trung hạn và dài hạn đểphát triển các dự án này Tỉnh Lào Cai cũng không ngoại lệ, thủy điện được coi làngành công nghiệp khai thác tiềm năng sẵn có trong tự nhiên, chuyển dịch cơ cấungành, đóng góp cho an sinh xã hội nộp 600 tỷ đồng (năm 2017) vào ngân sáchquốc gia, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Tuy nhiên, các dự án thủy điện cũng dẫn đến việc thay đổi cảnh quan môi trường vàtác động lên sinh kế người dân Đặc biệt, Sa Pa là địa bàn trọng điểm về du lịch vớicác danh lam thắng cảnh quốc gia là nơi có các dân tộc thiểu số có nền văn hóatruyền thống, đậm đà bản sắc như Hmông, Dao, Tày, Giáy

Các dự án thủy điện chưa quan tâm đến đời sống của người dân sau dự án,chưa triển khai hoặc đề ra các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của người dân nơixây dựng dự án Khi triển khai các dự án, các nhà hoạch định chính sách chỉ chútrọng đầu tư vào việc đền bù, lấy đất xây dựng các công trình mà chưa thực sự quantâm đến văn hóa, kinh tế truyền thống của người dân tại địa bàn có bị ảnh hưởnghay không Trên thực tế, khi thực hiện các dự án, người dân ở Sa Pa bị tước bỏ cácđiều kiện thực hiện các hoạt động sinh kế truyền thống, như đất đai, nhà ở, cảnhquan môi trường Sa Pa là nơi tập trung sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu

số, có lịch sử cư trú lâu đời, gắn chặt với các hoạt động kinh tế nông nghiệp, kinh tế

tự nhiên Sau các dự án, diện tích đất nông nghiệp, đất rừng bị thu hẹp, người dânbuộc phải lựa chọn các loại hình sinh kế mới để duy trì và phát triển đời sống kinh

tế của tộc người mình

Vùng đất Sa Pa, gắn liền với thung lũng Mường Hoa có cảnh quan môitrường lý tưởng, thu hút sự chú ý của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch củaloại hình trecking, khách muốn tham gia các hoạt động tìm hiểu văn hóa cộng đồng.Xây dựng các công trình thủy điện ảnh hưởng không nhỏ đến cảnh quan, các di tích

Trang 9

và không gian du lịch cộng đồng của người dân nơi đây Các nhà hoạch định chínhsách và người đầu tư dự án chưa tính đến, chưa nhận ra được các ảnh hưởng tiêucực đến sinh kế của người dân, trả lời câu hỏi làm thế nào để đời sống người dânkhu vực dự án có thể duy trì cuộc sống ngang bằng hoặc tốt hơn khi chưa có dự ánthủy điện

Sau khi xây dựng các công trình thủy điện, ngoài việc đáp ứng năng lượng,đóng góp cho ngân sách quốc gia, việc xây dựng những chính sách đảm bảo cuộcsống của người dân khu vực có thủy điện là một yêu cầu cần thiết Đảm bảo đờisống người dân không chỉ là đảm bảo về kinh tế mà còn là đảm bảo và duy trì cáctruyền thống văn hóa của cộng đồng Đó là việc đảm bảo đời sống cho người dânkhi phải thích ứng với điều kiện tự nhiên môi trường mới, các nguồn lực sinh kế bịthu hẹp Khi các công trình thủy điện được xây dựng sẽ xảy ra tình trạng xung độttài nguyên: làm mất đi đất canh tác, thay đổi hệ thống thủy lợi, biến đổi cảnh quanmôi trường

Nhận thức về những tác động của thủy điện đến sinh kế của người dân Sa Pa

và mong muốn tìm hiểu sự thích ứng văn hóa của người dân sau khi môi trườngsống bị thay đổi là những lý do để người nghiên cứu muốn thực hiện đề tài nghiên

cứu “Tác động của thủy điện đến sinh kế của người dân ở Sa Pa: Nghiên cứu trường hợp một số dự án” làm luận văn thạc sĩ của mình.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu sự tác động của dự án thủy điện đến sự thay đổi trong sinh kế củangười dân khu vực dự án Tìm hiểu những xung đột môi trường, suy giảm tàinguyên, cụ thể là suy giảm đất canh tác, cảnh quan sinh thái, những biến đổi tronglối sống của người dân khi tiếp xúc với một phương thức lao động mới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu các sinh kế truyền thống của người dân Sa Pa, những hoạt độngkinh tế trong truyền thống của các tộc người Hmông, Dao, Tày Tìm hiểu cácphương thức canh tác và sinh nhai của người dân các tộc người ở đây

Trang 10

Tìm hiểu các dự án thủy điện và tác động của nó đến đời sống kinh tế củangười dân Tìm hiểu để so sánh được sự biến đổi sinh kế của người dân trước và saukhi có dự án.

Tìm hiểu sự thích ứng của người dân trong bối cảnh kinh tế mới với sự đadạng sinh kế, những sinh kế mới và lối sống mới trong văn hóa của người dân cácdân tộc trên địa bàn nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là sinh kế của người Hmông, Dao,Tày xã Bản Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai – những người trực tiếp chịu tác độngcủa các dự án thủy điện

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu thông qua các dự án thủy điện ở

Sa Pa, người nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu các công trình thủy điện xã Bản Hồ,huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Bởi vì nơi đây tập trung nhiều dự án thủy điện nhất (10công trình trên tổng số 75 công trình của toàn tỉnh) và là nơi các dân tộc Hmông,Dao, Tày tập trung đông và đại diện cho văn hóa Sa Pa

Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu thời gian từ năm 2006 đến nay

4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

- Bằng phương pháp nhân học đề tài nghiên cứu về biến đổi sinh kế củangười dân Sa Pa, cụ thể là người dân các dân tộc xã Bản Hồ, huyện Sa Pa từ năm

2006 đến nay

- Đề tài có giá trị làm tài liệu tham khảo, so sánh cho các công trình sau này

có hướng nghiên cứu về tác động của các dự án thủy điện tới sinh kế của người dân

ở khu vực miền núi

- Góp phần làm sáng tỏ chứng minh việc áp dụng một số khía cạnh của lýthuyết Nhân học: sinh thái văn hóa, sinh thái chính trị và xung đột tài nguyên trongviệc giải quyết các vấn đề thực tiễn về biến đổi sinh kế

Trang 11

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận văn hệ thống hóa các tác động của dự án thủy điện đến sinh kế củangười dân, đóng góp cơ sở để những nhà hoạch định chính sách đưa ra những chínhsách phù hợp cho các công trình thủy điện tại Sa Pa cũng như những chính sách hỗtrợ người dân trong khu vực dự án

- Gợi ý những mô hình thích hợp cho hoạt động sinh kế của người Dân saukhi thủy điện hoàn thành

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Thủy điện có những tác động như thế nào đến đến sinh kế của người dân

- Sự thích ứng của người dân các dân tộc Sa Pa như thế nào trong bối cảnhmới

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

Luận văn nghiên cứu và phân tích vấn đề sinh kế của người dân xã Bản Hồ,huyện Sa Pa trong mối quan hệ tổng thể với môi trường tự nhiên và môi trườngnhân văn trong bối cảnh trước và sau khi có thủy điện Những thành tố này có mốiquan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, cho thấy sự biến đổi môi trường sinh

kế cũng như cách thức sinh nhai đã dẫn đến sự thay đổi về mặt văn hóa

6.2 Phương pháp thu thập thông tin

6.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu

Luận văn có tham khảo, phân tích và kế thừa các nguồn tài liệu thứ cấp liênquan đến đề tài bao gồm các sách chuyên khảo, sách tham khảo để vận dụng các lýthuyết nhân học vào nghiên cứu; các công trình nghiên cứu đi trước, để tìm hiểu cáctác động thủy điện đến sinh kế người dân khu vực miền núi phía Bắc

Luận văn cố gắng thu thập các văn bản của UBND tỉnh, Sở Xây dựng, SởCông thương, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch,… để nắm bắt các quan điểm củanhà nước, của tỉnh đối với việc phát triển thủy điện vùng Sa Pa

Trang 12

Luận văn thu thập các chuyên khảo, các sách, các báo cáo kinh tế xã hội để

có thể tìm hiểu về sinh kế truyền thống, văn hóa các dân tộc, sự thay đổi trong sinh

kế của người dân

6.2.2 Phương pháp điền dã dân tộc học

Phương pháp điền dã dân tộc học là phương pháp chính, giúp tác giả luậnvăn tiếp cận đến vấn đề biến đổi sinh kế của người dân xã Bản Hồ, huyện Sa Pa,tỉnh Lào Cai Phương pháp này được tiến hành cụ thể như sau:

Quan sát tham gia: Tác giả luận văn thực hiện quan sát tham dự chủ yếu haithôn La Ve và thôn Bản Dền của xã Bản Hồ Trên địa bàn toàn xã và các khu vực cónhà máy thủy điện, tác giả quan sát tổng thể cảnh quan, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạtầng, các hoạt động sinh kế của người dân Các hoạt động sinh kế được quan sátqua: việc làm, đất đai, cảnh quan làng xóm, dòng suối, cây cầu, các loại cây trồng,vật nuôi, lương thực, mặt hàng kinh doanh, các tài sản trong nhà, các công cụ laođộng Quan sát môi trường nhân văn thông qua: sự phân công lao động, cách chitiêu, hoạt động đi lại, hoạt động văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng và tình hình trật tự xãhội Quan sát tại các địa điểm như nhà ở, vườn, ruộng, nương, sông suối, khu tổchức các hoạt động văn hóa như nhà văn hóa, sân vận động, các khu nhà trao đổibuôn bán Để người dân nơi đây có thể tự nhiên nhất khi có sự xuất hiện của tác giảluận văn tác giả làm quen với các thông tín viên là cán bộ phụ trách văn hóa xã hội,người già có uy tín, phụ nữ thôn, ăn ở tại nhà các đối tượng này như nhà người nhà,người thân quen nên những người dân khác không bị dè chừng

Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là việc tiến hành trò chuyệngiữa nhà nghiên cứu đối với đối tượng nghiên cứu được lặp đi lặp lại trong một thờigian dài nhằm thu nhận thông tin đến từ cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức củangười cung cấp thông tin thông qua cách tự thể hiện của họ Tôi sử dụng phươngpháp này bằng cách nói chuyện trực tiếp với những vị khách tới du lịch tại Bản Hồ,nói chuyện với người dân ở Bản Hồ Nhưng đối tượng để phỏng vấn sâu vẫn làngười dân ở Bản Hồ - những chủ thể của sinh kế Tác giả luận văn chọn nhữngthông tín viên là người dân bản địa tại xã Bản Hồ, là lãnh đạo địa phương, người

Trang 13

cao tuổi, người có uy tín, chủ các nhà nghỉ cộng đồng lâu năm, chủ các nhà nghỉcộng đồng mới mở, chủ cửa hàng tạp hóa và những người dân khác Họ là nhữngngười đã ở Bản Hồ lâu năm, am hiểu về kinh tế và văn hóa nơi đây Phỏng vấnngười dân nơi đây nhằm lấy các thông tin liên quan đến môi trường tự nhiên vànhân văn, mối quan hệ tộc người và đặc điểm cư trú tộc người, các nghề chính, thunhập của các hộ gia đình, ý kiến phản hồi của người dân về các công trình thủyđiện, ý kiến của người dân về sự thay đổi trong sinh kế cũng như là văn hóa nơi họsinh sống.

Phương pháp thảo luận nhóm: Ngoài phỏng vấn sâu từng đối tượng, ngườiviết luận văn sẽ tổ chức các buổi thảo luận nhóm gồm 4 đối tượng: những người bịảnh hưởng trực tiếp từ các công trình thủy điện, những người già làng có uy tín,nhóm yếu thế (phụ nữ) và nhóm chính quyền (cán bộ thôn xã) Đây là các cuộc thảoluận riêng biệt để lấy ý kiến của từng nhóm Trong các nhóm sẽ đầy đủ thành phần

là người Hmông, Dao, Tày Nội dung cuộc thảo luận xoay quanh việc các gia đình

có bị ảnh hưởng nhiều hay ít từ thủy điện, đất đai bị thu hồi như thế nào, có đồng ývới việc thu hồi đất hay không, cuộc sống của họ thay đổi thế nào, thu nhập chính từgia đình? Các dự án thủy điện có được thảo luận trong chính quyền thôn xã haykhông?

Ngoài các phương pháp trên, tác giả luận văn còn sử dụng các phương phápnhư:

Phương pháp phân tích – tổng hợp

Phương pháp mô tả

Phương pháp thống kê

7 Phương pháp xử lý tài liệu

Sau khi thu thập tài liệu, tác giả luận văn phân tích và so sánh sự biến đổi củasinh kế người dân xã Bản Hồ trước và sau khi có thủy điện Sau đó, người nghiêncứu mô tả và thống kê những số liệu cần thiết để minh họa cho sự biến đổi đó, làm

rõ sự biến đổi sinh kế và các vấn đề có liên quan

Trang 14

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, các danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn gồm có 3 chương chính như sau:

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ CƯ DÂN

Chương 3: CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN Ở BẢN HỒ

Chương 4: TÁC ĐỘNG CỦA CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN ĐẾN SINH KẾCỦA CÁC TỘC NGƯỜI KHU VỰC DỰ ÁN

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1 1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về sinh kế là hướng nghiên cứu được quan tâm trong nhân họcphát triển trong những thập kỷ gần đây tại Việt Nam Nghiên cứu về sinh kế ở cáccấp độ khác nhau giúp các nhà hoạch định chính sách có cách nhìn toàn diện vàhiệu quả hơn cho phát triển nông thôn cấp địa phương

Về sinh kế của người dân khu vực có các công trình thủy điện thì chủ yếucác nghiên cứu hướng về sinh kế của người dân tái định cư

Khu vực miền núi phía Bắc được đầu tư khá nhiều về thủy điện, các côngtrình thủy điện được xây dựng hầu khắp các tỉnh như Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai,Lạng Sơn,… Cũng đã có một số công trình nghiên cứu về tác động và ảnh hưởngcủa các dự án này, cụ thể như:

Nghiên cứu của các thành viên trong Mạng lưới sông ngòi Việt Nam đượctập hợp trong cuốn sách “Nghiên cứu tái định cư thủy điện ở Việt Nam thời kỳ đổi

mới” do Trần Văn Hà chủ biên, xuất bản năm 2011 đều khẳng định sự quan trọng

của các nguồn vốn xã hội Phương pháp nghiên cứu chính của các nghiên cứu này làphương pháp đánh giá nhanh (PRA); phương pháp đánh giá sinh kế có sự tham gia,phỏng vấn, phân tích, mô hình hóa… Kết quả nghiên cứu của hầu hết các tác giả đãchỉ ra rằng, việc mất đi nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai đã ảnhhưởng nghiêm trọng đến sinh kế của người dân sau tái định cư Các nghiên cứu nàyđều chỉ ra các nguồn lực sinh kế cũ đều bị suy giảm, hoặc nghiêm trọng hơn là bịphá hủy Do sinh kế bấp bênh, nên cuộc sống của người dân sau tái định cư rất khókhăn, tỷ lệ nghèo đói có nguy cơ tăng lên, và một loạt những vấn đề hệ lụy về mặt

xã hội, văn hóa, an ninh cũng được đặt ra Nhưng những khuyến nghị để ổn địnhcuộc sống, đặc biệt là khôi phục sinh kế cho người dân sau tái định cư mới chỉ xoayquanh việc củng cố và bồi đắp vốn tài chính, vốn tự nhiên và vốn vật chất Nguồnvốn con người và vốn xã hội chưa được quan tâm đúng mức để tạo ra sinh kế bềnvững

Trang 16

Nghiên cứu của Trần Văn Hà, Đan Tiếp Phúc (2013) “Ứng phó của các cộngđồng hạ lưu đập thủy điện Hòa Bình trong phát triển sinh kế bền vững dưới tácđộng của thay đổi môi trường sinh thái và nguồn nước sông Đà” đã sử dụng lýthuyết sinh thái học văn hóa để chỉ ra những tác động của đập thủy điện không chỉảnh hưởng đến cư dân phải di cư mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới dân vùng hạ lưuđập thủy điện Tác giả đã chỉ ra những tác động đến tiếp cận các nguồn vốn pháttriển sinh kế bền vững của cộng đồng: suy giảm nguồn tài nguyên, tài chính và vốnđất, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến nước sinh hoạt, giaothông đường thủy Công trình đã chỉ ra khả năng ứng phó của người dân vùng hạlưu như: đầu tư vào thâm canh và chăn nuôi, làm hàng thủ công, chăn nuôi thủy hảisản, ứng phó với nguồn nước là 2/3 số hộ đã sử dụng nguồn nước chảy trực tiếptrong tự nhiên, số còn lại dùng nước giếng khoan, giếng đào, để sản xuất ngoàinước tự nhiên thì còn phải bơm nước từ sông Đà

Chuyên khảo Phạm Quang Hoan chủ biên (2012) "Văn hóa các tộc ngườivùng lòng hồ và vùng tái định cư thủy điện Sơn La" với 1071 trang in và nhiều ảnh

tư liệu đã nêu ra một số vấn đề nổi cộm về môi trường, xã hội và văn hóa của tộcngười Những đặc trưng văn hóa truyền thống của các tộc người được nhận diện rõ

ở cả 3 khía cạnh: văn hóa vật chất, văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần Từ các kết quảnghiên cứu trên, các tác giả đã đưa ra các quan điểm, giải pháp để đẩy mạnh sảnxuất, ổn định đời sống, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cáctộc người vùng lòng hồ và vùng tái định cư thủy điện Sơn La theo hướng phát triển

Luận án tiến sĩ “Biến đổi sinh kế của người Mường vùng lòng hồ thủy điệnHòa Bình – nghiên cứu trường hợp xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình”của Trịnh Thị Hạnh (2017) đã nghiên cứu sự biến đổi của môi trường sinh kế, quátrình biến đổi sinh kế và sự biến đổi một số nét văn hóa và thiết chế xã hội thôngqua một số phương pháp định tính và định lượng Tác giả đã đi sâu phân tích hailoại hình di cư theo kiểu “di vén” và “lập làng mới” và khẳng định được rằng táiđịnh cư là một quá trình thích ứng văn hóa, và nguồn vốn xã hội là một mấu chốttrong quá trình tái định cư và sự biến đổi sinh kế Tác giả dùng lý thuyết gián đoạn

Trang 17

tâm lý xã hội, lý thuyết sinh kế bền vững và lý thuyết vốn xã hội để tập trung phântích làm rõ các mô hình tái định cư, các kiểu thích ứng với xã hội và môi trườngmới của các cộng đồng bị buộc phải rời bỏ nơi ở cũ để thích ứng vào điều kiện sốnghoàn toàn mới sau tái định cư Nghiên cứu này cho thấy những nghiên cứu trướcđây thường quan tâm phân tích tầm quan trọng của nguồn vốn vật chất mà bỏ quanguồn vốn xã hội Nghiên cứu chỉ ra rằng vốn xã hội (chủ yếu quan hệ gia đình,dòng họ, làng xóm, thân hữu và quan hệ với thế giới siêu nhiên) cũng đóng vai tròquan trọng trong việc phục hồi sinh kế cho người dân sau tái định cư và là nhữngnhân tố quan trọng để đạt được sinh kế bền vững Vốn xã hội phải được xem xétcùng với nguồn vốn vật chất, vì nó quyết định khả năng tiếp cận và cách thức màngười ta sử dụng vốn vật chất như thế nào để đạt được sinh kế bền vững Luận áncũng đã chỉ ra rằng, các chính sách của nhà nước dành cho tái định cư là rất nhiềunhưng không nắm được vốn xã hội nên không đạt kết quả như mong muốn Tuynhiên, địa bàn Sa Pa nói chung, xã Bản Hồ nói riêng, thì việc xây dựng các côngtrình thủy điện đã ảnh hưởng không nhỏ đến vốn vật chất (tài nguyên thiên nhiên,đất đai, sông suối, thắng cảnh), làm thu hẹp các điều kiện sinh kế của các công đồng

cư dân vốn có nền kinh tế truyền thống và kinh tế du lịch rất ổn định và phát triển

Vì vậy, trong luận văn này, tác giả đi sâu vào tác động của thủy điện lên môi trường,lên các điều kiện sinh kế của người dân

Công trình nghiên cứu “Giải pháp thực hiện công tác di dân, tái định cư thủyđiện Sơn La” của tác giả Nguyễn Viết Hoàng (2009) là công trình nghiên cứu dựatrên cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học để đưa ra nguyên nhân, thực trạng công tác didân của thủy điện Sơn La, từ đó đề ra giải pháp cho việc di dân tái định cư Côngtrình mới là bước đầu nên chủ yếu là mô tả mà chưa đi vào phân tích các nguyênnhân cụ thể và vấn đề văn hóa xã hội khi thực hiện di dân Công trình đã đưa ra một

số giải pháp cụ thể để giúp sớm ổn định đời sống của người dân bị thu hồi đất vàđiều chỉnh phương pháp, cách thức đền bù giúp ổn định đời sống nhân dân

Công trình “Tái định cư, nghèo đói và đấu tranh: Sự vận hành của vốn xã hộitrong quá trình tái định cư của người Dao tại thủy điện Tuyên Quang (Nghiên cứu

Trang 18

trường hợp tại địa bàn xã Lang Quán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang)” của HàThị Kiều Anh (2018) đã áp dụng lý thuyết vốn xã hội và hành vi tập thể và cácphương pháp bảng hỏi, phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận nhóm, quan sát tham dự

để nêu lên những vấn đề, những khó khăn tồn đọng của công tác tái định cư thủyđiện Tuyên Quang Tác phẩm đã phân tích những điều kiện tự nhiên, quá trình hìnhthành xã Lang Quán, tình hình công tác di dân tái định cư: Chất lượng nguồn laođộng kém, thiếu việc làm gia tang, thiếu nước sinh hoạt, thiếu đất sản xuất nhưruộng, vườn rừng, thổ cư Tác giả đã chỉ ra, người dân vùng tái định cư đã biết sửdụng vốn xã hội để giải quyết vấn đề còn tồn đọng này Vì nghiên cứu đi sâu vàoliệt kê và giải quyết các vấn đề xã hội, những hành vi tập thể, những kiện cáo và vaitrò của người đứng đầu nên vẫn chưa nêu được những suy thoái môi trường, nhữngvấn đề sinh kế của người dân cũng như những vấn đề về sự biến đổi văn hóa nơiđây

Các công trình nghiên cứu về các dân tộc Hmông, Dao, Tày liên quan đếnsinh kế cũng có khá nhiều

Trong Tạp chí Các khoa học về trái đất, Số 35 năm 2013 (342-348) có đăng

“Tác động của thiên tai đến sinh kế các dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai” của tác giảĐào Thị Lưu, Lê Văn Hương, đã áp dụng khung sinh kế bền vững để phân tích cáctác động tiêu cực của thiên tai lên đời sống của người dân các dân tộc thiểu số tỉnhLào Cai Tuy nhiên, công trình mới dừng ở mức thống kê và đánh giá đến các thiệthại mà thiên tai đã gây ra Công trình đã nêu được một số sinh kế truyền thốngnhưng lại chưa đưa ra sự biến đổi sinh kế mà chỉ dừng lại ở thống kê thiệt hại

Bài “Tri thức địa phương trong sử dụng thuốc Nam của người Dao đỏ” củatác giả Trần Thị Hồng Hạnh đăng trên Tạp chí Dân tộc học số 5 (2002) đã nêu lêntập quán lấy thuốc nam chữa bệnh cho các thành viên trong gia đình và các thànhviên khác trong làng bản, là tập quán từ lâu đời của người Dao Tuy nhiên, sau khi

có du lịch thì nghề lấy thuốc nam trở thành một sinh kế, mà trong khuôn khổ tácphẩm này chưa đề cập đến Tác phẩm đi sâu và khai thác tri thức dân gian mà chưakhai thác các vấn đề biến đổi trong sinh kế của người dân tộc Dao

Trang 19

Trần Bình (2001), (2005) đã công bố hai công trình nghiên cứu về sinh kếngười dân các dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc và Đông Bắc Tác giả khẳng địnhhoạt động kinh tế là một thành tố của văn hóa tộc người, tri thức trong sản xuất làmột bộ phận trong hệ thống giá trị văn hóa tộc người Nghiên cứu hoạt động kinh tếcủa các tộc người có thể giúp tìm hiểu những đặc điểm phát triển kinh tế, xã hộichung nhất của vùng và đó là cơ sở để xây dựng và hoạch định các chủ trươngchính sách phát triển kinh tế, phát triển tiềm năng, thế mạnh của tộc người cụ thể, từ

đó đảm bảo sinh kế bền vững Tuy nhiên, công trình đậm tính chất khảo tả và chỉnêu lên các hoạt động sinh kế truyền thống của các dân tộc Thái, Xinh mun, Si La,

Hà Nhì, Cơ Lao, Sán Chay, Dao, Tày mà chưa nêu được những thay đổi về sinh kếtrong thời kỳ mới, các dân tộc trong chuyên khảo chưa có dân tộc dân số đông nhưHmông

Nguyễn Trường Giang (2011), “Ruộng bậc thang ở Việt Nam: Bảo tồn vàphát triển bền vững” là chuyên khảo nghiên cứu về quá trình khai khẩn, canh tácruộng bậc thang, các nghi thức, tín ngưỡng liên quan trong quá trình khai khẩn vàcanh tác ruộng bậc thang Đây là một hình thức sinh kế truyền thống của dân tộcHmông, Dao ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Nhưng nó không chỉ là một loại hình,một phương thức canh tác mà còn là một sự sáng tạo phi thường, một biểu tượngvăn hóa thể hiện sự thích ứng của con người (người Hmông, người Dao) với tựnhiên Tác giả đã nhấn mạnh đến việc bảo tồn các giá trị và phát huy các lợi thế giátrị của ruộng bậc thang đối với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển dulịch Tác giả sử dụng thuyết sinh thái nhân văn và khẳng định ruộng bậc thang là sựthích ứng hài hòa giữa tự nhiên và con người, là những giá trị không tách rời vớingười nông dân

Nghiên cứu “Biến đổi sinh kế của người Hmông ở xã Bản Lầu, huyệnMường Khương, tỉnh Lào Cai” của Lục Thị Yến (2015) là một trong những tácphẩm hiếm hoi khi nghiên cứu cụ thể việc biến đổi sinh kế của người Hmông khuvực Lào Cai Tuy nhiên, đây là nghiên cứu về biến đổi sinh kế của người Hmông tạiđịa bàn một xã vùng biên giới, từ “vùng đất trắng” khó khăn nghèo đói trở thành

Trang 20

một khu vực có kinh tế no đủ Sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững, tác giả đãđánh giá các tác động của các loại nguồn vốn (xã hội, tự nhiên, vật chất, tài chính,con người) lên sinh kế của người dân

Nghiên cứu “Biến đổi sinh kế người Tày ở thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh,huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn từ Đổi mới đến nay” của tác giả Phạm Thị Thu Hà(2013) đã nghiên cứu trường hợp người Tày ở một thôn biên giới sau khi bị thu hồiđất đai, người Tày đã phải thích ứng với điều kiện sinh kế mới, thay đổi phươngthức trong sinh kế truyền thống, và xuất hiện những sinh kế mới như lao động làmthuê, buôn bán, dịch vụ,…

Sinh kế của người Dao có những nghiên cứu về sự chuyển đổi kinh tế củangười Dao từ tự cung tự cấp sang kinh tế thị trường tác giả Bùi Minh Hào (2014,

2016, 2018) đã trình bày sự thay đổi của nền kinh tế truyền thống của người Dao ở

Tả Phìn trước quá trình đô thị hóa, kinh tế chuyển hướng sang kinh tế thị trường,sản xuất hàng hóa Nghiên cứu đã chỉ ra sự chuyển đổi kinh tế của người Dao chính

là quy luật tất yếu nhưng với trường hợp ở Tả Phìn, Sa Pa thì có những yếu tố tácđộng cụ thể: do chính sách và đường lối phát triển kinh tế - xã hội miền núi củaĐảng và Nhà nước, do sự phát triển của du lịch và do các yếu tố văn hóa xã hội tộcngười Nghiên cứu đã đặt người Dao làm chủ thể chủ động trong việc thích ứng vớitình hình mới nhưng do một số hạn chế về trình độ học vấn, giới tính, độ tuổi nênnền kinh tế sản xuất hàng hóa vẫn mang tính chất manh mún, yếu ớt, thiếu tiềm lựccạnh tranh Tác giả đã khéo léo sử dụng lý thuyết vốn văn hóa để giải thích cho sựthích ứng với nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa của người Dao ở Sa Pa

Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Huệ (2004) “Tác động của du lịch lên đờisống một số tộc người ở Sa Pa Lào Cai” đã nghiên cứu tác động của du lịch lên haitộc người Hmông, Dao ở 4 xã San Xả Hồ, Lao Cải, Tả Van, Tả Phìn và thị trấn Sa

Pa Nghiên cứu này đã đặt người dân làm khách thể bị động trước làn sóng du lịch,trước tình thế phát triển của du lịch, người dân tham gia vào du lịch chứ chưa đặtngười Hmông, người Dao là chủ thể, chủ động tham gia vào hoạt động kinh doanhhay tiếp cận thị trường, tự kiếm cơ hội và sinh kế mới

Trang 21

Tất cả các nghiên cứu trên đều nghiên cứu các trường hợp tái định cư khi xâydựng các công trình thủy điện và đều nghiên cứu ở các trường hợp Thủy điện ở cácđịa phương như: Tuyên Quang, Sơn La, Hòa Bình,… mà chưa có một công trìnhnghiên cứu vấn đề sinh kế của người dân Sa Pa, tỉnh Lào Cai dưới tác động củathủy điện Hơn nữa, vùng thủy điện Sa Pa có một đặc thù là không có các chươngtrình tái định cư đi kèm Điều này cũng là nét riêng biệt về địa hình, điều kiện môitrường tự nhiên nơi đây Hơn nữa, đây là khu vực du lịch cấp quốc gia nên cần được

quan tâm hơn Vì vậy, tác giả luận văn đã chọn đề tài “Tác động của thủy điện đến sinh kế của người dân Sa Pa: Nghiên cứu trường hợp một số dự án” và địa bàn

khảo sát tại xã Bản Hồ - nơi tập trung nhiều nhất các công trình thủy điện

1.2 Cơ sở lý luận

Biến đổi văn hoá đã được đề cập đến trong các khoa học xã hội như một chủ

đề trọng tâm của thế kỷ XX và XXI Các nghiên cứu nhân học cho thấy xã hộikhông là một khối đồng nhất và bất biến mà là một tổng thể đa dạng, chứa đựngnhiều yếu tố, luôn vận động và thay đổi, hàm chứa nhiều yếu tố thống nhất nhưngcũng mâu thuẫn và xung đột Văn hóa cũng vậy, không tĩnh tại mà luôn biến đổi, đadạng và nhiều mâu thuẫn Theo nhà nhân học diễn giải Clifford Geertz, văn hóakhông chỉ bao gồm những hành vi, thực hành mà còn chứa đựng những ý tưởngđược chia sẻ giữa các thành viên trong cộng đồng và nhưng ý tưởng này sẽ khơi gợi

và kích thích các thực hành Điều quan trọng là các hành vi và ý tưởng này đượcdiễn giải như thế nào và theo quan điểm của ai

Các lý thuyết về biến đổi văn hóa được phát triển tương đối sớm và đã chứngkiến những biến đổi lớn trong lịch sử của ngành nhân học Từ quan điểm Tiến hóaluận (phát triển thế kỷ 18 – 19) đến các quan điểm Tương đối văn hóa (thế kỷ 20),ngành nhân học đã trải nghiệm nhiều cách tiếp cận văn hóa tộc người Nhưng dùbằng cách tiếp cận nào thì nhân học cũng tiếp cận tộc người như một hệ thống cấutrúc tổng thể gồm nhiều thành tố và các thành tố này luôn tác động và chi phối lẫnnhau Mỗi sự thay đổi của các yếu tố môi trường, tự nhiên và xã hội cũng như sự

Trang 22

can thiệp của các chính sách đều có tác động đến các thành tố đó và văn hóa tộcngười một cách tổng thể

Trong Luận văn này, tác giả sử dụng lý thuyết sinh thái văn hóa và sinh tháichính trị, xung đột tài nguyên và suy thoái môi trường để tiếp cận sự biến đổi củasinh kế các dân tộc Sa Pa (đại diện là người Hmông, Dao, Tày) sau khi có các dự ánthủy điện

1.2.1 Thuyết Sinh thái văn hóa

Khi nghiên cứu về văn hóa tộc người, một trong những lý thuyết hết sứcquan trọng đó là thuyết sinh thái học văn hóa Lý thuyết sinh thái học văn hóa(cultural ecology) này xuất hiện vào giữa những năm 1950 và phát triển mạnh mẽvào những năm 1960 với người khởi xướng là Julian Haynes Stewart (1902-1972).Công trình Các nhóm chính trị xã hội thổ dân vùng thung lũng – cao nguyên (Basin– Plateau Aboriginal Sociopolitical Groups) xuất bản năm 1938 của ông đã thể hiệnkhá đầy đủ lý thuyết về sinh thái học văn hóa Nhưng cho đến tận năm 1955, ôngmới cho xuất bản công trình Lý thuyết về biến đổi văn hóa – Phương pháp luận vềtiến hóa đa hệ (Theory of Culture Change – The Menthodology of MultilinearEvolution) Ông phê phán thuyết tiến hóa đơn hệ của Morgan và thuyết tiến hóachung của L.White Ông quan tâm đến các nền văn hóa khác xa nhau về địa lý vàtheo ông, mỗi nền văn hóa có cách tiến hóa khác nhau tùy thuộc vào những đặc thùcủa nền văn hóa đó Ông đã tiến hành nghiên cứu so sánh các cách tiến hóa củanhiều nền văn hóa qua quá trình phát triển của lịch sử mỗi nền văn hóa Đặc biệt,ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của môi trường trong sự biến đổi mang tính tiếnhóa của văn hóa Ông còn cho rằng những nền văn hóa ở những khu vực địa lý khác

xa nhau mà giống nhau là do chúng có môi trường giống nhau và phương pháp khaithác môi trường giống nhau [9,tr.23]

Hệ thống lý thuyết này chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa môi trường tự nhiên

và văn hóa, môi trường tự nhiên là cơ sở cho sự hình thành các mô hình văn hóakhác nhau Theo đó, sự biến đổi văn hóa chính là kết quả của việc thích ứng của nềnvăn hóa với sinh thái địa phương và chúng ta có thể dự đoán được xu hướng biến

Trang 23

đổi của một nền văn hóa có sự gắn kế chặt chẽ với điều kiện môi trường tự nhiên.Điều này càng dễ dự đoán ở trong một nền văn hóa của các xã hội tự cấp tự túc.Tiếp cận sinh thái học văn hóa cũng giúp chúng ta lý giải được sự khác nhau về vănhóa giữa các vùng miền hay sự tiếp biến hoặc đồng quy văn hóa.

Trong tác phẩm “Sinh kế nơi biên cương: Sự thích ứng của người Hmông ởvùng biên giới Việt – Trung” của tác giả Sarah Turner và Jeah Michaud đã sử dụngthuyết sinh thái văn hóa để lý giải việc thích ứng của người dân tộc Mông vùng biêngiới Việt – Trung với các điều kiện khắc nghiệt của địa phương Tuy nhiên việcthích ứng này chỉ dừng lại ở mức độ đảm bảo đời sống chứ chưa phải là làm giàu

Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả muốn vận dụng thuyết sinh thái họcvăn hóa để lý giải: Môi trường sống của các dân tộc (Hmông, Tày, Dao) có sự biếnđổi sau khi xuất hiện các dự án thủy điện, các điều kiện về sinh kế bị thu hẹp dẫnđến sự thích ứng về sinh kế của các dân tộc, thay đổi các sinh kế truyền thống vàxuất hiện những sinh kế mới

1.2.2 Lý thuyết Sinh thái chính trị nhấn mạnh đến xung đột tài nguyên

Xu thế gia tăng của xung đột tài nguyên với suy thoái môi trường đã thúcgiục các nhà nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên

và các cộng đồng địa phương Sinh thái chính trị (political ecology) đã trở thành lýthuyết phân tích có ảnh hưởng lớn đến việc lý giải mối quan hệ này Theo Peet vàWatts (1966), thuyết sinh thái chính trị ra đời từ những năm 1970 như là sự kết hợpgiữa kinh tế chính trị và sinh thái văn hóa Theo sinh thái chính trị thì cách tiếp cậncủa sinh thái văn hóa là tính thích ứng và sự ổn định của văn hóa địa phương vớimôi trường xung quanh không thực sự còn phù hợp Theo cách tiếp cận của sinhthái chính trị thì các tác phẩm sử dụng lý thuyết sinh thái văn hóa, tiêu biểu như

“Lợn dành cho tổ tiên” của Roy Rappaport, chỉ tập trung vào các mối quan hệ giữacon người và môi trường ở cấp độ địa phương mà không đặt vào bối cảnh kinh tếchính trị và xã hội rộng lớn hơn – bị chỉ trích là đã tạo điều kiện cho sự “ngu dốt”

và “phi lý” của người dân địa phương và là nguyên nhân chính của sự suy thoái môitrường toàn thế giới [9,tr.24]

Trang 24

Hai công trình sử dụng cách tiếp cận sinh thái chính trị sớm nhất là ThePolitical Ecology of Soil Erosion in Developing Countries (Sinh thái chính trị về sựxói mòn đất ở các nước đang phát triển) của Piers Blaikie (xuất bản năm 1985) vàLand Degradation anh Society (Suy thoái đất và xã hội) của Piers Blaikie và HaroldBrookfield (Xuất bản năm 1987) Cả hai đã tập trung vào việc phân tích xung độttài nguyên và suy thoái môi trường bằng cách đặt các mối quan hệ giữa con người

và sinh thái trong bối cảnh kinh tế, lịch sử và chính trị của khu vực và thế giới Sựsuy thoái đó là do sức ép kinh tế - xã hội và chính trị lên vai của những người quản

lý và sử dụng đất ở địa phương sau đó chuyển sức ép này lên môi trường xungquanh họ mà không phải suy thoái đất đai, gia tăng dân số, nghèo đói, sự ngu dốthay các thực hành không duy lý của các cộng đồng tộc người ở địa phương Vì vậy,nghiên cứu suy thoái môi trường là cách tiếp cận “kết hợp giữa các mối quan tâm vềsinh thái và nền kinh tế chính trị được hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này” và nóbao hàm rộng hơn sự biện chứng giữa xã hội và nguồn tài nguyên thiên nhiên tạichỗ và ở trong các nhóm, giai cấp của xã hội.[9,tr.25]

Từ sau hai tác phẩm này có càng nhiều các tác phẩm sử dụng cách tiếp cậnsinh thái chính trị Các tác giả đã quan tâm hơn đến việc tiếp cận vấn đề cần kết nối

ba lực kinh tế, chính trị và xã hội là: Thứ nhất là nguồn lực mang tính bối cảnh, tức

là chính sách các quốc gia, liên quốc gia, và chủ nghĩa tư bản toàn cầu; Thứ hai làvấn đề xung đột xã hội về quản lý và tiếp cận nguồn tài nguyên giữa các nhóm yếuthế để tìm kế sinh nhai; Thứ ba là hướng tới việc tìm hiểu môi trường ảnh hưởngnhư thế nào đến các quan hệ kinh tế - xã hội và chính trị giữa các nhóm xã hội

Ở cấp quản lý cộng đồng, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu hệ quảsinh thái của các mâu thuẫn giữa các cộng đồng cư dân bản địa với các cơ quanquản lý tài nguyên của nhà nước Và cũng xem xét các mối quan hệ năng độngkhông chỉ giữa nhà nước và các cộng đồng địa phương mà còn chính giữa các cơquan nhà nước, giữa các giai tầng xã hội ở nông thôn trong cuộc tranh giành tựnhiên

Trang 25

Escobar đã phát triển khung sinh thái chính trị riêng mình và đặt tên là “hậucấu trúc sinh thái chính trị” Thuyết này đưa ra một sự hiểu biết về các nền văn hóakhác nhau và hệ tư tưởng khác nhau tạo ra và định hình tri thức và ý nghĩa tự nhiên

để thỏa mãn mục đích của các bên liên quan như thế nào Các cuộc xung đột về tàinguyên không chỉ đơn thuần là các cuộc tranh giành trong lĩnh vực sản xuất màchúng còn là các cuộc tranh giành lên quan đến biểu tượng và ý nghĩa văn hóa củacác chủ thể hành động khác nhau.[9,tr.28]

Trong giới hạn của Luận văn, tác giả dùng lý thuyết sinh thái chính trị vàxung đột tài nguyên để soi sáng và lý giải cụ thể: Sinh kế và văn hóa của các cộngđồng dân tộc Sa Pa (cụ thể là người Hmông, Tày, Dao) bị thay đổi không chỉ là domôi trường thay đổi, điều kiện sinh kế thu hẹp mà điều này còn nằm trong tổng thểmối quan hệ giữa chính trị (các chính sách của nhà nước, của tỉnh) với môi trường

và sự thích ứng về sinh kế của người dân Là mối quan hệ tổng hòa và qua lại của 3vấn đề này Luận văn dựa trên những chính sách (Chủ trương, chính sách, quyếtđịnh của nhà nước, của tỉnh) về các dự án thủy điện, những hệ quả về môi trườngsau khi những chính sách đó được thực thi và phản ứng của người dân về nhữngchính sách đó, sự thích ứng về sinh kế của họ sau khi những chính sách được thựcthi

Tiểu kết chương 1

Sinh kế nói chung và ảnh hưởng của thủy điện đến sinh kế của người dân nóiriêng là hướng nghiên cứu được nhiều ngành khoa học quan tâm trong thời gian gầnđây Các nghiên cứu về thủy điện ở Việt Nam hầu hết đi vào nghiên cứu ảnh hưởngtới sinh kế của người dân tái định cư, chưa có công trình nào khai thác đối tượngkhông tái định cư nhưng môi trường sinh kế bị thu hẹp Các nghiên cứu về thủyđiện tại Lào Cai đặc biệt vùng Sa Pa, các tác động của thủy điện đến sinh kế củangười dân Sa Pa chưa có

Trong khuôn khổ chương này, luận văn đã trình bày cụ thể các phương phápnghiên cứu Các thông tin nghiên cứu định tính được thu thập qua các phương phápđiền dã dân tộc học, quan sát tham gia, phỏng vấn sâu Tác giả chú trọng phương

Trang 26

pháp điền dã, phỏng vấn sâu để lượng hóa và tìm ra sự thay đổi trong chính nội tại

từ phía người dân Những tài liệu, số liệu của chính quyền phục vụ cho việc đánhgiá các quan điểm của chính quyền, của những người làm chính sách, từ đó đánhgiá được sự ảnh hưởng của chính sách đến sinh kế của người dân

Các lý thuyết nghiên cứu sinh thái văn hóa, sinh thái chính trị, xung đột tàinguyên giúp soi sáng những nguyên nhân và sự biến đổi sinh kế của người dân Sa

Pa nói chung, của nhân dân các dân tộc Hmông, Dao, Tày xã Bản Hồ nói riêng

Trang 27

Chương 2: ĐỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ CƯ DÂN BẢN HỒ, SA PA

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Đặc điểm sinh thái vùng Sa Pa

Huyện Sa Pa có 17 xã và một thị trấn Thị trấn Sa Pa là trung tâm huyện lỵnằm cách thành phố Lào Cai 35km về phía Tây Nam Nằm trên trục quốc lộ 4D từLào Cai đi Lai Châu, Sa Pa là cửa ngõ giữa hai vùng đông bắc và tây bắc

* Địa hình

Sa Pa có địa hình đặc trưng của miền núi phía Bắc, độ dốc lớn, trung bình từ

35 - 400, có nơi có độ dốc trên 450, địa hình hiểm trở và chia cắt phức tạp Nằm ởphía Đông của dãy Hoàng Liên Sơn, Sa Pa có độ cao trung bình từ 1.200m đến1.800m, địa hình nghiêng và thoải dần theo hướng Tây - Tây Nam đến Đông Bắc.Điểm cao nhất là đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143m và thấp nhất là suối Bo cao 400m

so với mặt biển

* Khí hậu thời tiết

Sa Pa nằm sát chí tuyến trong vành đai Á nhiệt đới Bắc bán cầu, có khí hậu

ôn đới lạnh với hai mùa điển hình Mùa hè mát mẻ, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng

10 hàng năm, mùa đông lạnh giá, ít mưa kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4năm sau

Do ảnh hưởng của các yếu tố địa hình, địa mạo phức tạp, bị chia cắt mạnh vàvới vị trí địa lý đặc biệt nên khí hậu Sa Pa có các đặc trưng cơ bản sau:

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm là 15,40C, nhiệt độ trung bình từ 18

- 200C vào tháng mùa hè, vào các tháng mùa đông 10 - 120C Nhiệt độ tối cao tuyệtđối 330 C vào tháng 4, ở các vùng thấp Do đặc điểm địa hình của các khu vực khác

Trang 28

nhau nên tạo ra các vùng sinh thái khác nhau và có nhiệt độ khác nhau trong cùngmột thời điểm.

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối bình quân hàng năm từ 85 - 90%, độ

ẩm thấp nhất vào tháng 4 khoảng 65% - 70%

- Lượng mưa: Tổng lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 2.762 mm, cao

nhất 3.484 mm và phân bố không đều qua các tháng; mưa cũng phụ thuộc vào địahình từng khu vực, càng lên cao mưa càng lớn Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đếntháng 10, chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm

- Gió: Sa Pa có hai hướng gió chính và được phân bố theo hai mùa, mùa hè

có gió Tây và Tây Bắc, mùa đông có gió Bắc và Đông Bắc Với địa hình đồi núiphức tạp và nằm sâu trong lục địa, Sa Pa ít chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa màchủ yếu là gió địa hình diễn ra cục bộ theo từng khu vực, tốc độ gió trung bình đạt2,2 m/s, mạnh nhất có thể lên tới 19,7 m/s Ngoài ra huyện Sa Pa còn chịu ảnhhưởng của gió Ô Quí Hồ (gió địa phương) cũng rất khô nóng, thường xuất hiện vàocác tháng 2, 3, 4

Do địa hình cao, chia cắt phức tạp, phía Tây và Tây Nam được dãy HoàngLiên Sơn bao bọc, khí hậu Sa Pa có những nét điển hình riêng và phân chia thànhhai vùng khí hậu là vùng cao và vùng thấp, tạo nên sự đa dạng về sản xuất nông lâmnghiệp Khí hậu Sa Pa mát mẻ và trong lành là nơi nghỉ mát lý tưởng của khách dulịch trong và ngoài nước Tuy nhiên các hiện tượng tuyết rơi, băng giá, mưa đá,sương muối cũng ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Trang 29

- Hệ thống suối Bo có chiều dài khoảng 80km, bắt nguồn từ các núi cao phíaNam dãy Hoàng Liên Sơn với diện tích lưu vực khoảng 578km2 chạy dọc theo sườnphía Tây và Tây Nam của dãy Hoàng Liên Sơn gồm các xã San Sả Hồ, Lao Chải,

Tả Van, Bản Hồ, Nậm Sài, Thanh Phú, Hầu Thào, Thanh Kim và Bản Phùng

Các suối hầu hết có lòng hẹp, dốc, thác ghềnh nhiều, lưu lượng nước thấtthường và biến đổi theo mùa, mùa mưa thường có lũ lớn với dòng chảy khá mạnh(suối Bo 989m/s) dễ gây nên các hiện tượng lũ ống, lũ quét, nhất là đối với vùngthấp Mùa khô các suối thường cạn [13,tr.43-55]

2.1.2 Đặc điểm sinh thái xã Bản Hồ

* Vị trí địa lý:

Bản Hồ là xã miền núi vùng cao, nằm ở phía Đông Nam cách trung tâmhuyện lỵ khoảng 23,0 km, có tổng diện tích tự nhiên là: 11.531,09 ha Phía Bắcgiáp: xã Sử Pán, xã Thanh Kim; phía Nam giáp: huyện Văn Bàn và tỉnh Lai Châu;phía Tây giáp: xã Tả Van; phía Đông giáp: xã Nậm Sài, xã Thanh Phú

* Địa hình, địa mạo

Xã Bản Hồ xung quanh được bao bọc bởi nhiều dãy núi cao trùng điệp củadãy núi Hoàng Liên Sơn, tạo ra khu trung tâm xã như một lòng chảo Địa hình của

xã chia cắt phức tạp gồm nhiều dãy núi cao nối tiếp nhau Độ cao trung bình từ1.000m đến 1.200m so với mặt nước biển có đỉnh cao nhất là 2.724m và thấp nhất

là 340m, độ dốc lớn, dốc trung bình 250 – 300, có nhiều suối lớn nhỏ đều chảy đổ rasuối Mường Hoa qua trung tâm xã

Địa hình xã Bản Hồ được chia thành 3 khu vực:

Khu vực phía Bắc là địa hình núi đá xen núi đất, độ cao bình quân 900 –1000m, có độ dốc lớn Nhưng riêng ở khu vực đầu dốc thì lại địa hình tương đốibằng phẳng

Khu vực trung tâm xã có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình

từ 300m có độ dốc ≥ 150

Trang 30

Khu vực phía Tây và phía Nam có xen lẫn núi đá, địa hình dốc, phức tạp,hiểm trở, có độ cao trung bình từ 1.300 – 1700m so với mặt nước biển, có độ dốclớn ≥ 400, thấp nhất 150.

Do điều kiện địa hình của xã chia cắt phức tạp, độ dốc cao, diện tích tự nhiêncủa xã rộng, việc khai thác sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp gặpkhó khăn

* Khí hậu, thời tiết

Xã Bản Hồ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt,mùa hè mát, mùa mưa tập trung vào tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, mùa đông kéodài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lạnh giá có nhiều sương mù và mưa phùn giárét, có sương muối, mù ở một số thôn bản

Do ảnh hưởng của địa hình chia cắt, khí hậu của xã Bản Hồ có đặc trưng sau:+ Nhiệt độ không khí bình quân năm 160C Nhiệt độ tối cao là 350C, nhiệt độtối thấp là 20C

+ Lượng mưa trung bình năm khoảng 2.700 mm/năm

+ Độ ẩm không khí trung bình năm là 90%

Với nền nhiệt độ thấp, lượng mưa lớn, nhìn chung điều kiện khí hậu, thời tiếtrất phù hợp cho việc phát triển các loại cây trồng nông, lâm nghiệp và một số câytrồng khác Tuy nhiên còn có các hiện tượng băng giá, sương muối cũng ảnh hưởngtrực tiếp đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

* Sông suối, thủy văn

Nằm trong lưu vực của hệ thống 3 suối chính là suối Mường Hoa, suối SéoChung Hồ, suối Tả Chung Hồ, ngoài ra nhiều khe suối nhỏ đều chảy đổ ra suốiMường Hoa Đây chính là nguồn nước chính cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt củanhân dân trong xã

Tiềm năng nước ngầm của xã nhiều nhưng chưa khai thác vào sinh hoạt vàsản xuất mà chỉ khai thác nước mặt như các suối lớn, nhỏ…

* Các nguồn tài nguyên

- Tài nguyên đất

Trang 31

Qua khảo sát thực địa kết hợp kết quả điều tra trước đây xác định xã Bản Hồgồm có các loại đất chính sau:

Đất Feralit mùn trên núi cao 1.500 – 1700m, tầng đất trung bình dày từ 70 –100cm, thành phần cơ giới thịt nhẹ, xốp

Đất Feralit vàng đỏ trên núi từ 850 – 1.500m, tầng đất dày trung bình từ 40 –60cm, thành phần cơ giới thịt nhẹ, cát pha

Nhóm đất Feralit đỏ vàng và đất do sản phẩm dốc tụ tạo thành, có độ phì cao,thành phần cơ giới trung bình Nhóm đất này rất phù hợp cho sản xuất về nôngnghiệp – công nghiệp

Nhìn chung đất đai xã Bản Hồ phù hợp với nhiều loài cây trồng, nôngnghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, dược liệu…

- Tài nguyên rừng

Xã Bản Hồ có 10.344,01 ha đất lâm nghiệp; chiếm 89,71% diện tích tựnhiên, trong đó rừng sản xuất có 270 ha, chiếm 2,61% diện tích đất lâm nghiệp;rừng đặc dụng có 10.074,01 ha, chiếm 97,39% diện tích đất lâm nghiệp

Là xã nằm trong vùng lõi vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn, nên hệ động vậtrừng trong xã rất phong phú và đa dạng Nhìn chung diện tích rừng của xã cònnhiều diện tích rừng tự nhiên được bảo vệ tốt Rừng trồng sinh trưởng và phát triểntốt, trong những năm gần đây việc bảo vệ rừng, phòng chống cháy rất tốt, khôngxảy ra cháy rừng

- Tài nguyên khoáng sản

Theo kết quả điều tra nghiên cứu của Viện địa chất và khoáng sản xã Bản Hồ

có Đô Lô Mit với hàm lượng MgO dao động từ 18 – 24% là nguyên liệu sử dụngcho nhiều lĩnh vực Ngoài ra còn có nhiều núi đá có thể đưa vào khai thác sử dụnglàm đường giao thông và xây dựng của nhân dân.[56, tr5-9]

2.2 Các đặc điểm về cư dân địa bàn nghiên cứu

2.2.1 Đặc điểm về cư dân dân tộc Dao

Người Dao có nhiều tên gọi khác nhau như Mán, Đông, Trại, Kim Miền, LànTẻn Ở Lào Cai, người Dao có 3 ngành: Dao đỏ, Dao Tuyển và Dao Quần Chẹt

Trang 32

Các dân tộc quanh vùng gọi người Dao là người Mán như: Mán tuyển (Dao Tuyển),Mán họ (Dao họ), Mán đỏ (Dao đỏ) Còn người Dao đỏ tự gọi mình là “Kềm Miền”(người rừng) hay “Miền Sị” (Dao đỏ).

Người Dao ở Bản Hồ là một trong những cư dân Dao đỏ đến định cư tại Bản

Hồ lâu đời nhất trong số 3 dân tộc đang sinh sống tại đây Theo thống kê đến ngày30/6/2018 của Công an xã Bản Hồ, dân số người Dao chiếm 41,7% tổng số dân Bản

Hồ, gồm 249 hộ, 923 khẩu, chủ yếu định cư tại các thôn Nậm Toóng, Séo Chung

Hồ, Hoàng Liên, Tả Trung Hồ, Ma Quái Hồ

Theo lời kể của các bậc cao niên, những người làm thầy cúng, người Dao đỏBản Hồ đã di cư đến và sống được từ 5 - 7 đời, và họ di cư theo nhiều tuyến đườngkhác nhau Người Dao ở Bản Hồ gồm các dòng họ: Tẩn, Lý, Phàn, Chảo, Bàn Quakhảo sát các dòng họ người Dao đỏ ở Lào Cai, họ đều cho rằng các cụ tổ tiên của họ

đã di cư theo tuyến sông Hồng vào Lào Cai Sau khi vào Lào Cai, người Dao đỏ di

cư sâu vào vùng lục địa theo các tuyến đi khác nhau Ban đầu, các họ Phàn, Chảo,Bàn của người Dao theo hướng ngòi Phát vào Bát Xát, định cư ở Mường Hum Vàođến Mường Hum người Dao di chuyển đến xã Nậm Pung và kéo dài đến khu vựcthượng nguồn thuộc địa phận xã Bản Khoang, huyện Sa Pa thành lập làng ngườiDao đỏ là Kin Su Phìn, Tú Lé (xã Nậm Pung) Từ đây người Dao di chuyển sangcác vùng lân cận như Thanh Phú, Bản Hồ và định cư tại Bản Hồ Dòng họ Lý và họTẩn lại di cư theo ngòi Đum Từ sông Hồng vào địa phận xã Trung Chải sinh sống,sau đó một bộ phận con cháu tiếp tục di cư đến xã Tả Phìn lập các làng người Dao

là Sả Xéng và Trung Chải (xã Tả Phìn), từ đó họ tiếp tục di cư dần sang các khu vựclân cận để khai thác ruộng, nương rồi dần dần thành lập các làng cùng hòa nhập vớicác dòng họ khác tại Bản Hồ (theo lời kể của ông Phàn Dào Tá, thôn Hoàng Liên,ông Chảo Quẩy Phẩu, thôn Séo Trung Hồ)

Xã hội của người Dao Đỏ được hình thành từ ba yếu tố cơ bản là gia đình,dòng họ, làng bản Gia đình là đơn vị nhỏ nhất trong tổ chức xã hội của người Dao.Trong cộng đồng người Dao đỏ tồn lại nhiều loại hình gia đình khác nhau như giađình hạt nhân, gia đình lắp ghép, gia đình đa thế hệ Gia đình người Dao là gia đình

Trang 33

phụ hệ, con cái sinh ra đều mang họ cha, người đàn ông là người chủ gia đình Mọicông việc lớn của gia đình đều do người đàn ông quyết định Còn người phụ nữđảm nhiệm các công việc nội trợ, hái lượm, chăm sóc con cái tham gia vào các hoạtđộng sản xuất, thêu thùa may vá Dân tộc Dao đỏ vốn là một dân tộc có tính cộngđồng gia đình, dòng họ rất cao, tất cả mọi thành viên trong dòng họ đều phải phụctùng theo ông trưởng họ - là người quyết định những công việc lớn liên quan tới cácthành viên trong cùng dòng họ Làng là đơn vị xã hội lớn nhất của người Dao, mỗivùng người Dao đỏ sinh sống lại có một vài dòng họ đặc trưng Trong mỗi làngngười Dao luôn có từ 2 đến 4 dòng họ cùng sinh sống và các dòng họ này thườngsống tách biệt thành các khu vực riêng Ở Bản Hồ, Thôn Nậm Toóng gồm các dòng

họ Lý, Chảo, Tẩn; thôn Tả Trung Hồ gồm họ Phàn, Chảo; thôn Ma Quái Hồ gồm họTẩn, Chảo, Phàn; thôn Hoàng Liên gồm họ Tẩn, Lý, Chảo, Phàn; thôn Séo Chung

Hồ gồm họ Phàn, Bàn, Tẩn, Chảo, Lý Đứng đầu làm là những người già trong làng,cùng trưởng thôn, các thầy cúng

Ở Sa Pa, người Dao đỏ là một trong hai dân tộc có số dân đông nhất (saungười Hmông) và có văn hóa đặc sắc, đặc trưng, riêng biệt thu hút sự quan tâm củacác ngành khoa học cũng như ngành du lịch Người Dao có nền tảng văn hóa lâuđời, đậm đà bản sắc như việc thờ tổ tiên lên đến 9 đời, được thể hiện thông qua các

lễ như cấp sắc, tảo mộ, cúng ông tổ Bàn Vương và trong các lễ hội truyền thốngkhác Một trong những nét văn hóa độc đáo của người Dao Bản Hồ được du kháchhết sức thích thú đó là Lễ hội nhảy lửa hay còn gọi là Tết nhảy (nhiang chầm đao)

và lễ cấp sắc Bên cạnh đó, người Dao còn có hệ thống các sách cổ được ghi lạibằng chữ Nôm Dao, lưu giữ nguồn tri thức dân gian quý báu của họ được tích lũyqua nhiều thế hệ đã được thu thập, nghiên cứu, bảo tồn và hệ thống các tác phẩmvăn nghệ dân gian như thơ ca, hát đối, tục ngữ… Những bài hát đó, những câu đốiđáp giao duyên đó được đồng bào thể hiện bằng những loại nhạc cụ như trống,thanh la, tù và, kèn pí lè, nhị… được du khách hết sức yêu thích

Trang 34

2.2.2 Đặc điểm về cư dân dân tộc Tày

Tộc danh Tày đã xuất hiện từ lâu đời, có nguồn gốc chung với tên gọi củanhiều dân tộc thuộc nhóm Thái – Choang ở Nam Trung Quốc và Đông Nam Á như:Tai, Tay, Táy, Thai,… đều có nghĩa là “người” Người Tày có truyền thuyết PúLương Quân, có biểu tượng Cây đa thần 30 rễ chống và 90 cành vươn ra khắp vùngrộng lớn, có truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” (chín chúa tranh vua) nói vềnguồn gốc của người Tày

Theo số liệu thống kê dân số và nhà ở năm 2009 của tỉnh Lào Cai, dân tộcTày có 94.243 người, cư trú chủ yếu ở các huyện Văn Bàn, Bảo Yên, Bảo Thắng vàrải rác ở Sa Pa, Bắc Hà

Người Tày sống dọc theo các triền sông, suối, làm nhà và định cư trong cácthung lũng hẹp, dưới chân núi thấp Người Tày ở Bản Hồ, Thanh Phú, Nậm Sài gọi

là người Tày Mường Bo, xây dựng bản bên suối Mường Hoa theo đơn vị bản, tênbản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông Theo thống kê của Công an

xã Bản Hồ đến ngày 30/6/2018, Bản Hồ có 214 hộ với 932 người, sống tập trung ởhai thôn Bản Dền và La Ve, một số ít sống tại thôn Hoàng Liên

Người Tày Bản Hồ đều cho rằng nguồn gốc dân tộc mình từ Trung Quốc.Theo các vị cao niên trong xã thì người Tày có hai hướng di chuyển chính vào Bản

Hồ Hướng di chuyển thứ nhất là các dòng họ Vàng, Má, Lồ, Lù,… từ Trung Quốc

di cư đến huyện Bắc Hà, rồi từ Bắc Hà chuyển cư về Bản Hồ làm ăn sinh sống.Dòng di cư thứ hai là dòng họ Đào, người Tày họ Đào cho rằng mình là dòng họlàm quan, từ những năm 1800 được đón từ Trung Quốc về để làm quan cai quảnvùng Mường Bo Người Tày họ Đào di chuyển từ Trung Quốc, qua địa phận xã BảnQua (huyện Bát Xát) chuyển cư về Thanh Phú làm quan ở đây, về sau con cháu vềBản Hồ định cư, làm ăn sinh sống

Mô hình gia đình hạt nhân phụ quyền gồm cha mẹ và con cái chưa dựng vợ

gả chồng là kiểu gia đình truyền thống của người Tày Chủ gia đình là người chồng,điều khiển mọi công việc trong gia đình, phân công các hoạt động lao động sảnxuất, làm nhà mới, dựng vợ gả chồng và các hoạt động tín ngưỡng trong gia đình,

Trang 35

đứng ra bàn bạc giải quyết các công việc và mối quan hệ trong dòng họ và làng bản.Người vợ được quyền tham gia bàn bạc nhưng không được quyền quyết định, đảmnhận công việc đồng áng, nội trợ, nuôi dạy con, quản lý tài chính, hay buôn bánnhỏ

Người Tày có nhiều dòng họ khác nhau, đặc trưng ở Bản Hồ là dòng họVàng, họ Đào, ngoài ra là các dòng họ Lò, Hoàng, Mai, Đào, Hà, Lồ, Lù Con cáimang họ cha, những người cùng dòng họ thì có xu hướng sống gần nhau để cùngnhau giúp đỡ nhau trong mọi công việc, thăm hỏi nhau Theo truyền thống, cácthành viên trong họ có nhiệm vụ giúp đỡ nhau trong mọi việc, từ sản xuất đến cácsinh hoạt hàng ngày Người Tày sống cộng cư theo hình thức làng bản – là một cộngđồng về mặt xã hội, có địa vực cư trú, đất đai khe suối riêng và mang tên các cánhđồng, sông suối, núi non Một làng người Tày có khoảng 15 – 20 nóc nhà và cũng

có thể lên tới 50 -70 nóc nhà Bộ máy tổ chức các làng truyền thống người Tày rấtchặt chẽ, đứng đầu là các già làng, trưởng bản Các làng người Tày không chỉ làmột tổ chức xã hội mà còn là một cộng đồng văn hóa, tín ngưỡng, tạo nên các nétđặc trưng, khác biệt Sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người Tày rất phong phú, đadạng

Tín ngưỡng dân gian của người Tày có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúngthần bản mệnh cộng đồng làng và thầy cúng chữa bệnh Người Tày có nhiều ngàytết với những ý nghĩa khác nhau, có ảnh hưởng đến các hoạt động sinh kế và chính

nó cũng chịu sự ảnh hưởng của các hoạt động sinh kế của người Tày như tếtNguyên đán, tết rằm tháng 7, Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âmlịch, tết cơm mới

Người Tày có bề dày văn hóa mang nhiều nét độc đáo Họ là những cư dân

ưa sinh hoạt văn nghệ quần chúng Có nhiều điệu hát, kiểu hát của người Tày rất nổitiếng được du khách yêu thích Hát then, hát lượn, hát sli được dùng vào các mụcđính sinh hoạt khác nhau được sử dụng cùng các loại nhạc cụ như đàn tính, lúc lắc.Những khúc hát then, sli, lượn ngày nay đã được nam nữ người Tày biến thànhnhững sản phẩm văn hóa, trở thành một trong những nguồn sinh kế của bản người

Trang 36

Tày ở Bản Hồ khi nơi đây được đầu tư trở thành điểm thử nghiệm mô hình du lịchcộng đồng Cùng với du lịch, văn hóa Tày đặc biệt là dân ca Tày đã được nhiều dukhách trong và ngoài nước biết đến Nhà người Tày khu vực thôn La Ve và Bản Dềncủa xã Bản Hồ hầu hết là là sàn nhằm mục đích để ở, làm nhà nghỉ cộng đồng phục

vụ khách du lịch Việc mặc của người Tày khá đơn giản nhưng công việc dệt, làm

đồ trang sức cũng trở thành một trong những hoạt động sinh kế của người Tày Luậnvăn sẽ tiếp tục làm rõ vấn đề này ở mục sau

2.2.3 Đặc điểm cư dân dân tộc Hmông

Người Hmông ở Việt Nam đều có nguồn gốc từ phương Bắc Theo cáctruyền thuyết của Trung Quốc thì người Hmông xuất hiện sớm nhất ở khu vực trung

và hạ lưu sông Trường Giang Lúc đầu, người Hmông cư trú ở khu vực phía Bắcsông Hoàng Hà, về sau do sự phát triển và mở rộng lãnh thổ của người Hán, họ luidần xuống phía Nam của con sông này Sau nhiều cuộc chiến diễn ra giữa ngườiHán và người Hmông, người Hmông phải vượt qua con sông Dương Tử rồi xuốngphía Nam

Quá trình di chuyển của người Hmông vào Việt Nam chia thành các conđường khác nhau và chia làm nhiều đợt khác nhau vào các tỉnh miền núi phía Bắccách đây trên dưới 100 năm

Ở Lào Cai, theo số liệu điều tra dân số và nhà ở năm 2009 có khoảng146.147 người Hmông, được chia thành 4 ngành chính: Hmông Hoa (HmôngLềnh), Hmông Đen (Hmông Đu), Hmông Xanh (Hmông Chúa), Hmông Trắng(Hmông Đư)

Người Hmông ở Bản Hồ chiếm 16,1% tổng số dân, xếp sau người Tày vàngười Dao Theo thống kê đến ngày 30/6/2018 của Công an xã Bản Hồ, ngườiHmông Bản Hồ có 96 hộ với 549 nhân khẩu, sống tập trung cư trú chủ yếu ở cácthôn Ma Quái Hồ, Séo Trung Hồ, La Ve, Hoàng Liên Do không còn gia phả ghi lạinên nguồn gốc và con đường di cư đến của các dòng họ người Hmông ở Bản Hồ chỉđược thuật lại theo trí nhớ của các bậc cao niên Theo ông Tẩn A Sấu thôn Ma Quái

Hồ, các đây khoảng 200 năm, người Hmông từ Trung Quốc vào khu vực Si Ma Cai

Trang 37

thuộc tỉnh Lào Cai, rồi họ Vàng, Chấu, Hoàng, Sùng di chuyển dần sang Sa Pa, mộtnhóm định cư tại Trung Chải (Bát Xát), Sa Pả (Sa Pa) rồi di chuyển dần lên khu vựccao của huyện Sa Pa như Ô Quý Hồ, San Sả Hồ, dần dần chuyển cư sang khu vựcMường Bo, một bộ phận lập làng tại Bản Hồ Những họ như họ Lý, Chảo, Tẩn dichuyển đến Bản Hồ vào thời gian sau các dòng họ trên khoảng 50 – 60 năm

Tổ chức gia đình của người Hmông là gia đình nhỏ phụ hệ (gồm hai thế hệ

bố mẹ và con cái sống với nhau) Đứng đầu gia đình là người đàn ông, người đó cónghĩa vụ gánh vác công việc gia đình: đi làm nương rẫy, khấn tổ tiên, đón thầycúng Người Hmông ở Bản Hồ có nhiều dòng họ như: Lý, Tẩn, Sùng, Châu, Thào.Mỗi họ có những điều kiêng kị và những lễ nghi cúng bái riêng biệt Mỗi bản làngcủa người Hmông gồm vài chục nóc nhà, đường đi lối lại giữa các gia đình khôngtheo quy định cụ thể mà nhỏ hẹp Bản làng thường nằm ở sườn núi, chân đồi hoặcdọc theo ven suối để tiện cho việc đi nương Người đứng đầu là già làng, là người

có tuổi cao, có đạo đức, có năng lực, biết làm ăn, biết lý, biết đối nhân xử thế vớicác thành viên trong làng, với cộng đồng và biết những chính sách nhà nước

Người Mông có thờ cúng tổ tiên, đó là thờ cúng ông bà, cha mẹ và nhữngngười đồng tộc đã chết Hmông chỉ cúng tổ tiên vào dịp năm mới, lễ cơm mới hoặckhi cần cúng chữa bệnh… Bên cạnh thờ cúng tổ tiên, người Hmông còn tồn tại một

hệ thống ma nhà với những lễ thức cúng bái riêng biệt: "Xử Cả", "Bùa Đáng" (malợn), "Xìa Mình"(ma cửa), "Hú Sinh" (ma bếp) ,"Nhìu Đáng" (ma trâu) Tuy nhiên,đời sống sinh hoạt tinh thần của người Hmông xã Bản Hồ giống như người dânHmông khác trên địa bàn huyện Sa Pa hiện nay đã được pha trộn giữa đạo lí Gia tôvào đạo lí người Hmông

Người Hmông có nền văn hóa dân gian hết sức độc đáo Sinh sống gần gũithiên nhiên, người Hmông có những tri thức dân gian quý báu trong ứng xử với tựnhiên Có thể nói, người Hmông là những người thợ đi rừng giỏi nhất Bên cạnh đó,

họ cũng đời sống văn nghệ khá phong phú, đặc biệt là văn học truyền miệng có rấtnhiều thể loại mà họ thường hát khi lao động nương rẫy, trong lúc se sợi dệt vải,trong khi đi chợ và đặc biệt trong các dịp lễ hội Trong những dịp lễ hội, đặc biệt là

Trang 38

hội Gầu tào (đón năm mới), những bài hát dân ca này không chỉ thể hiện bằng lời

mà còn có thể giãi bày thông qua những nhạc cụ dân tộc (sáo, khèn, kèn lá, đànmôi…)

2.3 Hoạt động sinh kế truyền thống của các tộc người

2.3.1 Sinh kế truyền thống người Dao

Người Dao ở Bản Hồ canh tác cả hai hình thức ruộng nước và ruộng nương.Ruộng nước của người Dao và người Hmông giống nhau đều là ruộng bậc thang,khác người Tày là ruộng ở chân núi Nương rẫy của người Dao thấp hơn nương rẫycủa người Hmông, thường ở vùng giữa Địa hình Bản Hồ núi cao, sườn núi dốc,việc canh tác nương không mấy thuận lợi Do vậy, diện tích nương ít hơn diện tíchruộng bậc thang

Để làm được ruộng bậc thang, người Dao phải tốn nhiều công sức từ khâuchọn đất cho đến khâu phát nương, san gạt để tạo bậc cho ruộng và điều chỉnh để có

hệ thống nước dẫn cho nương hợp lý, mỗi công đoạn đều đòi hỏi nhiều công sức, trithức và thời gian Để có được nguồn nước ổn định cho ruộng bậc thang không phải

là một điều dễ và duy trì được nguồn nước cho ruộng càng là một việc khó khăn Và

để có một khoảng ruộng bậc thang, người Dao không chỉ mất một vài năm mà thậmchí mất hàng trăm năm, từ đời này truyền sang đời khác Do vậy, có thể nói, ruộngbậc thang chính là nguồn tài sản quý báu của người Dao, đời cha truyền cho con,đời ông truyền cho cháu Canh tác trên ruộng bậc thang chính là hoạt động sinh kếquan trọng nhất của người Dao

Trang 39

Ở dân tộc Dao, làm nương hay làm ruộng đều dựa vào nông lịch tức dựahoàn toàn vào tự nhiên đặc biệt là hoạt động làm nương để gieo lúa nương, ngô haycác loại rau đậu khác Tháng Giêng người Dao chọn đất Tháng 2 phát cây, đốtnương, gieo hạt ngô, dẫn nước và cày ải ở ruộng bậc thang Tháng 3 làm cỏ ngô,trồng bông dệt vải, trồng chàm Tháng 4 vun xới ngô, cày bừa, gieo mạ ở chânruộng bậc thang Tháng 5, dọn nương lúa, tra lúa, cấy lúa Tháng 6 thu hoạch ngô,sắn, thu hoạch các sản vật của rừng Tháng 7 làm cỏ lúa Tháng 8 thu hoạch nốt cáchoa màu khác Tháng 9 thu hoạch lúa Tháng 10, 11 thu hoạch các hoa màu còn lạitrên nương, trồng các loại rau mùa lạnh, đi rừng săn thú Tháng Chạp, nghỉ ngơidành cho các hoạt động nghi lễ khác.

Thu nhập của người Dao từ ruộng nương không cao nhưng đủ sức nuôi sốngđược gia đình họ từ lúc thu hoạch cho đến vụ giáp hạt Người Dao ít phải ăn ngôthay gạo hơn so với người Mông Bên cạnh đó, họ cũng là những cư dân khéo taytrong chăn nuôi

Chăn nuôi

Năm 2006, xã Bản Hồ: Đàn trâu có 569 con, bò có 137 con, ngựa 67 con vừaphục vụ sức kéo, chở trong nông nghiệp vừa góp phần nâng cao thu nhập của ngườidân đặc biệt là người Dao Trung bình, một nhà người Dao ở Bản Hồ có 2-3 contrâu Một con trâu có thể cho sức kéo đến 10 năm, có giá trị từ 17 đến 23 triệu đồng.Lợn là động vật dễ nuôi, dễ tận dụng phế thải nông nghiệp, mau thu được lãi vàgiúp người dân có tích lũy bởi vậy nhà người Dao nào cũng nuôi lợn Tổng số đànlợn của xã lên đến 1087 con Trâu, bò, ngựa là những khoản tiết kiệm của ngườiDao, chúng như thứ của để dành khi cần làm nhà, khi ốm đau cần chạy chữa, ngườiDao mới bán trâu, bán bò Lợn thường được xuất chuồng sau 5, 6 tháng nuôi hoặcmột vài năm nhằm phục vụ nhu cầu ăn học của con cái, mua sắm trong gia đìnhhoặc mua vật tư cho nông nghiệp

Đàn gia cầm cả xã đạt 4400 con (năm 2006) chủ yếu là gà, vịt, ngan tận dụngnguồn phế phẩm nông nghiệp hoặc khe, rãnh ruộng, khe rãnh nước quanh nhà.Trong số đó có phần đóng góp lớn của người Dao, người Dao nuôi gia cầm chủ yếu

Trang 40

để nâng cao chất lượng bữa ăn trong gia đình khi có nghi lễ hoặc khi có khách, cũng

có nhiều hộ dân như bà Chảo Mùi Nảy, đàn gia cầm mang lại thu nhập hơn 10 triệuđồng mỗi năm, giúp bà Nảy trả được những món nợ ngân hàng khi phải lo cho concái ăn học trong thị trấn

Bãi chăn thả của người dân chủ yếu là bãi chăn thả tự nhiên, và kết hợp giữaquay bãi chăn thả tập trung với chăn dắt Gia đình người Dao sẽ phân công mộtngười đi thả đàn trâu, bò của gia đình

Thủ công nghiệp

Nghề làm giấy dó

Từ xa xưa, người Dao từ xưa đã biết làm giấy để ghi chữ Nôm Dao hoặc để

vẽ, cắt phục vụ cho các nghi lễ tôn giáo Ở Bản Hồ, nghề làm giấy vào năm 2000chỉ còn lại ở vài gia đình người Dao đỏ và chủ yếu là ở gia đình các thầy cúng Vìvậy đây vẫn là một trong những sinh kế của thầy cúng người Dao đỏ Bản Hồ Rơm

là nguyên liệu được người dân hay dùng để làm giấy dó Nguyên liệu làm có rơmđược lấy từ cổ của bông lúa nương, cây vầu bánh tẻ, cây “tờ kêu” - loại cây thândây, có thứ nhựa kết dính bột giấy mà không dính vào phên giấy Công việc làmgiấy khá vất vả, gồm nhiều công đoạn như: ngâm nước vôi và tro từ 10 - 12 tiếng;ngâm nước suối trong 10 - 15 ngày; giã nát, lọc đi lọc lại nhiều lần; ngâm thân cây

tờ kêu tạo thành hỗn hợp kết dính; đổ bột giấy lên khuôn, để yên khuôn giấy tại nơikhô ráo, dưới nắng mặt trời, phơi 2 - 3 nắng cho khô mới thành mẻ giấy; tách giấy

ra khỏi khuôn và cất đi Ngày nay, nghề làm giấy của người Dao tuy không cònthịnh hành như trước nhưng một số ít hộ gia đình vẫn tiếp tục giữ lấy nghề truyềnthống của ông cha

Nghề may vá, thêu thùa

Người Dao Đỏ ở Bản Hồ thường không dệt vải mà mua vải của người Mông,người Tày để may vá, thêu thùa thành những bộ trang phục truyền thống hết sứchấp dẫn Người Dao Đỏ đi rừng để bắt ong và sáp ong Sáp được nấu nóng chảy,được vẽ lên quần áo để tạo họa tiết, hoa văn trên nền vải Sau đó, vải được mang đinhuộm màu, ở đây là nhuộm chàm, vải nhuộm xong được luộc và phơi Người phụ

Ngày đăng: 23/06/2021, 16:55

w